Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Xả Vô Lượng Tâm 1

2026-03-03 00:53:28
Xả Vô Lượng Tâm 1

Thích Minh Thành

Ngày 21 tháng 07 năm 2021

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thế nào là tâm chấp thủ? PAGEREF _Toc78803697 \h 1

II. Buông xả và trách nhiệm PAGEREF _Toc78803698 \h 5

III. Đau khổ vì tâm chấp thủ - khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc78803699 \h 5

IV. Đi vào tâm xả PAGEREF _Toc78803700 \h 12

V. Trình pháp PAGEREF _Toc78803701 \h 14



I. Thế nào là tâm chấp thủ?

Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân. Thở vào thở ra làm cho an tịnh, lắng dịu. An tịnh, lắng dịu, dễ chịu.

Mời quý thầy, quý cô và đại chúng cùng niệm Phật:

“Tâm khó thấy, tế nhị,

Theo các dục quay cuồng.

Người trí phòng hộ tâm,

Tâm hộ, an lạc đến”

(III. Phẩm Tâm - Kinh Pháp Cú)

Tâm này thật khó thấy, thật là tế nhị, nhỏ nhiệm. Đó là lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nói. Chúng ta đừng tưởng chỉ học nhận diện ngũ uẩn một chút như vậy là mình đã biết ngũ uẩn rồi, đó là thất bại. Tâm này rất khó thấy, rất nhỏ nhiễm, luôn chạy theo với các tham muốn, yêu thích rồi quay cuồng suốt ngày đêm, thậm chí là trong giấc ngủ.

Chỉ có bậc trí ngày đêm lo điều phục tâm, nhìn ngó cái tâm mãi, không lơ là. Khi tâm được điều phục thì tự động an vui, xuất hiện, dù cho có xảy ra chuyện gì, dù cho trời sập, thân thể này có tan rã thì tâm trí cũng có sự an tịnh, lắng dịu, bình yên. Nên khi học kinh không đơn giản, như lời Đức Phật đã nói là tâm khó thấy, tế nhị, vậy mà nhiều lúc trở về mình nghĩ là “Ngũ uẩn có gì đâu, tôi biết rồi!”.

Chúng ta thấy chỉ hai từ khó thấy, đã thể hiện là tâm không dễ thấy, chỉ cần buông ra, rời pháp là quay cuồng ngay. Nên người trí rất lo lắng, người không trí thì không lo. Hôm nay chúng ta học bài Xả vô lượng tâm, học về công năng, giá trị của tâm xả, là tâm buông bỏ.

Tâm xả là tâm buông bỏ tất cả những chấp trước, chấp thủ, dính mắc, trói buộc, tham ái, tham dục, tham muốn đối với thân ngũ uẩn và thế giới ngũ uẩn này. Tâm xả vô lượng này cần được tu tập để giúp tâm quay về trong sự bình lặng, yên lặng của nội tâm.

Tu tập tâm buông xả những tham muốn, đòi hỏi, dính mắc và si mê, những buồn phiền, oán hận, những cảm thọ tức giận, oán thù, trách hờn trong tâm. Đây là công năng, tác dụng của tâm xả, giá trị, mục đích, lợi ích của tâm xả, của tâm buông bỏ.

Nhiều khi mình nói tâm xả người ta không biết, chỉ nghe là từ bi hỷ xả nhưng không biết từ xả có ý nghĩa gì, không biết chữ ác, xả là buông bỏ, tập tâm buông bỏ. Câu cuối trong bài đầu tiên của Nghệ thuật sống an vui – bài Dạy con – là “Tâm buông bỏ là tâm hạnh phúc”, tức có tâm buông xuống thì mới có hạnh phúc.

Nhưng phải buông điều gì? Không phải buông pháp, buông trí tuệ mà là buông xả tất cả những chấp trước, chấp thủ, dính mắc, trói buộc, tham ái, tham dục, tham muốn, đối với thân ngũ uẩn này và thế giới ngũ uẩn bên ngoài. Phải buông xả những điều đó. Không buông ngồi thiền, buông pháp, không buông nhận diện ngũ uẩn, không buông quán chiếu, tư duy, chánh kiến mà là buông những chấp trước, chấp thủ, dính mắc.

Thế nào là chấp trước, chấp thủ? Chấp là cầm, nắm; thói quen của tâm mê là tâm thích nắm, thích giữ, nên chấp trước là nắm giữ, cầm nắm. Chấp thủ là nắm chặt, nắm chắc. Nên chấp thủ luôn nặng hơn chấp trước, vì chấp trước chỉ là cầm, nắm còn chấp trước là nắm còn siết chặt, cầm những sân hận, nắm những tham nên khổ, nắm những ảo tưởng nên mới khổ.

