Hãy Thừa Kế & Tiếp Nối Chánh Pháp ! 4 - Bát Chánh Đạo 3
Kinh Nikāya Giảng Giải
HÃY THỪA KẾ & TIẾP NỐI CHÁNH PHÁP! 4
BÁT CHÁNH ĐẠO 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lời nói PAGEREF _Toc112674740 \h 1
II. Sân hận PAGEREF _Toc112674741 \h 4
III. Chân nhân PAGEREF _Toc112674742 \h 7
IV. Những điều nên nói PAGEREF _Toc112674743 \h 8
V. Hãy là người thừa tự Pháp PAGEREF _Toc112674744 \h 16
I. Lời nói
Chúng ta tiếp tục chia sẻ về bài kinh Thừa tự pháp, tức là thừa kế và tiếp nối chánh pháp. Trong bài kinh này chúng ta đã thấy được tinh thần tha thiết, thương yêu và rất từ tâm của Thế Tôn, ngài nhắn gửi chúng ta hãy là những người thừa tự chánh pháp chứ đừng là người thừa tự tài vật.
Chúng ta sẽ học kết hợp với bài kinh Thành ấp để chúng ta thấy tổng quát về sự vận hành của sanh tử, của đời sống trong mười hai móc xích, chúng ta nghe Đức Thế Tôn trình bày một người đi vào rừng với lối mòn, con đường cũ, người này phát hiện được ngôi thành trì cổ nên trình báo với nhà vua, nhà vua tái thiết lại nên ngôi thành cổ đó được phồn vinh thịnh vượng, quảng đại chúng đa.
Con đường đó, đạo lộ đó, lối mòn được ví dụ là con đường của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua, trong phạm vi giới thiệu tổng quát, chúng ta sẽ chia sẻ những phần có thể học được trong giai đoạn này vì Bát Chánh Đạo trong Nikāya rất thâm sâu. Hôm nay chúng ta học về chánh ngữ là lời nói chân chánh, chúng ta sẽ lấy lời kinh để giải thích lời kinh chứ không lấy luận để giải thích kinh, vì luận sau này có rất nhiều tư tưởng không sát ý Phật, cho nên chúng ta lấy lời Phật để giải thích lời Phật sẽ chắc chắn hơn.
"- Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người nói như phân, hạng người nói như hoa, hạng người nói như mật.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như phân? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người khi đi vào hội trường, hay đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến giữa cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: 'Ngươi biết gì, hãy nói lên'. Người ấy không biết, nói rằng: 'Tôi có biết'; có biết, nói rằng: 'Tôi không biết'; không thấy, nói rằng: 'Tôi có thấy'; có thấy, nói rằng: 'Tôi không thấy'. Do vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ, mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nói như phân.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như hoa? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người khi đi vào hội trường, hay khi đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: 'Ngươi biết gì, hãy nói lên'. Người ấy không biết, nói rằng: 'Tôi không biết'; có biết, nói rằng: 'Tôi có biết'; không thấy, nói rằng: 'Tôi không thấy'; có thấy, nói rằng: 'Tôi có thấy'. Không vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nói như hoa.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như mật? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đoạn tận ác ngữ, từ bỏ lời nói ác ngữ. Lời nói của người ấy không hại, tai ưa nghe, khả ái, đi thẳng đến tâm, lễ độ, được nhiều người ưa thích, được nhiều người thích ý, người ấy nói những lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người nói như mật.
Ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời".
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, III. Phẩm Người, Nói Như Hoa)
Nói láo, nói những lời không đẹp, những lời xấu xa, bốc mùi hôi thối hay căn bản là nói dối, chúng ta mở rộng ra hình ảnh của phân là dơ bẩn, bốc mùi. Đối với hình ảnh bông hoa, lời nói như đóa hoa sen, hoa cúc, hoa hồng,… rất nhiều loài hoa có sắc, có hương cho nên lời nói chân thật là lời nói đẹp, từ ái, ngát hương như bông hoa. Dân gian có câu "lời nói ngọt như đường mật" hay là "lời nói ngọt lọt đến xương" nhưng lời nói của thế gian khác với trong đạo, người thế gian nói ngọt ngào vì lợi ích, sự mưu cầu, tham muốn của họ để họ đạt được mục đích.
Còn lời nói như mật trong kinh đang nói đến là người đã đoạn tận ác ngữ, từ bỏ lời nói ác, tức là đối với khẩu hành là người này hoàn toàn đoạn tận, dứt hẳn và không còn lời nói ác nào nữa vì người này đã đạt đến cảm thọ hiền thiện, trí tuệ và luôn an trú trong từ tâm, trong sự thấu hiểu và xót thương đối với hữu tình, đối với chúng sanh, đối với vạn loại, người này đã đoạn tận tất cả tham, sân, si nên người này không thể nói lời ác được cho nên lời nói như mật này là của các bậc Thánh.
Tức là nói từ sự thấu hiểu, xót thương, từ tâm, nói những lời làm người ta mát mẻ, lời nói đó trở thành chất dinh dưỡng ngon bổ, làm cho người nghe được tốt lành. Lời nói như mật là lời nói vô hại, hoàn toàn trong lời nói không có ác ý, không có tâm hại ai, lời nói này rất khả ái, đáng yêu, đi thẳng vào tâm, rót vào tâm như rót mật vì trong lời nói đó là cả một sự thấy biết đầy trí tuệ, cả một tình thương yêu sâu sắc của sự thấu hiểu về bản chất cuộc đời này nên lời nói này sẽ đi thẳng vào tâm người nghe.
"- Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích. Thế nào là năm?
Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời liên hệ đến lợi ích, nói với lời từ tâm.
Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích".
(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (VIII). Lời Nói)
Nói như vậy được Đức Phật gọi là thiện thuyết, nghĩa là khéo nói, chúng ta trở lại 3 hình ảnh được Đức Phật ví dụ cho lời nói ở bài kinh trên. Hình ảnh đống phân là mở miệng ra là bốc mùi hôi thối, ai cũng sợ, lời nói này xuất phát từ tâm tham dục, sân hận, si mê, bản ngã, người nào bị chi phối bởi tham, sân, si thì lời nói của họ làm khổ mình khổ người, nói ra làm người ta đau đớn, khổ sở, đau lòng, mất ăn mất ngủ, những lời nói như vậy cần phải tránh. Nói lời như hoa nở thật là đẹp, mỗi khi nói đều là lời chân thật, hài hòa, từ ái cũng như mỗi đóa hoa cúng Phật.
Chúng ta hay mua hoa dâng lên cúng Phật nhưng lời nói bốc ra lại hôi thối, như vậy là chưa cúng đầy đủ, ngoài việc cúng hoa bên ngoài thì còn phải cúng bằng lời nói. Đối với mọi người, đối với hoàn cảnh, sự việc đó nhưng có những người nói ra nghe nhẹ nhàng, ngọt ngào như rót mật vào tai, nghe cảm động nhưng đối phương chịu nghe để sửa đổi, cũng có trường hợp nói ra chỉ gây thêm oán hận, tức giận. Mỗi lần nói là như trăm hoa đua nở, cho nên mỗi ngày hãy chưng hoa nơi khẩu hành của mình, trên đôi môi mình là một đóa hoa không bao giờ tàn nếu mình biết sử dụng, hãy trao tặng đóa hóa này, không tốn tiền nhưng ngát hương không bao giờ tàn.
