Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

CHIẾN THUẬT TÂM LINH CỦA ĐỨC PHẬT- 2 (1) (1)

2026-03-03 00:53:29
CHIẾN THUẬT TÂM LINH CỦA ĐỨC PHẬT 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Học pháp và miên mật: PAGEREF _Toc110349865 \h 1

II. Thức: PAGEREF _Toc110349866 \h 3

III. Xả: PAGEREF _Toc110349867 \h 5

IV. Thọ: PAGEREF _Toc110349868 \h 9

V. Ý nghĩa câu “Chết trong chỗ sống, sống trong chỗ chết” PAGEREF _Toc110349869 \h 11

I. Học pháp và miên mật:

Bài kinh này rất là thâm sâu, sâu xa, rộng lớn mà bản thân Minh Thành đọc chưa cảm nhận hết nghĩa lý và chỉ biết rằng nó thâm sâu không thể đo lường được, dập đầu kính lễ trước Đức Thế Tôn cũng như là những lời dạy đầy trí huệ của bậc Thiện Thệ. Chúng ta đã tìm hiểu và hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp tục. chúng ta tìm hiểu về sáu xúc xứ, đã tìm hiểu sáu giới: Đất, nước, gió, lửa, hư không và thức. Sáu giới. Trong sáu giới, chúng ta phải thường tu tập quán chiếu. Tại sao bài kinh này, Minh Thành gọi là Chiến thuật tâm linh của Đức Phật, bởi vì khi mình ngồi thiền hay khi có phiền não thì có rất nhiều binh khí, giống như Bồ Tát, tượng Bồ Tát Chuẩn Đề Vương có mười tám tay, mỗi tay là một binh khí khác nhau, mỗi binh khí có công năng trị một loại tà ma, yêu mị.

Cũng vậy trong tâm mình có rất nhiều thứ phiền não, mỗi thứ phiền não phải có một cái Pháp trị đúng cái phiền não đó thì nó mới hết tận gốc. Ví dụ như mình đang bị tham dục chi phối mà quán từ bi không trúng, quán từ bi không khéo nó khởi lên tham dục thêm nữa. Cho nên lúc tham dục là phải lấy bất tịnh, cửu tưởng quán, giống như người học dược không rành, không vững thì người đó đưa liều thuốc sai, người bệnh uống bị bệnh nặng thêm hoặc đi đến chỗ tử vong. Mình đã chứng kiến rồi đó, lúc trước cách đây không lâu, ta gọi là lang băm. Trị bệnh thân cũng vậy, trị bệnh tâm cũng giống như vậy.

Cho nên tại sao mình phải học nhiều Pháp, nắm hết tất cả vì tất cả các Pháp này đều cần thiết hết trong lúc xử lý phiền não, cho nên phải nắm thật vững sanh và diệt của lậu hoặc. Thế nào là lậu hoặc? Tại sao lậu hoặc sanh? Lậu hoặc an trú như thế nào? Lậu hoặc chấm dứt như thế nào và con đường để diệt trừ lậu hoặc như thế nào? Đó là bốn trí. Lậu hoặc sanh, lậu hoặc diệt đạo mình phải nắm được, phải biết phiền não như thế nào, mặt mũi ra sao? Từ đâu mà nó sanh khởi, do gì mà nó sanh khởi và con đường nào đưa đến chấm dứt. Đương nhiên là con đường của Bát Chánh Đạo.

Cho nên mình không nắm vững cái này thì đâu có thể đoạn được dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Mình toàn là những kẻ đi buôn lậu. Có Phật tử nói rằng suốt ngày con ở trong chùa, sao thầy nói con đi buôn lậu. Buôn lậu chỗ con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, lưỡi, miệng. Miệng nói dối, nói láo không biết hổ thẹn, đó là buôn lậu. Thân tiếp xúc bị tham, sân trong đó qua mặt mình, đó là buôn lậu, lúc đó thọ qua mặt mình, thọ do thân xúc sanh. Cảm giác này từ sự tiếp xúc của thân này mà sanh ra và cảm giác này qua mặt mình, mình sai mà không biết, người khác chỉ mà mình không chịu luôn, đó là mình bị lậu hoặc.

Thấy ghê gớm không, đừng nói chi trong tâm mình buôn lậu suốt ngày đó, trong pháp trận đó. Cho nên đó là sáu cửa, sáu quan ải, sáu cửa ải, sáu biên thùy, sáu cửa ải của biên cương mà nó thường vận chuyển đồ lậu, nếu mình không có sự phòng hộ, sự chánh niệm tỉnh giác, sự tinh tấn, sự nội soi thì qua mặt mình vù vù, qua tuốt hết.

