Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nhớ Niệm Rời Xa - Lìa Tham - Chấm Dứt - Từ Bỏ - Y Cứ Viễn Ly Ly Tham Đoạn Diệt Xả Ly

2026-03-03 00:53:30
Nhớ Niệm Rời Xa - Lìa Tham - Chấm Dứt - Từ Bỏ!

Y Cứ Viễn Ly Ly Tham Đoạn Diệt Xả Ly

Thích Minh Thành

Ngày 21 tháng 09 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Y cứ viễn ly – ly tham PAGEREF _Toc117152492 \h 1

II. Tu tập tâm ý PAGEREF _Toc117152493 \h 7

III. Trình pháp PAGEREF _Toc117152494 \h 9



I. Y cứ viễn ly – ly tham

Kính bạch chư tôn hiền đức và toàn thể quý Phật tử hiền trí.

Chúng ta đang ngồi tĩnh lặng nơi đây, bình yên như vậy nhưng xung quanh chúng ta, toàn địa cầu đang kinh hoàng, khủng hoảng, kinh hãi. Ở Đài Loan vừa động đất với sức mạnh bằng tám trái bom nguyên tử, bị chết và bị thương khoảng bốn, năm chục người, tòa nhà cao nhất một trăm lẻ một tầng rung chuyển như cây trước gió. Trung Quốc thì sóng thần mấy chục mét. Các nước khác cũng có rất nhiều như động đất, sóng thần, hạn hán, lũ lụt… làm cho hàng tỉ người mất nhà, tan nhà nát cửa, chết đói, chết khát. Những dòng nước mắt, những dòng máu, những tiếng kêu thương thảm thiết, thấu trời xanh.

Nhật Bản đang hứng chịu cơn bão hai trăm mấy chục km/giờ. Rất nhiều nước ngay trong hiện tại xe bị bay mất, thành phố bị trở thành như sông, hồ, biển, sắp tới tiếp tục có những cơn bão trái ngược với quy luật. Khắp mọi nơi đầy rẫy tan thương, thống khổ, biến động, lòng người ác độc, ngỗ nghịch, gian tà. Chỉ mới ngày hôm qua, đứa con năm mươi hai tuổi cãi với mẹ già bảy mươi tám rồi đâm người mẹ chết, dù không có say xỉn.

Thật sự rất khủng khiếp, khủng hoảng, khủng bố, hãi hùng và kinh sợ. Con chỉ nói qua nói lại với mẹ, cãi qua cãi lại mà đã đâm chết mẹ ngay tại chỗ. Mẹ già đã bảy mươi tám tuổi. Thật sự rung sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, lo sợ, sợ hãi. Trong ngoài, trên dưới, đông tây, đều đang trong sự biến động kinh hoàng của ác nghiệp.

Dầu sôi lửa bỏng, sóng thần cao bốn chục mét, rung chuyển trời đất, địa cầu đang đi đến kiếp hoại, lòng người đang ác độc, dục vọng. Thật đáng sợ, đáng lo lắng, đầy rẫy bất an. Một cô gái chỉ ba mươi tuổi nhưng bị đột quỵ, bác sĩ hỏi thì cô đó nói cô không bao giờ suy nghĩ, tưởng tượng được mình lại bị như vậy, hay có người mười hai tuổi bị ung thư, những em bé nhỏ mấy tuổi cũng bị.

Chưa bao giờ chúng ta thấy được phá vỡ tất cả quy luật của cuộc sống. Thiên hạ đại loạn trong những dục vọng, sân hận, điên đảo của chúng sanh, của hữu tình, của thế gian. Thật là đáng sợ.

Đức Thế Tôn nói rằng rất lợi ích cho chúng ta khi chúng ta niệm giác chi, khi chúng ta luôn luôn quán niệm về sự nguy hại của thân tâm này, thế giới này, đời sống này. Rất lợi ích cho chúng ta khi chúng ta luôn nhớ những khổ đau, bất an, tai họa, ách nạn, những sự nguy hiểm của đời sống này. Thật lợi ích, lợi đắc cho chúng ta. Thật an lạc cho chúng ta, để chúng ta thường nhớ nghĩ sự bất an, sự tai họa, khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, hoạn nạn của kiếp sống này, của đời sống, thế gian này. Không có gì đáng để cho chúng ta ham thích, lưu luyến, nắm giữ những khổ pháp này, những khổ uẩn này, những sự thống khổ này.

Đầy rẫy những tai họa, hiểm nạn, bất an, những đau khổ trong thân tâm này. Như hôm qua bất thình lình không biết con gì cắn làm mắt bị sưng lên. Minh Thành nhìn thấy con mắt này là khổ đau, là đổi thay, vô thường, là tai họa. Thân xác này là hiểm nguy, là mối lo lắng, phiền não, phiền bực, phiền muộn, phiền phức, phải mang vác đống thịt, những bộ phận, những cảm giác thúc giục, thèm khát, đói khát, khao khát, khát ái. Thật là mệt mỏi, nhọc nhằn, vất vả. Không có gì hãnh diện với đống thịt thối này, có gì đáng để khoe, để nói, để ngã mạn, ta đây khi mang vác một cầu tiêu di động. Có gì đáng để kiêu căng, ngạo mạn với ai, để ta đây, vênh váo với ai.

Tai họa, mang những cái này là mang tai họa, vác này là vác tai họa, có khuôn mặt này, cánh tay này là có tai họa. Có hình hài này là có tai họa, có hiểm nguy, có lo lắng, có sợ hãi, có bệnh tật, có ốm đau, có ung thư, ung nhọt, ung hạch, ung bứu.

