Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Ái Dục Là Cội Gốc Của Đau Khổ - Lợi Ích Gần Gũi Người Lành

2026-03-03 00:52:15
Nikāya Giảng Giải

Ái Dục Là Cội Gốc Của Đau Khổ

Lợi Ích Gần Gũi Người Lành

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Về núi yên tu PAGEREF _Toc201584680 \h 1

II. Ái dục là cội gốc của đau khổ PAGEREF _Toc201584681 \h 3

III. Lợi ích gần người lành PAGEREF _Toc201584682 \h 12

I. Về núi yên tu

Về núi yên tu đẹp vô vàn

Thoát ra bao cảnh khổ trần gian

Tọa thiền tác ý thành thi kệ

Pháp nghĩa vô biên tâm an nhiên.

Về núi yên tu biết nói sao

Trong lòng hạnh phúc quá dâng cao

Về nhà muôn thuở chư hiền thánh

Cây kiểng Bonsai là núi mây.

Về núi yên tu hạnh thánh hiền

Viễn ly thế tục lắm lụy phiền

Lòng nhẹ như mây tâm rỗng lặng

Nội soi lậu hoặc diệt tùy miên.

Về núi yên tu sướng hơn tiên

Thánh trí năm uẩn luôn hiện tiền

Nhìn dành ra rác bẩn cùng cấu nhiễm

Dọn sạch căn nhà nội tâm hiền.

Về núi yên tu sướng hơn tiên

Tất cả mọi thứ chẳng cần tiền

Rau xanh có sẵn, nước trong giếng

Phong cảnh lạ kỳ tự thiên nhiên.

Về núi yên tu sướng hơn tiên

Trời xanh mây trắng, ngô xanh rì

Chim hót líu lo, gió thổi mát

Tọa thiền thâm quán dục viễn ly.

Về núi yên tu sướng hơn tiên

Không người, không vật cũng không tiền

Không tranh, không thấy nghe hấp dẫn

Thân tâm mát lạnh tuệ giác viên.

Về núi yên tu sướng hơn tiên

Thoát ra tất cả cảnh ngục tù

Từ tâm vô lượng cùng vô tận

Diệt ngã trừ sân ấy công phu.

Về núi yên tu sướng nhất đời

Bao nhiêu năm tháng mãi chơi vơi

Lang thang phiêu bạt đời vất vưởng

Nay về tới nhà quá thảnh thơi.

II. Ái dục là cội gốc của đau khổ

Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí, tối nay chúng ta nghe một bài kinh rất là đặc biệt, Tương Ưng Thôn Trưởng.

"Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại Uruvelakappa, một thị trấn của dân chúng Malla.

Rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Bhadraka bạch Thế Tôn:

-- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ!" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Ông trưởng đi đến ông hỏi đạo, mong Đức Phật thuyết giảng tại sao mình khổ, làm sao mình chấm dứt khổ. Con rất là mong được nghe, thật là tuyệt vời, tốt lành, quý hóa nếu mà Thế Tôn giảng cho con.

"-- Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: 'Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ'; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: 'Như vậy sẽ xảy ra trong thời tương lai'; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Thôn trưởng Bhadraka vâng đáp Thế Tôn." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Thế Tôn mới nói nếu như mà ta nói cho ông nghe nguyên nhân của khổ và sự chấm dứt khổ ở thuở xưa, tức là thuở quá khứ thì ông sẽ phân vân, ông sẽ có nghi ngờ vì cái đó là chuyện hồi xưa. Nếu ta y cứ vào thời vị lai, tương lai sau này mà ta thuyết cho ông về nguyên nhân khổ và sự chấm dứt của khổ thì như vậy ông sẽ nói rằng cái đó là sau này, thời tương lai, ở đây ông sẽ phân vân, sẽ nghi ngờ vì cái này là chuyện chưa có xảy ra. Nhưng nay ta ngồi chính ở đây, ta ngồi tại đây, ông cũng ngồi tại đây, ta sẽ nói cho nghe về sự tập khởi của khổ đau và sự chấm dứt của đau khổ, ông hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ ta sẽ giảng.

Chúng ta thấy đoạn này Đức Phật nói mà nổi gai óc, nếu như mà ta kể chuyện hồi xưa cho ông nghe tại sao người ta khổ, làm sao để người ta hết khổ thì ông sẽ nghi ngờ, ông nói chuyện đó là chuyện hồi xưa. Nếu như ta nói cho ông những người sau này, những chuyện sau này thì ông sẽ nghi ngờ, ông nói cái đó chuyện chưa xảy ra nhưng này trưởng thôn, ngay tại chỗ ngồi này, ta và ông tại nơi đây ta sẽ chỉ cho ông thấy được tại sao ông đau khổ và làm sao để chấm dứt khổ đau, ông hãy lắng, nghe khéo tác ý suy nghiệm ta sẽ giảng. Chúng ta thấy pháp Phật thiết thực là vậy đó, hiện tại là vậy đó, không có thời gian là vậy đó, không có đợi tới chừng nào mà ngay tại chỗ ngồi này, ngay tại đây ta sẽ nói cho ông tại sao ông khổ, tại sao cô khổ, làm sao để chấm dứt khổ.

Cái này mình thuật lại thôi cũng thấy sung sướng, hạnh phúc, nãy giờ mình thấy giống như mình đang có mặt ngay lúc đó, mình đang tham dự buổi nói chuyện của Đức Phật và ông trưởng thôn. Cho nên người ta mới nói chỉ cần đọc kinh thôi công đức vô lượng là vậy đó, tụng kinh phước báo là vậy đó.

"Thế Tôn nói như sau:

-- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn. Ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thì con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

-- Này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa này có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng Ông không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn, ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Có những người bị tai nạn thì ông thôn trưởng này buồn đau, khổ sầu nhưng có những người bị tai nạn mà ông này không buồn đau, khổ sầu.

"-- Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một số người ở tại Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thì Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não? Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một số người ở Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích nhưng Ông không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?

-- Ðối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch Thế Tôn, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì con có dục và tham đối với họ. Nhưng đối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch Thế Tôn, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì con không có dục và tham đối với họ." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Con chỉ đau khổ, con chỉ sầu, bi, khổ, ưu, não với những người mà con thương, với những người mà con yêu, những người mà con muốn bảo vệ còn những người mà con không có thương, không có yêu, người dưng kẻ lạ, họ có tai nạn, có chết thì con đâu có buồn đau gì đâu. Mình có giống ông này không? Ông thôn trưởng này nói họ không phải cha mẹ, anh chị em của con, họ không phải người thân của con, con không yêu thương, không yêu thích, không quen biết nên không buồn đau, không khổ sầu khi họ bị tai nạn, bị chết chóc, bị tù tội.