Cho nên đúng tinh thần tu tập này, thật sự ngày đêm không có thời gian hở cho tới mức miên mật không gián đoạn, tức là không có một kẻ hở nào xen vô được, đó là tu hành đắc lực. Một mặt, mình coi chừng đi hàng lậu, buôn lậu, một mặt không cho hở, mình tu hành mà cho nó hở nhiều quá, gián đoạn nhiều quá thì cũng giống như đóng cái ghế, đóng được một chân rồi để đó, xong nửa tháng một tháng đóng thêm chân thứ hai rồi để đó, rồi hai, ba tháng nữa đóng thêm cái chân thứ ba rồi mưa xuống coi lại nó bị mục, hư ghế luôn rồi. Hay nấu cơm nấu một chút rồi thôi ngưng không châm củi vô nữa, một hồi chụm củi vô nấu rồi tắt nữa, cứ để miếng củi chút xíu vô rồi tắt, rồi nồi cơm ra cái gì. Sự tu hành không có miên mật, liên tục; trí huệ không có Chánh Đẳng, Chánh Giác thì mình tu không thành công, như nồi cơm không ra gì hết sượng sùng, sống hay là nhão, nhão nhè, nhão nhoẹt.

II. Thức:

Cho nên ở chỗ hôm qua chúng ta tìm hiểu về xúc, xúc ở đây là cái thức luôn luôn được tu tập, thức tri; ở đây nói chú trọng vô thức, thức này rất là khác ở bên Thiền Tông. Bên Thiền Tông thường thường lấy cái biết để mà tu, nhưng ở đây không phải, lấy cái biết để mà biết được bản chất, không phải trú vô cái biết mà sử dụng cái biết để biết được bản chất của các Pháp, chỗ này rất là sâu sắc. Sử dụng cái biết để biết được bản chất của các Pháp, biết được bản chất của Pháp là cái gì? Ở đây đang nói về xúc và thọ, biết được sự tiếp xúc và cảm giác sân khởi, xúc sanh thọ, biết được ba trường hợp tiếp xúc: Tiếp xúc vui, tiếp xúc khổ và tiếp xúc không vui không khổ.

Biết được ba trường hợp cảm giác: Sung sướng, khổ đau và trung tính, bình thường. Và biết nó một cách rất rõ thì cái biết, thức tri đó là thức tri được tu tập, cái thức có tu tập, cái thức có tu tập này là hôm qua chúng ta tìm hiểu rồi, có cảm thọ vui thì mình phải biết đang có cảm thọ vui, cảm thọ vui chấm dứt thì phải biết cảm thọ vui chấm dứt rồi. Cho nên hôm qua mình nói là thành tựu được sanh diệt trí, cái sanh diệt trí này hay, tuyệt vời lắm. Bởi vì thường thường trí của mình là cái trí vô hình trung là nó chấp thường, bởi vậy, mình nhìn cái chuông, cái ghế, cái bàn, cái cây.

Tất cả những cái mình nhìn hay trong nội tâm, nhìn nó là nó mà không thấy được tính chất sanh diệt, sanh diệt liên tục của nó. Dù cho mình có nghe vô thường sanh diệt thì mình nghe nói ở trong cái suy tưởng chớ mình không thấy bằng trí huệ cho nên không có tuệ tri, bây giờ mình tập thấy bằng trí huệ thì cảm giác sanh lên và cảm giác chấm dứt thấy rất rõ, mà thường thấy như vậy gọi là tự thân tác chứng, thấy như thật biết, như thật liễu tri, cái thấy này nhìn hoài như vậy đó tới một lúc nó bức phá, tung vỡ, thấu triệt bản chất sanh diệt của các Pháp, thì lúc đó là lúc chứng ngộ, còn bây giờ là khi nhớ, khi quên, khi còn, khi mất, khi có, khi không, khi mờ, khi tỏ. Đó là trong giai đoạn mình tu tập, mình cứ giữ hoài như vậy, nhớ hoài, nhớ nhiều lên, tỏ nhiều lên, đừng có mờ nữa; có hoài đừng có không nữa, chứ không phải tu cái tâm không không không không, không phải? Luôn luôn phải tuệ tri, biết rõ.

Cho nên giống như là hai cây que xúc chạm, cọ xát với nhau, hơi nóng sanh, ngọn lửa hiện khởi lên; hai cây que rời nhau thì nó phân ly, sức nóng diệt đi, chấm dứt không phát ra lửa nữa. Như vậy là để thấy lên cái gì? Đức Phật nói vậy là để mình hiểu cái gì? Duyên sanh Pháp. Cái cảm giác đó là có điều kiện, kết hợp, không phải tự nhiên có cảm giác này. Hôm qua chúng ta đã thấy rồi đó, khắp thiên hạ đều chạy theo cảm giác hết.

