TẬP KHÔNG THỌ NHẬN
TẬP KHÔNG THỌ NHẬN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Chất chứa cảm thọ PAGEREF _Toc75442512 \h 1
II.Tập không thọ nhận PAGEREF _Toc75442513 \h 3
III.Phòng hộ cảm thọ PAGEREF _Toc75442514 \h 8
Chất chứa cảm thọ
Hãy thật là nhàm chán! Hãy nhìn thấu đi rồi chúng ta sẽ bị nhàm chán bởi những cái tham, sân, si, vô minh và chấp ngã này. Nó không đem lại cho mình gì hết ngoài nước mắt và đau khổ. Quý vị nghĩ đi, bây giờ tối ngày chỉ chạy theo để hơn thua với nhau, ganh tỵ với nhau, dục, tham, ái, sân si và bản ngã, dương dương tự đắc, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, ta đây, rồi cuối cùng được cái gì? Đau khổ là một đời sống trong bóng đêm. Tràn ngập chúng sanh là đau khổ trong bóng đêm. Đau khổ mà không biết khổ, tới chừng cái khổ nó hiện bày ra lúc đó là họ nước mắt tràn trụa ra. Vì vậy quý vị hãy chuẩn bị cho cuộc đời mình thật là tốt. Quý vị đã nếm qua hết năm dục trưởng dưỡng của cuộc đời này: sắc, tiếng, mùi, vị và những sự tiếp xúc. Quý vị đã trải qua hết rồi, giờ này ngồi đây, tóc đã phai màu, quý vị coi thử đi có cái gì vững chắc đâu? Tất cả đều tan biến hết, tan hoại hết, tan nát hết, rồi cuối cùng cái thân này nó cũng rã rời ra.
Có anh chàng trai trẻ này cùng với cô bạn gái hẹn nhau cuối tháng 9 này là đám cưới, họ đã chuẩn bị hết những bài hát, nhẫn cưới, đầy đủ tất cả. Nhưng cách đây có vài ngày thôi, cô bạn gái bị xe tông, chết tại chỗ. Anh chàng này đi làm từ bên Nhật bay về xin phép gia đình của cô bạn gái này cho anh làm đám cưới bên chiếc quan tài. Anh hát lên cái bài hát mà anh định hát và đeo nhẫn cưới ở trước quan tài. Mới có hai mươi mấy tuổi thôi! Bao nhiêu người đứng xung quanh không cầm được nước mắt, không cầm được những dòng lệ rơi.
Quý vị hãy nhìn sự mong manh của sinh mạng này đi! Đừng có ảo tưởng là mình sẽ còn khỏe, còn tốt như vậy hoài! Hãy tranh thủ thời gian thật nhiều để tu học, tinh tấn. Hãy nhìn lại nội tâm, xem coi những cảm giác dục, ái, tham, những cảm giác sân si, bản ngã để tìm đủ mọi cách đánh đuổi, nhiếp phục, thanh lọc, tẩy rửa. Nó càng bớt chừng nào thì khi mình ra đi càng hiền thiện, tốt lành chừng ấy. Mình sẽ ra đi ở cõi người, ở cõi trời, mình không có đến nỗi phải là trở thành những con vật không chân. Có rất là nhiều những người chết bất thần nên họ không siêu thoát được, họ rơi vào cảnh ngạ quỷ vì bất thình lình họ chết, không biết cái gì hết.
Có cậu tài xế khoảng 30 mấy tuổi, đang lái xe bỗng gục ra, chiếc xe tự động chạy, lơ xe giật mình thấy vậy mới xô ông tài xế qua, cầm cái vô lăng lên điều khiển liền, cứu được mấy chục mạng người. Người tài xế đó mới ba mốt, ba hai tuổi đang lái xe vậy ngã ra chết. Đột biến, tai biến bây giờ rất là nhiều và cũng có rất là nhiều thức ăn độc, không khí ô nhiễm. Vừa rồi có một nhà máy bóng đèn cháy, hơi độc nó lan ra. Người ta cấm trong vòng bán kính một cây số như vậy không được ăn uống những thức ăn nuôi trồng ở đó do có khí độc. Trên đời này cái gì cũng có thể có độc hết, mà thứ độc nhất trong tất cả cái độc chính là tam độc, đó là cái độc nhất trong tất cả những cái độc, độc hơn hết tất cả cái độc ở trong những cái độc của cuộc đời này. Những cái thọ mà chúng ta nhận vào, phải để ý cảm thọ, cảm giác đó, ái và tham ái cũng vậy.
Nói cho có một chút vui vẻ và cũng có một chút cay đắng. Lúc đầu tiên mà mình gặp chồng mình, gặp “ổng”, cảm giác lúc đó ra sao, nó ngọt ngào không? Nó ngọt như đường cát mát như đường phèn, ngọt giống như là mật ong phải không, vì vậy cho nên mới chết con ruồi. Chúng ta thấy rằng, ban đầu cũng chưa có gì hết, chỉ nhận vào một cảm thọ; lần thứ hai cái nó nhận thêm nữa; lần thứ ba cứ vậy mà nó nhận, rồi từ từ từ là về chung sống và lòi ra bốn, năm “cục”. Đầu tiên cũng là từ cái thọ, cảm thọ đó chất chứa nhưng mà cảm thọ là vô thường, cho nên lúc đầu ngọt nhưng mà sau thì hương vị đắng cay. Rồi bây giờ lâu lâu ngồi nhớ lại thì ngọt đắng trộn chung nhưng mà đắng nhiều, ngọt ít.
Bây giờ tới con với cháu, ví dụ giờ mình già lớn tuổi rồi, biết là thời gian không còn nhiều nữa để mình lo tu học, chuẩn bị hành trang tương lai của mình. Nhưng mà “Ôi chao ơi ! Cháu nội dễ thương quá!”, nhất là đi tu, nó cứ: “Nội ơi, nội đừng có đi”, nó nắm tay kéo lại kêu mình ở với nó . Rồi những cảm giác đó chúng ta thọ vào, nó đi vào thêm, vào thêm và cứ như tạo thành một sợi dây. Ở trong cảm thọ của mình có một sợi dây buộc vào, cho nên mỗi lần mình đi tu hay đi đâu xa là nó nhớ, bên trong thắt lại giống như nó có sợi dây thắt ở trong ruột vậy: “Thương quá đi! Thương chết đi được!”. Nghe câu này là thấy ớn rồi đó, vì “thương chết đi được” tức là sợi dây của tái sanh. Do cái ái đó, cái luyến đó, cái ràng buộc đó mà đời sau chắc chắn sẽ đến chỗ đó nữa. Thương mà thương chết đi được, nghe câu đó quen không? Cho nên, mình cứ thọ vào và khi thọ vào thì tất cả cái thọ đó không có mất đi mà nó càng thêm chất chứa vào, cứ chất chứa như vậy rồi nó đầy, đầy xong thì tràn ra.
Cứ như vậy cho đến khi chết thì những cảm giác này, những nghĩ tưởng này, cộng với cái nghiệp nó đẩy đi. Nó đẩy thì nó sẽ đi tìm lại những cảm giác cũ, những cảm giác mà nó ưa thích và nó lại đó nó thọ sanh. Nhân quả nó rõ ràng lắm, chứ đâu phải mình muốn sanh đâu thì mình sanh. Bây giờ tôi chọn làm công chúa Nhật Bản; hay nữ hoàng của Anh Quốc; hay qua làm vua bên Thái Lan – điều đó là không được. Mình đã chất chứa những cảm thọ gì, những cảm xúc gì, những cảm giác gì thì sẽ quen những cảm giác đó, mình đi rời xa cái đó không được, nhất định mình phải đi trở lại tìm cái cảm giác đó.