"-- Ông nói: 'Con có lòng dục tham đối với họ. Con không có lòng dục tham đối với họ'. Này Thôn trưởng, có phải được thấy, được biết, được đạt tới tức thời, được thể nhập nhờ pháp này, Ông uốn nắn phương pháp (naya) theo phương pháp ấy đối với quá khứ, vị lai? Nếu có khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ. Phàm có khổ nào khởi lên trong tương lai, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Đức Phật nhấn mạnh lại câu mà ông thôn trưởng nói, tức là con có lòng yêu thích, ham muốn ở nơi những người đó thì con sầu đau, buồn khổ, còn không có lòng ham muốn ở nơi những người đó thì con không buồn đau, khổ sầu. Nếu có sự đau khổ nào khởi lên ở trong quá khứ thì tất cả đau khổ đó đều lấy cái lòng ái dục làm cội gốc, làm nguyên do, tại vì mình yêu, mình thích, mình muốn cái đó cho nên khi nó bị suy hao, nó bị tan vỡ, nó bị mất mát thì mình sẽ đau khổ. Chính cái dục, cái sự yêu thích và tham muốn đó là gốc rễ của tất cả khổ đau, tất cả cái khổ nào mà nó khởi lên về sau này cũng từ nguyên nhân yêu thích, ham muốn làm ra đau khổ. Như vậy yêu thích ham muốn là gốc rễ của tất cả khổ đau.

"-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật là khéo nói, lời nói này của Thế Tôn: 'Phàm có khổ gì khởi lên, tất cả khổ ấy khởi lên đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ!'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Bạch Thế Tôn thật là tuyệt vời, bạch Thế Tôn trước giờ con chưa từng nghe ai nói như vậy, Thế Tôn nói thật là khéo, lời nói này của Thế Tôn thật là vi diệu, thật là chân lý, thật là sự thật, thật là lẽ thật, thật là chân thật, thật là tối thượng. Tất cả nỗi đau khổ nào khởi lên thì nguyên nhân, gốc rễ, cội nguồn của nó đều từ sự yêu thích và ham muốn, yêu thích và ham muốn là gốc rễ của tất cả khổ.

"Bạch Thế Tôn, con có người con trai tên là Ciravàsii, sống xa ở đây. Khi giờ nó dậy, bạch Thế Tôn, con cử người đi và nói: 'Này Ông, hãy đi và hỏi thăm đứa trẻ Ciravàsii'. Cho đến khi người ấy trở về, bạch Thế Tôn, con ở trong tình trạng bồn chồn hồi hộp: 'Không biết đứa trẻ Ciravàsii có bệnh tật gì không?'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Ông thôn trưởng ở xa với đứa con còn nhỏ cho nên l mỗi buổi sáng ông phải phái người đi đến xem tình hình rồi về báo cho ông biết là con trẻ của ông có khỏe không, có bệnh tật gì không, trong khi ông chờ đợi là ông ở trong tình trạng bồn chồn, hồi hộp, lo lắng, không biết con mình bữa nay ra sao.

"-- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu đứa trẻ Ciravàsii của Ông bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Bạch Thế Tôn, nếu đứa con trai Ciravàsii của con bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay sinh mạng bị đổi khác, thời làm sao con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não được?

-- Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu như sau: Phàm có khổ nào khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Bài kinh này Đức Phật chỉ tột cùng cái bản chất của sự thật, rất là sâu sắc, rất là thực tế. Như vậy là con rồi bây giờ qua tới vợ.

"Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu Ông không thấy, không nghe mẹ của Ciravàsi, Ông có lòng dục, lòng tham hay lòng ái đối với mẹ của Ciravàsii không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Nếu ông không thấy, không nghe, không gặp thì ông có yêu, có thương, có cưới về làm vợ không? Tất nhiên là không.

"-- Nhưng này Thôn trưởng, khi Ông thấy được, này Thôn trưởng, khi Ông nghe được, thời Ông có lòng dục, hay lòng tham, hay lòng ái đối với mẹ của Ciravàsi không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Đó là xúc sanh thọ, thọ sanh ái, xúc là nhãn xúc là con mắt nhìn thấy, nhĩ xúc là lỗ tai nghe âm thanh nói chuyện của người đó, khi tiếp xúc sẽ có cảm thọ, cảm giác yêu thích, dễ thương, dễ mến rồi cuối cùng là rước về sanh con. Từ cái xúc là nhãn xúc, con mắt tiếp xúc thì phân biệt đẹp xúc, nghe thì dễ thương hay là không thương, cảm thọ là dễ chịu hay khó chịu, thương hay ghét. Như vậy xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, đây là trí tuệ của Đức Phật, đối với con người là vậy thì đối với món đồ cũng vậy, cũng có sự tiếp xúc, nhìn thấy món đồ rồi sanh ra cảm thọ thấy đẹp, yêu thích rồi ái, muốn đem về cất kĩ, ai lấy mất thì đau khổ, sầu bi. Phật pháp rõ ràng như vậy chứ không có cái gì xa xôi, viễn vong, mờ ảo.

"- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu mẹ của Ciravàsii bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thời Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Bạch Thế Tôn, nếu mẹ của Ciravàsii bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay mạng sống bị đổi khác, thời làm sao con không khởi sầu, bi, khổ, ưu, não được?

-- Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu biết như sau: Phàm có khổ gì khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của đau khổ." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Nếu như vợ của con bị đánh, bị giết, bị chửi, bị mắng, bị hại hay là mạng sống bị đổi khác là bị chết thì làm sao mà không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não được. Bài kinh này ấn tượng nhất là mở đầu của bài kinh, nếu mà ta y cứ vào thời xưa mà ta nói về nguyên nhân của khổ và sự chấm dứt khổ cho ông thì ông sẽ phân vân, nghi ngờ cái đó chuyện hồi xưa, nếu mà ta nói chuyện về sau này, tương lai, thì ông sẽ phân vân, nghi ngờ, ông nói chuyện đó chưa có xảy ra mà bây giờ ở đây, ngồi tại chỗ này, chính tại chỗ ta sẽ nói cho ông về nguyên nhân của đau khổ và sự chấm dứt khổ đau, ông hãy lắng nghe và suy nghiệm thật kỹ ta sẽ giảng.