Ví dụ như mình ngồi thiền lâu ngồi không nổi là tại sao, cũng là chạy theo cảm giác, buông ra cho nó khỏe. Mình ngủ mà dậy không được là sao, cũng là cảm giác, ái cái thọ, yêu thích cái thọ đó. Cho nên quán cái cảm giác này rất là hay, để thấy được sanh diệt trong cảm giác, thấy được duyên sanh ở trong cảm giác, duyên hợp trong cảm giác, vô thường, biến hoại trong cảm giác, để thấy mọi khía cạnh của cảm giác hết.

Như vậy là Chánh Đẳng Giác đó, khía cạnh khổ của nó, vậy cảm giác này là mình khổ, đi tìm cảm giác này, không có là mình khổ. Mình quen cảm giác này rồi bây giờ mình thiếu, mất nó là mình đau. Và con người chúng ta cả cuộc đời luôn đi tìm cảm giác và hy vọng mong chờ, đợi rồi sau này mình sẽ được hưởng cái gì đó. Cái đó có phải là đi tìm cái thọ không? Vì mình không biết thọ là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, không thành tựu được cái trí, cái trí xuất ly khỏi thọ. Cho nên bây giờ quán thọ, quán chiếu cảm giác để nhìn thấy mọi khía cạnh, mọi phương diện, mọi góc độ. Đó là Chánh Đẳng Giác về thọ, xuất ly vượt ra khỏi thọ.

III. Xả:

Khi mình quán chiếu như vậy, xả còn lại được trong sạch, trong trắng, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, chói sáng. Cái ví dụ này ngày hôm qua đã đọc, hôm nay nhắc lại bởi vì cái này rất thâm sâu cho nên phải học kỹ.

Ví như, này Tỷ-kheo, một người thợ vàng thiện xảo hay người đệ tử sửa soạn lò đúc; sau khi sửa soạn lò đúc xong, người ấy đốt lửa miệng lò đúc; sau khi đốt lửa miệng lò đúc, người ấy dùng kềm kẹp lấy vàng và đặt vàng vào trong miệng lò; rồi thỉnh thoảng người ấy thổi trên ấy, thỉnh thoảng người ấy rưới nước trên ấy, thỉnh thoảng người ấy quán sát thật kỹ... vàng ấy đã trở thành sáng sủa, thanh tịnh, gột sạch, các uế tạp được đoạn trừ, các tỳ vết được trừ sạch, nhu nhuyến, dễ uốn nắn và chói sáng... và nếu người ấy muốn làm đồ trang sức nào, hoặc vòng nhẫn, hoặc bông tai, hoặc vòng cổ, hoặc vòng hoa vàng, thời vàng ấy có thể dùng vào mục đích ấy.

 Cũng vậy, này Tỷ-kheo, lại nữa, xả còn lại được trong sạch, trong trắng, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, chói sáng.

 Xả, Đức Phật dạy thường trú ở trong tâm xả mà không có thọ, vui thì biết là vui, xong rồi mới biết cảm giác này vô thường, trở về trú ở trong “xả”; khổ cũng biết là khổ, khó chịu, cái khổ này vô thường. Xả nó trở về ở trong cái tâm rỗng rang, thảnh thơi. Ví dụ này nói lên cái ý, người thợ làm vàng là làm nhiều chuyện cùng một lúc, không phải một chuyện làm hoài. Khi người tu sử dụng tâm tu tập cũng phải khéo léo, lúc nào chỉ, lúc nào quán, lúc nào tu cái pháp, trạch pháp giác chi, lúc nào tu xả, tu niệm, tu tinh tấn là mình phải rất là khéo trong thất giác chi, nói rộng ra thất giác chi, chứ ở đây nói tâm xả. Phải rất là khéo léo và khéo léo này là không chỉ được, tại vì lúc đó, đương sự đương nhân ngay trong trường hợp đó mình phải biết lúc đó cần sử dụng cái gì mình sử dụng.

Chẳng hạn như hồi sáng thầy nói đó, mới vừa nghe Pháp hai tiếng đồng hồ, bây giờ đi kinh hành là không mở ra tạng kinh, động nhiều quá rồi bây giờ là tĩnh để cho quân bình lại; đó là ở ngoài mình làm vậy là ở trong tâm khi ngồi thiền mình cũng biết sử dụng vậy, cho nên ngồi thiền rất là thiện xảo, vi tế. Nếu không vi tế, thiện xảo mình chỉ ngồi chơi vậy thôi, y chang vậy không có phát triển trí huệ, ngồi cho hết giờ đi ra thôi, phải thiện xảo, lúc đó phải sử dụng Pháp nào? Quán bất tịnh hay Trải tâm từ, quán cái khổ của địa ngục, ở đây quán cái khổ của mấy người bị ung thư, liệt kê ra hết tất cả các chứng bệnh ung thư, mình quán, bây giờ cái thân mình còn khỏe hơi hơi chút có bao nhiêu người ung thư sao mà tu.

