Kinh Nikāya Giảng Giải - Sắc Là Lửa Than
Kinh Nikāya Giảng Giải
Sắc Là Lửa Than
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Than đỏ PAGEREF _Toc179559517 \h 1
II. Bụi cỏ mềm yếu bên sông PAGEREF _Toc179559518 \h 9
III. Cần nắm vững PAGEREF _Toc179559519 \h 11
I. Than đỏ
Phải quán chiếu cuộc sống hiện tại của mình là cuộc sống thần tiên, phải trân trọng từng giây, từng phút, từng ngày. Hiện tại bây giờ ở dưới phố người ta đang say sưa, hôn mê, si ám, người ta đang đau khổ, bệnh hoạn trong cảnh ngục tù, cảnh điên khùng. Thật là thống khổ! Phải tác ý như vậy để trân trọng giây phút hiện tại và nắm bắt trọn vẹn khoảnh khắc mỗi khi mình lơ đễnh, phải làm cho mình tinh minh, tỉnh táo, sáng tỏ trong giây phút hiện tại, mình đi đến đâu cũng như mặt trời.
Tối qua mặt trăng rất sáng, con tắt một bên đèn rồi đi thiền hành dưới thất, sau đó tắt cả hai bên đèn, khi bước vào bóng tối thì thọ; tưởng; hành của mình rất khác, mình nhìn vào thọ; tưởng; hành của mình và tác ý "có gì đâu, tại sao bóng tối lại thay đổi thọ; tưởng; hành", cứ đi bình thường rồi nhiếp phục cảm thọ. Tắt hết cả hai bên đèn và đi thiền hành trong bóng tối để ngắm mặt trăng và quán chiếu thân thể mình giống như mặt trăng, phải tỏa ra ánh sáng, phải tỏa ra sự thanh lương, trong mát cho tự thân và cho tha nhân, vậy là tối qua con đi thiền hành cùng với mặt trăng.
Mình phải khéo léo tác ý và quán chiếu, lúc trước ngay hồ nước có con rắn bò ra, mỗi lần đi ngang phải nhìn xem có con rắn không, mình biết rằng cái này do thọ; tưởng; hành và phải nhiếp phục, đánh tan thọ; tưởng; hành đó để đi chậm rãi, bình thường. Cái tâm mình dễ bị định kiến, thành kiến, mình bị la rầy một lần là lần sau gặp người đó sẽ có suy nghĩ thế nào cũng bị la rầy nữa, cái đó chỉ là thọ; tưởng; hành của quá khứ thôi, cái chỗ đó có con rắn hôm trước nhưng vài ngày sau đi ngang lại sợ, chỉ có hôm đó là có còn giờ đi ngang không còn nữa.
Mỗi lần đi qua hồ nước mình quán chiếu và nhiếp phục thọ; tưởng; hành sẽ thấy rất hay, qua đây thấy rằng mình rất dễ có định kiến, thành kiến, kiếp chấp đối với các pháp. Hôm trước bị sư phụ hay cha mẹ la rầy, hôm sau thấy họ đi đến thì tưởng la mình nữa nhưng không ngờ là cho bánh kẹo cho nên mình sống rất nhiều với thọ; tưởng; hành của quá khứ trong khi các pháp luôn trôi chảy từng giây từng phút, không có khoảnh khắc nào giống khoảnh khắc nào. Tuy rằng mỗi ngày thời khóa giống nhau nhưng thọ; tưởng; hành vận hành khác, căn; trần; thức vận hành khác, các lậu hoặc bên trong vận hành khác, nó luôn luôn mới.
"-- Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!
Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.
Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: 'Ta đã được giải thoát'. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)
Sắc là lửa than, là than hực, hình ảnh này rất thấm thía, xúc động, mình muốn sụp xuống lạy vì nó chính xác, nó rõ ràng, cụ thể, thiết thực. Chạm vào nó là phỏng, nhưng không phải phỏng vài ngày là hết mà phỏng suốt đời. Sắc là lửa than cháy hừng hực, cháy rừng rực và lúc nào nó cũng tỏa nhiệt ra, nó bắt lửa, nó bốc khói, hơi nóng của nó lúc nào cũng tỏa ra, người ta gọi nó là nóng bỏng, gọi là nhiệt não, nóng bức, thiêu đốt, đốt cháy. Phải quán sắc giống như lửa than, vô lượng vô số và vô biên chúng sanh hữu tình quằn quại trong đó và chính mình cũng đang quằn quại trong đó, bị tàn hại trong đó, thân tàn ma dại trong đó, khổ lụy, đắng cay, ác độc, sự đam mê, khao khát, thúc giục, đòi hỏi, tìm kiếm, mơ tưởng trong cục lửa than đó rồi bị đốt cháy, thiêu rụi.
Cách đây không lâu ngoài Bảo Lộc có một người mới ngoài ba mươi bị chết cháy, người ta không nhận diện được hình hài. Người ta tưởng người này bị người kia đốt nhưng đó là cục lửa than, sắc đốt cháy mình. Trong sắc có dục, trong sắc có ái, có tham cho nên Đức Phật nói tất cả đều đang bốc cháy bởi lòng dục, lòng ái, bốc cháy bởi lòng khao, lòng khát, lòng tham muốn. Khi loài ngạ quỷ cầm vào thứ gì là thứ đó bốc cháy lên thành than, đó là do lòng tham lam, bủn xỉn, keo kiệt đốt cháy thức ăn.
Nhìn sâu vào nữa thì không chỉ có sắc không mà mắt cũng đang bị bốc cháy, nhìn thấy cái gì đẹp dù là người hay món đồ thì con mắt đó cũng bốc cháy, các sắc đang bốc cháy, cái sự rõ biết các sắc cũng đang bốc cháy và căn, trần, thức cùng nhau bốc cháy. Trong sự tiếp xúc đó bốc cháy, trong cảm giác sanh khởi ra từ sự tiếp xúc đó bốc cháy, trong cái chấp thủ đó bốc cháy, thân thể chúng ta là cả một khối than nóng đỏ rực đang bốc cháy trong dục, tham và ái, lòng khao khát, mong muốn, lòng tưởng mơ, truy đuổi và bao nhiêu những thủ đoạn, âm mưu xảo quyệt để đạt được tham dục đó đều đang bốc cháy, cả địa cầu này đều đang bốc cháy, cơ thể mỗi người đều đang bốc cháy.
Thật sự là đang hỏa hoạn khắp hành tinh, chỉ có bậc A-la-hán mới dập tắt hết tất cả ngọn lửa để trở thành mát lạnh tịch tịnh. Cho đến khi nào mình thấy sắc đẹp, tất cả đồ vật tốt lành, tiện nghi mà cảm giác của mình hoàn toàn lắng dịu, không sanh khởi dục, tham, ái thì lúc đó mới có sự bình an, trong khi căn tiếp xúc trần, con mắt thấy người đáng ưa, đáng thích, tai nghe tiếng, ngay cả tiếng nhạc thiền cũng phải kiểm soát tâm để xem tâm có bị dính mắc vào tiếng nhạc thiền đó không.
Thật ra con mở nhạc thiền vì những người sơ cơ mới, phải có màu sắc âm thanh để hướng dẫn họ tu tập, còn mình đi sâu sắc vào rồi thì không cần những tiếng đó cho nên mình phải kiểm soát xem nó có đang bốc cháy bởi tiếng nhạc đó không. Ngoài đời bốc cháy với những tiếng nhạc tình tứ, còn mình đi tu không khéo lại bị bốc cháy bởi sự trá hình của nhạc Phật giáo hoặc thanh nhã hơn là nhạc thiền, trong cái đó vẫn có sự ái thích cho nên vẫn cần sự kiểm soát tâm.