Nên tu tâm buông bỏ này để mình buông bỏ những sự nắm chặt, nắm giữ, dính mắc, sự trói cột. Chúng ta thấy chữ dính mắc, trói buộc có thể dễ hiểu, nhưng hai từ chấp trước, chấp thủ không giải thích ra, chỉ hiểu chung chung thì nó lại không chung chung.

Vậy nên, năm thủ uẩn rất sợ từ đó, rất khiếp đảm. Không giờ nào chúng sanh không thủ với năm uẩn.

Đức Phật ví dụ:

“Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy.”

(Bài kinh Dây thằng – Tương Ưng Bộ Kinh)

Như con chó bị buộc vào cột bởi sợi dây thừng, thì con chó này có đi, đứng, ngồi, nằm, thức, ngủ hay chạy nhảy gì thì cũng chỉ lòng vòng quanh cây cột, không ra khỏi được cây cột, có đi cũng chỉ là ở gần cây cột, đứng cũng ở gần cây cột đó. Vì nó bị sợi dây thừng đó buộc vào trong cây cột đó, thì cây cột và sợi dây thừng ý chỉ sự vô minh và khát ái, đó là sợi dây tái sanh.

Chúng ta đã từng học trong Căn bản trí, ví dụ đó cho thấy đó là sợi dây tái sanh, về hỷ, về tham, khái ái đối với năm thủ uẩn thì đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh. Đối với chúng sanh, sự thấy, nghe, hay biết, tiếp xúc, cảm giác, suy nghĩ, tưởng tượng, nhận thức đều không đi ra ngoài sợi dây thừng và cây cột đó, tức là sự không hiểu biết về năm uẩn và sự yêu thích, tham đắm trong đó.

Vậy nên sự tu tập tâm xả này để buông những điều đó, buông xả sự nắm trong ngũ uẩn, chấp trong ngũ uẩn, bị giữ chặt, trói buộc, dính mắc trong ngũ uẩn, tham ái, tham dục, tham muốn đối với ngũ uẩn. Mình không còn tham ái với cái nhà, nếu nhà lỡ hư rồi thì mình có khổ không? Còn nếu mình tham ái, yêu thích, quý nhà đó thì nó có sụp, có đổ thì lúc đó mình có khổ không? Hay như mình tham ái với chiếc xe, mình yêu thích nó, mình chấp thủ, chấp trước, nắm chặt, nắm giữ nó, nắm giữ hình bóng trong tâm mà không chỉ cái sắc bên ngoài mà còn có sắc tưởng bên trong. Không chỉ nắm giữ chiếc xe đó mà còn nắm giữ thọ do thân súc sanh khi lên xe ngồi, nắm giữ cảm giác khi được tiếp xúc với chiếc xe đó. Nên khi chiếc xe hư, mất, hoại thì người đó đau khổ.

Đối với thân này mình không hiểu biết nên yêu thích, nắm giữ về nó, nắm chặt nó rồi khi nó tan hoại, nó rã nát ra thì mình đau khổ. Còn những người đã hiểu biết về thân này, không ưa thích, khoan khoái, không nắm, không giữ, không chấp, không thủ thì khi thân này tan hoại thì người đó không thấy khổ. Buông xả chính là buông xả sự nắm giữ đó. Buông xả vô minh và khát ái đối với thân này, đối với ngũ uẩn bên ngoài thế giới. Nên khi mái nhà tốc lên mình kêu lên như vậy là có nắm giữ không?

Hãy kiểm tra tâm của mình, tất cả mọi chuyện gì đến hãy xem đó là bài tập, đừng nên nghĩ “Nhà đó là tôi, là của tôi.” Mái nhà bị tốc bay nhưng đừng để bị bay mất cái tâm, phải giữ tâm vì mái nhà có thể bay mất nhưng tâm không được cho bay mất. Đó là bài tập gặp chuyện để kiểm tra tâm của mình, quan trọng là mình mất tâm an tịnh, lắng dịu, chánh niệm, chánh định của mình, mất đi nó là mất hết.

Hãy nhớ tất cả những gì đến với mình là bài tập, là cơ hội, phải thấy được cái tâm thật sự, công phu của mình đang ở đâu, chỗ đứng của mình đang ở đâu, là ở trong Thánh pháp. Nếu sau này thân này rã ra, mình sẽ chứng kiến sự quằn quại, đau khổ của nó, thì như vậy mình có buông xả được không, buông xả thân ngũ uẩn này được không, nếu bây giờ mình không tập từ từ? Vậy nên phải tập tâm buông xả tất cả những chấp trước, chấp thủ, dính mắc, trói buộc, tham ái, tham dục, tham muốn.