Mình xấu hổ khi nhìn lại thân này, mình tủi hổ, ê chề, gớm ghê, chán chê, ngao ngán. Mình không ưa thích, không nắm giữ, không cho ai là mình, là của mình. Phải như lý tác ý, thường xuyên và liên tục, phải niệm tu tập, niệm giác chi, phải tu tập niệm giác chi.

“Nhưng đối với niệm, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lợi ích trong mọi trường hợp”.

(Bài kinh Phải thời, VI. Phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi, Chương II. Tương Ưng Giác Chi, tập V. Thiên Đại Phẩm, Tương Ưng Bộ Kinh)

Bất cứ trường hợp nào mình cứ niệm bất an, niệm tai họa, niệm vô thường, khổ đau, niệm nhàm chán, từ bỏ, viễn ly.

“Này Ananda, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly.”

(Bài kinh Không phóng dật, Phẩm Thứ Hai – Chương III. Tưng Ưng Kosala – Tập I. Thiên Có Kệ - Tương Ưng Bộ Kinh)

Những chữ này là định lí giải thoát của bậc Thánh: y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly hay là từ bỏ. Tu tập cái nhìn chính xác về thân tâm của cuộc đời này để cái nhìn đó đưa mình đến sự rời xa chúng nó, đưa mình đến không tham, chấm dứt, đưa đến sự từ bỏ.

Tu tập Chánh tri kiến dựa vào sự rời xa, mọi thứ vật chất trên thế gian này thấy đúng để rời xa nó, để rời xa thân xác này, rời xa thế gian, thế giới này, thấy đúng để ly tham, để không còn tham muốn, để chấm dứt, từ bỏ nó. Tâm phải hướng đến sự rời xa, nuôi dưỡng tâm viễn ly này thật mãnh liệt, nhiệt quyết. Mình không có ở đây đâu mà tham muốn, chiếm hữu, giựt giành, mà tức giận, hơn thua, mà đam mê, dính mắc, ràng buộc. Mình ở đâu mình còn không có thì làm sao có cái của mình? Mình còn từ bỏ cái mình huống chi là những cái ở ngoài mình.

Tu tập niệm giác chi thật nhiều, chánh niệm, quán niệm, suy niệm thật nhiều, đừng nên quên. Trong khi mình vui sướng thì mình phải biết cái vui này tiềm ẩn tai họa, trong khi mình khổ đau thì mình càng phát tâm nhàm chán, trong khi mình bình ổn, đều đều thì mình biết cái đều đều này giết chết người ta, làm cho người ta nhục chí, dừng chân, có cảm giác an toàn.

Mình phải lo sợ, kinh hãi, từ bỏ trong cảm giác đều đều đó, mình làm sanh khởi lên cảm giác nguy hại, nguy hiểm và tác hại. Bất cứ lúc nào mình cũng có thể đột quỵ, bất cứ lúc nào mình cũng có thể gặp tai họa, trượt chân hay đập đầu là trở thành người thực vật, cũng có thể trở thành súc vật. Làm gì có giây phút nào bình an trong sanh tử này, không có hạnh phúc trong sanh tử, không có an ổn trong luân hồi. Làm gì có sự thường còn trong các pháp biến động, tàn hoại, hoại diệt, hủy hoại này.

Phải thấy được hiểm họa tiềm ẩn khắp mọi lúc mọi nơi, không phải chỉ ở bên ngoài mà ngay trong thân ta, trong tâm ta, ngày nào còn dục, tham, ái là còn tiềm ẩn tai họa nguy hiểm chết người. Ngày nào còn những cảm thọ sân hận, bực bội là tiềm ẩn tai họa nguy hiểm chết người. Ngày nào còn cảm giác ta đây hơn thua, là còn hiểm họa tiềm ẩn chết người. Ngày nào còn mang vác thân này là còn sanh già, bệnh, chết, sầu bi, khổ, ưu não, bệnh tật, bệnh tim, bệnh phổi, bệnh gan, bệnh đường ruột, bệnh tuyến giáp, còn bệnh đường ruột, bệnh ung thư não.

Như vậy thì làm gì có được sự an ổn trong ngũ uẩn này? Phải niệm giác chi thật nhiều, như lý tác ý thật nhiều, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này để chuẩn bị cái chết đến bất cứ lúc nào, để chuẩn bị động đất, sóng thần, bão bất cứ lúc nào, hay trượt chân té đập đầu chết bất cứ lúc nào, lên tăng-sông, đột quỵ, tai biến bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Niệm, nhớ, nhắc hoài làm cho tâm mình hướng đến sự viễn ly. Nhớ vậy thì tâm mới hướng đến sự rời xa được, mình không nhắc thì làm gì nó có xu hướng rời xa?

Mình quán như vậy mới hướng tới sự ly tham, chấm dứt, đoạn diệt, từ bỏ, xuất ly, xả ly.

“Có gì vui mà cười mà nói?

Có gì vui mà náo động tâm?

Ngoài kia cuộc sống thăng trầm

Trong này lắm kẻ lặng thầm tàn hơi.

Cười gì, vui sướng gì khi đời bị đốt thiêu?

Sống trong chỗ tối tăm sao không tìm ngọn đèn?”

Chúng ta nhìn đi, toàn là những tham, sân, si, dục ái xâm chiếm, chi phối, áp đảo, điều khiển toàn bộ thân tâm của hữu tình chúng sanh. Mình nhìn họ ăn, họ nói cái gì, cử chỉ, hành động của họ là gì. Mình nhìn trong thân tâm của mình xem có phải mình luôn bị điều khiển không? Không có gì. Chỉ là sự vận hành của khổ, của dục ái, tham lam, thèm khát, chỉ là sự vận hành của cấu nhiễm, ô nhiễm, của rác rưới, bẩn thỉu, khổ đau, bất an, tai họa. Không có gì khác.