Đức Phật dạy ngài La-hầu-la trước khi nói phải quán xét, trong khi nói phải quán xét và sau khi nói xong cũng phải quán xét. Nói như hoa đã như vậy thì huống hồ gì nói như mật, lời nói ra nghe cảm động, đi thẳng vào tâm. Như vậy lời nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, an ổn chính là sự tu tập về chánh ngữ, nói đúng, là sự tu tập ái ngữ, chân ngữ, thiện ngữ, để minh chứng cho điều này chúng ta sẽ nghe qua hạnh không nói lời ác của thiên chủ Sakka, cũng là một ngũ uẩn nhưng chúng sanh ngũ uẩn này lại thống lãnh 33 cung trời, cũng là một chúng sanh ngũ uẩn khác nhưng nói ra làm đau lòng người khác.
II. Sân hận
"Tại Sàvatthi, Jetavana.
Tại đây... Thế Tôn nói như sau:
-- Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to (Okotimako), đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Tên Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!'
Ở đây, này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Tên Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!'.
Này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa ấy càng đẹp hơn, càng dễ nhìn, càng dễ thương bấy nhiêu.
Rồi này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, nói với Thiên chủ Sakka:
'-- Ở đây, này Tôn giả, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to đến ngồi trên chỗ ngồi của Ngài. Ở đây, này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bực tức, chán ghét, phẫn uất: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Dạ-xoa này xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!'. Nhưng này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to ấy càng tốt đẹp, càng dễ nhìn và càng dễ thương bấy nhiêu. Thưa Tôn giả, có phải Dạ-xoa ấy sẽ trở thành Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ?'
Rồi này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka đi đến Dạ-xoa nuôi dưỡng bằng phẫn nộ ấy; sau khi đến đắp thượng y vào một bên vai, đầu gối phải quỳ trên đất, chấp tay vái Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ và nói lên tên của mình ba lần: 'Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka! Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!'.
Này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka càng nói lên tên của mình bao nhiêu thời Dạ-xoa ấy càng trở thành xấu xí, thấp lùn, bụng to bấy nhiêu; và sau khi trở thành càng xấu xí, càng thấp lùn, bụng to hơn, vị ấy biến mất tại chỗ ấy.
Này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, làm cho hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngay lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
Tâm ta không dễ dàng,
Ðể cho bị thất trận,
Không dễ bị lôi kéo,
Trong xoáy nước dục tình.
Người biết đã từ lâu,
Ta không còn phẫn nộ,
Phẫn nộ không chân đứng
Một chỗ nào trong ta.
Ta không nói ác ngữ,
Vì phẫn nộ giận hờn,
Và không có khen tặng,
Những đức tánh của ta.
Thấy được lợi ích mình,
Ta tự thân chế ngự".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, III. Phẩm Thứ Ba (hay Sakka Năm Kinh), II. Xấu Xí)
Có loại Dạ-xoa được nuôi dưỡng bằng phẫn nộ, tức giận nên chỗ nào càng có sự tức tối, bực bội thì Dạ-xoa càng được đẹp lên. Bài kinh này cho chúng ta thấy đức độ của một vị thiên chủ, một người xấu xí, thấp kém lại phạm thượng leo lên chỗ mình ngồi, các vị thiên nhân khác rất bực bội nhưng ngài rất bình tĩnh vén thượng y lên quỳ xuống và nói ba lần "Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka! Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!", những vị nào càng đức lớn thì bản ngã càng khiêm hạ, cảm thọ sân càng an tịnh lắng dịu.
Mỗi một lời của thiên chủ Sakka thưa lên là Dạ-xoa lùn xuống, thấp đi, xấu xí hơn và cuối cùng là biến mất, ngài không dễ dàng bị thua trận, ngài không dễ bị lôi kéo trong vòng xoáy của những cảm xúc thường tình, ngài hoàn toàn an tịnh lắng dịu nên không có sự phẫn nộ trong tâm cũng không khen mình chê người. Nếu một vị vua bình thường dưới nhân gian bắt gặp một người lính ngồi lên ngai vàng thì xử tử người lính đó lập tức, nhưng đối với vua trời là thiên chủ Sakka lại vén áo qua một bên rồi lại còn quỳ xuống chắp tay nói bản thân là thiên chủ Sakka đến ba lần.
Như vậy sự nhiếp phục sân hận và bản ngã của ngài thật sự phải rất lắng dịu mới có thể làm được như vậy, đó chính là đức hạnh của thiên chủ. Ở đây Đức Phật nói Dạ-xoa được nuôi bằng sự phẫn nộ, mình liên hệ đến thế gian cũng giống như vậy, giữa hai người hận thù với nhau mà người này có những lời nói, hành động làm cho người kia tức tối thì họ thích thú, đắc thắng, tất cả những cái đó đều là ác ngữ. Đức hạnh của một người tu chân chánh thật sự rất tuyệt vời, lời nói nghe như hương hoa, như mật ngọt, lời nói khéo léo, đúng pháp, chân chánh, những lời pháp của Thế Tôn là thiện thuyết, khéo nói.
III. Chân nhân
"- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỳ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, không phải bậc Chân nhân là người dầu không được hỏi, nói lên lời không tán thán người khác; còn nói gì nếu được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán người khác, đầy đủ toàn bộ. Này các Tỳ-kheo, cẩn phải được hiểu, này các Tỳ-kheo, vị này không phải Chân nhân.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời tán thán người khác; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán người khác, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỳ-kheo, cần phải được hiểu, này các Tỳ-kheo, vị này không phải Chân nhân.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời không tán thán về mình; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán về mình, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỳ-kheo, cần phải được hiểu, vị này không phải Chân nhân.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, không phải là Chân nhân là người dầu không được hỏi, cũng nói lên lời tán thán về mình; còn nói gì nếu được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Này các Tỳ-kheo, cần phải được hiểu vị này không phải Chân nhân.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (III). Bậc Chân Nhân)
Đi bêu riếu cái xấu dở của người ta thì đó không phải là bậc chân nhân, người kia có những đức tính tốt nhưng lại không nói về những tính tốt đó, nếu người khác có hỏi về người kia thì cũng nói rất ít về tính tốt của họ chứ không nói đầy đủ tính tốt của họ. Còn bản thân thì nói lên đầy đủ lời khen ngợi, tức là khen mình chê người, cái tốt của người ta mình không muốn nói nhưng cái xấu của người ta thì lại nói thì đó không phải là bậc chân nhân. Còn bậc chân nhân là ngược lại, cái xấu của người ta không muốn nói dù được hỏi, nếu có hỏi cũng nói rất ngần ngại, còn điều tốt của người khác thì người này luôn sẵn lòng tuyên dương cái tốt, cái đẹp, đó là đặc tính của chân nhân và phi chân nhân. Đức Phật dạy khi nói chuyện cần nói trong mười đề tài này.
IV. Những điều nên nói
"Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana trong khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, rất nhiều Tỳ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại hội trường. Các vị này đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về quân đội, câu chuyện về sợ hãi, câu chuyện về chiến trận, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về đồ nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về ma quỷ, các câu chuyện sai khác về thế giới, về biển lớn, các câu chuyện về hữu và phi hữu.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, các Thầy nay ngồi hội họp ở đây, nói chuyện về vấn đề gì? Câu chuyện gì đang bàn giữa các Thầy bàn xong?
- Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất trở về, chúng con ngồi hội họp tại hội trường, và chúng con đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm... các câu chuyện về hữu và phi hữu.
- Này các Tỳ-kheo, thật không xứng đáng cho các Thầy, là những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại có thể sống chú tâm trong nhiều câu chuyện sai khác, như câu chuyện về vua... câu chuyện về hữu và phi hữu. Này các Tỳ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này. Thế nào là mười?
Câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến.
Này các Tỳ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này.
Này các Tỳ-kheo, nếu các Thầy tiếp tục nói những câu chuyện liên hệ đến mười đề tài để nói chuyện này, thời các Thầy có thể với ánh sáng (của mình) đánh bạt ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, có uy lực, còn nói gì của các du sĩ ngoại đạo".
(Tăng Chi Bộ, chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Song Ðôi, (XI). Những Ðề Tài Câu Chuyện (1))
Các thầy Tỳ-kheo thời Đức Phật rất chân thật, chân thành, thật thà, Đức Phật hỏi gì là thưa lại đúng y như những gì đã nói, sau đó Đức Phật đưa ra mười đề tài để nói chuyện hoặc ngài dạy hãy nói đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt và đây là con đường đưa đến chấm dứt khổ diệt. Mười đề tài nói chuyện này hướng đến mục đích đặt tâm đúng hướng có thể đâm thủng vô minh uẩn, có thể phá vỡ được tham ái, có thể đoạn trừ kiết sử, có thể thành tựu chánh trí, có thể chứng ngộ Niết-bàn. Như vậy sự tu học của chúng ta là không phải Đức Phật không cho nói mà Đức Phật dạy phải nói những điều có liên hệ đến mục đích, có lợi ích trong đời sống tu hành, hướng chúng ta đến ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy.
Phải nói chuyện, bàn luận như thế nào để càng ngày mình càng ít tham muốn, tự cảm thấy đầy đủ với ba chiếc y, mình có sự nhìn nhận đúng đắn đối với năm dục trưởng dưỡng, có chánh kiến sâu sắc, không để cho sắc; thanh; hương; vị; xúc trói cột, sai khiến, làm cho mình phải mệt mỏi, sầu não. Tiếp theo là bàn luận như thế nào để có đời sống rời xa sự náo nhiệt, ồn ào, đông đúc của phố thị, hướng đến viễn ly, không tụ hội, sống một mình hay còn gọi là độc cư.
Chia sẻ với nhau cách tu để tăng thượng, hướng thượng, phát triển trong sự nhiếp phục tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Pháp đàm với nhau để tăng thượng giới, định, tuệ, tinh tấn hộ trì căn, tinh tấn diệt tham, sân, si, tinh tấn tu tập Tứ Niệm Xứ, tinh tấn giữ gìn các hạnh lành đã có. Nếu chúng ta nói những câu chuyện như vậy, chiêm nghiệm những vấn đề đó, phát huy những tinh thần trong mười pháp đó thì ánh sáng của chúng ta vượt hơn cả mặt trời, mặt trăng, vượt hơn cả những thứ đại oai lực chứ đừng nói gì đến du sĩ ngoại đạo. Trong bài kinh Điều được nghe Đức Phật sẽ nói cho mình biết nên nói hay không nên nói.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi. Sau khi nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi thân hữu, Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, tôi nói như sau, thấy như sau: 'Khi người nào nói lên điều mình thấy: 'Tôi thấy như vậy'. Do vậy, người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình nghe: 'Tôi nghe như vậy'. Do vậy, người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình cảm giác: 'Tôi cảm giác như vậy'. Do vậy, người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình thức tri: 'Tôi thức tri như vậy'. Do vậy, người ấy không có lỗi gì'.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được thấy cần phải nói ra'. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được thấy không nên nói ra'. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được nghe nên nói ra'. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được nghe không nên nói ra'. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được cảm giác nên nói ra'. Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được cảm giác không nên nói ra'. Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được thức tri nên nói ra'. Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được thức tri không nên nói ra'.
Này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thấy như vậy không nên nói ra. Và này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy nên nói ra. Này Bà-la-môn, phàm nói ra điều nghe gì ... phàm nói ra điều cảm giác gì ... phàm nói ra điều thức tri gì ... các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thức tri như vậy không nên nói ra. Và này Bà-la-môn, phàm nói ra điều thức tri gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thức tri như vậy nên nói ra.
Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần xứ Magadha, hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, (III). Ðiều Ðược Nghe)
Vị Bà-la-môn hỏi Đức Phật khi có người thấy sao thì nói lại như vậy, nghe ra sao nói lại như vậy, cảm giác ra sao thì nói như vậy, biết thế nào thì nói như vậy thì có phải không thì Đức Phật trả lời ngài không nói rằng những gì thấy, những gì nghe, những gì cảm nhận đều phải nói ra hết nhưng khi nói những điều mình thấy mà làm ác pháp tăng trưởng, thiện pháp tổn giảm thì không nên nói, nếu nói mà làm sanh khởi ác tâm, ác nghiệp thì không nên nói dù mình có thấy.
Nếu thấy những gì mà nói ra ác pháp tổn giảm, pháp thiện tăng trưởng thì nên nói, nếu mình có thấy, có nghe, có cảm nhận nhưng nói ra để sanh ác pháp thì không nên nói, còn nói ra để tăng trưởng thiện pháp thì nên nói, chánh ngữ nằm trong những đặc tính này chứ chánh ngữ không chỉ đơn giản nói chân chánh là xong. Không phải nghe rồi hoặc thấy rồi là đi kể lại cho người này người kia nghe để gây bất hòa, tức giận, đó là nói trong si mê không biết pháp đó là thiện hay bất thiện, không quán xét sâu sắc trong lời nói để xem nói ra lợi mình lợi người hay hại mình hại người, nói ra để hòa hợp mọi người hay nói ra để chia rẽ. Cho nên không phải thấy cái gì cũng nói ra, không phải nghe cái gì cũng nói ra, không phải cảm nhận được cái gì cũng nói, đó chính là chánh ngữ, sự sâu sắc của lời nói chân chánh.
Tinh thần Đức Phật dạy chúng ta trong kinh Nikāya là khi làm cái gì, nói cái gì hay nghĩ cái gì thì Đức Phật đều đưa ra hai hướng thiện và bất thiện, nếu cái đó là bất thiện thì dừng lại, không làm, không nói, không nghĩ, còn nếu là thiện pháp thì phát huy, như vậy nói về giới là có lợi ích, nói về bản chất của thế giới ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, tan hoại, đừng ham muốn vì ham muốn là khổ là có lợi ích, nói về sự thoát ra khỏi những hệ lụy, ràng buộc và phải thấy biết đúng như sự thật để thoát ra, thấy biết vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi thế giới này để thoát ra là có lợi ích.
"Tại Sàvatthi... tại vườn ông Cấp Cô Ðộc.
Lúc bấy giờ hai Tỳ-kheo cãi lộn nhau. Ở đây, một Tỳ-kheo phạm tội, Tỳ-kheo ấy phát lộ tội phạm là tội phạm trước mặt Tỳ-kheo kia. Tỳ-kheo ấy không chấp nhận.
Rồi Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai Tỳ-kheo cãi lộn nhau. Một Tỳ-kheo phạm tội. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo ấy phát lộ tội phạm là tội phạm trước mặt Tỳ-kheo kia. Tỳ-kheo ấy không chấp nhận.
-- Này các Tỳ-kheo, hai Tỳ-kheo này là ngu si: một vị không thấy phạm tội là phạm tội, một vị không chấp nhận phát lộ tội phạm đúng pháp. Này các Tỳ-kheo, hai vị Tỳ-kheo này là ngu si.
Này các Tỳ-kheo, hai Tỳ-kheo này là sáng suốt, một vị thấy phạm tội, một vị chấp nhận phát lộ tội phạm đúng pháp. Này các Tỷ- kheo, hai Tỳ-kheo này là sáng suốt.
Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka, để làm hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên tại hội trường Sudhamma, ngay trong lúc ấy, nói lên bài kệ này:
Hãy nhiếp phục phẫn nộ,
Giữ tình bạn không phai,
Không đáng mắng, chớ mắng,
Không nên nói hai lưỡi,
Phẫn nộ quăng người ác,
Như đá rơi vực thẳm".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, III. Phẩm Thứ Ba (hay Sakka Năm Kinh), IV. Tội Lỗi (hay Không Phẫn Nộ))
Nếu người phạm lỗi biết mình đã phạm tội và hối lỗi thì không xảy ra cãi nhau, đã nhận và hối lỗi thì còn cãi làm gì nữa, ở đây cãi nhau thì cả hai vị thầy Tỳ-kheo đều bị si mê, bị Phật quở trách ngu si. Còn hai vị sáng suốt là một người có tội thì biết mình có tội và người kia chấp nhận người kia phạm tội để tha thứ cho họ. Một khi đã phẫn nộ lên thì trong lời nói chỉ toàn cảm thọ sân hận, nhiệt não được dẫn dắt bởi những cảm xúc sân si, cảm xúc đó quăng người sân hận như đá rơi xuống vực thẳm, chúng ta phải chiêm nghiệm câu "Hãy nhiếp phục phẫn nộ, Giữ tình bạn không phai", giữa huynh đệ, tỉ muội, giữa các bạn đồng phạm hạnh, bạn đạo, giữa cha con, mẹ con, anh chị em, phải nói lời có tình có nghĩa, nói lời hiền lời thiện, lời từ ái, nói những lời nói chạm vào tim ngấm vào tâm người nghe.
Mình sống thì lời nói của mình phải có hậu, có trước có sau, có tình có nghĩa, có thủy có chung, đừng có trước quá thân sau lại trở thành thù hận đắng cay, người tu như vậy không hay, nếu hết duyên thì lẳng lặng rút lui chứ đừng quay lưng trở lại nói xấu, đừng như lúc thân thì chị em, huynh đệ đến chừng không chơi thân nữa thì nói xấu, cho nên điều đầu tiên là lời nói phải có tình có nghĩa, lời nói có hiền thiện, có nhân có hậu rồi mới đến lời nói có từ ái, như hoa như mật, đó là lời nói của trí tuệ, ánh sáng của lời nói đó như mặt trời, mặt trăng, vượt hơn cả những vật có đại oai lực, lời nói của mình là lời của chánh pháp, nói những pháp Đức Phật chứng ngộ.
Trước tiên lời nói từ ái, lời nói tình nghĩa là quan trọng, trong trận đại dịch này có hàng trăm triệu người mắc bệnh trầm cảm, tâm lý bị ảnh hưởng nặng nề, ai cũng ở trong dục, tha, sân ai, bản ngã nên ai cũng đau khổ thì chẳng lẽ mình lại làm khổ thêm cho nhau nữa hay sao. Trong chùa có mấy huynh đệ, trong đạo tràng có mấy chị em mà người này không ưa người kia thì thật là xót xa, chúng ta hãy thương nhau vì thấy nhau quá khổ.
Mỗi người một nỗi khổ,
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Đừng tạo thêm oan trái, đừng tạo thêm đắng cay, đừng tạo thêm khổ ải trong kiếp người của nhau. Hãy cúng hoa trên môi, mỗi lời thốt ra như một đóa hoa sen để cúng cho hữu tình chúng sanh vạn loại, mỗi lời thốt ra như mật ngọt đầy bổ dưỡng để nuôi lớn những tâm hồn cô đơn, khô cằn, đầy si mê, vô minh, tham dục, bản ngã. Không phải thấy là nói, nghe là nói, cảm nhận là nói mà phải xét lại cái đó là thiện pháp hay bất thiện pháp, nói ra có lợi hay có hại, nói ra có đem lại an ổn, thức tỉnh cho mọi người hay nói ra để bất hòa, chia rẽ. Nếu không nhận diện sâu sắc, trí tuệ thì nó qua mặt mình mà mình không hề hay biết, trong cuộc sống không thể thiếu lời nói vì đó là sự tương tác thiết yếu trong cuộc sống, lời nói cũng góp phần vào hạnh phúc hoặc đau khổ cho chúng ta rất nhiều, nếu chúng ta biết khéo tu tập chân ngữ, thật ngữ, ái ngữ, thiện ngữ, trí ngữ, hiền ngữ, lợi ích ngữ thì cuộc sống này đỡ khổ biết bao.
Đại dịch khiến chúng ta phải ở trong nhà, ở trong chùa tù túng, ngột ngạt nhưng khi huynh đệ gặp nhau hỏi "sư huynh mấy ngày nay có cảm thọ an tịnh, mát dịu không?", lời nói này ngọt như cam vắt, còn đằng này gặp là gây sự, mình nói là mình tu nhưng mình không khéo léo, không có nghệ thuật sống, không có nghệ thuật quán chiếu thân, thọ, tâm, pháp, không có nghệ thuật kiểm soát thân hành, khẩu hành và ý hành, không có nghệ thuật trong chánh ngữ thì lời nói sẽ trở thành vũ khí, thành gươm đao, mũi tên, đạn dược. Nếu có tu thì lời nói sẽ thành hoa, thành sương, thành mật, thành nước mát thanh lương cho nên hãy khéo tu tập lời nói, chẳng những phải tu tập lời nói ra miệng mà còn phải tu tập lời nói trong tâm, tán dương cái thiện lành, tốt đẹp của người khác, làm hoa hậu mà bị nổi mụn là bị nhìn vào chỗ mụn đó hoài trong khi cả gương mặt đẹp không ai nhìn. Ở trong chùa các sư huynh chịu khó, các Phật tử cố gắng tu học, ai cũng tinh tấn trong tu học thì phải thấy ấm áp, hạnh phúc chứ không phải đi moi móc lỗi lầm của người này người kia, đó là tự mình làm cho tâm mình đau khổ.
Trong những lần gặp gỡ nhau phải nói những lời thiện thuyết, chánh ngữ, nói những lời liên hệ đến mười đề tài nói chuyện để chúng ta có trí tuệ, có nhiều cảm thọ đầy hương hoa lan tỏa để nuôi dưỡng cảm xúc bình an, ấm áp, đầy tình thương trong lời nói chân chánh của người tu chúng ta. Tình bạn, tình đạo, tình huynh đệ tỉ muội thể hiện trong mỗi lời nói, mỗi một chánh trong Bát Chánh Đạo giúp cho mình bớt khổ rất nhiều, giúp cho cuộc sống mình được bình an rất nhiều, tất cả những cái này đều được chánh kiến dẫn đường.
V. Hãy là người thừa tự Pháp
Trong bài kinh Thừa tự pháp Đức Phật nhắc rất nhiều lần hãy là người thừa tự pháp chứ đừng là người thừa tự tài vật.
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: 'Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?'
Và này các Tỳ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: 'Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp', mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: 'Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp'".
(Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)
Chúng ta cần nhớ nội dung bài kinh này là gì, thứ hai là cần vận dụng những lời dạy của Đức Phật như thế nào vào đời sống tu tập của người xuất gia. Tùy theo cảm nhận từng người mà chúng ta vận dụng trong đó có tinh thần của giới, có tinh thần của Bát Chánh Đạo hoặc lấy một phần chánh kiến, chánh tư duy hoặc chánh ngữ. Trong bài kinh có những pháp không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, không bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc, dẫn đầu về đời sống viễn ly. Tinh thần cốt lõi của bài kinh Thừa tự pháp là hãy thừa kế và tiếp nối chánh pháp./.