Chúng ta thấy từng chữ khác nhau, như trói buộc, là tâm này trói buộc trong sắc, trói buộc trong cảm thọ, trói buộc trong hình bóng, tưởng, trói buộc trong những suy nghĩ, hành, thức, sự rõ biết. Phải ý thức được tâm này thật sự đang bị trói buộc.

Chúng ta thấy chỉ sắc bên ngoài, chưa đụng chạm đến thân mình thì mình đã bối rối ngay, đó là bị trói buộc. Khi ở một chỗ nào đó thì nó nói đó là chỗ của nó! Đó gọi là sắc thủ uẩn, tâm mê. Như chúng ta sẽ học được bài thiền quán Tâm ơi đừng mê nữa. Nó mê rất kì lạ, ví như ngồi ghế đó thì cho rằng ghế đó là của nó, hôm sau có ai ngồi ghế đó thì nó lại sân bản ngã lên thì đó là sắc, thủ, uẩn. Như bồ đoàn ngồi thì nói đó là của nó, ai lại lấy thì sẽ nói “Sao lại lấy đồ của tôi?” nó sân si lên. Đó là do sắc thủ uẩn.

Cây, hoa, cỏ ở đâu nhưng đi tới ngắt, đem về trồng, lấy vào chậu nâng niu và cho là “Cây này là cây của tôi!”, ai đụng vào là sân hận, đau khổ. Đó là tâm bị trói buộc trong sắc, không đi ra được. Và bất cứ sắc nào tiếp xúc và chiếm hữu là nó chấp thủ. Nên sanh ra thân chuột dù dơ như vậy nhưng cũng là “sắc của tôi”, sanh ra thân hổ báo thì cũng là “sắc của tôi” hay như thân con dòi thì cũng là “sắc của tôi”, cũng phân biệt dòi đực, dòi cái, dòi đẹp, dòi xấu, đó là sắc thủ uẩn, là sự trói buộc.

Chúng ta phải biết rằng tâm này đang bị sắc trói buộc, đó là Khổ Tập Thánh Đế, nguyên nhân của sự đau khổ.

II. Buông xả và trách nhiệm

Chúng ta tự động phát nguyện xuất gia, cạo tóc thì không sao nhưng đối với mái tóc dài mà lại trở thành ngắn, mất đi cả tám tấc thì lúc đó sẽ ra sao? Là chuyện lớn xảy ra, là sắc thủ uẩn bị trói buộc trong các sắc nên tập ở chỗ đó và luôn luôn tác ý “Đây không phải là tôi, của tôi!” Ngay cả nơi mình ở, tất cả đồ dùng của mình đều phải tác ý “Đây không phải của tôi!”, đó là thực tập tâm buông xả. Nhưng mình vẫn bảo quản, giữ gìn, bổn phận, trách nhiệm đầy đủ, đó mới là điều tuyệt vời, không phải chỉ nói “Đây không phải của tôi!” là mình vô trách nhiệm, không bảo vệ, bảo quản. Mình vẫn bảo vệ, bảo quản tốt nhưng mình không để cho tâm của mình bị trói buộc trong sắc pháp đó, đó là tu tập tâm xả.

Chúng ta thấy điều này cần thực tập không? Có rất nhiều pháp để cho mình tu. Cảm giác bị trói buộc bên trong, tham ái, tham dục, tham muốn khác. Tham ái là tham nhưng yêu mến, tham dục là tham đối với Năm dục trưởng dưỡng, tham muốn thì ý nghĩa chung chung còn tham dục là bao trùm cả các dục bao gồm cả dâm dục, ái dục, dục lạc. Tất cả những cái đó đều nằm trong ngũ uẩn. Đối tượng tham dục, tham ái, tham muốn của nó là ngũ uẩn. Đối tượng của chấp thủ, chấp trước, dính mắc, trói buộc là ngũ uẩn.

III. Đau khổ vì tâm chấp thủ - khuyến tấn tu tập

Nên không chỉ tham còn ái là rất khổ, dai dẳng, dày xéo, hành hạ, nhức nhối, rỉ máu con tim. Cứ tích tụ năm năm, mười năm hay hai mươi năm mà ái đó không phá được, không đi ra được. Nên lúc xưa chúng ta xem các phim kiếm hiệp thì có thấy là Lý Mạc Sầu có câu “Hỡi thế gian tình là gì? Tại sao làm cho người ta sống chết, khổ đau?” Không xa nhau được nên tương tư, nhớ nhau hoài, đó là tham ái.