Bây giờ mình cả một cái tấm lòng đem đồ đạc lên, mình thức khuya dậy sớm nấu một nồi chè, người ta ăn thì chê chè ngọt quá thì mình có khổ không? Có buồn không? Nhiều khi giận luôn "mai mốt đừng kêu tôi nấu nữa", lúc đó mình không có bình tĩnh, mình không có tỉnh giác chánh niệm là mình nếm thử chén chè đó coi sao. Khi nếm cái lưỡi của mình phải bình thường, nó phải tốt, nếu lúc đó mình có ăn cái gì đó rồi thì mình nếm sẽ không chính xác cho nên cái lưỡi khi nếm vị phải ở trong trạng thái cảm giác rõ ràng, "cái này hơi ngọt, lần sau mình bớt ngọt lại một chút". Tại sao mình nghe nói là mình khó chịu liền, mình giận liền mà không phải là người nào lạ nói, nhiều khi là người thân nhất trong gia đình của mình? Là tại vì mình có ái, có dục, có tham đối với món chè đó.

Mình yêu cái đồ của mình làm ra, mình thích cái đồ của mình làm ra, mình quý cái đồ của mình làm ra, mình cho cái mình làm ra là số một, ai nói số hai là giận, rồi đau khổ, một chuyện nhỏ thôi mình cũng đau khổ. Bây giờ thí dụ mình thích ăn phở, bữa nay nấu ngay cái món trúng gu của mình nhưng mình vô trễ nên hết phở, người ta đưa mình mì gói thì lúc đó có khổ không? Có sầu, bi, ưu, não không? Mình khổ vì mình ưa, mình thích, mình khoái cái món đó, mà cái món đó mình không được cho nên mình giận. Có phải tất cả pháp là lấy ái, lấy dục làm nguyên nhân của khổ không?

Mình uốn éo cái cây tùng, cây bonsai hết ba tháng, sáu tháng cây, sáng mình cũng ra ngắm, trưa cũng ra ngắm, bất thình lình giữa khuya thức dậy cũng nhớ ra ngắm rồi mình uốn, mình lượn, mình bẻ cành. Bỗng nhiên có một ngày mấy đứa trẻ đá bóng văng trúng vào cây bonsai làm gãy cây thì lúc đó mình có buồn đau không? Có sân hận lên không? Tại sao mình buồn đau, khổ sầu, sân hận? Là do mình yêu cái cây đó, mình thích cái cây đó, mình khoái cái cây đó, mình ái cái cây đó, mình thủ cái cây đó, mình yêu nó, cho nên Đức Phật đã nói tất cả cái đau khổ trong quá khứ, hiện tại, vị lai khởi lên là điều từ cái tâm yêu thích.

Đó là mấy món đồ ở ngoài thân, giờ tới chiếc xe của mình chạy, chiếc xe mới mua về mà bạn thân hỏi mượn bây giờ phải làm sao, chẳng lẽ bây giờ không cho, cho mượn thì cũng khó mà không cho càng khó hơn nên bấm bụng cho mượn. Cuối cùng đi xong rồi cái xe bị quẹt một đường dài bằng ngón chân cái, người ta đem xe về trả lại mình thì lúc đó ra sao? Mình có bình thường được không? Tại sao bất bình thường? Tại mình yêu cái xe đó, mình thích cái xe đó, mình muốn cái xe đó rồi mình đau khổ với cái xe đó, vết trầy đó giống như mình đang bị tróc miếng da chảy máu của mình. Trước đó cái chiếc xe nằm ở ngoài tiệm thì nó không phải của mình, tự nhiên mình hốt về, mình đem về là mình gắn cái nhãn hiệu "của tôi", mình không có dán chữ lên chiếc xe nhưng mà mình dán ở trong tâm mình, dán ở trong thọ; tưởng; hành; thức của mình là "của tôi" và từ đó bắt đầu mình có dục, có ái, có tham với những cái của mình, ai đụng vô cái đó là mình sầu, bi, khổ, ưu, não, mình sân hận lên.

Nãy giờ là vô tri, vô giác, vô tình, bây giờ bắt đầu tới hữu tri, hữu giác, hữu tình là đứa con yêu dấu của mình. Chúng ta nhìn thấy những dòng nước mắt rơi trong thiền biết ơn, nghẹn ngào, xúc động, mẹ con, vợ chồng, cha con, anh chị em, khi mình đau lên là nhói tim, ruột bị thắt lại. Chúng ta có cảm thọ được những cái giây phút đó không? Khi người thân của mình có chuyện buồn, có chuyện khổ, hay là gặp tai nạn, hay là mất mát là lúc đó trái tim của mình nhói lên, cái ruột của mình muốn thắt lại, thậm chí là tan nát cả cõi lòng, đau khổ, tại vì những người đó là những người mình yêu thương nhất, mình thân thương nhất để rồi mình đau khổ nhất, tình thương đó là ái dục, không phải là từ bi.

Khi nào mình thấy được ngũ uẩn, mình thấy được khổ ở trong ngũ uẩn thì lúc đó mình mới bắt đầu có một tình thương rộng lớn, chẳng hạn như các bậc hiền trí trong đạo tràng, các giới tử, hay các bậc hiền trí bây giờ bắt đầu thương bằng tâm từ, bắt đầu có một tình thương sâu sắc hơn và rộng lớn hơn. Tình thương là mình muốn cho con mình đi vào điều thiện, muốn cho con mình thực hành những cái pháp lành, muốn cho con mình bước lên trên thánh đạo, thể nhập thánh trí thì tình thương đó mới được gọi là từ bi, còn tất cả tình thương của thế gian chưa có thành tựu chánh kiến đều là tình thương của dục ái và cái tình thương đó là một sự hệ lụy, trói cột. Tất cả chúng sanh thương ở trong cái tình thương đó cho nên sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên, chỗ này là cái chỗ sâu sắc cần chiêm nghiệm, tới khi mình thương bằng cái tâm từ thì nó khác, mình sẽ hướng thiện cho con, cho cháu, cho vợ, cho chồng, cho anh em, chị em của mình. Nếu mình không biết thương bằng cái tâm từ là mình thương bằng cái ái, cái ái này càng thương thì càng đau khổ cho nên con có một bài pháp "Sự khác biệt giữa ái và từ".