HÃY THỪA KẾ & TIẾP NỐI CHÁNH PHÁP! 4
BÁT CHÁNH ĐẠO 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lời nói PAGEREF _Toc112674740 \h 1
II. Sân hận PAGEREF _Toc112674741 \h 4
III. Chân nhân PAGEREF _Toc112674742 \h 7
IV. Những điều nên nói PAGEREF _Toc112674743 \h 8
V. Hãy là người thừa tự Pháp PAGEREF _Toc112674744 \h 16
I. Lời nói
Chúng ta tiếp tục chia sẻ về bài kinh Thừa tự pháp, tức là thừa kế và tiếp nối chánh pháp. Trong bài kinh này chúng ta đã thấy được tinh thần tha thiết, thương yêu và rất từ tâm của Thế Tôn, ngài nhắn gửi chúng ta hãy là những người thừa tự chánh pháp chứ đừng là người thừa tự tài vật.
Chúng ta sẽ học kết hợp với bài kinh Thành ấp để chúng ta thấy tổng quát về sự vận hành của sanh tử, của đời sống trong mười hai móc xích, chúng ta nghe Đức Thế Tôn trình bày một người đi vào rừng với lối mòn, con đường cũ, người này phát hiện được ngôi thành trì cổ nên trình báo với nhà vua, nhà vua tái thiết lại nên ngôi thành cổ đó được phồn vinh thịnh vượng, quảng đại chúng đa.
Con đường đó, đạo lộ đó, lối mòn được ví dụ là con đường của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua, trong phạm vi giới thiệu tổng quát, chúng ta sẽ chia sẻ những phần có thể học được trong giai đoạn này vì Bát Chánh Đạo trong Nikāya rất thâm sâu. Hôm nay chúng ta học về chánh ngữ là lời nói chân chánh, chúng ta sẽ lấy lời kinh để giải thích lời kinh chứ không lấy luận để giải thích kinh, vì luận sau này có rất nhiều tư tưởng không sát ý Phật, cho nên chúng ta lấy lời Phật để giải thích lời Phật sẽ chắc chắn hơn.
"- Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người nói như phân, hạng người nói như hoa, hạng người nói như mật.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như phân? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người khi đi vào hội trường, hay đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến giữa cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: 'Ngươi biết gì, hãy nói lên'. Người ấy không biết, nói rằng: 'Tôi có biết'; có biết, nói rằng: 'Tôi không biết'; không thấy, nói rằng: 'Tôi có thấy'; có thấy, nói rằng: 'Tôi không thấy'. Do vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ, mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nói như phân.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như hoa? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người khi đi vào hội trường, hay khi đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: 'Ngươi biết gì, hãy nói lên'. Người ấy không biết, nói rằng: 'Tôi không biết'; có biết, nói rằng: 'Tôi có biết'; không thấy, nói rằng: 'Tôi không thấy'; có thấy, nói rằng: 'Tôi có thấy'. Không vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nói như hoa.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như mật? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đoạn tận ác ngữ, từ bỏ lời nói ác ngữ. Lời nói của người ấy không hại, tai ưa nghe, khả ái, đi thẳng đến tâm, lễ độ, được nhiều người ưa thích, được nhiều người thích ý, người ấy nói những lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người nói như mật.
Ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời".
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, III. Phẩm Người, Nói Như Hoa)
Nói láo, nói những lời không đẹp, những lời xấu xa, bốc mùi hôi thối hay căn bản là nói dối, chúng ta mở rộng ra hình ảnh của phân là dơ bẩn, bốc mùi. Đối với hình ảnh bông hoa, lời nói như đóa hoa sen, hoa cúc, hoa hồng,… rất nhiều loài hoa có sắc, có hương cho nên lời nói chân thật là lời nói đẹp, từ ái, ngát hương như bông hoa. Dân gian có câu "lời nói ngọt như đường mật" hay là "lời nói ngọt lọt đến xương" nhưng lời nói của thế gian khác với trong đạo, người thế gian nói ngọt ngào vì lợi ích, sự mưu cầu, tham muốn của họ để họ đạt được mục đích.
Còn lời nói như mật trong kinh đang nói đến là người đã đoạn tận ác ngữ, từ bỏ lời nói ác, tức là đối với khẩu hành là người này hoàn toàn đoạn tận, dứt hẳn và không còn lời nói ác nào nữa vì người này đã đạt đến cảm thọ hiền thiện, trí tuệ và luôn an trú trong từ tâm, trong sự thấu hiểu và xót thương đối với hữu tình, đối với chúng sanh, đối với vạn loại, người này đã đoạn tận tất cả tham, sân, si nên người này không thể nói lời ác được cho nên lời nói như mật này là của các bậc Thánh.
Tức là nói từ sự thấu hiểu, xót thương, từ tâm, nói những lời làm người ta mát mẻ, lời nói đó trở thành chất dinh dưỡng ngon bổ, làm cho người nghe được tốt lành. Lời nói như mật là lời nói vô hại, hoàn toàn trong lời nói không có ác ý, không có tâm hại ai, lời nói này rất khả ái, đáng yêu, đi thẳng vào tâm, rót vào tâm như rót mật vì trong lời nói đó là cả một sự thấy biết đầy trí tuệ, cả một tình thương yêu sâu sắc của sự thấu hiểu về bản chất cuộc đời này nên lời nói này sẽ đi thẳng vào tâm người nghe.
"- Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích. Thế nào là năm?
Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời liên hệ đến lợi ích, nói với lời từ tâm.
Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích".
(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (VIII). Lời Nói)
Nói như vậy được Đức Phật gọi là thiện thuyết, nghĩa là khéo nói, chúng ta trở lại 3 hình ảnh được Đức Phật ví dụ cho lời nói ở bài kinh trên. Hình ảnh đống phân là mở miệng ra là bốc mùi hôi thối, ai cũng sợ, lời nói này xuất phát từ tâm tham dục, sân hận, si mê, bản ngã, người nào bị chi phối bởi tham, sân, si thì lời nói của họ làm khổ mình khổ người, nói ra làm người ta đau đớn, khổ sở, đau lòng, mất ăn mất ngủ, những lời nói như vậy cần phải tránh. Nói lời như hoa nở thật là đẹp, mỗi khi nói đều là lời chân thật, hài hòa, từ ái cũng như mỗi đóa hoa cúng Phật.
Chúng ta hay mua hoa dâng lên cúng Phật nhưng lời nói bốc ra lại hôi thối, như vậy là chưa cúng đầy đủ, ngoài việc cúng hoa bên ngoài thì còn phải cúng bằng lời nói. Đối với mọi người, đối với hoàn cảnh, sự việc đó nhưng có những người nói ra nghe nhẹ nhàng, ngọt ngào như rót mật vào tai, nghe cảm động nhưng đối phương chịu nghe để sửa đổi, cũng có trường hợp nói ra chỉ gây thêm oán hận, tức giận. Mỗi lần nói là như trăm hoa đua nở, cho nên mỗi ngày hãy chưng hoa nơi khẩu hành của mình, trên đôi môi mình là một đóa hoa không bao giờ tàn nếu mình biết sử dụng, hãy trao tặng đóa hóa này, không tốn tiền nhưng ngát hương không bao giờ tàn.