Hay khi mình muốn mua một chiếc xe mà không được thì thôi hay được chỉ thích thích vài ngày rồi thì không sao nhưng ái kia lại khác. Có nhiều người đối với đồ vật cũng tham ái, không phải chỉ đối với con người không, như có người thích một món đồ nào thì họ thích rất dữ, lúc nào cũng nhớ mà đi đâu ai cũng nói như thích xe thì dù gặp ai, lúc nào thì cũng chỉ nói về xe đó là không dừng lại ở chỗ thích xe nữa mà gọi là tham ái đối với xe.

Hay như người thích trà, dù thanh lọc nhưng suốt ngày chỉ nghiên cứu trà, hết loại này tới loại kia, loại nào càng mắc tiền thì càng khoái. Mình nghĩ đây là thanh cao, không phải thô nhưng đối với kinh Nikaya cũng là dính mắc, trong Thánh trí của Đức Phật không cho bất cứ một cái nào dính mắc trong năm uẩn hết.

Có nhiều người nghĩ rằng uống trà là thanh cao, đọc sách là thanh cao, mình tham những cái đó thì không sao hay đi ngắm sơn thủy, vân du, du tăng. Nhưng thâm sâu của trí tuệ Thánh trí này thì tất cả những điều đó đều bị tham ái và dục thúc giục cứ dẫn mình đi hoài, không yên để tu, cứ thích nay đây mai đó vân du hết chỗ này đến chỗ khác, mình chỉ nghĩ việc này không có gì là nặng nề nhưng cái đó lại bị dục dẫn dắt.

Nên tâm hướng ngoại giống như cô hồn, xúi giục nay đây mai đó sống vất vưởng như ma trơi, lang thang mãi nhưng ngồi tu không được, ở một mình lại không yên, cứ muốn kiếm chuyện này chuyện kia hoặc nay đây mai đó, làm việc này kia. Đó chính là một trong những pháp thoái đọa của Tỳ-kheo, là ưa thích công việc.

Thánh trí Nikāya rất khó nhưng được người đời chấp nhận. Ưa thích công việc, thế sự là một trong những pháp thoái đọa của Tỳ-kheo, thoái là lùi, đọa là rơi xuống, tức là lui lại, lùi lại và rơi xuống.

Mục đích của sự tu hành này là phát giác, phát hiện ra dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã nhiếp phục, tẩy sạch và đoạn tận. Nếu giờ chúng ta không phát giác, phát hiện thì làm sao nhiếp phục, tẩy sạch và đoạn tận? Chính việc này nên người ta khó tu theo là vì vậy, vì người ta không thích, người ta chỉ muốn phát huy cái thích, cái muốn của người ta. Vậy nên mới làm ra rất nhiều tác phẩm mới, sau này ra đời.

Chúng ta cần để ý kĩ trong sự tu. Chỉ riêng sự trói buộc đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là rất khủng khiếp. Khi cảm xúc của mình bị ám ảnh, xâm chiếm, áp đảo thì mình đi ra không được, có thể là suốt đời, không phải là chuyện bình thường. Vậy nên mới có câu nói “Làm sao giết được người trong mộng?” đó chính là ám ảnh của sắc tưởng, hay gọi là ý trung nhân, là người trong tâm, tất cả đều là do sắc tưởng ám ảnh.

Hai từ trói buộc là sắc, thọ, tưởng, hành, thức trói buộc và mỗi chữ bên trong đều phải giải thích và liên hệ trong năm uẩn. Nếu không giải thích kĩ thì chúng ta chỉ đọc lướt qua? Chấp trước là chấp trước sắc, thọ, tưởng, hành, thức; chấp thủ là chấp thủ sắc, thọ, tưởng, hành, thức; dính mắc là dính mắc sắc, thọ, tưởng, hành, thức, trói buộc cũng là trói buộc sắc, thọ, tưởng, hành, thức; tham ái, tham dục, tham muốn là đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Theo kinh Nikaya đọc như vậy mới là đầy đủ ý nghĩa.

Chúng ta hằng ngày có ý thức được mình đang bị sắc trói buộc không? Nếu như mình đã nhận diện được, ý thức được là mình đang bị năm thứ đó trói buộc thì mình có giãy giụa không? Nếu mình thật sự ý thức được là mình bị năm thứ đó trói buộc thì tất nhiên mình sẽ tìm đủ mọi cách để giãy giụa, tháo gỡ, cắt đứt nó ra thì đó mới là thật sự ý thức mình đang bị trói buộc. Còn như mình thấy “Tôi có bị trói buộc đâu, tay chân đều không bị giăng dây nào!” thì đó là vô minh, đang bị trói mà không biết là mình đang bị trói, nên sẽ bị trói mãi mãi hàng trăm ngàn, vạn kiếp, vô lượng kiếp vừa qua. Nên có nhiều người nói “Tu thì có gì đâu mà tu?” Như vậy thì làm sao đúng được tâm chỉ của Đức Thế Tôn?