Cho nên biết bao nhiêu đàn ông sao không thương, tự nhiên thương “ổng”. Đó là do cảm giác của quá khứ, “đã từng”. Vì vậy, bây giờ gặp lại thì cái thọ đó sống lại và có một sức hút từ cái thọ bên trong, cùng với những nghiệp quả trong quá khứ cộng lại. Đó là dòng vận hành của luân hồi, của sanh tử. Cho nên nhân quả công bằng và rõ ràng lắm, chứ không phải muốn là cầu “Phật độ cho con”, không phải như thế, không có ai mà độ được hết. Phật chỉ cho mình cách để ngăn chặn và hóa giải những cảm thọ đó, khi mình ngăn chặn, hóa giải được hết rồi thì mình giải thoát chứ không phải độ là Phật lấy hết những cảm thọ, những cái chất chứa bên trong đó ra cho mình. Đó là quy trình của các cảm giác vận hành, nghiệp quả vận hành, tâm thức vận hành.
Tập không thọ nhận
Cho nên từ bây giờ mình phải tu tập cảm thọ, cảm giác. Phải tu tập xem cảm giác đó là thiện hay là bất thiện; cảm giác này từ đâu sanh khởi ra và cái kết quả nó là cái gì? Có nên lưu giữ, có nên phát triển những cảm giác này, những cái tưởng này, những cái nghĩ này hay không? Hay cái này là không nên, cái này cái nguyên nhân đưa đến đau khổ, cái này nó tác hại, tàn phá thân tâm mình thì mình không chấp nhận nó. Khi nó đưa mình cái gì thì mình không nhận, giống như mình đóng cửa lại với nó vậy, mình không tiếp.
Như cuộc điện thoại mình muốn tiếp thì tiếp, không muốn tiếp thì thôi. Chứ đâu phải có điện thoại là mình đến nhấc máy nghe liền. Không phải bất cứ cuộc điện thoại nào mình cũng nhấc máy nghe hết mà mình coi ai vậy, cần thiết không hay lúc đó có nên nghe hay không?? Nếu không đang ngồi thiền mà nghe điện thoại là coi như “thuyền lủng”, “chìm thuyền” luôn. Có người đang ngồi mà nhảy ra liền, chạy lại chụp cái điện thoại "alo", quên mình đang ngồi thiền. Như vậy thì mai mốt sắp sửa ra đi sao mình sửa được cái tâm. Mình đang ngồi thiền một tiếng điện thoại thôi mà mình không làm chủ được thì lúc đối diện với sống chết, sanh tử sao mà mình làm chủ. Hãy tập làm chủ, hãy tập làm chủ các cảm giác, nhiếp phục các cảm giác. Hãy tập làm chủ!
Như câu chuyện Đức Phật đang đi thì có ông Bà La Môn tới chửi Phật. Câu chuyện này quý vị nghe nhiều nhưng Minh Thành phân tích thì quý vị mới thấy được chỗ thâm sâu vô cùng. Ổng chửi Phật cho đã, rồi ổng mệt vì chửi hoài mà Phật vẫn đi bình thản như vậy. Tức quá ổng đi lại hỏi Phật:
Ông Cồ Đàm, có nghe tôi chửi không?
Có, Ta có nghe
Vậy tại sao im re, không nói gì hết vậy?
Đức Phật trả lời:
Trong đám tiệc, ông cho người ta bánh trái người ta không nhận thì ông làm sao?
Không nhận thì thôi, không nhận thì bánh trái đó về tôi.
Đức Phật chỉ nói vậy thôi nhưng quý vị thấy điều gì thâm sâu trong đây không? Hồi xưa nếu mình chưa học ngũ uẩn thì câu chuyện này mình nghe giống như một câu chuyện, nhưng bây giờ học ngũ uẩn mình mới thấy chỗ thâm sâu là “Phật không có thọ”. Đức Phật không thọ nhận tiếng chửi đó, chỗ này là chỗ hết sức sâu sắc mà quý vị có thể tu được chứ không có khó. Bây giờ mình tập, đâu phải gặp ai cũng mời về nhà, đâu phải người ta nói “Muốn lại nhà chị” là mình chịu hết. Ở đây không có quý vị nào cửa nhà mở sáng đêm luôn, như vậy thì mình giữ cái nhà của mình còn kỹ hơn cái tâm của mình nữa. Không phải cái nào mình cũng nhận, điều này hết sức quan trọng, mình biết được phương pháp này mình mới bớt khổ chứ không thôi là mình không có cách để hóa giải khổ.
Thí dụ, nghe cái đó muốn nhận thì mình nhận; không muốn nhận thì mình không nhận và dùng Như Lý Tác Ý để đánh đuổi ra, an trú cảm giác toàn thân. Như Minh Thành lúc nãy có chia sẻ với quý vị là nghe tiếng điện thoại reo nhưng mình đừng có nhận, hãy an trú quay về. Không đi theo cái tiếng đó mà trở về nghe cảm giác trong tâm, cái này là bí quyết. Hãy nhớ khi mình gặp một người nào đó, cảnh vật nào đó, đồ vật, âm thanh, mùi vị nào đó làm cho mình sanh khởi lên tham, sân thì lúc đó mình không hướng ra ngoài những cái đó, mà mình quay ngược trở về an trú nơi cảm giác toàn thân. Mình không nhận và tác ý đánh đuổi mấy cảm giác đó ra.
Ví dụ, bước ở ngoài vào trong có ba, bốn bà đang ngồi nói chuyện, vô tình tưởng đâu không có mình nên nói về mình. Nếu họ nói những lời khen, họ khen đáo, khen để, khen mà không còn chỗ khen thì lúc đó mình có thọ không? Nếu mình thọ cái khen thì cái chê mình cũng thọ như vậy. Cho nên Đức Phật dạy ở trong kinh Phạm Võng hay lắm, đây là bài kinh số 1 ở trong Trường Bộ kinh chứ không phải Phạm Võng của Bắc Truyền:
Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Ràjagaha (Vương Xá) và Nalandà, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ có Suppiya du sĩ ngoại đạo cũng đi trên con đường giữa Ràjagaha và Nalandà cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Suppiya, du sĩ ngoại đạo dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời hoàn toàn tương phản nhau trong khi đi sau lưng đức Phật và chúng Tỷ-kheo.
Rồi Thế Tôn đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với chúng Tỷ-kheo. Suppiya, du sĩ ngoại đạo cũng đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Tại đây, du sĩ ngoại đạo Suppiya cũng dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn người đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời tương phản nhau trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
Và khi đêm vừa mới tàn, một số lớn chư Tăng, sau khi thức dậy, đã ngồi họp tại một gian nhà hình tròn và câu chuyện sau đây được bàn đến giữa chư Tăng.
- Này các Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu hướng sai khác của chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ ngoại đạo này dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn đệ tử du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng vô số phương tiện, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời hoàn toàn tương phản trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
Lúc bấy giờ Thế Tôn được biết câu chuyện đang bàn giữa chư Tăng, liền đến tại gian nhà hình tròn và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-Kheo :
-Này các Tỷ-kheo, câu chuyện gì được bàn đến trong khi các ngươi ngồi họp tại chỗ này? Vấn đề gì đã được bỏ dở chưa nói xong?
Nghe nói như vậy, các Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn! Tại đây, khi đêm vừa mới tàn, chúng con sau khi dậy, ngồi họp tại nơi gian nhà hình tròn và giữa chúng con, câu chuyện sau đây được bàn đến: "Này các Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu hướng sai khác của chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ ngoại đạo này dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn đệ tử du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng vô số phương tiện, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời hoàn toàn tương phản trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo". Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện đang bàn đến nửa chừng của chúng con khi Thế Tôn đến!
- Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng?
- Bạch Thế Tôn, không thể được!
- Này các Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: - "Như thế này, điểm này không đúng sự thật; như thế này, điểm này không chính xác; việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi".
Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, vui mừng, tâm không nên thích thú. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, mà nếu các ngươi hoan hỷ, vui mừng và thích thú thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: "Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa chúng tôi”. (Kinh Phạm Võng, Trường Bộ Kinh)
Bài kinh này có ý gì khi nghe khen và chê thì không nên vội sân hay là ưa thích mà phải bình tĩnh nghe cho rõ, cái nào đúng thì mình nói là có, cái nào sai thì mình nói điều này là không có đúng. Còn nếu vội sân hận hay là vội vui thích, khoan khoái thì có hại cho mình, tại vì lúc đó mình không có bình tĩnh, sáng suốt để mình biết là đúng hay sai. Ví dụ có người chê hay chỉ trích cái gì đó thì đợi cho họ nói hết, còn mình cứ bình tĩnh đi coi trong đó là đúng hay sai, nếu mà đúng thì mình nói: “Dạ, cái này em có, em xin lỗi”, nếu mà sai thì: “Dạ, cái này em không có, chị nói vậy là không đúng”. Mình phải tập từ từ, tập lắng nghe, tập bình tĩnh, tập an trú cảm giác toàn thân và tập một cái sâu sắc là không thọ. Nếu mình bình tĩnh chưa được thì mình tập không nhận, tập không nhận là như thế nào?
Khi thấy hay nghe những thứ chướng tai gây mắt, sanh khởi lòng sân thì mình lập tức quay trở về an trú cảm giác toàn thân, nhiếp tâm chánh niệm, phòng hộ. Cảm giác sân sanh khởi lên mình đánh đuổi cảm giác đó ra khỏi liền, không có chấp nhận nó. Sân lên không có tốt lành gì hết, sân lên mình chỉ lỗ thôi, sân lên chỉ làm thêm căng thẳng, chứ không giải quyết được vấn đề gì hết. Không nhận cái sân này, không nhận âm thanh này, không nhận cảm giác này mà phải an tịnh, lắng dịu cảm giác này. “Cảm giác ơi hãy ngoan đi, hiền đi ta cưng, ta thưởng cho, đừng có giận”. Tập huấn luyện dạy dỗ cảm giác, mỗi ngày phải thực tập thiền tâm hiền, ngồi yên tĩnh rồi mình nói:
“Thọ ơi hiền đi, ngoan đi, dễ thương đi, dễ dạy đi, dễ biểu đi nghe lời đi chị thương. Đừng có cứng đầu, đừng có khó nghe, khó dạy, khó bảo. Đừng có ngỗ nghịch, đừng có chống cự, đừng có chống đối, đừng có sân si bản ngã. Thương nghe, ngoan nghe, cưng nghe. Mai mốt đời sau được sanh cõi lành tốt đẹp nghe không. Sân hoài là mai mốt xấu xí, tật nguyền. Thôi yên tịnh đi, dễ chịu đi, mát mẽ đi, ngọt ngào đi, hiền lành đi, hiền thiệt là hiền, ta cưng. Người tu tâm thật là người hiền, trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên”.
Phòng hộ cảm thọ
Câu hỏi:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Trong thời gian vừa qua chúng con được học rất nhiều về năm uẩn. Trong quá trình học tập và quán chiếu về năm uẩn, con thấy có một điều là trong quá trình vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành thì nó đều bị chi phối bởi cái uẩn thứ năm là thức, tuy là thức tách riêng ra một uẩn nhưng mà con thấy trong tất cả bốn uẩn trước đều do uẩn thứ năm “thức” chi phối, có phải vậy không, thưa Thầy?
Thứ hai, chúng ta cảnh giác với năm uẩn rất nhiều đặc biệt là thọ. Ta thường cảnh giác với những cái thọ tạo cho ta cảm giác, ý, hành xấu nhưng ở trong cái thọ đó cũng cho ta những cảm giác rất là tốt. Vì vậy, con nghĩ mình phải hộ trì thọ uẩn và không biết mình nhận thức như thế nào để tăng trưởng những cảm thọ tốt và hạn chế những cái thọ không tốt?
***
Đầu tiên Minh Thành nói về cảm thọ. Cái nào cũng có cái tốt và cái xấu, cái xấu thì mình phải nhận ra, nhiếp phục và diệt nó, còn cái tốt là phải phát huy. Cũng giống như Minh Thành nói quý vị cần phát huy cảm giác hỷ lạc chứ không phải cảm giác nào cũng là xấu hết. Phải nuôi dưỡng, tưới tẩm và phát triển cảm thọ hỷ lạc trong sự tu học. Khi Minh Thành nói sâu vào sự vô minh của thế giới này, những cái tham, sân, si tạo ra những nghiệp khổ là Minh Thành cho quý vị phát sanh cảm giác ghê sợ, nhàm chán, ly tham. Khi Minh Thành nói về dòng vô minh, nghiệp quả của tham sân si tạo nên, tạo ra bao nhiêu thứ tan thương trong cuộc đời, thì quý vị sanh lên cảm giác gì? Quý vị có sợ hãi đối với tham, sân, si không? Quý vị có ngao ngán với cái sự vô minh chấp ngã, chấp thủ của mình với chúng sinh không? Quý vị có cảm thấy không muốn tham đối với những thứ vô thường tạm bợ của cuộc đời không? Đó là làm cho quý vị phát sanh những cảm giác tích cực, những cảm giác trí tuệ, những cảm giác nhàm chán, ly tham đối với những thứ gây ra những đau khổ. Đó toàn là cảm giác tốt trong tu học cần sanh khởi, chứ không phải là diệt diệt, không cho nó sanh.
Điều thứ hai nói về thức. Mỗi một uẩn đều có công năng và phạm vi khác nhau nên gọi là nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thứ giới, chia ra tới mười tám giới. Giới ở đây tức là giới vực, ranh vực, là thế giới, cảnh giới, phạm trù, phạm vi. Thí dụ nói nhãn thức giới thì đó là cái biết ở trong phạm vi của sự biết các sắc thôi, chứ tiếng nó không biết. Tức là nhãn thức của mình nó chỉ rõ biết sắc thôi còn tiếng nó không biết, nó chỉ dừng ở cảnh giới, giới vực, phạm vi, phạm trù của nó là rõ biết sắc thôi, qua tới tiếng là nó không biết, cho nên có môn là Duy Thức học.
Tuy nhiên không phải vậy, Đức Phật không nói vậy. Phật nói duyên sanh pháp là có đầy đủ, chứ không phải “duy” là chỉ có một thôi. Bây giờ mình muốn có sự rõ biết về các sắc thì trước hết mình có con mắt và phải có cái sắc, từ đó mới sanh khởi sự rõ biết. Ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc thì mới sanh ra một cảm giác gọi là thọ do nhãn xúc sanh. Chứ không phải thức nó quyết định hết tất cả, vì nó là pháp duyên sanh, cái này nó nương cái kia, cái kia nó nương cái nọ, nương qua nương lại như thế. Đức Phật nói như bụi lau sậy vậy, một cây lau, cây sậy nó đứng mình không được, nó phải đứng bốn, năm cây thành một bụi thì mới dựa qua dựa lại được. Cũng vậy, trong năm uẩn nó dựa qua dựa lại.
Vì vậy, không phải tự nhiên mình biết được cái tiếng đó mà phải có lỗ tai và lỗ tai không bị bệnh, phải có âm thanh, rồi mới có sự rõ biết âm thanh, sau đó mới tiếp xúc. Điều quan trọng mà Đức Phật nói là âm thanh đó phải nằm trong tầm nhận thức của nhĩ thức thì nó mới biết chứ nằm ngoài tầm nhận thức thì không thể biết được. Thí dụ, có người ra ngoài chợ Bến Thành chửi mình ở đó thì mình đâu có biết để mà sân. Hay ở đâu đó có người nào thương mình da diết, họ nhớ mình, yêu đơn phương không nói được, thì nó ở ngoài tầm nghe nên mình không biết, thì mình có thương có nhớ không? Hay có người giận mình, họ chưởi mình ở dưới Tiền Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Rạch Giá, Hà Nội, thì nó ở ngoài tầm nhận thức của lỗ tai, lúc đó mình không nghe được, cho nên đó là duyên sanh vô thường. Thí dụ như có cuộc điện thoại điện tới, mà lúc đó vô tình đang ngồi thiền nên mình không bắt máy, đúng ra là chửi, nhưng ngồi thiền tìm hiểu lại một hồi là thôi, không chửi nữa. Như vậy, lúc đó mình ngồi thiền, không nghe máy thì nhờ vậy mà thoát đại nạn, đúng ra là hai người chiến tranh khủng bố nhưng mà do ngồi thiền nên đã đổi ý, suy nghĩ lại, tội nghiệp nên thôi không chửi.