Tại sao tâm mình không hướng tới viễn ly, ly tham, không hướng tới sự chấm dứt, từ bỏ? Tại sao tâm u mê này ngu muội hoài hoài, mãi mãi trong vô lượng kiếp? Đánh, tát, kí vào đầu, dập đầu nó xuống trước bàn Phật và kêu nó “Tỉnh đi tâm!” Tu tha thiết, da diết, nhiệt thành như vậy, tu bằng cả trái tim, cả tấm lòng như vậy mới có cơ hội hướng đến, nghiêng về, nhập về, xuôi về viễn ly, để mình đi đến chỗ ly tham, từ bỏ, chấm dứt.

…32:30 cái tai họa này, không hạnh phúc trong sanh tử. Làm gì có hạnh phúc trong sanh tử, làm gì có bình an trong luân hồi? Làm gì có sự bảo đảm ở trong dòng sống chết khổ đau này? Thế mà cái tâm cứ ngu, mê, si, ám, cứ cho là bình an, an toàn, bảo đảm. Đó là vô minh tùy miên, si tùy miên, tham ái tùy miên. Bóng đêm đó theo mình miên man trong tâm.

“Như vậy là phải, thưa Đại vương. Thưa Đại vương, pháp được Ta khéo giảng. Và pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác giao du.”

“Này Ananda, không phải vậy. Này Ananda, không phải vậy. Thật sự, này Ananda, toàn phần đời sống Phạm hạnh này thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.”

(Bài kinh Không phóng dật, Phẩm Thứ Hai – Chương III. Tưng Ưng Kosala – Tập I. Thiên Có Kệ - Tương Ưng Bộ Kinh)

Ý nói nhờ giao du với bạn lành, với thiện tri thức, với Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, làm thân với Chánh pháp, với thiện hữu, làm thân với bậc thiện tri thức, có chân nhân, Chánh kiến thì từ đó vị Tỳ-kheo làm bạn với thiện.

Từ một Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này Ananda, chúng ta hy vọng rằng vị ấy sẽ tu trì Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành của vị thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.

“Này Ananda, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly, tu tập chánh tư duy, tu tập chánh ngữ, tu tập chánh nghiệp, tu tập chánh mạng, tu tập chánh tinh tấn, tu tập chánh niệm, tu tập chánh định, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly. Như vậy, này Ananda, là vị Tỷ-kheo thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.”

(Bài kinh Không phóng dật, Phẩm Thứ Hai – Chương III. Tưng Ưng Kosala – Tập I. Thiên Có Kệ - Tương Ưng Bộ Kinh)

Mục đích của tu tập Bát Chánh Đạo là đưa đến sự rời xa, sự lìa tham, sự chấm dứt, sự từ bỏ. Muốn tu tập được như vậy thì phải an trú vào một pháp, tức là không phóng dật trong thiện pháp. Người muốn tu tập được viên mãn trong Bát Chánh Đạo là người đó phải tu Chánh kiến, thì người đó phải tu niệm giác chi thường xuyên, tác ý liên tục, muốn như vậy thì người đó phải không phóng dật trong các thiện pháp.

Tất cả các thiện pháp lấy không phóng dật làm chóp đỉnh, làm chóp nhọn của mái nhà, không phóng dật thống lãnh tất cả toàn bộ các thiện pháp, Thánh pháp. Không thả lỏng sáu căn, không buông lung phóng dật, có như vậy thì người này mới nhìn vào bên trong mà niệm nhớ được, niệm thân thọ, tâm pháp, niệm sự nguy hiểm, tác hại của ngũ uẩn, của đời sống này. Từ niệm nhiều thì người này thành tựu được Chánh kiến, sau đó là Chánh tư duy, các pháp phía sau đó.

Từ thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, quán đúng, định đúng, từ đó đưa đến một đời sống viễn ly, ly tham, đoạn diệt và từ bỏ tất cả các hình thái của đời sống. Từ bỏ sanh hữu, từ bỏ khổ đau, chấm dứt khổ đau, những nguyên nhân của đời sống khác được trừ diệt, hậu hữu không còn nữa.

Đây là bài kinh Không phóng dật trong Tương Ưng Bộ tập một:

“Thưa Đại vương, nếu Đại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, thời tự ngã được che chở, hộ trì, nội cung được che chở hộ trì, kho tàng được che chở, hộ trì.”

(Bài kinh Không phóng dật, Phẩm Thứ Hai – Chương III. Tưng Ưng Kosala – Tập I. Thiên Có Kệ - Tương Ưng Bộ Kinh)

Ý nói người sống không phóng dật, dựa vào sự không phóng dật thì chính mình sẽ được che chở, bảo hộ tự thân, gia đình mình, tài sản của mình sẽ được che chở, bảo hộ. Chữ tài sản được hiểu theo hai nghĩa: tài sản của vật chất đối với người cư sĩ là tài sản tinh thần, Thánh sản, bảy tài sản của bậc Thánh không bị mất mát: tín, giới, văn, tàm, quý, thí, tuệ của mình sẽ không bị mất. Đó là nhờ không phóng dật, y cứ không phóng dật.

II. Tu tập tâm ý

“Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, lại khó sử dụng, này các Tỷ-kheo, như tâm không tu tập. Tâm không tu tập, này các Tỷ-kheo, khó sử dụng.

Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ- kheo, lại dễ sử dụng, này các Tỷ-kheo, như tâm có tu tập. Tâm có tu tập, này các Tỷ-kheo, dễ sử dụng.”

(Bài kinh Tâm không tu tập, II. Phẩm Khó Sử Dụng – Chương Một Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập một)

Một nội tâm có tu rất dễ xài, dễ bảo, dễ nghe, ngoan hiền. Một nội tâm không tu tập là luôn luôn cứng cỏi chống đối, trái nghịch, đối nghịch, phản nghịch. Vậy nên tâm tu tập là dễ sử dụng, tâm rất nghe lời, rất dễ dạy, hiền ngoan.

“Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, lại đưa đến bất lợi lớn, này các Tỷ-kheo, như tâm không tu tập. Tâm không tu tập, này các Tỷ- kheo, đưa đến bất lợi lớn.

Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ- kheo, lại đưa đến lợi ích lớn, này các Tỷ-kheo, như tâm được tu tập. Tâm được tu tập, này các Tỷ-kheo, đưa đến lợi ích lớn.”

(Bài kinh Tâm không tu tập, II. Phẩm Khó Sử Dụng – Chương Một Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập một)

Tâm phải được tu tập thì mới dễ sử dụng, còn không rất khó dùng, khó xài, không xài được. Con đường tu tập có lợi ích lớn, quả báo lớn.

“Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, lại đưa đến lợi ích lớn, này các Tỷ-kheo, như tâm được tu tập, được làm cho hiển lộ. Tâm được tu tập, được làm cho hiển lộ, này các Tỷ-kheo, đưa đến lợi ích lớn.”

(Bài kinh Tâm không tu tập, II. Phẩm Khó Sử Dụng – Chương Một Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập một)

Làm cho hiển lộ là làm cho hiển lộ thọ, tưởng, hành, thức, dơ ra dơ, sạch ra sạch, đen ra đen, trắng ra trắng, thiện ra thiện, bất thiện ra bất thiện. Nó hiển lộ ra, thấy rõ mồn một. Còn tâm không hiển lộ là tâm vô minh. Các pháp không hiển lộ.

Giận thì người ta lại nói là “Tôi không có giận đâu!” Buông lung phóng dật nhưng người ta nói thì “Tôi có buông lung phóng dật đâu!” Mình bản ngã rõ ràng như vậy nhưng không nhận, nhiều khi biết nhưng tự ái lại không nhận, đó là tâm không tu tập, khó xài, khó sử dụng, khó dùng, bất lợi lớn.

Còn tâm có tu tập thì lợi ích lớn, dễ sử dụng, làm cho được hiển lộ, làm cho sung mãn các thiện pháp. Tâm hiền, tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả sẽ sung mãn, đầy ắp trong con người của mình, ngọt ngào, mát dịu, bi mẫn, nhu nhuyến, những thiện pháp đầy ắp trong đó, làm cho sung mãn.

“Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, đem lại đau khổ, này các Tỷ-kheo, như tâm không được tu tập, không được làm cho sung mãn. Tâm không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, đem lại đau khổ

Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ- kheo, đem lại an lạc, này các Tỷ-kheo, như tâm được tu tập, được làm cho sung mãn. Tâm được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, đem lại an lạc.”

(Bài kinh Tâm không tu tập, II. Phẩm Khó Sử Dụng – Chương Một Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập một)

Hãy nhớ để tu, để nhớ, để nhắc nhở, để quán chiếu, như lý tác ý, như lý giác sát. Như lý giác sát là mình nhìn các thú vật, con kiến, con muỗi, con trùng, mình quán nhân quả của ba đường ác, soi rọi thân tâm của mình. Mình nhìn cái gì cũng nhìn bằng pháp, trong ngoài, nên gọi là như lý giác sát.

Mình không nhìn theo chiều dục ái hơn thua, mà mình nhìn theo cái nhìn đặt tâm đúng hướng. Đặt cái tâm của mình cho đúng hướng để đưa đến sự viễn ly, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, đó là đặt tâm đúng hướng, ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy. Đặt tâm làm sao cho rời xa, lìa tham, làm sao cho chấm dứt hết, từ bỏ hết. Cứ hướng tâm về cái đó hoài như vậy, suy nghĩ gì cũng hướng về đó, gọi là y cứ, dựa vào đó, tựa vào đó, hướng về đó, cho tâm mình nghiêng về, hướng về, xuôi về, nhập vào sự rời xa, viễn ly. Cho tâm mình nghiêng về, hướng về, xuôi về, nhập vào sự lìa tham. Cho tâm mình nghiêng về, hướng về, xuôi về, nhập vào sự chấm dứt đó. Cho tâm mình nghiêng về, hướng về, xuôi về, nhập vào, sống trong sự từ bỏ.

Mọi cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình sanh khởi lên đều hướng về sự từ bỏ đó. “Mày có ở đây đâu mà mày hơn thua chi mệt vậy? Thân này không phải là của mày đâu? Từ bỏ đi!” Điều này tu được thì khi chết hay khi tai nạn tới thì rất khỏe, sắp phải ra đi thì rất nhẹ, đi thẳng lên, nếu chưa đạt được cứu cánh Niết-bàn thì lên tịnh cư thiên, ở với các bậc thượng thiện nhân, tối thượng nhân, các bậc tâm hướng đến sự từ bỏ ngũ uẩn.

Chúng ta đã thấm chưa? Mỗi ngày thấm được một chút, nhiều ngày thấm nhiều.

Thầy Pháp Cần hôm nay ra thất, hãy chia sẻ trong thất tu tập được gì cho đại chúng cùng nghe. Một tháng mười ngày nhập thất tu học được gì?

III. Trình pháp

Thầy Pháp Cần trình pháp:

Con cung kính đảnh lễ sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Vừa qua được sự cho phép của sư phụ và sự trợ duyên của quý thầy, quý cô và đại chúng cho con có môt khoảng thời gian ngắn trong thất để nhìn lại thân tâm của mình. Trong khoảng thời gian này, đầu tiên con xin bày tỏ lời tri ân sâu sắc đối với sư phụ, quý thầy, quý cô và quý đại chúng đã trợ duyên và bằng tấm lòng thương tưởng, đã hỗ trợ cho con có được thời gian quay lại tu tập một đời sống viễn ly, xa vắng.