Chúng ta phải ý thức rằng chúng ta đang bị trói, sắc đang trói. Khi chúng ta ngồi thiền, nghe pháp lâu thì mỏi mệt, đau nhức, buồn ngủ thì chúng ta có nhiếp phục được hay không? Hay là chúng ta bị sắc, bị cảm thọ hay bị tưởng, suy nghĩ sanh khởi trói buộc? Nếu mình không bị trói buộc thì mình ra lệnh ra sao thì nó phải theo ý mình. Ví dụ như mình ra lệnh là “Ngồi luôn ở đây một ngày không nhúc nhích, cử động. Ta ra lệnh cho mi ngồi!” đó là trú được trong định, tự do, tự tại với sắc uẩn này.

Nhưng khi ngồi một lát thì bên trong đã quậy phá, cảm giác, suy nghĩ, tưởng tượng ra “Bệnh có thể chết, ngồi chắc bệnh!” đó là bị trói buộc. Chúng ta luôn phải ý thức sâu sắc là chúng ta đang bị cảm xúc trói buộc, cảm giác, cảm thọ trói buộc. Và khi mình ý thức được mình đang bị trói buộc, thì mình có nhởn nhơ, thoải mái, bình thường nữa không hay là giãy giụa, suy nghĩ, tìm đủ mọi cách để tháo ra, cắt đứt ra, thoát ra? Đó chính là từ xuất ly tâm trong kinh Nikaya, tức là tâm luôn hướng ra sự thoát ra trong sợi dây này, mở sợi dây, cắt sợi dây này ra, vùng vẫy để sợi dây rời ra, đó mới gọi là thấy pháp, mới gọi là bậc Thành tựu Chánh Kiến.

Lúc nào cũng thấy bức xúc, bực phiền, bực bội trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, trong những dục ái, tham, sân si, bản ngã này, phiền phức, phiền não, phiền buồn, phiền toái. Chính trong những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ này là phiền phức, bức xúc, bực bội. Người luôn thường thấy được như vậy thì người này sắp sửa có được sự thấy biết chân chánh. Còn người nhởn nhơ, ở trong cảm thọ bất lạc, hí hởn, thì còn xa, ở ngoài cảnh chùa. Và dù cho ở trong chùa mấy chục năm thì vẫn là chưa vào cửa pháp, pháp môn – cánh cửa của Chánh Pháp.

Chúng ta mới hiểu được lý do tại sao bậc Chân tu, bậc Trí lúc nào cũng lo lắng. Giống như khi chúng ta học bài Nghệ thuật sống an vui, “Người trí thường lo lắng”, người không có trí thì không lo. Vì họ thấy được sắc đang trói buộc, cảm giác đang trói buộc mình, hình bóng thật sự đang trói buộc, hành hạ mình, ám ảnh mình, suy nghĩ cũng đang trói buộc mình, nhận thức cứ thấy nghe lại rồi cảm xúc biết lạ nên phiền não lên, bực bội, khó chịu, bản ngã lên thì dục tham, sân hận lên thì sự khó chịu trói buộc.

Xả chính là bỏ, quăng, cắt đứt, buông, bỏ các trói buộc đó, thì đó mới là tu tập tâm xả, không dừng lại ở thiền đường, lúc nào cũng quay về thọ, tưởng, hành rồi buông, bỏ nó xuống, quăng, cắt đứt, tháo gỡ ra, mở, thoát ra, chính là xuất ly tâm, tâm của mình hướng về sự thoát ly, sự buông bỏ, sự tháo gỡ, sự chấm dứt. Người cứ làm như vậy hoài, từng giây từng phút, nhất cử, nhất động, tất cả mọi trường hợp người này đều thực hành cái này thì làm sao không thành công? Sự kiện đó không thể xảy ra đối với người chăm chú niệm đạo, tinh cần, tinh tấn nhiệt tâm như vậy thì sự kiện không thành công là không thể xảy ra.

Đối với mình thì mình thấy mỗi ngày mình bị buộc bao nhiêu lần? Hay khi đợi nổi dục, tham, sân si thì lúc đó mới thấy? Khi chưa khởi lên thì phải tác ý từ xa, như lý giác sát, như lý tác ý, tỉnh giác, quan sát đúng với chân lý của nó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức đang trói buộc mình.