Mình thương bằng ái, bằng sự yêu thương ở trong cái tôi và cái của tôi thì mình làm cho người thương đau khổ nhiều lắm, mình muốn chiếm hữu, mình muốn sở hữu, mình muốn kiểm soát người đó, tất cả mọi cái mình cũng muốn kiểm soát hết, thậm chí là người ta không thể có một cái cuộc sống thoải mái, nhẹ nhàng. Thành ra có khi càng thương thì người ta càng khổ sở, con chứng kiến có những cảnh vợ chồng đau khổ lắm vì bị kiểm soát từng chút, từng chút, mình thương bằng cái bản ngã, mình thương bằng cái ái, bằng cái dục của mình, mình thương mà cái nghiệp của mình. Thương bằng cái ngã là chẳng hạn như mình là mẹ nhưng mà mình nói đứa con nghe lời thì mình thương, còn nó không nghe lời là mình không thương, mà chưa chắc lời nói của mình là cái nào cũng trúng, mình có chắc là lời nào cũng mình cũng trúng hết một trăm phần trăm không? Cho nên chính cái thương đó làm cho người mình thương khổ.

Thương bằng cái nghiệp tức là thói quen của mình, mình bắt người ở chung với mình cũng phải có thói quen giống mình thì mình mới thương, thói quen không giống mình là mình không thương, mình bực bội, mình khó chịu, mình sân hận. Còn thương bằng cái dục, cái muốn của mình là người ta đáp ứng, không đáp ứng cái muốn của mình làm sân lên. Thành ra chúng ta thấy thương bằng bản ngã, thương bằng dục, thương bằng ái, thương bằng nghiệp, thương bằng sự chấp thủ của mình, còn cái thương từ bi nó không có mấy cái này, nó chỉ thấy người đó là ngũ uẩn giống như mình, người kia cũng là ngũ uẩn giống mình, mình muốn giúp để họ hết khổ, cái đó mới gọi là từ bi.

Thương bằng nghiệp là cái thói quen của mình, mình bắt người ta phải như vậy, thí dụ mình thích uống café rồi sáng mình cũng bắt người ta uống café với mình mới vui, không uống là mình cũng giận. Rủ nhậu mà không nhậu là giết cho chết luôn, đang nhậu xin nghỉ về không nhậu nữa là bị xử lý liền tại chỗ, ghê gớm như vậy, bây giờ có nhiều chuyện rất lạ, ác và bất thiện pháp sung mãn, nó trùm chiếm hết cả cái thế giới này. Đó là mình thương bằng bản ngã, mình thương bằng cái dục của mình, cái ham muốn của mình, mình thương bằng sự yêu thích của mình, mình thương bằng thói quen của mình, mình thương bằng những cái mình đã huân tập, như vậy người mình thương rất mệt mỏi, đau khổ mà mình lại không biết. Sau đó mình cũng gặp người khác thương lại mình giống như vậy, thế là tám lạng gặp nửa cân, bánh ích đi bánh quy lại nên đấu võ với nhau.

Người A muốn cái khác, người B muốn cái khác mà bây giờ người A này đòi người B phải muốn như mình. Chẳng hạn như giờ mình thích ăn cơm chiên mà chồng con lại không thích nhưng mình cứ làm cơm chiên "ăn đi, cái này ngon lắm", mình hay bị vậy lắm mà mình không có biết thành ra tội nghiệp người ở chung mình và cũng tội nghiệp cho cả mình. Chính vì mình không nhìn ra được điều này nên vào chùa mình cũng mang nó theo, mình cũng bắt thầy mình, huynh đệ mình phải theo ý mình mà không được thì mình đau khổ, sầu, bi, ưu, não y như ngoài đời. Hễ mình thích cái này thì mình bắt sư huynh, sư tỷ cũng phải thích giống mình, thích khác mình là mình không thích, chính vì vậy mà nhiều khi tu là rồi cũng còn khổ nhiều lắm, mình thích cái môn tu này nên ai thích giống mình thì mình chơi, ai không thích giống mình thì không chơi cho nên vào tu rồi mà cũng phân tông, phân phái, phân nhóm rồi khổ nữa.

Ba chục năm từ ngày con vô chùa tới giờ con không có một cái tư tưởng nào về tông phái, tuy là con dịch hết mười tông Phật giáo của Trung Hoa, ba trăm mấy chục trang Học Phật Chỉ Nam nhưng con không có để cái ý gì về tông phái, trong mắt con là không có tông phái nào hết, chỉ có một cái tông là khổ và chấm dứt khổ. Khi mình không thấy được vấn đề là mình làm mình và người khổ đau, thành ra ba cái chữ dục, tham, ái này là một đại tiền đề, nó là một cái đại đề mục của thiền quán vĩnh hằng, bất diệt, muôn thuở của chúng sanh, chính là dục, tham, ái.

Cái muốn của mình một chút thôi mà khổ dữ lắm, từ cái muốn này tạo ra biết bao nhiêu ác nghiệp, mà cũng từ cái muốn này tạo ra thiện nghiệp, nếu mình biết dẫn đường thì mình dẫn đường để cái muốn trở thành dục như ý túc, nó thành tinh tấn như ý túc, nó thành tâm như ý túc, nó thành tư duy như ý túc. Tức là cái muốn của mình đi theo một chiều đúng là đi tới cái pháp, từ cái sự hoàn thiện nhân cách, thành tựu được thiên giới và đưa đến thánh đạo, đó là mình biết dẫn cái muốn mình đi đúng đường.

III. Lợi ích gần người lành

Nếu mình dẫn cái muốn đi sai đường thì đưa xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thành ra để điều khiển, lèo lái, dẫn dắt, để chỉ đạo cái muốn này cần có một cái trí tuệ về năm uẩn, tức là mình phải đọc cái suy nghĩ của mình giờ nó đang muốn cái gì vậy, cái cảm giác trong này nó thúc giục là nó muốn cái gì, muốn đi tu, muốn đi ngồi thiền, muốn đi làm các việc giúp ích mọi người hay là nó muốn cái gì, muốn nói dối người ta, muốn lấy của không cho hay là nó muốn say xưa, nghiện ngập. Mấu chốt vấn đề là mình đọc được thọ; tưởng; hành của mình, sau đó mình mới phân loại cái muốn ở trong cảm giác, suy tư, nghĩ tưởng đó và mình cái muốn đi theo chiều thiện là rất tuyệt vời.

"Như vậy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thiên tử Siva, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Siva nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền,

Chỉ tốt hơn, không xấu.

Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền,

Ðược tuệ, không gì khác.

Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền,

Không sầu giữa sầu muộn.

Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền,

Chói sáng giữa quyến thuộc.

Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền,

Chúng sanh sanh thiện thú.

Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền

Chúng sanh thường hưởng lạc." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, I. Siva)

Đây là bài kệ của một vị trời đọc ở trước mặt Đức Phật, sau đó Đức Phật đáp lại bài kệ kết thúc.

"Rồi Thế Tôn đáp lại Thiên tử Siva với bài kệ:

Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền,

Giải thoát mọi khổ đau" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, I. Siva)

Cổng Trời ở đây cũng có nhân duyên là Đức Thế Tôn thường nói pháp vào bốn-năm giờ sáng, đó là giờ ngài nói pháp cho chư thiên, đó là thời khóa biểu hằng ngày của Đức Phật, nếu mà chư thiên có hỏi pháp gì thì giờ đó là chư thiên đến với Đức Phật hỏi pháp. Khi con về trên núi này người dân ở đây người ta nói "thầy ở đây tu đó không thành Phật cũng thành tiên" thì con có những cái bài hồi xưa tên là "Không thành Phật cũng thành tiên", sau đó con chọn cái giờ nói pháp của chư thiên để học vì sáng vừa thức dậy thì lúc đó tinh thần minh mẫn, cơ thể mình sung mãn nhất khi mình được nghỉ bảy-tám tiếng rồi thì cái thân thể mình khỏe, tinh thần của mình minh mẫn, giờ đó mình đưa cái pháp vào thì lúc đó trí tuệ của mình tiếp thu một cách rất là bén nhạy, sắc bén, tròn đầy cho nên chọn giờ nói pháp chư thiên làm giờ học pháp ngay trên cổng Quán Chiếu Đường và tự nhiên người ta kêu Cổng Trời luôn, giờ nó thành Cổng Trời vì đó là giờ nói pháp cho chư thiên.

Chư thiên thỉnh pháp Đức Phật ở trong kinh Tương Ương Bộ ở trong Nikāya là thường xuyên và liên tục, đó là chuyện bình thường, Đức Phật nói những vị đi vào sơ quả là chư thiên thường thích làm bạn, sẽ tới lui với những vị đó. Còn người bình thường mà không có tu, còn đầy rẫy tham, sân, si, dục ái thì các ngài tránh xa lắm. Cái vị nhập thất có các ngài xuống thăm không? Khi mình tu tinh tấn sẽ có những sự chiêu cảm mà những cái này là mình không có mong cầu. Khi bậc đạo sư lên trên núi này lần đầu tiên thì sáng hôm sau ngài hỏi con hồi hôm ở chùa mình có ai mở nhạc không, con nói không có, ngài kể lại là ngài nghe tấu lên trăm ngàn nhạc khí cả cái ngọn núi gần một tiếng đồng hồ, âm thanh vi diệu lạ thường chưa từng thấy. Khi chúng con qua bồ đề đạo tràng với ngài có rất nhiều những điều đặc biệt, thành ra là đối với Đức Phật chư thiên xuống để nghe pháp là rất bình thường.

Vị chư thiên này khi tu tập được phước báo sanh thiên thì ngài giống như làm bài báo cáo thu hoạch đạo lộ dẫn ngài đến thành chư thiên, thành một vị trời. Ở đây có hai loại chư thiên, chư thiên phàm phu và chư thiên thánh đệ tử, chư thiên phàm phu khi hưởng hết phước là đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tại vì hưởng không à, còn chư thiên thánh đệ tử là từ đó tăng thượng, tăng thượng cho lên tới Niết-bàn chứ không có lui xuống. Thành ra chư thiên ở trên trời có hai dạng, một dạng là phàm phu thiên, một dạng là thánh đệ tử thiên thường các vị đến học pháp là thánh đệ tử thiên.

Nếu ở trong đời mình gặp được những bạn lành, những thầy tốt, những huynh đệ có sự hướng thượng trong giới, định, tuệ thì mình thân cận, gần gũi, chỉ tốt hơn không xấu. Nếu mình đi đến những chỗ lành, là thiện, là tốt thì hãy đến chỗ đó nhiều, chỉ tốt hơn không xấu.

Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền

Chúng sanh thường hưởng lạc.

Đây là những kết quả của người gần gũi được bạn lành, bậc thiện tri thức, thứ nhất là chỉ tốt hơn không xấu, thứ hai là được trí tuệ, thứ ba là mình không có buồn đau giữa những người đau buồn. Một khi mình có trí tuệ rồi, giống như hồi nãy mình hiểu được bây giờ cái thân này là vô thường, những người thân mình cũng là vô thường trong ngũ uẩn, nếu người thân mình ra đi thì mình vẫn biết nhưng mà cái tâm của mình chấp nhận, cái tâm của mình hiểu rõ nó là sanh, lão, bệnh, tử, nó là lẽ đương nhiên cho nên lòng mình nhẹ hơn. Chính vì vậy mà mình không có sầu giữa sầu muộn vết sầu muộn, bao nhiêu người buồn đau, khổ sầu nhưng mà mình không có khổ sầu, tại mình biết bản chất nó là như vậy, bản tính là như vậy, không thể vượt khỏi tánh chất ấy. Bản chất của thân này là như vậy, ngũ uẩn là như vậy, tứ đại là như vậy cho nên mình không sầu giữa sầu muộn.

Thứ tư là chói sáng giữa quyến thuộc, cái này rất là đặc biệt, có những gia đình đến con tiếp xúc anh em mặt mày thấy cũng bình thường, có khi xấu xí mà tự nhiên có một người trong gia đình đó giống như "phụng lập quần kê", phụng đứng giữa bầy gà, vượt trội giống như phụng hoàng ở trong bầy gà vậy đó. Chúng ta có thấy trong gia đình lâu lâu có những người vậy không ạ? Thí dụ bốn, năm, sáu, bảy người anh em, tự nhiên có một người vượt trội về dung sắc, vượt trội về trí tuệ, vượt trội về phước báo và người đó có thể gánh vác hết cả gia đình, luôn nuôi cả chục người, mấy chục người, cái người đó đã đảm đang hết mọi công việc. Ví dụ như cô Nhân Từ của con, nói trắng là cô Hồng mập, có những gia đình con cũng thấy anh chị em nhìn xấu đau xấu đớn, đen lúa mà thấp nhỏ người, bỗng nhiên có một người vượt trội dung sắc, thì cái này là phước báo của người đó nhưng cái này cũng chưa phải là quan trọng. Cái chói sáng giữa quyến thuộc ở đây là đức hạnh và trí tuệ, làm chói sáng thân tâm của người đó, là nhờ người này thân cận người lành, gần gũi người thiện, biết diệu pháp người hiền, chói sáng giữa quyến thuộc.