Khi ở trong thất thì thân con có rất nhiều cảm thọ, thọ, tưởng, hành vận hành rất nhiều. Có những khi con rất tàm quý, xấu hổ vì những lúc mình chưa có tinh tấn, giãi đãi khi nghĩ đến quý thầy, quý cô và đại chúng ở ngoài với bao nhiêu công việc, mình ở trong này lại có những cảm giác giãi đãi. Qua những lần chiến đấu như vậy, con thấy sanh khởi tâm tàm quý cũng như là tâm biết ơn, tương kính đối với quý thầy, quý cô cùng đại chúng. Lòng tin Tam Bảo của con được tăng trưởng.

Mỗi ngày con cố gắng sắp xếp thời khóa để tu tập, chuyên tâm vào việc sám hối, nghe pháp và ngồi thiền quán chiếu. Chính tự thân mình khi trở về sự yên tĩnh, tránh tiếp xúc nhiều thì những cái hình bóng về ác nghiệp của tự thân hiện về rất nhiều. Mỗi lần như vậy thì con đến bàn Phật sám hối và trải tâm từ, từ từ thì cảm thọ cũng vơi bớt, nó lắng dịu lại. Nó vẫn có sự chi phối làm cho chính tự thân và tâm mình dao động, con thấy tầm quan trọng của việc tu tập, việc làm thiện, tích đức. Vì trước đây đời sống vô minh nên mình không biết tu tập, tạo nhiều những nghiệp dữ nên nó không mất mà đi theo mình ám ảnh, làm cho mình cứ bị chướng ngại.

Con thấy được như vậy nên con mới quyết tâm lòng tin mạnh mẽ với Tam Bảo, rằng từ đây trên bước đường của mình, sẽ mạnh mẽ, nỗ lực tu tập, chuyển hóa, mỗi ngày được nghe pháp, được tưới tẩm những dòng Thánh trí tuệ làm cho con có thêm động lực, năng lượng để vượt qua những lậu hoặc, chướng duyên, chướng ngại trong thọ, tưởng, hành, thức của mình.

Khi được nghe pháp thì con rất hoan hỷ, mỗi lần được nghe sư phụ giảng về các bài pháp trong kinh tạng thì cảm thọ con rất hoan hỷ, hân hoan. Con xem đó là một thức ăn vô cùng quan trọng mà không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của mình. Có lúc nghe nhiều giờ liền trong ngày thì nó căng thẳng, tuy vậy nhưng con không thấy nhàm chán, vẫn thấy thiếu đối với sự nghe pháp. Vì tập khí vô minh sâu dày của con, có lẽ do tự thân mình nó đần độn từ nhỏ hay sao nên nó dễ quên, nên mình cần phải nghe nhiều thì mình mới hiểu được. Có những cái mình tưởng là mình đã hiểu nhưng thật ra khi nghe tới nghe lui thì mình mới thấy cái hiểu trước đây nó chưa phải là hiểu đúng, nó chưa hiểu được một góc nhỏ thôi. Còn đối với trí tuệ của Đức Phật thì bao quát nhiều phương diện, khía cạnh, để thấm nhuần được trí tuệ thì mình phải chú tâm, để tâm, tinh tấn rất nhiều.

Có những khi con chiến thắng được những cảm giác chi phối, có những thời gian yên tĩnh, trong trạng thái không có dục. Lúc đó tác ý, dùng phương pháp được học để đánh đuổi dục, thấy sự nhơ nhớp bất tịnh của dục, sanh ra cảm thọ nhàm chán, rùng rợn, kinh hãi của dục. Hay là đối với kênh sân cũng vậy, mình trải được tâm thương, hiểu, thương cho chính mình trước, mình quá khổ với sự chi phối của bản ngã, của tham, sân si, của thọ, tưởng, hành thức này, nó vô thường trống rỗng mà nó cứ chi phối, vây quanh, đàn áp mình làm nô lệ cho nó.

Mình thương được chính mình như vậy thì mình trải được tâm thương cho mọi người, mình cảm thông và mình nhìn đến những ưu điểm của mọi người, trong trạng thái bao dung, không sân hận đối với ai thì tâm lúc đó cảm giác ngọt ngào, hạnh phúc, trào dâng lên niềm hỷ lạc. Vì mình đã sống đúng pháp, mình được sống đời sống không phải hỷ lạc, vui của sự ăn uống, của sự hưởng dụng mà mình vui vì mình được xa lìa những dục, sân, hại đó.

Hỷ lạc trào dâng ngập tràn hạnh phúc, trong đó một mình Minh Thành không biết chia sẻ cùng ai là mình thật hạnh phúc, ngọt ngào đến mức từng tế bào rung lên, dạt dào, nước mắt trào dâng niềm hạnh phúc. Chính nhờ những pháp đúng cho nó có những lợi ích trong pháp như vậy thì nó xua tan đi những cảm thọ vô minh, thúc giục, lo lắng, sân hận, những cảm giác bức bách khó chịu.

Tuy vậy, sự tu tập của con còn hạn chế, chưa thiện xảo, nên hỷ lạc trong thời gian ngắn thì vô minh trong ngày đến những lúc nấu ăn thì dục xuất hiện, vô minh lôi kéo, dẫn mình vào những tham vị, tham xúc của món ăn. Con thấy rất xấu hổ khi mình còn những tập khí như vậy.

Có khi con không chiến thắng được dục, muốn ăn quả sầu riêng, vì gần thất có mấy cây sầu riêng, ngồi thiền nghe sóc trèo lên nghe tiếng sầu riêng rụng. Thọ, tưởng, hành vận hành: “Sầu riêng này để sẽ thối, bỏ sẽ uổng, mình cũng sức khỏe yếu, gầy. Thôi lát ra lụm sầu riêng vô ăn cho có dinh dưỡng.” Một hai lần như vậy thì con thấy là “Mình là người tu mà sao cứ tham ăn hoài vậy? Ăn rồi mình thèm rồi lỡ mai mốt không có rồi mình lại nhớ tưởng đến nó!”