Chúng ta thấy được sự sâu sắc trong lời Đức Phật dạy, trong Thánh trí huệ này nên phải tu học pháp này thật sâu sắc, tâm xả vô lượng này cần được tu tập, để giúp tâm quay về trong sự bình lặng, yên lặng của nội tâm.

Vì mình buông nó xuống thì tâm của mình mới bình lặng, yên lặng được. Cứ mãi ưa thích, cứ muốn thúc giục mãi, tham lam, dính mắc, trói buộc mãi thì làm sao yên, bình, lặng được? Nên phải buông xuống, bỏ xuống, xả ra thì mới giúp tâm của mình quay về với sự bình lặng, yên lặng của nội tâm.

Các thầy, các cô cần để ý học, không phải thiền quán thì chúng ta mới dừng lại ở đây, ngay cả khi chia sẻ thì nói đến đâu phải làm cho các pháp phải hiển lộ ra. Tu tập tâm buông xả là những tham muốn, đòi hỏi, dính mắc và si mê. Tập là làm tới lui, làm mãi cho đến khi nào làm được thì thôi, đó mới gọi là tập. Ví dụ như tập lái xe, tập quay phim, tập leo núi, tập võ… thì tất cả những cái đó đều phải làm tới lui, làm đến khi nào nhuần nhuyễn, thì lúc đó mới thôi, đó mới gọi là tập.

Tu tập cũng như vậy, không phải tới giờ mới lên, không có giờ mà giờ nào cũng là tu tập, cứ tập tới lui các pháp mãi, dù là ngày hay sáng, trưa, chiều, tối, nửa đêm thức dậy cũng tiếp tục tập, hết tuần này qua tuần khác, hết tháng này qua tháng khác, hết năm này qua năm khác, làm đến khi nào thành tựu khi đó mới gọi là tu tập thành công.

Chúng ta có tập không? Một ngày tập được bao nhiêu? Hay khi chúng ta buông ra rồi lại trở về vị trí cũ? Tu như vậy thì đến khi nào thành công? Phải tiếp tục tập, tiếp tục an trú, buông xả những gì tham muốn, đòi hỏi, dính mắc và si mê. Những đòi hỏi ăn, đòi hỏi mặc, đòi hỏi chỗ ở, đòi hỏi tiền bạc, đồ đạc, đòi hỏi tình cảm, tình thương, tình thân, đòi hỏi quan tâm, lo lắng, chăm sóc cho mình rồi lại thành tham ái, không chịu trú trong pháp, không thấy pháp là quan trọng, là tối thượng, mà lại đi tìm những cái tầm thường.

“Này các Tỷ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng.

Này các Tỷ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng”

(Bài kinh Mười lực, III. Phẩm Mười Lực, Tập 2. Thiên Nhân Duyên,

Tương Ưng Bộ Kinh)

Tâm của mình phải hướng về tối thượng pháp thì những cái bên dưới không là gì hết, dù là được mất, danh lợi, hư hao này nọ không là gì hết, lúc nào cũng thấy pháp, pháp có hiện rõ, có an trú, có đứng vững trong pháp, trong tứ niệm xứ, có trú trong vô thường, khổ hay vô ngã không, nên đừng để cho đòi hỏi, dính mắc, si mê.

Có câu nói “Đời được một muốn hai!” là được một rồi lại muốn hai, được hai rồi lại muốn ba, đứng núi này trông núi nọ, cuối cùng cuộc đời lại không ra gì. Tu nhưng vài ngày ở chùa này, vài ngày lại sang chùa kia rồi khi ở chùa kia không được thì lại chạy sang chùa khác. Đó là chạy theo sự thúc giục bên trong mà lại không biết cái gì đang dẫn dắt mình chạy. Một khi chúng ta hiểu được pháp thì:

“Hãy đứng dậy, lên đường,

Hãy dấn thân Phật giáo,

Hãy đánh bại Ma quân,

Như voi phá chòi lá.

Ai trong pháp luật này,

An trú không phóng dật,

Đoạn tận vòng sống chết,

Sẽ chấm dứt khổ đau”

(Bài kinh Arunàvati, Phẩm Thứ Hai, Chương Tương Ưng Phạm Thiên, Tương Ưng Bộ Kinh)

Kêu đứng dậy lên đường không phải là chỉ xách đãi đi mà là quật khởi tinh thần, hùng tráng, lên đường là dấn thân vào sự thực hành, dấn thân Phật giáo là dấn thân vào những lời dạy của Đức Phật để thực nghiệm, thực tập, thực hành, thực chứng, để “Đánh bại ma quân như voi phá chòi lá. Ai trong pháp và luật này tinh cần không phóng dật để diệt dòng sanh tử, chấm dứt mọi khổ đau.”