Hồi trưa này có một Phật tử, cô gọi điện thoại báo cáo cho Thầy biết sau khi đi Linh Quy Pháp Ấn về có thu hoạch, cô không trị được bệnh buồn ngủ. Lúc trước cô nghe thầy hướng dẫn khi buồn ngủ thì đứng dậy lạy Phật, rồi xong xuống ngồi rồi buồn ngủ nữa, rồi đứng lên lạy lạy xong ngồi xuống buồn ngủ nữa không trị được. Mới đợt vừa rồi thì thầy dạy phương pháp như lý tác ý, lúc buồn ngủ cô ấy quán tới cảnh của những người già, người bệnh, những chân dòi, những đứa con nít khổ, quán tới chỗ đó, như lý tác ý, bây giờ trị được bệnh buồn ngủ, tỉnh luôn trị ngay lúc buồn ngủ, trị hết bệnh buồn ngủ ngay lúc ngồi tụng kinh, lúc tu. Nhớ cái lúc khổ tự nhiên cô ấy tỉnh luôn. Thành ra sử dụng đúng Pháp, đúng cách mới có kết quả. Cho nên Thầy nhìn thấy mấy chú ngồi thiền mà ngồi đơ đơ, gật gù thấy tội nghiệp, thương lắm, bởi vì giờ đó là giờ xung trận, lâm trận, sáp lá cà. Giờ đó là giờ chiến đấu mà, quan trọng cái giờ đó.

Trở lại trong kinh, cho nên nói tu tập cái tâm xả, còn lại trong sạch, trong trắng, nhu nhuyến thì người ấy tuệ tri như thế nào:

 Người ấy tuệ tri như sau: "Nếu ta tập trung xả này thanh tịnh như vậy, trong trắng như vậy vào Hư không vô biên xứ, và tu tập tâm ta tùy theo pháp ấy, thời xả này y cứ vào đấy, chấp thủ tại đấy, được an trú nơi ta trong một thời gian dài.

Cái này rất là sâu sắc, Hư không vô biên xứ  định, người tu thiền không khéo lọt vào cái này tưởng đâu là chân tông, ngày xưa Minh Thành từng tu tập rồi mà không biết nó là Hư không vô biên xứ, ngồi lại mình tưởng trong tâm trống rỗng, bao la, thanh tịnh. Đó là không vô biên xứ, nếu như mình trú tâm xả vào trong đó thì gọi là chấp thủ tại đấy, an trú ở đó một thời gian dài. Tu cái đó mình sẽ lọt vào các cảnh trời, của sắc giới, vô sắc giới, còn trong tam giới, cái đó tuổi thọ nó vô cùng lắm không còn cái dục, sắc thô như mình nữa, mà nó sống bằng tâm tưởng. Thành ra những cái cảnh hư không vô biên xứ định, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Vô sở hữu xứ mình ngồi quán tưởng lại không có gì hết, trống rỗng. Thức vô biên xứ là mình ngồi quán tưởng thức, cái biết của mình rộng ra khắp, cái này tu thiền dễ bị cái này lắm. Cái biết, thấy, nghe của mình, tâm biết của mình mênh mông, bao la, trùm khắp cái đó là Thức vô biên xứ, thuộc về tưởng.

Nếu như mình trú vô những cái này thì mình bị chấp thủ tại đấy, được an trú nơi ta trong một thời gian dài. Trú vô đó được an lạc lắm, nhẹ nhàng, thanh tịnh lắm thì mình vô đó là bị chấp thủ, thời gian dài lắm, cho nên Đức Phật dạy người ấy tuệ tri như sau: Người ấy biết như vậy thì phải biết rõ rằng, nếu mà an trú tâm như vậy thì sẽ trở thành pháp hữu vi, còn ở trong luân hồi sanh tử, ở trong tạo tác. Bởi cái đó là do thức tưởng mà thành. Cái này là những phương pháp rất là sâu xa của tứ thiền, bát định.

 Vị ấy không tác thành, không suy tưởng đến hữu hay phi hữu. Do không tác thành, không suy tưởng đến hữu hay phi hữu, vị ấy không chấp thủ một sự vật gì ở đời; chấp thủ không quấy rối vị ấy; do chấp thủ không quấy rối vị ấy, vị ấy tự chứng Niết-bàn, và vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái như thế này nữa".