Thành ra đây là pháp duyên sanh, hễ đủ nhân, đủ duyên thì nó mới sanh khởi ra cơn giận đó, cảm giác đó, còn nếu thiếu thì nó không có cho nên cảm giác đó là vô thường. Cho nên nếu mình cứ chụp chụp, bắt bắt cái nào cũng thọ hết là mình chết, là bị tàn phá cơ thể thân tâm. Dầu cho đã nghe, lỗ tai đã tiếp xúc rồi mà mình vẫn không chấp nhận vì mình biết đưa vào là nó tàn phá, nó làm đau khổ nên mình phải đánh đuổi nó ra. Chứ đừng nói chi là mình đi tìm phiền não để làm gì? “Hỗm nay có nghe bà kia nói tôi gì không, có nghe bả nói không, không có nói gì hết trơn hả, thiệt không, làm sao không nói được, bà giấu tui phải không?” Đó là tự tìm phiền não, tự kiếm khổ đau rồi chạy lên Phật khóc lóc than khổ. Không có chuyện mà muốn kiếm chuyện, không có sự mà muốn gây sự. Cho nên tu là phải đến chỗ vô sự, thậm chí đã nghe nói rồi nhưng nghĩ là chắc không có đâu, hiểu lầm đó.
Quý Phật tử nào ở gần Minh Thành để ý, nhiều khi có chuyện gì là: “Thầy ơi chuyện này vậy chuyện này kia” thì Minh Thành nói để từ từ coi đã, có phải thật vậy không. Lúc đó Minh Thành phải chánh niệm tỉnh giác, thậm chí là chặn các cái thọ. Lúc nào cùng lúc bảy, tám chuyện ồ ạt tới thì lúc đó Minh Thành không thọ tất cả pháp, không thọ cái gì hết. Như vậy mới thong dong đi núi về mây, quải một cái đãi. Chứ còn cái nào cũng thọ thì có khi bây giờ nằm liệt giường, suy nhược thần kinh, bán thân bất toại, đột quỵ, tai biến. Chúng ta làm sao bảo đảm được mình không bệnh, thế nên nếu mình không tu tâm, không bảo vệ, không phòng hộ các cảm giác; không phòng hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không phòng hộ nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức; không phòng hộ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không phòng hộ sáu xúc khi sáu căn tiếp xúc sáu trần là mình chết.
Cho nên những lúc có chuyện nhiều là Minh Thành đóng cửa thất, thấy những chuyện này vô ích, không có liên hệ tới mục đích, không cần thiết nên mình xả hết, trú vào xả vô lượng tâm, không nhận một pháp nào hết. Như vậy đó mới được an nhiên, tự tại, chống cây gậy trúc, đi trên đỉnh núi, tà áo bay phất phới. Tu phải như vậy! Nhưng như vậy mà còn chưa thấy được, còn thấy xấu hổ, hổ thẹn chứ đằng này tu gì mà tối ngày lăn xăn, bận rộn hơn người đời nữa thì tu làm cái gì. Vì vậy, không thọ, xả, trú vô xả vô lượng tâm, không có nhận gì hết, giũ cái tay áo vậy rồi đi.
Chúng ta phải thương mình, khéo biết mình, khéo phòng hộ, bảo vệ, khéo tu cho chính mình, phải thấy rõ pháp duyên sanh. Mình thấy thì mình mới giận, mình thấy thì mình mới tham, mình thấy thì mới bực, mình nghe thì mình mới sanh khởi cái cảm giác, nếu mình không thấy, không nghe thì không sanh khởi các cảm giác đó. Vậy nên, khi thấy thì coi như không thấy, đây là cái này vô thường thì chấp làm chi, thọ làm chi cho khổ. Tu cái nay hay lắm!
Thí dụ, mình đang ngồi thiền, ngồi yên tịnh thì bỗng nhiên nhớ tới người làm cho quý vị bực thì Minh Thành chỉ cho quý vị bí kiếp này. Khi mình để ý, nhớ lại thì thọ, tưởng, hành sanh khởi, hình bóng người đó hiện ra, cái mặt hiện ra, cái dáng hiện ra, những câu nói hành động hiện ra. Khi hình bóng hiện ra, nếu người đó mình ghét thì cái cảm giác khó chịu - khổ thọ sanh khởi. Mình suy nghĩ lòng vòng chạy theo cái giận đó, không thấy được những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác này đang có mặt, mà mình nhào vô kiếm ăn, nhập cuộc với nó và ở trong đó bực tức theo. Chẳng những vậy mà thọ, tưởng, hành thứ hai; thọ, tưởng, hành thứ ba tiếp tục; các cảm giác tiếp tục; suy nghĩ, tưởng tượng tiếp tục đến nỗi sút bảng lề là đi vào nhà thương Chợ Quán, Biên Hòa luôn vì cứ suy nghĩ chuyện đó hoài. Cho nên những người bị tương tư hay người thù hận cũng vậy. Hoặc người thần kinh yếu mà họ bị một cú sốc về tâm lý là họ bị bệnh luôn. Suốt đời họ bị tự kỷ hay suy sụp tinh thần là tại vì thọ, tưởng, hành trong đó khởi hoài, họ đi theo hoài và đi ra không được. Cũng như một cô có đứa con gái đã mất sáu năm rồi mà mỗi lần nhắc cô ấy đều khóc nức nở. Ngày nào cũng nhớ thương, ngày nào cũng khóc suốt sáu năm không đi ra được.
Điều hết sức quan trọng là chúng ta đã học được nhận diện năm uẩn, đó là Thánh trí tuyệt diệu của Đức Phật, tất cả trí tuệ đó hướng trực tiếp, trực diện, trực chỉ vào thân tâm của mình. Cái nào mình chấp nhận được thì nhận, cái nào không thì mình thoát ra. Mình nói “Cái này là tưởng uẩn vô thường, là cảm giác vô thường trống rỗng, đi theo những suy nghĩ này làm gì, đây là pháp duyên sanh, vô thường, giả dối, không có thật. Không được đi theo, chấm dứt đi, tan biến ra khỏi nội tâm ta đi, ta không có chấp nhận những cái này. Để cho ta tỉnh giác chánh niệm, nuôi dưỡng những cảm giác hiền thiện, hoan hỷ, thanh tịnh, an lạc. Tại sao nuôi dưỡng những cảm giác này chi cho khổ?”
Có nhiều vợ chồng giận nhau, thưa kiện ra tòa mười năm, hai chục năm. Sao phải khổ vậy, sao hồi xưa mình thề non hẹn biển đủ hết vậy mà cuối cùng bây giờ làm như vậy? Tất cả đều do cảm giác, cảm thọ, là những tưởng, những cảm giác suy nghĩ trong tâm. Chúng chỉ là những cảm giác, suy nghĩ thôi chứ có gì đâu mà cứ xà quần trong đó, cứ nghĩ, rồi phải làm, rồi phải nói, phải làm hoài như vậy. Cái ý hành, thân hành, khẩu hành rồi cảm giác trong này nó thúc đẩy rồi cứ ôm như vậy, lặp tới lặp lui, tô đậm lên rồi khổ. Như vậy mình nuôi dưỡng những thứ đó để làm cái gì? Nuôi dưỡng những sân hận, bực tức đó để làm cái gì? Để nó tàn hại thân tâm mình hay sao!