Con thấy được trong thân tâm mình đầy những rác bẩn, rồi con dùng những hình ảnh. Như những cảm thọ dục thì con ví dụ tác ý như những ổ dòi bọ của dâm dục, kinh sợ, ghê sợ ổ dòi bọ này, làm sao trong thân tâm mình mà mình lại chấp nhận ổ dòi bọ như vậy. Con biết dâm dục còn hơn cả ổ dòi bọ, lúc nhúc, dơ, bẩn thỉu của những thân xác hôi thối.

Sân hận thì con lôi hình ảnh của ổ bọ cạp ra để ví dụ, “Làm sao mình để trong thân tâm mình lại có một ổ bọ cạp ở trong này được? Nó là độc, hại, là trùng, ghê sợ, nguy hiểm.”

Bản ngã thì quanh co như loài rắn độc, một ổ rắn rít ở trong thân tâm. Nó là những thứ rất đáng kinh sợ. Nên con rất nhàm chán đối với dục, sân, bản ngã.

Con dùng những phương pháp mà sư phụ đã chỉ dạy và nghe pháp rồi con đem những hình ảnh, những câu tác ý thật mạnh để giải quyết những vấn đề sâu bên trong còn tìm ẩn. Vì con nhận ra cuộc sống này khổ đau quá nhiều, chính tự thân mình đã nếm trải và người thân, những người ân nghĩa đang bị khổ đau, thống khổ, cũng chính vì không tu tập, không thật sự tiếp nhận được dòng trí tuệ của Đức Thế Tôn truyền trao mà không biết đường tháo gỡ nên con quyết tâm phải thoát ra khỏi sự tái sanh, đau khổ.

Con chưa thoát ra được nhưng con đã định được hướng cho mình là phải đoạn tận những gốc rễ của tham, sân, si. Một hướng một lòng, quyết lòng không trở lại, mang những thân đầy máu mủ, tanh hôi, mang những thân đầy sân si, vô minh, bản ngã. Cứ tranh giành, hơn thua, thúc giục, mưu sinh, tìm kiếm, cắn xé, nhai nuối lẫn nhau, sống trong những hầm phân của dâm dục. Sống trong sự cắn xé chính những tấm thân mà có liên hệ mật thiết với mình, như mẹ con mà cũng có thể giết nhau.

Thật sự quá nhàm chán đối với đời sống phải luân hồi sanh tử.

Nhờ có dòng Chánh pháp mà con đã ý thức được dòng luân hồi, sanh tử, khổ đau, oan nghiệt triền miên là sự khổ đau trong đó.

Mang thân là khổ, bệnh khổ, như qua nay thân con cũng rất đau và con rất khổ sở vì những cảm thọ, tưởng, hành vận hành khi nghe tin cha con đang yếu dần, con rất lo lắng vì cha mình chưa thấm nhuần được Phật Pháp mà không biết mình đi đến giờ này đã lâu rồi, cha mình có mong ngóng gì hay không thì con mới thưa thỉnh lên sư phụ, để mong được sư phụ chỉ dạy trong tâm con như vậy, có sự mong mỏi về thăm một lần để sau này mình không có phải bị trạo cử vì lần trước con đã từ bỏ, xa lìa gia đình đi học và đã không trở về kịp khi mẹ mình qua đời.

Lần này con mới xin ý kiến của sư phụ để xin được sự cho phép.

Những lời khai thị hôm nay của sư phụ đã làm cho con vững tin thêm vào lòng tin mạnh mẽ, vào Thánh pháp, vào Tam Bảo, vào Thánh chúng. Con sẽ cố gắng hộ trì căn, bảo hộ, luôn luôn chánh niệm để quán sát sự khổ, những sự bức bách của cuộc đời và giữ gìn những thiện pháp mà lâu nay sư phụ, quý thầy, quý đại chúng đã truyền trao, thương tưởng.

Lần này con xin sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng cho con về thăm ba mình vài ngày. Để cho con có thể truyền tải được những gì con đã học, những lợi ích mà con đã học Phật pháp. Con biết lần này mình đi vào vùng rất nguy hiểm, vùng xa xôi, xa vắng, ít tiếp xúc với Phật Pháp và nghiệp dữ đầy rẫy. Mình sẽ gặp rất nhiều chướng duyên, con cũng mong rằng sự trở về lần này sẽ mang đến niềm hoan hỷ đối với người đã có công ơn, với sự dưỡng dục con nên vóc nên hình.

Con sẽ cố gắng truyền tải những lợi ích, những nhân quả nghiệp báo và Phật Pháp để cha mình có thể thấm nhuần và an tâm trong tuổi xế chiều này. Những giờ phút rất yếu ớt này và mong rằng sự xuất hiện của mình sẽ làm cho cha mình sẽ khỏe lại. Nếu không khỏe lại thì cũng hiểu được phần nào để có được sự hoan hỷ đối với Chánh pháp.

Con xin thành kính cảm niệm ân đức của sư phụ. Mỗi lần được gần gũi sư phụ thì trí tuệ con được khai mở, được lợi lạc rất nhiều, ân đức của sư phụ thật sự là quá lớn đối với con. Thời gian trình pháp của con hơi dài, mong quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng hoan hỷ cho con.

Vậy thầy có đem gì về cho ba của thầy không?