Nếu không trú trong pháp thì tâm này luôn đòi hỏi, đòi cái này đến cái kia, cái nọ, muốn hay dục nhiều cái nhưng lại không muốn đem hết tất cả sự thúc giục đặt vào trong pháp. Nên phải thấy được sự đòi hỏi của nó, thật sự là tâm khó thấy, tế nhị theo các dục quay cuồng, người trí phải điều phục tâm, tâm điều an lạc đến và phải thấy được sự đòi hỏi của nó, sự si mê, ngu muội của nó. Tâm này rất ngu ngốc, không biết được cái gì nên làm hay không nên làm, chỗ quan trọng hay không quan trọng (thứ yếu) thì nó lại không biết.

Nên các Tỳ-kheo phá được vô minh uẩn to lớn như vậy thì phải tập biết nhìn tâm, vui vì biết tập nhìn tâm của mình, đừng bỏ qua, lơ là, xem thường, cẩu thả, qua loa mà phải nhìn cho thật kĩ, lôi ra tất cả. Giống như khi quét nhà thì phải quét hết tất cả ngõ ngách, ngóc ngách, móc hết ra dù là dưới gầm giường hay hốc tủ… Nên phải tập nhìn tâm, nhìn vào xem còn bên ngoài thì mặc kệ, dù trời đất sụp đổ, nhà cháy, gió lốc, núi sập thì cũng không sao, chỉ cần giữ được cái tâm.

Ví dụ như bây giờ có những người chưa kịp đưa vào bệnh viện thì đã chết, hay chưa kịp đưa vào khu cách ly cũng đã chết. Nên chúng ta phải tu tập để phá si mê, vét sạch năm triền cái ra khỏi tâm vì chúng là thức ăn cho vô minh. Sắp tới chúng ta cũng sẽ được học các bài về vô minh.

Một chuyện thì phải nhìn từ nhiều góc độ, khía cạnh và phải đặt sự nguy hại vào đó, cái gì cũng có thể thấy được tính chất nguy hại trong đó, nguy hiểm và tác hại của nó, để phá si mê. Ví dụ như bây giờ, chỉ vừa có thông báo chuẩn bị giãn cách là chen lấn giành đồ trong siêu thị, tâm như vậy là mê hay tỉnh? Làm vậy nhưng lại sợ bị lây bệnh. Tâm của mình cũng giống vậy, cần buông xả những buồn phiền, oán hận, dù có rất nhiều chuyện buồn phiền. Nào là buồn việc này, phiền việc kia, bực việc nọ, giận rồi thù hận, oán hờn… cần buông xả xuống. Buông những cảm thọ tức giận, oán thù, trách hận trong tâm. Việc này cứ chất chứa mỗi ngày một chút nhưng đến khi xảy ra rồi thì lại như chuyện một người giết hết những người trong gia đình, đến năm mạng người. Đó là chất chứa oán thù trong đó, mỗi ngày một chút nhưng đến khi bung ra rồi thì rất khủng khiếp, không thể tưởng tượng được, là bất khả tư nghì là quả dị thục của nghiệp, không thể nghĩ bàn, nghiệp quả biến đổi chín mùi mà trong người trổ ra thì không ai có thể tưởng tượng được.

Như chuyện một bà chủ nói nặng, khinh khi, chửi mắng người làm công tức giận đến khi giọt nước tràn ly thì người đó giết hết cả vợ chồng lẫn con. Vậy nên khi chúng ta tu, từ những điều nhỏ như cảm xúc khó chịu, bực bội thì buông xả, tác ý nhổ tận gốc rễ, không để cho chất chứa, tích lũy trong đó. Những cảm thọ buồn phiền, hờn mác, giận dỗi, oán thù là phải tác ý tâm từ, nhổ, đào nó lên, chặt hay chẻ, đốt hay ném xuống sông, xuống biển cho gió thổi đi mười phương, tám hướng, thổi vào hư không, tan biến vào hư không. Đừng để chất chứa những cảm thọ đó bên trong vì đời này chưa phát nhưng đời sau có thể phát khởi ra, hay giờ không sao nhưng ba năm, mười năm sau lại phát khởi, hay chỉ một tuần sau, tháng sau thì sanh khởi, bung lên, bùng ra, nổ ra.