Do vậy Đức Phật dạy mình nuôi dưỡng từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Chất chứa cảm thọ PAGEREF _Toc75442512 \h 1
II.Tập không thọ nhận PAGEREF _Toc75442513 \h 3
III.Phòng hộ cảm thọ PAGEREF _Toc75442514 \h 8
Chất chứa cảm thọ
Hãy thật là nhàm chán! Hãy nhìn thấu đi rồi chúng ta sẽ bị nhàm chán bởi những cái tham, sân, si, vô minh và chấp ngã này. Nó không đem lại cho mình gì hết ngoài nước mắt và đau khổ. Quý vị nghĩ đi, bây giờ tối ngày chỉ chạy theo để hơn thua với nhau, ganh tỵ với nhau, dục, tham, ái, sân si và bản ngã, dương dương tự đắc, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, ta đây, rồi cuối cùng được cái gì? Đau khổ là một đời sống trong bóng đêm. Tràn ngập chúng sanh là đau khổ trong bóng đêm. Đau khổ mà không biết khổ, tới chừng cái khổ nó hiện bày ra lúc đó là họ nước mắt tràn trụa ra. Vì vậy quý vị hãy chuẩn bị cho cuộc đời mình thật là tốt. Quý vị đã nếm qua hết năm dục trưởng dưỡng của cuộc đời này: sắc, tiếng, mùi, vị và những sự tiếp xúc. Quý vị đã trải qua hết rồi, giờ này ngồi đây, tóc đã phai màu, quý vị coi thử đi có cái gì vững chắc đâu? Tất cả đều tan biến hết, tan hoại hết, tan nát hết, rồi cuối cùng cái thân này nó cũng rã rời ra.
Có anh chàng trai trẻ này cùng với cô bạn gái hẹn nhau cuối tháng 9 này là đám cưới, họ đã chuẩn bị hết những bài hát, nhẫn cưới, đầy đủ tất cả. Nhưng cách đây có vài ngày thôi, cô bạn gái bị xe tông, chết tại chỗ. Anh chàng này đi làm từ bên Nhật bay về xin phép gia đình của cô bạn gái này cho anh làm đám cưới bên chiếc quan tài. Anh hát lên cái bài hát mà anh định hát và đeo nhẫn cưới ở trước quan tài. Mới có hai mươi mấy tuổi thôi! Bao nhiêu người đứng xung quanh không cầm được nước mắt, không cầm được những dòng lệ rơi.
Quý vị hãy nhìn sự mong manh của sinh mạng này đi! Đừng có ảo tưởng là mình sẽ còn khỏe, còn tốt như vậy hoài! Hãy tranh thủ thời gian thật nhiều để tu học, tinh tấn. Hãy nhìn lại nội tâm, xem coi những cảm giác dục, ái, tham, những cảm giác sân si, bản ngã để tìm đủ mọi cách đánh đuổi, nhiếp phục, thanh lọc, tẩy rửa. Nó càng bớt chừng nào thì khi mình ra đi càng hiền thiện, tốt lành chừng ấy. Mình sẽ ra đi ở cõi người, ở cõi trời, mình không có đến nỗi phải là trở thành những con vật không chân. Có rất là nhiều những người chết bất thần nên họ không siêu thoát được, họ rơi vào cảnh ngạ quỷ vì bất thình lình họ chết, không biết cái gì hết.
Có cậu tài xế khoảng 30 mấy tuổi, đang lái xe bỗng gục ra, chiếc xe tự động chạy, lơ xe giật mình thấy vậy mới xô ông tài xế qua, cầm cái vô lăng lên điều khiển liền, cứu được mấy chục mạng người. Người tài xế đó mới ba mốt, ba hai tuổi đang lái xe vậy ngã ra chết. Đột biến, tai biến bây giờ rất là nhiều và cũng có rất là nhiều thức ăn độc, không khí ô nhiễm. Vừa rồi có một nhà máy bóng đèn cháy, hơi độc nó lan ra. Người ta cấm trong vòng bán kính một cây số như vậy không được ăn uống những thức ăn nuôi trồng ở đó do có khí độc. Trên đời này cái gì cũng có thể có độc hết, mà thứ độc nhất trong tất cả cái độc chính là tam độc, đó là cái độc nhất trong tất cả những cái độc, độc hơn hết tất cả cái độc ở trong những cái độc của cuộc đời này. Những cái thọ mà chúng ta nhận vào, phải để ý cảm thọ, cảm giác đó, ái và tham ái cũng vậy.
Nói cho có một chút vui vẻ và cũng có một chút cay đắng. Lúc đầu tiên mà mình gặp chồng mình, gặp “ổng”, cảm giác lúc đó ra sao, nó ngọt ngào không? Nó ngọt như đường cát mát như đường phèn, ngọt giống như là mật ong phải không, vì vậy cho nên mới chết con ruồi. Chúng ta thấy rằng, ban đầu cũng chưa có gì hết, chỉ nhận vào một cảm thọ; lần thứ hai cái nó nhận thêm nữa; lần thứ ba cứ vậy mà nó nhận, rồi từ từ từ là về chung sống và lòi ra bốn, năm “cục”. Đầu tiên cũng là từ cái thọ, cảm thọ đó chất chứa nhưng mà cảm thọ là vô thường, cho nên lúc đầu ngọt nhưng mà sau thì hương vị đắng cay. Rồi bây giờ lâu lâu ngồi nhớ lại thì ngọt đắng trộn chung nhưng mà đắng nhiều, ngọt ít.
Bây giờ tới con với cháu, ví dụ giờ mình già lớn tuổi rồi, biết là thời gian không còn nhiều nữa để mình lo tu học, chuẩn bị hành trang tương lai của mình. Nhưng mà “Ôi chao ơi ! Cháu nội dễ thương quá!”, nhất là đi tu, nó cứ: “Nội ơi, nội đừng có đi”, nó nắm tay kéo lại kêu mình ở với nó . Rồi những cảm giác đó chúng ta thọ vào, nó đi vào thêm, vào thêm và cứ như tạo thành một sợi dây. Ở trong cảm thọ của mình có một sợi dây buộc vào, cho nên mỗi lần mình đi tu hay đi đâu xa là nó nhớ, bên trong thắt lại giống như nó có sợi dây thắt ở trong ruột vậy: “Thương quá đi! Thương chết đi được!”. Nghe câu này là thấy ớn rồi đó, vì “thương chết đi được” tức là sợi dây của tái sanh. Do cái ái đó, cái luyến đó, cái ràng buộc đó mà đời sau chắc chắn sẽ đến chỗ đó nữa. Thương mà thương chết đi được, nghe câu đó quen không? Cho nên, mình cứ thọ vào và khi thọ vào thì tất cả cái thọ đó không có mất đi mà nó càng thêm chất chứa vào, cứ chất chứa như vậy rồi nó đầy, đầy xong thì tràn ra.
Cứ như vậy cho đến khi chết thì những cảm giác này, những nghĩ tưởng này, cộng với cái nghiệp nó đẩy đi. Nó đẩy thì nó sẽ đi tìm lại những cảm giác cũ, những cảm giác mà nó ưa thích và nó lại đó nó thọ sanh. Nhân quả nó rõ ràng lắm, chứ đâu phải mình muốn sanh đâu thì mình sanh. Bây giờ tôi chọn làm công chúa Nhật Bản; hay nữ hoàng của Anh Quốc; hay qua làm vua bên Thái Lan – điều đó là không được. Mình đã chất chứa những cảm thọ gì, những cảm xúc gì, những cảm giác gì thì sẽ quen những cảm giác đó, mình đi rời xa cái đó không được, nhất định mình phải đi trở lại tìm cái cảm giác đó.