Ở đây nói cái gì? Vị ấy không tác thành, không suy tưởng đến hữu hay phi hữu. Tại sao biết nó là vô thường, biết những cảnh định của thức, tưởng, hư không vô biên, thức vô biên, phi tưởng phi phi vô tưởng xứ. Biết những cái đó là hữu vi. Không suy tưởng đến cái hữu hay phi hữu, không dính vào cõi sắc hay cõi vô sắc. vị ấy không chấp thủ một sự vật gì ở đời  đây là câu quan trọng, không chấp thủ một sự vật gì ở đời là phải thấy được năm uẩn. Khi thành tựu trí năm uẩn lúc đó mới có đủ sức phá hết tam giới, còn không thành tựu là bị thọ, tưởng, hành, thức hết. Bởi vì người đó tưởng đâu đó là mình, trong một cái tưởng thanh tịnh như vậy đó, rỗng rang, bao la như vậy đó, người này tưởng đó là tâm mình, đó là chân tâm. Ở trong cái biết rỗng rang vậy đó, Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng, đọc nghe cũng hay vậy, mình ngồi cũng tưởng vậy rồi, rỗng rang, không có vọng tưởng không khởi, lúc đó ý hành không có, người này ở trong một cái không có khởi, thì tưởng không có khởi. Người này rất dễ bị trong cái thọ của sự lặng lẽ của ý hành, lặng lẽ của các tưởng, người này tưởng đâu chứng ngộ rồi. Chỗ này rất là thâm sâu.

Minh Thành ngày xưa tu tập trải qua những chỗ này, lúc đó Thầy cự với sư ông luôn, nói Thầy giống như Lục Tổ Huệ Năng ngày xưa, tính đốt hết kinh luôn mà, đang học trường trung cấp Phật học tính đốt hết kinh điển, muốn làm tổ cho nó oai, bởi vì hiểu hết tất cả bùng vỡ cái tâm mình ra. Thầy bỏ trường Phật học lên thiền viện Trúc Lâm, năm 1994. Thầy nói với sư ông là con bây giờ y như Lục Tổ Huệ Năng vậy đó, thầy kêu con học cái gì nữa, ngon vậy đó. Bởi vì lúc đó, ý hành của mình nó dừng, tưởng dừng chỉ còn cái thức trong sáng. Rồi với một cái thọ thanh tịnh, rỗng lặng thì mình tưởng đó là chân tâm mà không ngờ đó là cái vi tế, thật ra lúc đó chỉ có hành và tưởng dừng thôi, thức được thanh tịnh.

Thành ra những chỗ này là chỗ thiền tông rất dễ bị, Minh Thành tu bên thiền mười mấy năm, khai thông hết tất cả những kinh điển lớn Hoa Nghiêm, Lăng Già, Niết Bàn, những bộ đại bộ không cần giản, đọc tới đâu hiểu tới đó luôn, thậm chí có những cái hiểu còn hơn giáo thọ ngồi trên trường nữa. Sau đó, từ bỏ, thành ra cái này rất là thâm sâu, bởi vì cái này nếu không thành tựu trí năm uẩn là coi như mình bị dính hết trong năm uẩn mà không biết, dính trong cái thọ là ghê gớm nhất hạng ở trên đời.

IV. Thọ:

Chứng quả A La Hán hay không là cái thọ này, mà đau khổ địa ngục, quỷ súc sanh cũng cái thọ này, phiền não cũng cái thọ này, giác ngộ cũng cái thọ này, cho nên ai nắm được cái thọ là coi như người đó nắm được tất cả, quán triệt được tất cả. Bởi vì cái thọ, tưởng, hành dính chùm với nhau, nắm cái thọ thì tưởng, hành theo đó dính trong đó, thành ra mình phải nhìn cảm giác của mình, còn nếu không là mình bị cảm giác lừa gạt hết, ngay cả những sách vở đọc nghe ầm ầm tổ này tổ kia, mình coi kỹ lại nếu dùng trí năm uẩn soi vô theo tinh thần của Nikāya là chưa chính xác, nó sâu sắc lắm. khi thành tựu trí năm uẩn, mình đọc vô thôi, nghe người đó nói mình nhìn thôi là biết người này đang trong cái uẩn nào, bị cái uẩn nào thấy rõ lắm.

Mình biết mình trước rồi sẽ biết người ta, cho nên đây là cái chỗ sâu xa. Chỗ quan trọng là vị ấy không chấp thủ một vật gì ở trên đời, người ấy không bị chấp thủ quấy rối, chấp thủ không quấy rối được vị ấy, mà chấp thủ cái gì? Năm uẩn, nhớ cho kỹ. Chỗ này rất cảm ơn .. từ ở trong một rừng Thánh điển bao la của 5 bộ tạng kinh mà lấy ra được cái “lõi nhất” đây là ngũ trảo thần công, năm uẩn. Bởi vì năm cái uẩn, năm cái trí này tóm thâu hết tất cả phiền não phải đi qua cái cửa đó, giống như cửa của biên cương. Tất cả người ra vô phải qua cửa đó, ngoài cửa này không có cửa nào qua được hết, cho nên Khổng Tử có câu: Thùy năng xuất bất do hộ. Ai đi ra mà không từ cánh cửa.