Đức Phật dạy ngài La-hầu-la trước khi nói phải quán xét, trong khi nói phải quán xét và sau khi nói xong cũng phải quán xét. Nói như hoa đã như vậy thì huống hồ gì nói như mật, lời nói ra nghe cảm động, đi thẳng vào tâm. Như vậy lời nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, an ổn chính là sự tu tập về chánh ngữ, nói đúng, là sự tu tập ái ngữ, chân ngữ, thiện ngữ, để minh chứng cho điều này chúng ta sẽ nghe qua hạnh không nói lời ác của thiên chủ Sakka, cũng là một ngũ uẩn nhưng chúng sanh ngũ uẩn này lại thống lãnh 33 cung trời, cũng là một chúng sanh ngũ uẩn khác nhưng nói ra làm đau lòng người khác.
II. Sân hận
"Tại Sàvatthi, Jetavana.
Tại đây... Thế Tôn nói như sau:
-- Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to (Okotimako), đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Tên Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!'
Ở đây, này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Tên Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!'.
Này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa ấy càng đẹp hơn, càng dễ nhìn, càng dễ thương bấy nhiêu.
Rồi này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, nói với Thiên chủ Sakka:
'-- Ở đây, này Tôn giả, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to đến ngồi trên chỗ ngồi của Ngài. Ở đây, này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bực tức, chán ghét, phẫn uất: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Dạ-xoa này xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!'. Nhưng này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to ấy càng tốt đẹp, càng dễ nhìn và càng dễ thương bấy nhiêu. Thưa Tôn giả, có phải Dạ-xoa ấy sẽ trở thành Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ?'
Rồi này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka đi đến Dạ-xoa nuôi dưỡng bằng phẫn nộ ấy; sau khi đến đắp thượng y vào một bên vai, đầu gối phải quỳ trên đất, chấp tay vái Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ và nói lên tên của mình ba lần: 'Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka! Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!'.
Này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka càng nói lên tên của mình bao nhiêu thời Dạ-xoa ấy càng trở thành xấu xí, thấp lùn, bụng to bấy nhiêu; và sau khi trở thành càng xấu xí, càng thấp lùn, bụng to hơn, vị ấy biến mất tại chỗ ấy.
Này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, làm cho hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngay lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
Tâm ta không dễ dàng,
Ðể cho bị thất trận,
Không dễ bị lôi kéo,
Trong xoáy nước dục tình.
Người biết đã từ lâu,
Ta không còn phẫn nộ,
Phẫn nộ không chân đứng
Một chỗ nào trong ta.
Ta không nói ác ngữ,
Vì phẫn nộ giận hờn,
Và không có khen tặng,
Những đức tánh của ta.
Thấy được lợi ích mình,
Ta tự thân chế ngự".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, III. Phẩm Thứ Ba (hay Sakka Năm Kinh), II. Xấu Xí)
Có loại Dạ-xoa được nuôi dưỡng bằng phẫn nộ, tức giận nên chỗ nào càng có sự tức tối, bực bội thì Dạ-xoa càng được đẹp lên. Bài kinh này cho chúng ta thấy đức độ của một vị thiên chủ, một người xấu xí, thấp kém lại phạm thượng leo lên chỗ mình ngồi, các vị thiên nhân khác rất bực bội nhưng ngài rất bình tĩnh vén thượng y lên quỳ xuống và nói ba lần "Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka! Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!", những vị nào càng đức lớn thì bản ngã càng khiêm hạ, cảm thọ sân càng an tịnh lắng dịu.
Mỗi một lời của thiên chủ Sakka thưa lên là Dạ-xoa lùn xuống, thấp đi, xấu xí hơn và cuối cùng là biến mất, ngài không dễ dàng bị thua trận, ngài không dễ bị lôi kéo trong vòng xoáy của những cảm xúc thường tình, ngài hoàn toàn an tịnh lắng dịu nên không có sự phẫn nộ trong tâm cũng không khen mình chê người. Nếu một vị vua bình thường dưới nhân gian bắt gặp một người lính ngồi lên ngai vàng thì xử tử người lính đó lập tức, nhưng đối với vua trời là thiên chủ Sakka lại vén áo qua một bên rồi lại còn quỳ xuống chắp tay nói bản thân là thiên chủ Sakka đến ba lần.
Như vậy sự nhiếp phục sân hận và bản ngã của ngài thật sự phải rất lắng dịu mới có thể làm được như vậy, đó chính là đức hạnh của thiên chủ. Ở đây Đức Phật nói Dạ-xoa được nuôi bằng sự phẫn nộ, mình liên hệ đến thế gian cũng giống như vậy, giữa hai người hận thù với nhau mà người này có những lời nói, hành động làm cho người kia tức tối thì họ thích thú, đắc thắng, tất cả những cái đó đều là ác ngữ. Đức hạnh của một người tu chân chánh thật sự rất tuyệt vời, lời nói nghe như hương hoa, như mật ngọt, lời nói khéo léo, đúng pháp, chân chánh, những lời pháp của Thế Tôn là thiện thuyết, khéo nói.
III. Chân nhân
"- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỳ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, không phải bậc Chân nhân là người dầu không được hỏi, nói lên lời không tán thán người khác; còn nói gì nếu được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán người khác, đầy đủ toàn bộ. Này các Tỳ-kheo, cẩn phải được hiểu, này các Tỳ-kheo, vị này không phải Chân nhân.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời tán thán người khác; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán người khác, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỳ-kheo, cần phải được hiểu, này các Tỳ-kheo, vị này không phải Chân nhân.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời không tán thán về mình; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán về mình, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỳ-kheo, cần phải được hiểu, vị này không phải Chân nhân.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, không phải là Chân nhân là người dầu không được hỏi, cũng nói lên lời tán thán về mình; còn nói gì nếu được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Này các Tỳ-kheo, cần phải được hiểu vị này không phải Chân nhân.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (III). Bậc Chân Nhân)
Đi bêu riếu cái xấu dở của người ta thì đó không phải là bậc chân nhân, người kia có những đức tính tốt nhưng lại không nói về những tính tốt đó, nếu người khác có hỏi về người kia thì cũng nói rất ít về tính tốt của họ chứ không nói đầy đủ tính tốt của họ. Còn bản thân thì nói lên đầy đủ lời khen ngợi, tức là khen mình chê người, cái tốt của người ta mình không muốn nói nhưng cái xấu của người ta thì lại nói thì đó không phải là bậc chân nhân. Còn bậc chân nhân là ngược lại, cái xấu của người ta không muốn nói dù được hỏi, nếu có hỏi cũng nói rất ngần ngại, còn điều tốt của người khác thì người này luôn sẵn lòng tuyên dương cái tốt, cái đẹp, đó là đặc tính của chân nhân và phi chân nhân. Đức Phật dạy khi nói chuyện cần nói trong mười đề tài này.
IV. Những điều nên nói
"Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana trong khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, rất nhiều Tỳ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại hội trường. Các vị này đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về quân đội, câu chuyện về sợ hãi, câu chuyện về chiến trận, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về đồ nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về ma quỷ, các câu chuyện sai khác về thế giới, về biển lớn, các câu chuyện về hữu và phi hữu.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, các Thầy nay ngồi hội họp ở đây, nói chuyện về vấn đề gì? Câu chuyện gì đang bàn giữa các Thầy bàn xong?
- Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất trở về, chúng con ngồi hội họp tại hội trường, và chúng con đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm... các câu chuyện về hữu và phi hữu.
- Này các Tỳ-kheo, thật không xứng đáng cho các Thầy, là những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại có thể sống chú tâm trong nhiều câu chuyện sai khác, như câu chuyện về vua... câu chuyện về hữu và phi hữu. Này các Tỳ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này. Thế nào là mười?
Câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến.
Này các Tỳ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này.