Cho nên biết bao nhiêu đàn ông sao không thương, tự nhiên thương “ổng”. Đó là do cảm giác của quá khứ, “đã từng”. Vì vậy, bây giờ gặp lại thì cái thọ đó sống lại và có một sức hút từ cái thọ bên trong, cùng với những nghiệp quả trong quá khứ cộng lại. Đó là dòng vận hành của luân hồi, của sanh tử. Cho nên nhân quả công bằng và rõ ràng lắm, chứ không phải muốn là cầu “Phật độ cho con”, không phải như thế, không có ai mà độ được hết. Phật chỉ cho mình cách để ngăn chặn và hóa giải những cảm thọ đó, khi mình ngăn chặn, hóa giải được hết rồi thì mình giải thoát chứ không phải độ là Phật lấy hết những cảm thọ, những cái chất chứa bên trong đó ra cho mình. Đó là quy trình của các cảm giác vận hành, nghiệp quả vận hành, tâm thức vận hành.
Tập không thọ nhận
Cho nên từ bây giờ mình phải tu tập cảm thọ, cảm giác. Phải tu tập xem cảm giác đó là thiện hay là bất thiện; cảm giác này từ đâu sanh khởi ra và cái kết quả nó là cái gì? Có nên lưu giữ, có nên phát triển những cảm giác này, những cái tưởng này, những cái nghĩ này hay không? Hay cái này là không nên, cái này cái nguyên nhân đưa đến đau khổ, cái này nó tác hại, tàn phá thân tâm mình thì mình không chấp nhận nó. Khi nó đưa mình cái gì thì mình không nhận, giống như mình đóng cửa lại với nó vậy, mình không tiếp.
Như cuộc điện thoại mình muốn tiếp thì tiếp, không muốn tiếp thì thôi. Chứ đâu phải có điện thoại là mình đến nhấc máy nghe liền. Không phải bất cứ cuộc điện thoại nào mình cũng nhấc máy nghe hết mà mình coi ai vậy, cần thiết không hay lúc đó có nên nghe hay không?? Nếu không đang ngồi thiền mà nghe điện thoại là coi như “thuyền lủng”, “chìm thuyền” luôn. Có người đang ngồi mà nhảy ra liền, chạy lại chụp cái điện thoại "alo", quên mình đang ngồi thiền. Như vậy thì mai mốt sắp sửa ra đi sao mình sửa được cái tâm. Mình đang ngồi thiền một tiếng điện thoại thôi mà mình không làm chủ được thì lúc đối diện với sống chết, sanh tử sao mà mình làm chủ. Hãy tập làm chủ, hãy tập làm chủ các cảm giác, nhiếp phục các cảm giác. Hãy tập làm chủ!
Như câu chuyện Đức Phật đang đi thì có ông Bà La Môn tới chửi Phật. Câu chuyện này quý vị nghe nhiều nhưng Minh Thành phân tích thì quý vị mới thấy được chỗ thâm sâu vô cùng. Ổng chửi Phật cho đã, rồi ổng mệt vì chửi hoài mà Phật vẫn đi bình thản như vậy. Tức quá ổng đi lại hỏi Phật:
Ông Cồ Đàm, có nghe tôi chửi không?
Có, Ta có nghe
Vậy tại sao im re, không nói gì hết vậy?
Đức Phật trả lời:
Trong đám tiệc, ông cho người ta bánh trái người ta không nhận thì ông làm sao?
Không nhận thì thôi, không nhận thì bánh trái đó về tôi.
Đức Phật chỉ nói vậy thôi nhưng quý vị thấy điều gì thâm sâu trong đây không? Hồi xưa nếu mình chưa học ngũ uẩn thì câu chuyện này mình nghe giống như một câu chuyện, nhưng bây giờ học ngũ uẩn mình mới thấy chỗ thâm sâu là “Phật không có thọ”. Đức Phật không thọ nhận tiếng chửi đó, chỗ này là chỗ hết sức sâu sắc mà quý vị có thể tu được chứ không có khó. Bây giờ mình tập, đâu phải gặp ai cũng mời về nhà, đâu phải người ta nói “Muốn lại nhà chị” là mình chịu hết. Ở đây không có quý vị nào cửa nhà mở sáng đêm luôn, như vậy thì mình giữ cái nhà của mình còn kỹ hơn cái tâm của mình nữa. Không phải cái nào mình cũng nhận, điều này hết sức quan trọng, mình biết được phương pháp này mình mới bớt khổ chứ không thôi là mình không có cách để hóa giải khổ.
Thí dụ, nghe cái đó muốn nhận thì mình nhận; không muốn nhận thì mình không nhận và dùng Như Lý Tác Ý để đánh đuổi ra, an trú cảm giác toàn thân. Như Minh Thành lúc nãy có chia sẻ với quý vị là nghe tiếng điện thoại reo nhưng mình đừng có nhận, hãy an trú quay về. Không đi theo cái tiếng đó mà trở về nghe cảm giác trong tâm, cái này là bí quyết. Hãy nhớ khi mình gặp một người nào đó, cảnh vật nào đó, đồ vật, âm thanh, mùi vị nào đó làm cho mình sanh khởi lên tham, sân thì lúc đó mình không hướng ra ngoài những cái đó, mà mình quay ngược trở về an trú nơi cảm giác toàn thân. Mình không nhận và tác ý đánh đuổi mấy cảm giác đó ra.
Ví dụ, bước ở ngoài vào trong có ba, bốn bà đang ngồi nói chuyện, vô tình tưởng đâu không có mình nên nói về mình. Nếu họ nói những lời khen, họ khen đáo, khen để, khen mà không còn chỗ khen thì lúc đó mình có thọ không? Nếu mình thọ cái khen thì cái chê mình cũng thọ như vậy. Cho nên Đức Phật dạy ở trong kinh Phạm Võng hay lắm, đây là bài kinh số 1 ở trong Trường Bộ kinh chứ không phải Phạm Võng của Bắc Truyền:
Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Ràjagaha (Vương Xá) và Nalandà, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ có Suppiya du sĩ ngoại đạo cũng đi trên con đường giữa Ràjagaha và Nalandà cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Suppiya, du sĩ ngoại đạo dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời hoàn toàn tương phản nhau trong khi đi sau lưng đức Phật và chúng Tỷ-kheo.
Rồi Thế Tôn đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với chúng Tỷ-kheo. Suppiya, du sĩ ngoại đạo cũng đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Tại đây, du sĩ ngoại đạo Suppiya cũng dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn người đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời tương phản nhau trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
Và khi đêm vừa mới tàn, một số lớn chư Tăng, sau khi thức dậy, đã ngồi họp tại một gian nhà hình tròn và câu chuyện sau đây được bàn đến giữa chư Tăng.
- Này các Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu hướng sai khác của chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ ngoại đạo này dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn đệ tử du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng vô số phương tiện, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời hoàn toàn tương phản trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
Lúc bấy giờ Thế Tôn được biết câu chuyện đang bàn giữa chư Tăng, liền đến tại gian nhà hình tròn và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-Kheo :
-Này các Tỷ-kheo, câu chuyện gì được bàn đến trong khi các ngươi ngồi họp tại chỗ này? Vấn đề gì đã được bỏ dở chưa nói xong?
Nghe nói như vậy, các Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn! Tại đây, khi đêm vừa mới tàn, chúng con sau khi dậy, ngồi họp tại nơi gian nhà hình tròn và giữa chúng con, câu chuyện sau đây được bàn đến: "Này các Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu hướng sai khác của chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ ngoại đạo này dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn đệ tử du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng vô số phương tiện, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời hoàn toàn tương phản trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo". Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện đang bàn đến nửa chừng của chúng con khi Thế Tôn đến!
- Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng?
- Bạch Thế Tôn, không thể được!
- Này các Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: - "Như thế này, điểm này không đúng sự thật; như thế này, điểm này không chính xác; việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi".
Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, vui mừng, tâm không nên thích thú. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, mà nếu các ngươi hoan hỷ, vui mừng và thích thú thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: "Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa chúng tôi”. (Kinh Phạm Võng, Trường Bộ Kinh)
Bài kinh này có ý gì khi nghe khen và chê thì không nên vội sân hay là ưa thích mà phải bình tĩnh nghe cho rõ, cái nào đúng thì mình nói là có, cái nào sai thì mình nói điều này là không có đúng. Còn nếu vội sân hận hay là vội vui thích, khoan khoái thì có hại cho mình, tại vì lúc đó mình không có bình tĩnh, sáng suốt để mình biết là đúng hay sai. Ví dụ có người chê hay chỉ trích cái gì đó thì đợi cho họ nói hết, còn mình cứ bình tĩnh đi coi trong đó là đúng hay sai, nếu mà đúng thì mình nói: “Dạ, cái này em có, em xin lỗi”, nếu mà sai thì: “Dạ, cái này em không có, chị nói vậy là không đúng”. Mình phải tập từ từ, tập lắng nghe, tập bình tĩnh, tập an trú cảm giác toàn thân và tập một cái sâu sắc là không thọ. Nếu mình bình tĩnh chưa được thì mình tập không nhận, tập không nhận là như thế nào?
Khi thấy hay nghe những thứ chướng tai gây mắt, sanh khởi lòng sân thì mình lập tức quay trở về an trú cảm giác toàn thân, nhiếp tâm chánh niệm, phòng hộ. Cảm giác sân sanh khởi lên mình đánh đuổi cảm giác đó ra khỏi liền, không có chấp nhận nó. Sân lên không có tốt lành gì hết, sân lên mình chỉ lỗ thôi, sân lên chỉ làm thêm căng thẳng, chứ không giải quyết được vấn đề gì hết. Không nhận cái sân này, không nhận âm thanh này, không nhận cảm giác này mà phải an tịnh, lắng dịu cảm giác này. “Cảm giác ơi hãy ngoan đi, hiền đi ta cưng, ta thưởng cho, đừng có giận”. Tập huấn luyện dạy dỗ cảm giác, mỗi ngày phải thực tập thiền tâm hiền, ngồi yên tĩnh rồi mình nói:
“Thọ ơi hiền đi, ngoan đi, dễ thương đi, dễ dạy đi, dễ biểu đi nghe lời đi chị thương. Đừng có cứng đầu, đừng có khó nghe, khó dạy, khó bảo. Đừng có ngỗ nghịch, đừng có chống cự, đừng có chống đối, đừng có sân si bản ngã. Thương nghe, ngoan nghe, cưng nghe. Mai mốt đời sau được sanh cõi lành tốt đẹp nghe không. Sân hoài là mai mốt xấu xí, tật nguyền. Thôi yên tịnh đi, dễ chịu đi, mát mẽ đi, ngọt ngào đi, hiền lành đi, hiền thiệt là hiền, ta cưng. Người tu tâm thật là người hiền, trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên”.
Phòng hộ cảm thọ
Câu hỏi:
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Trong thời gian vừa qua chúng con được học rất nhiều về năm uẩn. Trong quá trình học tập và quán chiếu về năm uẩn, con thấy có một điều là trong quá trình vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành thì nó đều bị chi phối bởi cái uẩn thứ năm là thức, tuy là thức tách riêng ra một uẩn nhưng mà con thấy trong tất cả bốn uẩn trước đều do uẩn thứ năm “thức” chi phối, có phải vậy không, thưa Thầy?
Thứ hai, chúng ta cảnh giác với năm uẩn rất nhiều đặc biệt là thọ. Ta thường cảnh giác với những cái thọ tạo cho ta cảm giác, ý, hành xấu nhưng ở trong cái thọ đó cũng cho ta những cảm giác rất là tốt. Vì vậy, con nghĩ mình phải hộ trì thọ uẩn và không biết mình nhận thức như thế nào để tăng trưởng những cảm thọ tốt và hạn chế những cái thọ không tốt?
***
Đầu tiên Minh Thành nói về cảm thọ. Cái nào cũng có cái tốt và cái xấu, cái xấu thì mình phải nhận ra, nhiếp phục và diệt nó, còn cái tốt là phải phát huy. Cũng giống như Minh Thành nói quý vị cần phát huy cảm giác hỷ lạc chứ không phải cảm giác nào cũng là xấu hết. Phải nuôi dưỡng, tưới tẩm và phát triển cảm thọ hỷ lạc trong sự tu học. Khi Minh Thành nói sâu vào sự vô minh của thế giới này, những cái tham, sân, si tạo ra những nghiệp khổ là Minh Thành cho quý vị phát sanh cảm giác ghê sợ, nhàm chán, ly tham. Khi Minh Thành nói về dòng vô minh, nghiệp quả của tham sân si tạo nên, tạo ra bao nhiêu thứ tan thương trong cuộc đời, thì quý vị sanh lên cảm giác gì? Quý vị có sợ hãi đối với tham, sân, si không? Quý vị có ngao ngán với cái sự vô minh chấp ngã, chấp thủ của mình với chúng sinh không? Quý vị có cảm thấy không muốn tham đối với những thứ vô thường tạm bợ của cuộc đời không? Đó là làm cho quý vị phát sanh những cảm giác tích cực, những cảm giác trí tuệ, những cảm giác nhàm chán, ly tham đối với những thứ gây ra những đau khổ. Đó toàn là cảm giác tốt trong tu học cần sanh khởi, chứ không phải là diệt diệt, không cho nó sanh.
Điều thứ hai nói về thức. Mỗi một uẩn đều có công năng và phạm vi khác nhau nên gọi là nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thứ giới, chia ra tới mười tám giới. Giới ở đây tức là giới vực, ranh vực, là thế giới, cảnh giới, phạm trù, phạm vi. Thí dụ nói nhãn thức giới thì đó là cái biết ở trong phạm vi của sự biết các sắc thôi, chứ tiếng nó không biết. Tức là nhãn thức của mình nó chỉ rõ biết sắc thôi còn tiếng nó không biết, nó chỉ dừng ở cảnh giới, giới vực, phạm vi, phạm trù của nó là rõ biết sắc thôi, qua tới tiếng là nó không biết, cho nên có môn là Duy Thức học.
Tuy nhiên không phải vậy, Đức Phật không nói vậy. Phật nói duyên sanh pháp là có đầy đủ, chứ không phải “duy” là chỉ có một thôi. Bây giờ mình muốn có sự rõ biết về các sắc thì trước hết mình có con mắt và phải có cái sắc, từ đó mới sanh khởi sự rõ biết. Ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc thì mới sanh ra một cảm giác gọi là thọ do nhãn xúc sanh. Chứ không phải thức nó quyết định hết tất cả, vì nó là pháp duyên sanh, cái này nó nương cái kia, cái kia nó nương cái nọ, nương qua nương lại như thế. Đức Phật nói như bụi lau sậy vậy, một cây lau, cây sậy nó đứng mình không được, nó phải đứng bốn, năm cây thành một bụi thì mới dựa qua dựa lại được. Cũng vậy, trong năm uẩn nó dựa qua dựa lại.
Vì vậy, không phải tự nhiên mình biết được cái tiếng đó mà phải có lỗ tai và lỗ tai không bị bệnh, phải có âm thanh, rồi mới có sự rõ biết âm thanh, sau đó mới tiếp xúc. Điều quan trọng mà Đức Phật nói là âm thanh đó phải nằm trong tầm nhận thức của nhĩ thức thì nó mới biết chứ nằm ngoài tầm nhận thức thì không thể biết được. Thí dụ, có người ra ngoài chợ Bến Thành chửi mình ở đó thì mình đâu có biết để mà sân. Hay ở đâu đó có người nào thương mình da diết, họ nhớ mình, yêu đơn phương không nói được, thì nó ở ngoài tầm nghe nên mình không biết, thì mình có thương có nhớ không? Hay có người giận mình, họ chưởi mình ở dưới Tiền Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Rạch Giá, Hà Nội, thì nó ở ngoài tầm nhận thức của lỗ tai, lúc đó mình không nghe được, cho nên đó là duyên sanh vô thường. Thí dụ như có cuộc điện thoại điện tới, mà lúc đó vô tình đang ngồi thiền nên mình không bắt máy, đúng ra là chửi, nhưng ngồi thiền tìm hiểu lại một hồi là thôi, không chửi nữa. Như vậy, lúc đó mình ngồi thiền, không nghe máy thì nhờ vậy mà thoát đại nạn, đúng ra là hai người chiến tranh khủng bố nhưng mà do ngồi thiền nên đã đổi ý, suy nghĩ lại, tội nghiệp nên thôi không chửi.