Chúng ta ngồi đây đại đa số là những người chói sáng giữa quyến thuộc chúng ta mới ngồi ở đây, chúng ta sẽ là những người tiên phong, dẫn đầu, hướng đạo cho trong gia đình của mình tu học. Chói sáng bằng đức hạnh, trí tuệ, tình thương của mình, mình sẽ hướng dẫn người thân thương mình nhất, chẳng hạn như giờ Mỹ Duyên hay là Hiền Duyên cũng còn rất nhỏ thôi nhưng mà cũng đã có những bước khởi sắc, đã bắt đầu hướng dẫn mẹ, anh, chị, cả gia đình, rất đáng trân trọng. Yến ở đây cũng vậy, Yến không có mặt ở đây nhưng cũng đang làm trong ban văn hóa, biên soạn những kinh sách, pháp tạng Nikāya, Tuấn ở trong trưởng ban văn hóa cũng vậy, thầy Pháp Nghĩa là thôi khỏi nói rồi, thầy Thiện Huệ là quậy rực sáng luôn, Ni sư là bừng sáng, Ấn Đức thì rực chói sáng luôn. Tất cả chúng ta là nhờ thân cận người lành, gần gũi người thiện, biết diệu pháp người hiền, chói sáng giữa quyến thuộc.

Tuyệt vời lắm! Đây là bài thu hoạch của trời chứ không phải người, đất trời đều cảm nhận được thánh pháp vi diệu, cho nên chúng ta không tu, không học chánh pháp thì nó uổng biết bao nhiêu mà nói. Chẳng những chói sáng giữa quyến thuộc mà khi nhắm mắt ra đi những người này sanh lên cõi lành, các cõi cao cấp, cõi an lạc, cõi thanh tịnh, cõi phước báo, cõi công đức, cõi cao thượng. Thánh đệ tử thiên là thánh quả thứ ba, ở trên đó lui không quay lại thế giới này nữa, từ đó nhập Niết-bàn luôn.

Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền,

Giải thoát mọi khổ đau.

Nói cái gì rồi cũng trở về cái trọng tâm tối thượng là diệt tất cả khổ, Đức Phật nói giải thoát mọi khổ đau. Mục đích cuối cùng của việc gần gũi bạn lành, thiện tri thức, minh sư, thiện hữu là diệt khổ. Như vậy trở lại vấn đề là mình thương con của mình, mình thương chồng, thương vợ, thương anh em, thương cha mẹ của mình là mình giúp cho họ thân cận, gần gũi người thiện, người lành để biết diệu pháp, để cuối cùng hưởng được rất nhiều lợi lạc, thứ nhất là tốt chứ không xấu, thứ hai là được trí tuệ, thứ ba là được an lành giữa những người sầu khổ, thứ tư là chói sáng giữ quyến thuộc, thứ năm là được sanh cõi lành, thứ sáu là hưởng được những cái sự an lạc và cuối cùng thứ bảy là giải thoát mọi khổ đau. Nếu thật sự mình thương những người thương của mình, mình phải hướng dẫn họ như vậy cho nên thương bằng cái tâm từ tuyệt vời lắm, càng thương thì mình càng hạnh phúc, càng thương thì tâm mình càng lớn, càng thương thì trái tim của mình càng vĩ đại chứ không phải càng thương thì càng khổ. Thương của cái từ bi đặc biệt lắm, càng thương thì tâm càng lớn, càng thương thì tâm càng rộng, càng thương thì tình thương càng bao la, vĩ đại, vô lượng, vô biên, vô cùng, vô tận. Mình muốn cái thương để cho nó an lạc, nó rộng lớn, hay muốn cái thương để cho sầu, bi, khổ, ưu, não?

Thiền biết ơn là chúng ta tập từ cái thương của hiền thiện, rồi bước lên cái thương của hiền trí, rồi bước lên cái thương của hiền thánh, có ba cấp độ. Cái thương của hiền thiện là mình thương, mình muốn cho người đó được tốt chứ không phải mình thương để theo ý mình. Mình thương, mình muốn cho người đó được tốt là cái thương của hiền thiện, cái này mình đối với con mình nhiều không? Mình biết tu tâm hiền thì mình mới có cái thương hiền thiện, mình chưa có tâm hiền là cái thương mình có khi dữ dằn lắm, cho nên cái thương hiền chỉ hai chữ thôi nhưng mà tuyệt vời lắm, tình thương hiền thiện, rồi mới tình thương hiền trí là tình thương bằng trí tuệ, mình khéo léo dùng trí tuệ của mình để thương người đó.

Có khi mình làm cho họ khổ nhưng mà thật sự mình đang thương họ, chẳng hạn như giờ con nhắc nhở quý thầy, các chú, chỉ dẫn những cái lỗi, những cái sai thì con có thương không? Khi mình có một sự sanh khởi được trí tuệ rồi thì cái thấy của mình sẽ ngược đời nhiều lắm, nó không có giống như người bình thường nữa, cái người ta cho là vui nhưng mình thấy cái đó là khổ, cái người ta cho nó là được mà mình thấy cái đó là mất, cái người ta giương cao ngọn cờ lên thì mình lại cúi đầu xuống, đó là lẽ sống của bậc hiền trí. Những cái đúng ra người ta phải dương dương tự đắc, hãnh diện nhưng mà người hiền trí thì không thấy là cái gì hết, người đó cúi nhường. Trong đời con gặp được những người rất là tuyệt vời mà hiếm lắm, đến từ đầu ngón tay, suốt gần năm mươi năm qua là gặp mấy người đếm trên đầu ngón tay thôi, có những con người như vậy, rất là khiêm hạ, rất là tuyệt vời.