Lần này con định hướng là, do ba mình đã trải qua quá nhiều nghiệp dữ, tuổi già này rất nguy hiểm trước những ác nghiệp này của ba mình. Con có một món quà là đem chính tấm thân này về, trước là nói cho ba vui, nói những lời chia sẻ pháp, thứ hai là con cũng có ý hành khởi lên là mình sẽ làm một chút công đức để hồi hướng cho ba, đó là sẽ mua một ít gạo, chia, phát cho người nghèo xung quanh để hồi hướng cho ba mình.

Để lan tỏa lòng từ tâm Đức Phật đã chỉ dạy, lan tỏa sự yêu thương, sự bố thí, lấy đó hồi hướng cho ba. Mặc dù con rất mong rằng một ngày nào đó ba mình sẽ tín tâm đối với Phật pháp, những người trong gia đình mong muốn được gặp sư phụ hay quý thầy để thấm nhuần Phật pháp, rất ước muốn được một lần như vậy. Nhưng do duyên, căn cơ chưa đủ nên không dám nghĩ đến chuyện đó, không dám mong muốn sâu hơn.

Nên đem tâm hiền, tâm từ và Thánh trí tuệ làm món quà cho ba và người thân. Khuyến khích gia đình làm việc bố thí. Như vậy chuyến đi mới được trọn vẹn. Nếu cần, lấy một số sách dễ hiểu về tặng cho bà con ở quê.

Sáng nay chúng ta thực tập thiền quán niệm giác chi, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ từ bỏ.

Phật tử số 1 trình pháp:

Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Sáng nay con nghe sư phụ thiền quán, sư phụ nói ở Đài Loan bị động đất thì một cảm giác đang dâng trào trong con, con nhớ lại hình ảnh những buổi con đang ngồi trong trường, những trận động đất làm rung chuyển cả một ngôi trường, có một số bạn thì bỏ chạy, có một số thì ngồi bình tĩnh, một số giáo sư thì đang ngồi bình tĩnh. Có một hôm con đang ở trong kí túc xá thì có một trận động đất rung động mạnh, cô bạn con ở ngoài cổng trường cầm hộ chiếu của con chạy lên kí túc xá, chạy hớt hải chạy lên. Lúc đó ở kí túc xá của con có một cô bạn, cô đang nấu nồi chè, chuẩn bị soạn ra ăn thì cô này mới bảo “Thôi bỏ chạy đi, đừng ăn nữa!”, cô này mới trả lời là “Động đất thì cũng động rồi, chạy đi đâu nữa? Thôi ăn xong rồi chạy!” Cô kia nghe xong ngồi xuống ăn, ăn xong thì cô nói “Sao không động đất nữa?”

Qua đó con thấy hai trạng thái của hai người, một người an trú trong vô thường, còn một người không có tâm tu tập, chạy hớt ha hớt hải. Những lúc đó, con nghĩ kí túc xá là một nơi để con an trú, tu tập, nhưng con không biết có ngày mình được về nước hay không. Luôn luôn con nghĩ mình sẽ chết ở bên đó không có ngày về.

Hôm qua con đi kinh hành, lên Thánh pháp viện, con thấy con tắc kè, con đoán chắc có lẽ người ta kéo cửa bị chảy máu ở cổ, nằm bất động thì con quán tưởng. Hôm qua con đi kinh hành lên chỗ cổng trời thì con thấy xe ủi đất ở trên đó, lòng con thấy đau nhói, giày xéo tâm can, con nghĩ, rồi một ngày người ta phá như vậy, hai ngày, nhiều ngày rồi động đất xảy ra rồi những hòn đá lăn xuống sẽ đè con nằm chết giống như con tắc kè kia. Con rất hãi hùng, rất lo sợ vô thường sẽ đến với con bất cứ lúc nào. Con rất lo lắng và luôn luôn suy nghĩ “Sự nguy hiểm này sẽ xảu ra đến với mình, mình không yên ổn được đâu!”

Lúc con ở Đài Loan thì con chỉ quán niệm vô thường vậy thôi, nhưng không có sâu sắc. Khi sư phụ chỉ con tác ý và trên con đường tu tập thì con thấy rõ và cách hành trì của con ngày một sâu sắc hơn. Con xin tri ân sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng đã lắng nghe con chia sẻ.

Minh Đạt khi thực tập thiền quán thì thọ, tưởng, hành như thế nào? Có những cảm nhận như thế nào?

Phật tử số 2 trình pháp:

Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.

Sáng nay khi được nghe sư phụ giảng dạy về sự nguy hại của những tai nạn rình rập. Trong mỗi giây mỗi phút ở trong đời sống thì ý hành của con nhớ lại một bản kinh, một bài kệ Đức Phật dạy, đó là kinh Nhất dạ hiền giả.

Đức Phật đã dạy bài kệ:

“Quá khứ không truy tìm

Tương lai không ước vọng.

Quá khứ đã đoạn tận,

Tương lai lại chưa đến,

Chỉ có pháp hiện tại

Tuệ quán chính ở đây.

Không động, không rung chuyển

Biết vậy, nên tu tập,

Hôm nay nhiệt tâm làm,

Ai biết chết ngày mai?

Không ai điều đình được,

Với đại quân thần chết,

Trú như vậy nhiệt tâm,

Đêm ngày không mệt mỏi,

Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,

Bậc an tịnh, trầm lặng.”

(Bài kinh Nhứt dạ hiền giả - Trung Bộ Kinh)

Khi con nhớ lại bài kệ, nó nhắc nhở mình có duyên làm người, có duyên được biết đến bậc Giác Ngộ là Đức Phật, tin được Đức Phật, tin được sự giác ngộ của Ngài và cũng có học được, có duyên hiểu được những lời Ngài dạy, rồi cũng phát tâm. Đến đây cầu sư phụ để xuất gia, đó là một phước duyên lớn mà không phải ai cũng có. Nên khi con nhớ tới bài kệ, nhớ lời sư phụ dạy nhắc nhở con trân trọng phước duyên này mà cố gắng, chớ có phóng dật trong đời sống hằng ngày của mình, chớ có phóng dật, cố gắng để nhiếp phục thật tâm trong sinh hoạt hằng ngày để làm sao mà sự cầu đạo, sự xuất gia của mình không lãng phí.