Thành ra đây là pháp duyên sanh, hễ đủ nhân, đủ duyên thì nó mới sanh khởi ra cơn giận đó, cảm giác đó, còn nếu thiếu thì nó không có cho nên cảm giác đó là vô thường. Cho nên nếu mình cứ chụp chụp, bắt bắt cái nào cũng thọ hết là mình chết, là bị tàn phá cơ thể thân tâm. Dầu cho đã nghe, lỗ tai đã tiếp xúc rồi mà mình vẫn không chấp nhận vì mình biết đưa vào là nó tàn phá, nó làm đau khổ nên mình phải đánh đuổi nó ra. Chứ đừng nói chi là mình đi tìm phiền não để làm gì? “Hỗm nay có nghe bà kia nói tôi gì không, có nghe bả nói không, không có nói gì hết trơn hả, thiệt không, làm sao không nói được, bà giấu tui phải không?” Đó là tự tìm phiền não, tự kiếm khổ đau rồi chạy lên Phật khóc lóc than khổ. Không có chuyện mà muốn kiếm chuyện, không có sự mà muốn gây sự. Cho nên tu là phải đến chỗ vô sự, thậm chí đã nghe nói rồi nhưng nghĩ là chắc không có đâu, hiểu lầm đó.
Quý Phật tử nào ở gần Minh Thành để ý, nhiều khi có chuyện gì là: “Thầy ơi chuyện này vậy chuyện này kia” thì Minh Thành nói để từ từ coi đã, có phải thật vậy không. Lúc đó Minh Thành phải chánh niệm tỉnh giác, thậm chí là chặn các cái thọ. Lúc nào cùng lúc bảy, tám chuyện ồ ạt tới thì lúc đó Minh Thành không thọ tất cả pháp, không thọ cái gì hết. Như vậy mới thong dong đi núi về mây, quải một cái đãi. Chứ còn cái nào cũng thọ thì có khi bây giờ nằm liệt giường, suy nhược thần kinh, bán thân bất toại, đột quỵ, tai biến. Chúng ta làm sao bảo đảm được mình không bệnh, thế nên nếu mình không tu tâm, không bảo vệ, không phòng hộ các cảm giác; không phòng hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không phòng hộ nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức; không phòng hộ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không phòng hộ sáu xúc khi sáu căn tiếp xúc sáu trần là mình chết.
Cho nên những lúc có chuyện nhiều là Minh Thành đóng cửa thất, thấy những chuyện này vô ích, không có liên hệ tới mục đích, không cần thiết nên mình xả hết, trú vào xả vô lượng tâm, không nhận một pháp nào hết. Như vậy đó mới được an nhiên, tự tại, chống cây gậy trúc, đi trên đỉnh núi, tà áo bay phất phới. Tu phải như vậy! Nhưng như vậy mà còn chưa thấy được, còn thấy xấu hổ, hổ thẹn chứ đằng này tu gì mà tối ngày lăn xăn, bận rộn hơn người đời nữa thì tu làm cái gì. Vì vậy, không thọ, xả, trú vô xả vô lượng tâm, không có nhận gì hết, giũ cái tay áo vậy rồi đi.
Chúng ta phải thương mình, khéo biết mình, khéo phòng hộ, bảo vệ, khéo tu cho chính mình, phải thấy rõ pháp duyên sanh. Mình thấy thì mình mới giận, mình thấy thì mình mới tham, mình thấy thì mới bực, mình nghe thì mình mới sanh khởi cái cảm giác, nếu mình không thấy, không nghe thì không sanh khởi các cảm giác đó. Vậy nên, khi thấy thì coi như không thấy, đây là cái này vô thường thì chấp làm chi, thọ làm chi cho khổ. Tu cái nay hay lắm!
Thí dụ, mình đang ngồi thiền, ngồi yên tịnh thì bỗng nhiên nhớ tới người làm cho quý vị bực thì Minh Thành chỉ cho quý vị bí kiếp này. Khi mình để ý, nhớ lại thì thọ, tưởng, hành sanh khởi, hình bóng người đó hiện ra, cái mặt hiện ra, cái dáng hiện ra, những câu nói hành động hiện ra. Khi hình bóng hiện ra, nếu người đó mình ghét thì cái cảm giác khó chịu - khổ thọ sanh khởi. Mình suy nghĩ lòng vòng chạy theo cái giận đó, không thấy được những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác này đang có mặt, mà mình nhào vô kiếm ăn, nhập cuộc với nó và ở trong đó bực tức theo. Chẳng những vậy mà thọ, tưởng, hành thứ hai; thọ, tưởng, hành thứ ba tiếp tục; các cảm giác tiếp tục; suy nghĩ, tưởng tượng tiếp tục đến nỗi sút bảng lề là đi vào nhà thương Chợ Quán, Biên Hòa luôn vì cứ suy nghĩ chuyện đó hoài. Cho nên những người bị tương tư hay người thù hận cũng vậy. Hoặc người thần kinh yếu mà họ bị một cú sốc về tâm lý là họ bị bệnh luôn. Suốt đời họ bị tự kỷ hay suy sụp tinh thần là tại vì thọ, tưởng, hành trong đó khởi hoài, họ đi theo hoài và đi ra không được. Cũng như một cô có đứa con gái đã mất sáu năm rồi mà mỗi lần nhắc cô ấy đều khóc nức nở. Ngày nào cũng nhớ thương, ngày nào cũng khóc suốt sáu năm không đi ra được.
Điều hết sức quan trọng là chúng ta đã học được nhận diện năm uẩn, đó là Thánh trí tuyệt diệu của Đức Phật, tất cả trí tuệ đó hướng trực tiếp, trực diện, trực chỉ vào thân tâm của mình. Cái nào mình chấp nhận được thì nhận, cái nào không thì mình thoát ra. Mình nói “Cái này là tưởng uẩn vô thường, là cảm giác vô thường trống rỗng, đi theo những suy nghĩ này làm gì, đây là pháp duyên sanh, vô thường, giả dối, không có thật. Không được đi theo, chấm dứt đi, tan biến ra khỏi nội tâm ta đi, ta không có chấp nhận những cái này. Để cho ta tỉnh giác chánh niệm, nuôi dưỡng những cảm giác hiền thiện, hoan hỷ, thanh tịnh, an lạc. Tại sao nuôi dưỡng những cảm giác này chi cho khổ?”
Có nhiều vợ chồng giận nhau, thưa kiện ra tòa mười năm, hai chục năm. Sao phải khổ vậy, sao hồi xưa mình thề non hẹn biển đủ hết vậy mà cuối cùng bây giờ làm như vậy? Tất cả đều do cảm giác, cảm thọ, là những tưởng, những cảm giác suy nghĩ trong tâm. Chúng chỉ là những cảm giác, suy nghĩ thôi chứ có gì đâu mà cứ xà quần trong đó, cứ nghĩ, rồi phải làm, rồi phải nói, phải làm hoài như vậy. Cái ý hành, thân hành, khẩu hành rồi cảm giác trong này nó thúc đẩy rồi cứ ôm như vậy, lặp tới lặp lui, tô đậm lên rồi khổ. Như vậy mình nuôi dưỡng những thứ đó để làm cái gì? Nuôi dưỡng những sân hận, bực tức đó để làm cái gì? Để nó tàn hại thân tâm mình hay sao!
Do vậy Đức Phật dạy mình nuôi dưỡng từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm.
./.