Sắc là than đỏ cho nên lại gần nó là tỏa nhiệt gây bức xức, nóng lên thì thiêu đốt mọi thứ cho nên đời sống độc cư của người xuất gia, đời sống núi rừng của người tu A-lan-nhã chính là rời xa than đỏ. Các thầy trẻ ở trong chùa mà có các khóa tu sinh viên, các thanh thiếu niên trẻ đẹp ở gần tiếp xúc như vậy thì làm sao tu được, trong tâm chưa giải quyết xong lại gặp trở ngại bên ngoài gọi là nội công ngoại kích thì làm sao nhiếp phục nổi? Cho nên đời sống người tu là đời sống viễn ly, như vậy mà thời Đức Phật vẫn có một số vị Tỳ-kheo hoàn tục, dù được chính sự giáo hóa của Đức Phật, dù ở trong giới luật độc cư thiền định như vậy mà vẫn bị dục quật ngã. Bây giờ mình tu mà mình sống sai như vậy ngày đêm, ngài Kassapa là người không thích giao thiệp, không tán thán sự giao du, giao thiệp.
"-- Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán thán hạnh tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là người sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người tinh cần và tán thán hạnh tinh cần". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), IV. Ði Ðến Các Gia Ðình)
Ngay cả cái điện thoại cũng là công cụ giao thiệp và phải khéo biết viễn ly, sử dụng nó như thế nào. Những món đồ cũng là lửa than, cây kiếm Nhật cũng là lửa than, chiếc xe mình ưa thích cũng là lửa than, ví tiền mình cất kĩ là lửa than, những món đồ quý mình cất kĩ là lửa than, Nói rộng ra sổ tiết kiệm là lửa than, vàng là lửa than, bất cứ lúc nào nó cũng đốt cháy mình, đi vào tìm mà bị ai lấy mất rồi thì nó đốt cháy mất tâm can làm mình đau khổ, sầu, bi, ưu, não, nước mắt ràng rụa, thậm chí là ngất xỉu, đó chính là lửa than đốt cháy chúng sanh, đốt cháy hữu tình.
Căn – trần – thức – xúc – thọ – ái – thủ – hữu đều là lửa than hừng đỏ rực. Từng câu từng chữ trong kinh là sự kết tinh Thánh tuệ, Thánh trí, Thánh quả, Thánh đạo, khi đọc mỗi câu trong này phải dâng trào cảm xúc sâu sắc chứ không phải đọc cho hết bài kinh, đọc tới đâu phải cảm nhận thâm sâu câu kinh đó, thậm chí là phải chấn động tâm thức thì mới gọi là thuộc kinh Nikāya, phải tuyên dương diệu pháp, chuyển pháp luân tức là lúc đó bánh xe chánh pháp lăn chuyển, vận hành trong ngũ uẩn của mình.
Đó là pháp chuyển ngũ uẩn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình đều rung động, chấn động, xúc động, cảm động trong Thánh trí khi mình học kinh Nikāya. Không được đọc cho hết bài kinh, cho hết câu, hết chữ mà phải vừa đọc vừa để tâm, để cảm thọ vào đó, để cảm xúc mình vào đó, làm cho ngũ uẩn của mình vận hành theo pháp.
Phải cẩn thận với đống than đỏ này, hai người làm việc chung với nhau, mình nói mà người làm chung không nghe mình thì lúc đó cảm thọ trong người mình giống than đỏ không? Ở trong chùa tu nhiếp phục cảm thọ mà còn như vậy thì ở ngoài sẽ như thế nào? Cho nên thọ là than đỏ, chánh tri kiến của mình phải sâu sắc đến vậy, phải nhìn thấy kinh Nikāya trong sinh hoạt hằng ngày chứ không phải kinh Nikāya chỉ là lúc lên tụng đọc.