Thì cũng vậy, không ai chứng ngộ mà đi ra ngoài năm uẩn được hết, không ai nhiếp phục phiền não mà đi ra ngoài năm uẩn được hết, năm uẩn trùm hết thế giới, mà không phải một thế giới, ngàn ngàn tỷ tỷ thế giới là ở trong năm uẩn hết.

Cho nên hiện tại năm uẩn thọ, tưởng, hình, thức vận hành nhưng mà chỗ mình biết được năm uẩn thì lúc đó mình thành tựu trí huệ, cái biết đó bắt đầu tách ra năm uẩn, còn mình không biết mình ra năm uẩn là tôi, tự ngã của tôi, của tôi, là tui, ta, là tao, mi, tớ, là bị, là thử, là kia, là đây. Mình thấy được năm uẩn, tuyệt vời rồi. Đó là những bậc đại thiện tri thức, phải nhớ ơn suốt đời, không phải chuyện dễ. Từ trong một đại dương của giáo pháp, từ trong cả một rừng kinh tìm ra được, giống như là cái cổ áo, nắm cổ áo thì cả cái áo đi theo, như cái lưới nắm sợi dây kéo lên nguyên hết trăm ngàn mắc lưới đi theo hết, năm uẩn cũng như vậy ở trong các pháp. Thật là tuyệt diệu chưa từng có, cho nên mỗi ngày mình tu phải nhìn lại năm uẩn, nhất là cảm thọ, cảm giác của mình. Đây, nói tới cảm giác tới liền. 

Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường"; vị ấy tuệ tri: "Không nên đắm trước"; vị ấy tuệ tri: "Không phải là đối tượng để hoan hỷ".

Ghê chưa, đây là pháp hành đây, nếu vị ấy cảm giác một cảm giác vui sướng, vị ấy biết rõ bằng trí huệ cái cảm giác này là vô thường, không nên đắm trước, không nên ham muốn thích thú, dính mắc ở trong này, không phải là đối tượng để hoan hỷ, cảm giác vui sướng này không phải cái để cho mình thích thú, vui sướng, phải nhớ rõ cái đó, đó là pháp hành. Ba câu này "Thọ ấy là vô thường”, "Không nên đắm trước"; "Không phải là đối tượng để hoan hỷ" thuộc lòng, nói Tiếng Việt cho dễ hiểu, cảm giác ấy là vô thường, không nên dính mắc, không phải đối tượng để mình ưa thích.

Mỗi lần mình có cảm giác sân hay tham mình đọc ba câu này lên, cảm giác ấy là biến đổi vô thường, không nên dính mắc, không phải là đối tượng để ưa thích hoan hỷ trong đó. Lúc gặp cảm giác sướng còn nhớ mấy câu không? Chắc một câu cũng quên luôn đừng nói ba câu, chỗ này nè, pháp hành nè. Thấy vậy chứ nguyên bài kinh Đức Phật nói về thọ nhiều lắm, về cảm giác .

Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vi ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường"; vị ấy tuệ tri: "Không nên đắm trước"; vị ấy tuệ tri: "Không phải là đối tượng để hoan hỷ".

Tại sao cảm giác khổ không phải là đối tượng để hoan hỷ, đương nhiên khổ làm sao là đối tượng để hoan hỷ. Hồi nãy vui cũng không phải là đối tượng để ưa thích, bây giờ khổ càng không phải là đối tượng để ưa thích hơn nữa, vô thường mà, không nên dính mắc, đắm trước ở trong đó, tham đắm, dính mắc ở trong đó. Đây là cảm giác khổ mà, nó là vô thường, không nên tham đắm dính mắc trong đó, mà cái nào Đức Phật cũng lặp lại, ”vị ấy tuệ tri” ba lần, tuệ tri là biết bằng trí huệ, chứ không phải biết bằng tưởng, bằng ý hành là những lời nói đâu, biết bằng trí tuệ, trực giác, biết một cách sâu sắc. Tại sao biết được một cách sâu sắc, tại vì thường mình thấy được sanh diệt của cảm thọ.

 Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường"; vị ấy tuệ tri: "Không nên đắm trước"; vị ấy tuệ tri: "Không phải là đối tượng để hoan hỷ".