Này các Tỳ-kheo, nếu các Thầy tiếp tục nói những câu chuyện liên hệ đến mười đề tài để nói chuyện này, thời các Thầy có thể với ánh sáng (của mình) đánh bạt ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, có uy lực, còn nói gì của các du sĩ ngoại đạo".
(Tăng Chi Bộ, chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Song Ðôi, (XI). Những Ðề Tài Câu Chuyện (1))
Các thầy Tỳ-kheo thời Đức Phật rất chân thật, chân thành, thật thà, Đức Phật hỏi gì là thưa lại đúng y như những gì đã nói, sau đó Đức Phật đưa ra mười đề tài để nói chuyện hoặc ngài dạy hãy nói đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt và đây là con đường đưa đến chấm dứt khổ diệt. Mười đề tài nói chuyện này hướng đến mục đích đặt tâm đúng hướng có thể đâm thủng vô minh uẩn, có thể phá vỡ được tham ái, có thể đoạn trừ kiết sử, có thể thành tựu chánh trí, có thể chứng ngộ Niết-bàn. Như vậy sự tu học của chúng ta là không phải Đức Phật không cho nói mà Đức Phật dạy phải nói những điều có liên hệ đến mục đích, có lợi ích trong đời sống tu hành, hướng chúng ta đến ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy.
Phải nói chuyện, bàn luận như thế nào để càng ngày mình càng ít tham muốn, tự cảm thấy đầy đủ với ba chiếc y, mình có sự nhìn nhận đúng đắn đối với năm dục trưởng dưỡng, có chánh kiến sâu sắc, không để cho sắc; thanh; hương; vị; xúc trói cột, sai khiến, làm cho mình phải mệt mỏi, sầu não. Tiếp theo là bàn luận như thế nào để có đời sống rời xa sự náo nhiệt, ồn ào, đông đúc của phố thị, hướng đến viễn ly, không tụ hội, sống một mình hay còn gọi là độc cư.
Chia sẻ với nhau cách tu để tăng thượng, hướng thượng, phát triển trong sự nhiếp phục tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Pháp đàm với nhau để tăng thượng giới, định, tuệ, tinh tấn hộ trì căn, tinh tấn diệt tham, sân, si, tinh tấn tu tập Tứ Niệm Xứ, tinh tấn giữ gìn các hạnh lành đã có. Nếu chúng ta nói những câu chuyện như vậy, chiêm nghiệm những vấn đề đó, phát huy những tinh thần trong mười pháp đó thì ánh sáng của chúng ta vượt hơn cả mặt trời, mặt trăng, vượt hơn cả những thứ đại oai lực chứ đừng nói gì đến du sĩ ngoại đạo. Trong bài kinh Điều được nghe Đức Phật sẽ nói cho mình biết nên nói hay không nên nói.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi. Sau khi nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi thân hữu, Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, tôi nói như sau, thấy như sau: 'Khi người nào nói lên điều mình thấy: 'Tôi thấy như vậy'. Do vậy, người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình nghe: 'Tôi nghe như vậy'. Do vậy, người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình cảm giác: 'Tôi cảm giác như vậy'. Do vậy, người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình thức tri: 'Tôi thức tri như vậy'. Do vậy, người ấy không có lỗi gì'.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được thấy cần phải nói ra'. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được thấy không nên nói ra'. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được nghe nên nói ra'. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được nghe không nên nói ra'. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được cảm giác nên nói ra'. Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được cảm giác không nên nói ra'. Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được thức tri nên nói ra'. Ta không nói rằng: 'Tất cả điều được thức tri không nên nói ra'.
Này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thấy như vậy không nên nói ra. Và này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy nên nói ra. Này Bà-la-môn, phàm nói ra điều nghe gì ... phàm nói ra điều cảm giác gì ... phàm nói ra điều thức tri gì ... các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thức tri như vậy không nên nói ra. Và này Bà-la-môn, phàm nói ra điều thức tri gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thức tri như vậy nên nói ra.
Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần xứ Magadha, hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, (III). Ðiều Ðược Nghe)
Vị Bà-la-môn hỏi Đức Phật khi có người thấy sao thì nói lại như vậy, nghe ra sao nói lại như vậy, cảm giác ra sao thì nói như vậy, biết thế nào thì nói như vậy thì có phải không thì Đức Phật trả lời ngài không nói rằng những gì thấy, những gì nghe, những gì cảm nhận đều phải nói ra hết nhưng khi nói những điều mình thấy mà làm ác pháp tăng trưởng, thiện pháp tổn giảm thì không nên nói, nếu nói mà làm sanh khởi ác tâm, ác nghiệp thì không nên nói dù mình có thấy.
Nếu thấy những gì mà nói ra ác pháp tổn giảm, pháp thiện tăng trưởng thì nên nói, nếu mình có thấy, có nghe, có cảm nhận nhưng nói ra để sanh ác pháp thì không nên nói, còn nói ra để tăng trưởng thiện pháp thì nên nói, chánh ngữ nằm trong những đặc tính này chứ chánh ngữ không chỉ đơn giản nói chân chánh là xong. Không phải nghe rồi hoặc thấy rồi là đi kể lại cho người này người kia nghe để gây bất hòa, tức giận, đó là nói trong si mê không biết pháp đó là thiện hay bất thiện, không quán xét sâu sắc trong lời nói để xem nói ra lợi mình lợi người hay hại mình hại người, nói ra để hòa hợp mọi người hay nói ra để chia rẽ. Cho nên không phải thấy cái gì cũng nói ra, không phải nghe cái gì cũng nói ra, không phải cảm nhận được cái gì cũng nói, đó chính là chánh ngữ, sự sâu sắc của lời nói chân chánh.
Tinh thần Đức Phật dạy chúng ta trong kinh Nikāya là khi làm cái gì, nói cái gì hay nghĩ cái gì thì Đức Phật đều đưa ra hai hướng thiện và bất thiện, nếu cái đó là bất thiện thì dừng lại, không làm, không nói, không nghĩ, còn nếu là thiện pháp thì phát huy, như vậy nói về giới là có lợi ích, nói về bản chất của thế giới ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, tan hoại, đừng ham muốn vì ham muốn là khổ là có lợi ích, nói về sự thoát ra khỏi những hệ lụy, ràng buộc và phải thấy biết đúng như sự thật để thoát ra, thấy biết vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi thế giới này để thoát ra là có lợi ích.
"Tại Sàvatthi... tại vườn ông Cấp Cô Ðộc.
Lúc bấy giờ hai Tỳ-kheo cãi lộn nhau. Ở đây, một Tỳ-kheo phạm tội, Tỳ-kheo ấy phát lộ tội phạm là tội phạm trước mặt Tỳ-kheo kia. Tỳ-kheo ấy không chấp nhận.
Rồi Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai Tỳ-kheo cãi lộn nhau. Một Tỳ-kheo phạm tội. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo ấy phát lộ tội phạm là tội phạm trước mặt Tỳ-kheo kia. Tỳ-kheo ấy không chấp nhận.
-- Này các Tỳ-kheo, hai Tỳ-kheo này là ngu si: một vị không thấy phạm tội là phạm tội, một vị không chấp nhận phát lộ tội phạm đúng pháp. Này các Tỳ-kheo, hai vị Tỳ-kheo này là ngu si.
Này các Tỳ-kheo, hai Tỳ-kheo này là sáng suốt, một vị thấy phạm tội, một vị chấp nhận phát lộ tội phạm đúng pháp. Này các Tỷ- kheo, hai Tỳ-kheo này là sáng suốt.
Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka, để làm hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên tại hội trường Sudhamma, ngay trong lúc ấy, nói lên bài kệ này:
Hãy nhiếp phục phẫn nộ,
Giữ tình bạn không phai,
Không đáng mắng, chớ mắng,
Không nên nói hai lưỡi,
Phẫn nộ quăng người ác,
Như đá rơi vực thẳm".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, III. Phẩm Thứ Ba (hay Sakka Năm Kinh), IV. Tội Lỗi (hay Không Phẫn Nộ))
Nếu người phạm lỗi biết mình đã phạm tội và hối lỗi thì không xảy ra cãi nhau, đã nhận và hối lỗi thì còn cãi làm gì nữa, ở đây cãi nhau thì cả hai vị thầy Tỳ-kheo đều bị si mê, bị Phật quở trách ngu si. Còn hai vị sáng suốt là một người có tội thì biết mình có tội và người kia chấp nhận người kia phạm tội để tha thứ cho họ. Một khi đã phẫn nộ lên thì trong lời nói chỉ toàn cảm thọ sân hận, nhiệt não được dẫn dắt bởi những cảm xúc sân si, cảm xúc đó quăng người sân hận như đá rơi xuống vực thẳm, chúng ta phải chiêm nghiệm câu "Hãy nhiếp phục phẫn nộ, Giữ tình bạn không phai", giữa huynh đệ, tỉ muội, giữa các bạn đồng phạm hạnh, bạn đạo, giữa cha con, mẹ con, anh chị em, phải nói lời có tình có nghĩa, nói lời hiền lời thiện, lời từ ái, nói những lời nói chạm vào tim ngấm vào tâm người nghe.
Mình sống thì lời nói của mình phải có hậu, có trước có sau, có tình có nghĩa, có thủy có chung, đừng có trước quá thân sau lại trở thành thù hận đắng cay, người tu như vậy không hay, nếu hết duyên thì lẳng lặng rút lui chứ đừng quay lưng trở lại nói xấu, đừng như lúc thân thì chị em, huynh đệ đến chừng không chơi thân nữa thì nói xấu, cho nên điều đầu tiên là lời nói phải có tình có nghĩa, lời nói có hiền thiện, có nhân có hậu rồi mới đến lời nói có từ ái, như hoa như mật, đó là lời nói của trí tuệ, ánh sáng của lời nói đó như mặt trời, mặt trăng, vượt hơn cả những vật có đại oai lực, lời nói của mình là lời của chánh pháp, nói những pháp Đức Phật chứng ngộ.
Trước tiên lời nói từ ái, lời nói tình nghĩa là quan trọng, trong trận đại dịch này có hàng trăm triệu người mắc bệnh trầm cảm, tâm lý bị ảnh hưởng nặng nề, ai cũng ở trong dục, tha, sân ai, bản ngã nên ai cũng đau khổ thì chẳng lẽ mình lại làm khổ thêm cho nhau nữa hay sao. Trong chùa có mấy huynh đệ, trong đạo tràng có mấy chị em mà người này không ưa người kia thì thật là xót xa, chúng ta hãy thương nhau vì thấy nhau quá khổ.
Mỗi người một nỗi khổ,
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Đừng tạo thêm oan trái, đừng tạo thêm đắng cay, đừng tạo thêm khổ ải trong kiếp người của nhau. Hãy cúng hoa trên môi, mỗi lời thốt ra như một đóa hoa sen để cúng cho hữu tình chúng sanh vạn loại, mỗi lời thốt ra như mật ngọt đầy bổ dưỡng để nuôi lớn những tâm hồn cô đơn, khô cằn, đầy si mê, vô minh, tham dục, bản ngã. Không phải thấy là nói, nghe là nói, cảm nhận là nói mà phải xét lại cái đó là thiện pháp hay bất thiện pháp, nói ra có lợi hay có hại, nói ra có đem lại an ổn, thức tỉnh cho mọi người hay nói ra để bất hòa, chia rẽ. Nếu không nhận diện sâu sắc, trí tuệ thì nó qua mặt mình mà mình không hề hay biết, trong cuộc sống không thể thiếu lời nói vì đó là sự tương tác thiết yếu trong cuộc sống, lời nói cũng góp phần vào hạnh phúc hoặc đau khổ cho chúng ta rất nhiều, nếu chúng ta biết khéo tu tập chân ngữ, thật ngữ, ái ngữ, thiện ngữ, trí ngữ, hiền ngữ, lợi ích ngữ thì cuộc sống này đỡ khổ biết bao.
Đại dịch khiến chúng ta phải ở trong nhà, ở trong chùa tù túng, ngột ngạt nhưng khi huynh đệ gặp nhau hỏi "sư huynh mấy ngày nay có cảm thọ an tịnh, mát dịu không?", lời nói này ngọt như cam vắt, còn đằng này gặp là gây sự, mình nói là mình tu nhưng mình không khéo léo, không có nghệ thuật sống, không có nghệ thuật quán chiếu thân, thọ, tâm, pháp, không có nghệ thuật kiểm soát thân hành, khẩu hành và ý hành, không có nghệ thuật trong chánh ngữ thì lời nói sẽ trở thành vũ khí, thành gươm đao, mũi tên, đạn dược. Nếu có tu thì lời nói sẽ thành hoa, thành sương, thành mật, thành nước mát thanh lương cho nên hãy khéo tu tập lời nói, chẳng những phải tu tập lời nói ra miệng mà còn phải tu tập lời nói trong tâm, tán dương cái thiện lành, tốt đẹp của người khác, làm hoa hậu mà bị nổi mụn là bị nhìn vào chỗ mụn đó hoài trong khi cả gương mặt đẹp không ai nhìn. Ở trong chùa các sư huynh chịu khó, các Phật tử cố gắng tu học, ai cũng tinh tấn trong tu học thì phải thấy ấm áp, hạnh phúc chứ không phải đi moi móc lỗi lầm của người này người kia, đó là tự mình làm cho tâm mình đau khổ.
Trong những lần gặp gỡ nhau phải nói những lời thiện thuyết, chánh ngữ, nói những lời liên hệ đến mười đề tài nói chuyện để chúng ta có trí tuệ, có nhiều cảm thọ đầy hương hoa lan tỏa để nuôi dưỡng cảm xúc bình an, ấm áp, đầy tình thương trong lời nói chân chánh của người tu chúng ta. Tình bạn, tình đạo, tình huynh đệ tỉ muội thể hiện trong mỗi lời nói, mỗi một chánh trong Bát Chánh Đạo giúp cho mình bớt khổ rất nhiều, giúp cho cuộc sống mình được bình an rất nhiều, tất cả những cái này đều được chánh kiến dẫn đường.
V. Hãy là người thừa tự Pháp
Trong bài kinh Thừa tự pháp Đức Phật nhắc rất nhiều lần hãy là người thừa tự pháp chứ đừng là người thừa tự tài vật.
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: 'Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?'
Và này các Tỳ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: 'Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp', mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: 'Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp'".
(Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)
Chúng ta cần nhớ nội dung bài kinh này là gì, thứ hai là cần vận dụng những lời dạy của Đức Phật như thế nào vào đời sống tu tập của người xuất gia. Tùy theo cảm nhận từng người mà chúng ta vận dụng trong đó có tinh thần của giới, có tinh thần của Bát Chánh Đạo hoặc lấy một phần chánh kiến, chánh tư duy hoặc chánh ngữ. Trong bài kinh có những pháp không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, không bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc, dẫn đầu về đời sống viễn ly. Tinh thần cốt lõi của bài kinh Thừa tự pháp là hãy thừa kế và tiếp nối chánh pháp./.