IV. Đi vào tâm xả

Nên sự tu tập tâm xả này giải tỏa hết tất cả những nội kết, cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, tích tụ, uất ức, tức tưởi… Chúng cứ dồn nén rồi chất chứa bên trong thì mình giải tỏa, giải phóng, giải phá, giải thoát hết tất cả thì đó là mình tu tập được tâm xả, để cho tình thương được lan tỏa, để được sự bình lặng, bình yên, yên lặng của nội tâm.

Làm sanh khởi tâm xả thì khi chúng ta thực tập, bắt đầu chuẩn bị khi bước vào thực tập thì chúng ta hít vào, thở ra nhẹ nhàng bốn lần và thầm đọc những câu sau đây để khơi gợi cho tâm và cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng buông bỏ và buông xả.

Nhẹ nhàng ơi (Hít vào)

Nhẹ nhàng ơi (Thở ra)

Yên lặng ơi (Hít vào)

Yên lặng ơi (Thở ra)

Buông xả ơi (Hít vào)

Buông xả ơi (Thở ra)

Trầm lặng ơi, trầm lặng ơi.

Ta khơi dậy trong ta tâm bình lặng, lặng im. Ta khơi dậy trong ta tâm trầm lặng, lặng im. Trầm lặng sống trong ta, bình lặng sống trong ta. Trầm lặng có trong ta, bình lặng có trong ta.

Chúng ta thấy trong đoạn đầu làm sanh khởi tâm xả thì chúng ta gọi “Nhẹ nhàng ơi! Yên lặng ơi!” thì những cảm thọ sanh khởi, phải có mặt. Minh kêu gọi nó và thấy rõ ràng có một cảm thọ, cảm xúc nhẹ nhàng, gọi đến khi nào có thì thôi, không phải chỉ là đọc hết bài, hết câu. Gọi đến khi có một cảm giác nhẹ nhàng bắt đầu sanh khởi lên “Nhẹ nhàng ơi, yên lặng ơi!”. Chúng ta khơi gợi, khơi mở, làm cho sanh khởi, khởi phát: “Ta khơi dậy trong ta tâm bình lặng, lặng im”.

Chúng ta thấy tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi thì chúng ta có thấy thật tuyệt diệu không? Ví dụ như “Yên lặng thì thôi ngồi im đi, nói làm chi?” nhưng chúng ta lại “Ta khơi dậy trong ta tâm bình lặng, lặng im!” tác ý thì pháp mới sanh được. Nhưng khi ngồi thấy im vậy mà thật sự không phải im, tưởng im nhưng nó đang nói chuyện, đang nói thì thầm trong đó. Nhưng giờ mình gọi “Khơi dậy trong ta tâm bình lặng, lặng im” thì giống như pháp lệnh ban ra như vậy thì đối với tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, là tâm chấp nhận học pháp, nghe lời thì lập tức sanh khởi. Chúng ta thấy rõ là tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, không tác ý là không sanh.

Nên “Ta khơi dậy trong ta tâm bình lặng, lặng im. Ta khơi dậy trong ta tâm trầm lặng, lặng im.” Lúc đó chúng ta sẽ thấy trong cảm thọ có một sự trầm xuống, lặng xuống, im ru, im re, trầm lắng như vậy, rất khó mà sanh ra được cảm thọ, cảm xúc đó. Chúng ta có bị tiếng bên ngoài tác động không? Khi chúng ta đã làm quen được khi cảnh yên, tâm lặng nhưng sau này cảnh động nhưng tâm vẫn trú vào được lặng yên thì đó chính là sự thuần thục. Nên khi mình đang thực tập mà có tiếng động thì mình tác ý “Đây là cơ hội để mình thực tập tĩnh trong động!”, không phải khi chúng ta đang thực tập yên nhưng lại có tiếng động thì nói “Giờ này người ta yên sao lại chen vô?” thì đó là tâm hướng ngoại, chính là tâm khó thấy, tế nhị.

Tất cả những gì hiện ra thì mình luôn nắm bắt cơ hội để làm bài tập, khi sanh khởi tiếng động thì tác ý “Đây là cơ hội để mình thực tập tĩnh trong động!”. Ví dụ như khi nghe thấy tiếng xe thì tác ý ngay là “Đây là cơ hội để mình thực tập tĩnh trong động!” hay lại nghe thấy rồi đi theo nó? Nên tâm khó thấy, tế nhị là như vậy và sự tác ý của mình cũng phải sắc bén và thiện xảo. Tâm này đã quen hướng ngoại, có việc gì là chạy theo.

Khi khơi dậy thì tâm có mặt “Tâm trầm lặng sống trong ta, bình lặng sống trong ta. Trầm lặng đang có trong ta, bình lặng đang có trong ta.”