Cái này là khó nhất, cái vui cái khổ thấy vậy đó nếu mình tu tinh tấn chút dễ lắm, khi sân lên mình biết rồi, sao mình sân dữ vậy ta, ráng tìm cách. Hay là mình tham lên, cái này đâu có được mình tu mà. Nhưng mà cứ đều đều thì sao, chỗ này là chỗ chết, tử huyệt. Cái đều đều này nhiều hơn cái kia, vui khổ ít, cái đều đều này mới chết. Vị ấy cảm giác bằng trí huệ cái đều đều này là vô thường, không nên tham đắm dính mắc, thấy đều đều này ghê lắm. là sao? Mỗi ngày thôi vậy được rồi, hai thời công phu thôi, tu chi cho nhiều, từ từ cũng giải thoát à. Bữa đó, có một cô Phật tử gặp thầy nói, thầy ơi con phải giải thoát, thầy nói thôi giải thoát mau làm chi buồn lắm, ở đây cho nó vui. Cái đều đều này làm mình chết, chết ở trong cái chỗ sống, mà mình sống ở trong cái chỗ chết.

V. Ý nghĩa câu “Chết trong chỗ sống, sống trong chỗ chết”

Tại sao chết ở trong cái chỗ sống, mà sống ở trong cái chỗ chết. Mình sống không có nghĩ tới cái chết, không lo cho cái chết cho nên cái chết bất thình lình ập tới mình phải tử vong, còn lúc nào mình cũng nhớ tới cái chết, vô thường, sanh tử hết cho nên mình lo, lo để giải thoát sanh tử, chính vì vậy ngay chỗ chết mình được sống, tới được chỗ bất tử.

Cái người lo lắng thì người đó được thảnh thơi, người thảnh thơi thì người đó bị lo lắng. Ví dụ chuyện rất nhỏ, trước giờ tu mình chịu cực lo trước bộ đoàn tọa cụ, chuông, mõ, khánh, kinh, nghi thức, mình lo hết trước tất cả, mình lo lắng giờ này đâu phải giờ tu đâu, cho tới giờ tu mình không lo gì hết. Còn mình không lo gì hết tới chừng vô tới, ôi cái khánh đâu, chuông đâu, micro đâu hết pin.. tùm lum hết, lúc đó thảnh thơi mình lo lắng.

Cho nên Khổng Tử nói: Nhân vô viễn lự tất hữu cận ưu. Người không biết lo xa, ắt sẽ có buồn gần. Viễn lự, không có tầm nhìn xa thì có cái lo gần, phải có tầm nhìn xa, mình cứ nhởn nhơ, không thấy có chuyện gì, an an lạc lạc quá đi. Khi có chuyện tới mình hoảng loạn. Người trong lúc bình an họ lo tới lúc có hữu sự, chuẩn bị trước nên hữu sự tới họ bình an, tại có chuẩn bị trước hết rồi, thì sự tu tập của mình cũng giống như vậy, tại sao giờ khỏe trên núi cần gì tu nhiều chi cực vậy, sao không đợi tới lúc bệnh gần chết rồi tu, thấy chưa, trong lúc thảnh thơi này mình lo tu, tới lúc đau bệnh mình được thảnh thơi, đối diện với cái chết mình được Chánh niệm tỉnh giác. Thấy chỗ sâu xa không.

Cho nên cảm giác bất khổ bất lạc này rất nguy hiểm, cực kỳ nguy hiểm, luôn luôn phải quán chiếu sự hiểm nguy bất an trong các pháp quán tưởng, có một pháp quán tưởng về sự nguy hại, đọc kỹ trong đó, mở ra coi. Quán nguy hại, kể ra tất cả các chứng bệnh.

Cho nên nhiều khi Minh Thành cho coi cảnh mấy cô Phật tử, trời ôi, thôi thôi thầy ơi coi cái này ghê quá thầy ơi, đừng coi. Ghê đừng coi mai mốt đến với mình rồi sao, sao chịu nổi. Cái hình ngoài mình coi không coi nổi, đến thật với thân thể mình sao, thì mình nhờ coi cái đó để lo sợ, lo sợ để tính trước, mình tinh tấn nỗ lực, cái đó rất quan trọng, cái cảm giác này cũng vậy. Trong ba cảm giác đó, không có cái nào là đối tượng cho mình hoan hỷ, xả ly cái thọ, nhàm chán cái thọ, không ưa thích gì cái thọ hết, các cảm giác hết.    

Nếu cảm giác lạc thọ, không có hệ phược, vị ấy cảm giác thọ ấy. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, không có hệ phược, vị ấy cảm giác thọ ấy. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, không có hệ phược, vị ấy cảm giác thọ ấy.

Nếu có cảm giác vui thì vị này không bị trói buộc, nếu có cảm giác khổ vị này không bị trói buộc, nếu vị này có cảm giác không khổ không vui thì vị này cũng không có sự trói buộc. Đó đại hành giả, đại thiền sư đó, cao tăng, thánh tăng đó.