Con có một cảm giác và ý hành như vậy. Nó làm cho con xúc động, cảm thấy thời gian không có chờ đợi một ai, làm sao mình không uổng phí đời này, mình có nhân duyên nên luôn cố gắng không phóng dật, vì việc cần làm thì nên làm.

Đến đây thì con xin hết. Con cảm ơn trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng đã lắng nghe.

Phật tử số 3 trình pháp:

Con cung kính, kính bạch trên sư phụ cùng tất cả quý thầy, quý sư cô, quý Phật tử.

Trước khi con trình pháp buổi thiền quán sáng nay, con xin trên mọi người con muốn được nói lên một vài việc mà con đã làm được từ khi con gặp được dòng pháp Nikāya này và nghe được những lời kinh, bài giảng của sư phụ.

Cách đây khoảng ba mươi năm, con có một sự đau khổ đột ngột là con bị mất một người con. Đau khổ đó rất nặng nề với con và đeo đẳng con một thời gian rất dài, vì lúc đó con chưa gặp được dòng pháp này. Con rất đau khổ và tâm con lâm vào chứng bệnh hoảng hốt, run sợ mọi thứ. Đã rất lâu rồi con không sống được một mình trong một căn phòng hoặc ở lại đêm một mình, ngủ một mình. Con thấy đó là bệnh của con.

Khi lên đây gặp được dòng pháp này, khi nghe được lời giảng của thầy, con thấy nó rất thiết thực, là bài thuốc chữa tâm cho mình. Con nghe được và con muốn tha thiết là con được tu hành dòng pháp này từ giờ đến khi nào con lâm chung.

Có một lần con nghe thầy nói là những ai muốn tu dòng pháp này mà còn náo động, thích hí luận, thích thăm thú thì chắc chắn không tu được dòng pháp này. Muốn tu dòng pháp này thì phải có một tâm an tĩnh, không dao động, không hí luận, không thích náo động, ồn ào thì mới có thể tu vào dòng pháp này được. Qua lời đó thì con thấy rằng việc đầu tiên đối với con là phải làm sao cho tâm của mình lắng lại được, nó cứ dao động, cứ run sợ như thế này thì việc đầu tiên là con tập sống một mình. Buổi đầu tiên lên đây thì tất cả Phật tử ngủ ở phía trái nhà thì con đã quyết tâm con ngủ một mình con ở đằng sau chánh điện. Những buổi tối đầu tiên thì con cũng đã rất hoảng, rất sợ nhưng con đã hạ quyết tâm là “Mọi người làm được thì mình phải làm được. Không được sợ!” Chỉ một tối, hai tối, đến tối thứ ba thì con đã làm được việc đấy và con duy trì việc đó trong suốt thời gian con về nhà, con cũng cố gắng duy trì và con làm, con tập sống chậm, bớt run, bớt lo lắng, sống chậm lại và con thấy thật sự có hiệu quả đối với con.

Ví dụ như khi, trước đây con thấy một bài thơ nào hay mà con muốn nhớ thì con đọc đi đọc lại nhưng tâm con không thể nào nhớ được, dù cho con rất thích. Nhưng khi con tập được tâm của con như vầy thì con đã học thuộc được những bài kinh trong Căn bản trí một và Căn bản trí hai. Lúc đầu con cúng giàn Tam Bảo, những bài pháp bảo đó thì con rất run. Con cố gắng tập và đến bây giờ thì con thấy rằng hiệu quả là con có một tâm bớt run, bớt dao động rất nhiều. Con đã có thể trình, cúng giàn Pháp Bảo những bài kinh mà con đã đọc được.

Con xin trình pháp buổi sáng nay. Con được nghe bài kinh và những lời giảng chi tiết của thầy nói về vô thường và không an toàn đối với thân bệnh tật, ung nhọt này, nó có nhiều hiểm họa mang đến bất ngờ. Lúc đó trong con, hình bóng trong tâm con là bài kệ của thiền sư Thích Nhất Hạnh và hình bóng của thiền sư. Trước đây con nghe bài kệ của thiền sư thì con thấy cũng rất thấm thía nhưng được nghe lời giảng giải về lời kinh của Đức Phật hôm nay thì con thấy là nó rõ hơn, sâu hơn rất nhiều. Con thấy thấu bài kệ của thiền sư.

Con xin đọc bài kệ:

“Đừng tìm về quá khứ

Đừng tưởng tới tương lai

Quá khứ đã không còn

Tương lai thì chưa tới

Hãy quán chiếu sự sống

Trong giờ phút hiện tại

Kẻ thức giả an trú

Vững chãi và thảnh thơi.

Phải tinh tiến hôm nay

Kẻo ngày mai không kịp

Cái chết đến bất ngờ

Không thể nào mặc cả.

Người nào biết an trú

Đêm ngày trong chánh niệm

Thì Mâu Ni gọi là

Người Biết Sống Một Mình.”

(Kinh Người biết sống một mình)

Con rất tri ân sư phụ, tri ân công đức của tất cả quý thầy, quý sư cô và quý Phật tử đã giúp đỡ con trong suốt quá trình con lên đây tu học. Và con cũng muốn được tri ân tất cả cô chú ở nhà bếp giúp con có sức khỏe để tu học dòng pháp Nikāya Đức Thế Tôn đã truyền trao và qua lời hướng dẫn, giảng dạy của sư phụ.

Tâm thương này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.