Tình thương của bậc hiền thánh thì tuyệt vời lắm, mình không thể hiểu nổi, nó vượt ngoài cái giới vực, cái nhận thức của mình. Chúng ta phân biệt tình thương làm cho mình khổ đau, tình thương làm cho tâm mình rộng lớn và tình thương có thể giúp cho mình chấm dứt hoàn toàn đau khổ trên cuộc đời, đạt được hạnh phúc tối thượng cho nên khi chúng ta về đây đầu tiên là chúng ta tập hiền thiện. Mấy hôm nay chúng ta có hiền ra thêm không? Có dễ thương không? Có đi nhẹ nói khẽ hơn ở nhà không? Có thấy mình tâm mình nó mềm ra chút nào không? Khóc là để cho cảm thọ mình thấm rồi bắt đầu nó giãn nở ra chút tại vì nó đang co cứng lại. Cái tâm của phàm phu chưa hiểu về chánh pháp, chưa nhìn nhận được ngũ uẩn là cái tâm giống như bàn tay đang nắm chặt lại, đó là tâm của vô văn phàm phu chưa nghe chánh pháp. Khi mà mình bắt đầu được nghe chánh pháp, bắt đầu được chỉ nhận diện về ngũ uẩn, bắt đầu thấy được đôi phần tham, sân, si thì cái tâm giống như bàn tay mở ra từ từ, mỗi lần nghe pháp thấm thì mở ra một chút, nhận diện, như lý tác ý riết thì mở ra được chút nữa, thiền quán thường xuyên thì mở tâm rộng ra như bàn tay xòe ra.

Đó là trạng thái vận hành của tâm trong thánh pháp, lúc đầu nắm chặt lại mình thấy có một cái thôi, bây giờ mở ra thì mình thấy rõ ràng là năm thủ uẩn. Khi mình đã thấy năm uẩn rồi mình tác ý, quán chiếu từ từ rồi cái tay xoay chiều buông xuôi giống như bàn tay tiếp dẫn của Phật. Đầu tiên khi mình tu tâm hiền thiện là nắm tay này bắt đầu mở ra từ từ, lúc mình trào dâng nước mắt là mình đang mở tâm ra. Mình khóc vì mình hối hận tại sao trước nay mình đối xử cha mẹ như vậy, kế đó là mình hạnh phúc, mình vui sướng là vì bây giờ mình làm được, mình không tin là mình làm được, mình không ngờ là mình lại có được hành động ngọt ngào, hiếu thảo như vậy. Thành ra vừa hối hận, vừa hỷ lạc, vừa có một cái tâm hướng tới ở trong tương lai mình chưa đưa cha mẹ mình lên thì hôm nào mình sẽ rước lên, hoặc là mình về sẽ làm cái này đối với cha mẹ của mình, mình sẽ có hiếu hơn, có thảo hơn, mình sẽ là biết cái ân nghĩa, biết ơn, nhớ ơn, đền ơn, nhiều hơn lúc trước nữa. Như vậy đó là cái thọ của mình đang mở ra, từ cái chỗ nắm cứng mở ra từ từ, cứ mỗi lần là mình có cảm thọ, mình có cái cảm xúc, mình có sự chấn động ở trong tâm của mình là lúc đó cái thọ thủ uẩn, cái sự chấp thủ ở trong cảm thọ mình rung chuyển giống như địa chấn.

Nếu nghe pháp mà cứ đơ đơ, trơ trơ từ đầu tới cuối, từ đầu khóa cho tới cuối khóa có thấy gì đâu thì cái thọ còn trơ trơ, chưa có thấm gì hết, chưa có rung lắc, chưa động chuyển cho nên bài kinh Thủ chuyển là rất tuyệt vời, nghĩa là sự chấp thủ bị rung chuyển, động chuyển, nó rung lắc, địa chấn trong đó, nó rung rinh trong đó. Những cái nền móng, nền tảng, cái thấy biết theo vô minh, chấp thủ, bản ngã của mình bị rung chấn, rung rinh, bị thánh pháp đánh phá vào, khi nhận diện ngũ uẩn kĩ mình sẽ thấy cái thọ của mình thay đổi thành ra đánh phá cảm thọ có hai chiêu thức, một là cương và hai là nhu.

Tất cả những cái mà mình cảm động, chấn động bằng một sự yêu thương, bằng tình thương nhìn nhận lại bản thân mình. Mình thấy xấu hổ, nhục nhã, mình thấy có lỗi, thẹn thùng thì đó là một sự đánh động đến cảm thọ, cảm thọ bất hiếu bị đánh động làm sanh khởi lên hiếu, sanh khởi lên lễ, sanh khởi lên cái sự tri ân, cảm ơn, nhớ ơn, báo ơn, đền ơn. Các cái thọ ở trong người mình đang động chuyển, nó đang thay đổi, nó đang vận hành, đó là theo phương thức nhu, còn theo phương thức cương đó là rầy la, quở mắng, dùng những cái thiền quán mãnh liệt ví dụ như thân trống rỗng, hay là ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi này kia đánh mạnh vô. Tất cả đều là những cái phương thức để đánh phá trong cảm thọ thôi chứ không có gì hết, cái thọ của mình bữa nay lắng xuống, nó dịu xuống, nó nhẹ xuống, mình thấy nhẹ nhõm hơn là cái bữa mình mới lên.

Có nhiều vị mới lên đó là cái tâm của mình còn cứng lắm, uốn nắn không được nhưng mà tu thời gian rồi bắt đầu nó mềm ra, nó thấm ướt từ từ rồi nó mềm ra, nó nhũn ra, rồi nó tan ra, nó chảy ra và cuối cùng nó hòa đồng giống như nước với sữa hòa hợp. Tuyệt vời không? Đó là cái trạng thái của cảm thọ mà mình phải nhìn thấy, mình tập xuống bếp cũng hiền, trên chánh điện cũng hiền, về Ni xá cũng hiền, ra bước đi cũng nhẹ nhàng, thanh tịnh, mình tập hiền thiện, mình quán chiếu những cái thiền quán mình đi lên tới hiền trí, mình nỗ lực, tinh tấn rồi mình sẽ gặp các bậc hiền thánh. Như vậy mình thấy được cái thương do dục, tham, ái, bản ngã, nghiệp, mình thấy được cái thương của từ bi, của tình thương rộng lớn, mình thấy được sự tu của mình là nó ở bên trong cảm thọ chuyển hóa từng bước, từng bước, từng cái nắm tay, rồi tới cái mở tay, cuối cùng là cái duỗi tay.

Khi mình có được cái cảm thọ chỉ mới có hiền thiện thôi là đã thấy tuyệt vời rồi, mình thay đổi trong gia đình mình, mình thay đổi được cảm thọ trong con người của mình, rồi mình sẽ thay đổi được ngôn ngữ, từ thay đổi được ngôn ngữ sẽ tới thay đổi được hành vi. Khi mà cảm thọ mình thay đổi ngôn ngữ mình sẽ thay đổi, suy nghĩ mình sẽ thay đổi, hành động của mình sẽ thay đổi và khi cảm thọ, ngôn ngữ, hành động, cử chỉ của mình thay đổi thì mình sẽ làm cho người ở chung mình cảm nhận, bằng một cái sự để tâm của mình thì người kia sẽ cảm động và cuối cùng họ cảm hóa. Như vậy là mình đang hoằng pháp, đang giúp đỡ cho những người thân thương nhất trong gia đình của mình.