 Trong ba cảm thọ, không cảm thọ nào trói buộc mình được hết, không để cho sự yêu thích tham muốn ở trong các cảm giác sanh khởi, có nó mình thấy là quán chiếu liền, giảm bớt nó, giảm từ từ nó, đó là hiền tăng, thánh tăng, cao tăng, là đắc đạo đó. Đắc đạo chỗ này đây nè. Đạo là gì? Là sự thật, bản chất, thấu rõ bản chất sự thật đó, không còn mê say, lầm nữa. Mà mình nghĩ những vị như vậy đáng lạy dưới chân không? Khổ đến bình thản, vui đến thản bình, không khổ không vui bình bình thản thản, bất động mà vẫn biết rõ hết. Chứ không phải không thấy không biết, thấy biết hết vậy là mình lạy dưới chân chớ, đây là đối tượng để mình tu. Mình phải tu tới chỗ này đây nè, đừng để cho bất cứ cảm thọ nào trở thành một sự trói cột, mình phải làm chủ cảm thọ.

Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ với thân là tối hậu, vị ấy tuệ tri: "Ta cảm giác một cảm thọ với thân là tối hậu. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ với sinh mạng là tối hậu, vị ấy tuệ tri: "Ta cảm giác một cảm thọ với sinh mạng là tối hậu "; vị ấy tuệ tri: "Sau khi thân hoại mạng chung, mọi cảm thọ hoan hỷ ở nơi đây trở thành thanh lương".

 Tức là giây phút cuối cùng của cuộc đời đó.

Ví như, này Tỷ-kheo, như ngọn đèn dầu được cháy đỏ nhờ dầu và tim. Khi dầu và tim diệt tận, và không có vật liệu khác được đem đến, ngọn đèn dầu ấy bị diệt tắt...

Sanh tử dứt, củi hết lửa tắt, dầu hết tim tàn lụng, vĩnh biệt luân hồi. Bởi vì bình thường cứ tu cảm thọ vậy hoài cho đến lúc sắp sửa ra đi không còn bất cứ một cảm giác lưu luyến nào trong tất cả pháp nữa, trong sắc thanh hương vị xúc pháp, năm dục trưởng dưỡng không còn bất cứ một cảm giác gì mà lưu luyến ham thích, muốn tìm nữa hết, hoàn toàn thanh lương, mát lạnh, thì vị này biết đây là cảm giác cuối cùng. Dầu hết, tim không còn nữa lụng tàn hết, lửa phải tắt thôi, vĩnh biệt luân hồi chào nha, đi luôn.Đi đâu, tới đó thì biết.

Cho nên kinh hữu chuyển nói những vị tới cảnh giới đó là không thể biết được sự luân chuyển của các vị ấy. Tại vì mình giống như con chim trong lồng, những con chim bị người ta đưa đi phóng sanh, hay như con chuột dính trong bẫy vậy. Tới chừng đó rồi là coi như chim sổ lồng, cá trở về biển, không thể tưởng tượng nổi cảnh giới vượt qua năm uẩn, tâm, tuệ giải thoát, lúc đó tất cả pháp không còn chướng ngại gì nữa bất động, mình thấy Đức Thế Tôn không, lên trời xuống biển ứng thân, bao nhiêu những cái gì, không còn cái gì chướng ngại tứ đại ngũ uẩn nữa hết, đó là cảnh giới diệu dụng của Niết Bàn, tự tại vô chướng ngại, chứ không phải tu là không còn gì hết, không phải. Tu rồi không còn bất cứ một thứ tham sân si nào, không còn bất cứ khổ đau nào nữa hết. Hết là hết cái đó, chứ không phải là hết trí huệ, cái giải thoát, cái thanh tịnh mà tới đó là cùng cực của trí huệ, thanh tịnh, sự giải thoát.

 

 Tỷ-kheo thành tựu như vậy là thành tựu với tối thắng tuệ thắng xứ này. Vì rằng, này Tỷ-kheo, như vậy là tối thắng Thánh tuệ, nghĩa là trí, biết sự đoạn tận mọi đau khổ.

Tối thắng Thánh tuệ tức là trí huệ cùng cực, tối thắng là không còn gì thắng hơn nữa. tối thắng tuệ thắng xứ, trí huệ thù thắng là cái trí biết sự đoạn tận mọi khổ đau.

Sự giải thoát ấy của vị này, an trú vào chân đế, không bị dao động. Này Tỷ-kheo, cái gì có thể đưa đến hư vọng, thời thuộc về hư vọng. Cái gì không thể đưa đến hư vọng, thời thuộc về chân đế, Niết-bàn. Do vậy, vị Tỷ-kheo thành tựu như vậy là thành tựu với tối thắng đế thắng xứ này. Vì rằng, này Tỷ-kheo, như vậy là tối thắng Thánh đế, tức là Niết-bàn, không có thể đưa đến hư vọng.

Trên kia là Thánh tuệ - trí tuệ của bậc Thánh,  ở đây tối thắng Thánh đế, Thánh đế - chân lý của bậc Thánh.