Đầu tiên là nhờ mình nghe pháp và thực tập cho nên khi mình có được một cái cảm thọ ngọt ngào rồi quý vị ơi nó tuyệt vời lắm, tỷ phú nhất hành tinh này cũng không bằng cái người thành tựu được cảm thọ hiền thiện, lúc nào người ta cũng hạnh phúc, trú ở trong tâm hiền, tâm hỷ, tâm từ, tám mươi-chín mươi phần trăm là người ta ở trong cảm thọ đó suốt ngày. Chỉ cần vừa nói "ta khơi dậy trong ta tình thương và từ tâm" là bắt đầu cảm thọ dâng lên và nước mắt rưng lên, nó tràn ra, trong tâm chứ đựng không nổi cái cảm thọ hiền thiện, ngọt ngào và từ bi, cái thân này chứa không nổi. Do cái sự quân tập của người này, cảm thọ của người này rất là hiền thiện, lắng dịu, ngọt ngào và từ ái cho nên tất cả những người mà gặp tiếp xúc với người này đều có một sự cảm nhận được, cảm động và sẽ cảm hóa. Cho nên là mình cứ lo chăm sóc cảm thọ mình đi, đừng có lo cái gì ở ngoài nhiều hết, có được cái cảm thọ này rồi là quý vị có kho báu tâm linh.

Quý vị cứ nghĩ rằng mình phải có nhiều tiền, nhiều xe, nhiều nhà, nhiều tài sản nhưng mà cái đó có thể mất rất là mau chóng, tích tắc, còn nếu quý vị được cái cảm thọ này, cái này là suối nguồn của tất cả phước báo và công đức, những cái kia nó chỉ là chuyện rất là đơn giản thôi khi mình có được cảm thọ này rồi, không còn mà tự nó đến, đây là cái nguồn sanh ra phước báo, công đức, từ tâm, là cái cảm thọ này. Muốn vậy mình phải biết cảm giác toàn thân, phải biết tu tập cái cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, tu tập tâm hiền, tu tập tâm từ vô lượng thì mình sẽ có một kho báu tâm linh trong con người của mình. Nó dễ chịu lắm, nó lạ lắm, hồi xưa gặp thầy thì nghe thầy nói là cảm thọ ngọt ngào, con không hiểu, không biết ngọt ngào là cái gì, cảm thọ ngọt ngào ra sao, ăn sầu riêng thì ngọt, ăn chuối thì ngọt, ăn chè thì ngọt chứ bây giờ cảm giác mình sao mà ngọt, mình không có hiểu. Nhưng từ từ mình được hướng dẫn, mình được tu tập, mình được thực tập tâm hiền, tâm từ đâu giờ mình mới thấy nó ngọt làm sao.

Nó ngọt mà mình muốn chia hết, cứ chia hoài, chia hoài, càng chia thì nó càng bự, càng chia thì nó càng rộng, càng chia thì nó càng vô lượng, vô biên, vô cùng, vô tận là cái cảm thọ ngọt ngào. Tuyệt vời là tâm từ này! Chúng ta phải ráng tu, đừng có lu bu rồi sẽ ở tù, phải thoát ra khỏi cái ngu để mình thành tựu công phu. Có cô Phật tử bên Mỹ điện thoại về cho con bảy, tám năm trước nói:

Thầy ơi con có xin mẹ con đi tu hoài, con xin hoài mấy chục năm mẹ con không cho, giờ con ở tù.

Sao vậy?

Giờ con bốn đứa con rồi, giống như đang ở tù.

Thành ra một tu, hai ở tù, ở tù đây là trong cái cảm thọ của mình, trong cái tâm của mình không có đi ra khỏi cái đó, nó bị lòng vòng ở trong bốn cái bức tường, nó lòng vòng ở trong cái khung, nó lòng vòng ở trong cái mô tiếp, cái khuôn sáo, cái cấu trúc, cái khuôn khổ, nó cứ lòng vòng giống như cá chậu chim lồng, kiến bò miệng chén vậy đó. Nó bơi gì bơi thì nó cũng ở trong cái chậu đó, nó nhảy gì nhảy, nó kêu cỡ nào cũng ở trong cái lồng đó, nó có bò hoài thì nó bò vòng vòng trên miệng chén không biết đường đi ra, chỉ có tu cảm thọ tâm hiền, tâm từ này mình mới thoát ra cái cảm thọ bức xúc, khó chịu, bực bội, bất mãn, bực dọc, mình tu cái cảm thọ dễ chịu này, cái hiền hòa, cái ngọt ngào này là mình đi ra khỏi, mình có lối thoát. Mình bước từng bước giống như bước ở trên mây, mình ngồi ở đâu tâm mình cũng an tịnh, lắng dịu, làm cái gì cũng nhẹ nhàng mà nó bình an, nó nghệ thuật, nó mỹ thuật, nó thiền vị, đạo vị. Tất cả mọi cái mình nhìn vô đều trở thành những tác phẩm nghệ thuật vi diệu trong cái ánh nhìn của tâm chánh niệm.

Tới lúc tâm quý vị nhẹ nhàng, bình an, quý vị nhìn trời mây cũng đẹp, cây cối, núi rừng, trời mây là bonsai, không cần phải uốn éo cây nào nữa, nhìn trời đất vũ trụ này bằng cái tâm bình an. Nếu tâm mình đang sân, đang bực thì vô máy lạnh mười tám độ có hết giận không? Tất nhiên là không, vấn đề là ở trong cảm thọ chứ không phải ở ngoài không khí, ở ngoài thân, ở bên ngoài mình có làm gì làm cũng vậy thôi, phải giải quyết từ ở bên trong cho nên quý vị nhớ an trú cảm giác toàn thân là rất quan trọng, rõ biết ở trước mặt, và nội tâm cảnh giác, ba cái pháp đó là thực hành xuyên suốt không bao giờ quên, cộng với nhận diện ngũ uẩn, tác ý tâm hiền nữa, khiêm cung, diệt ngã là tối thượng, tuyệt vời như vậy mà không chịu thực hành thì ráng chịu.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.