Huynh đệ tu chung với nhau mà lúc lên dẫn chúng trên chánh điện là dẫn theo kiểu của họ chứ không theo kiểu của ai hết, lúc đó phải xem thọ có than đỏ không. Hôm nào lên tụng kinh cũng gõ mõ bình thường nhưng hôm nay lên tụng lại gõ mõ tăng tốc, dưới này không ai theo kịp cho nên thọ là than đỏ, tưởng là than đỏ, hành là than đỏ, thức là than đỏ. Đang ở trên chánh điện mà còn than đỏ như vậy thì ở ngoài sẽ ra sao? Có nhiều người còn nói "hên là hôm nay tu ăn chay chứ không là biết tay nhau".
Cái hay của mình là thấy được ngũ uẩn vận hành, còn những người không tu theo dòng pháp này họ không biết, họ nghĩ rằng lúc đó họ đang giận thôi. Đây là chỗ khác biệt giữa Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu, họ chỉ nghĩ "tôi giận, tôi tức" chứ họ không biết lúc đó đang có cảm thọ khổ, trong cảm thọ này có sân. Còn mình đã biết được như vậy là bắt đầu có sự tách mình ra khỏi cảm thọ, cái trí nhìn thấy năm uẩn thì thuộc về trí tuệ không phải ngũ uẩn, đây là chỗ thâm sâu. Cái biết được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là than đỏ thì cái đó không phải than đỏ, cái biết được đây là sắc, đây là thọ, đây là tưởng; hành; thức thì cái đó không phải là ngũ uẩn, cái đó là Thánh trí.
Lúc trước mình cũng là sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng mình nhập chung với nó làm một, còn giờ mình biết được sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cái biết đó không phải là sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà cái biết đó được mồi ngọn đèn Thánh trí của Đức Phật. Nghĩa là từ ngọn đèn Thánh trí ngũ uẩn của Đức Phật, mình đem cây đèn không có lửa của mình mồi qua, thì khi mình mồi qua được rồi thì ánh sáng từ ngọn đèn của Đức Phật truyền qua ngọn đèn của mình, nếu ngọn đèn của mình có đầy đủ nhiên liệu thì đèn mình sẽ sáng mãi, mình giữ không cho nó tắt.
Việc nghe pháp và thiền định là nhằm giữ lửa, châm nhiên liệu liên tục, còn lúc nào không thấy ngũ uẩn mà chỉ thấy có một cái tôi thì ngọn đèn Thánh trí tắt mất, chỉ có tri kiến phàm phu. Lúc nào nhìn thấy ngũ uẩn hoạt động, thấy được nó là than đỏ thì lúc đó tri kiến đó không phải là tri kiến phàm phu, tuy rằng chưa nhập Thánh trọn vẹn nhưng không phải của phàm nữa vì phàm không thể thấy được ngũ uẩn, chỉ có Thánh trí mới thấy được ngũ uẩn.
Đó là lý do cần nhận diện ngũ uẩn liên tục vì chỉ có nhận diện ngũ uẩn mới không bị ngũ uẩn đồng hóa, vì thế sự tu hành Thánh trí năm uẩn này rất sâu sắc. Phải đọc kĩ bộ Thánh trí năm uẩn, phải tập nhìn mọi thứ đều là than đỏ, cảm thọ này là lửa than, phải quán chiếu nó là lửa than để mình có sự nỗ lực dập tắt nó. Mình học những cái này để ứng dụng khắp tất cả mọi hoàn cảnh, phải quán nguy hại với trí tuệ xuất ly, phải thấy sự nguy hiểm và tác hại của cảm giác lửa than này. Khi đã thấy sự nguy hiểm và tác hại của cảm giác lửa than này bằng trí tuệ thì nó sẽ có công năng tác ý để xuất ly, thoát ra khỏi đó.
Giai đoạn chúng ta tu ở đây là nhằm thành tựu chánh tri kiến, phải nghe pháp ít nhất là ba năm liên tục, còn con là nghe cả mười năm chứ không phải nghe vài lần là bảo đủ rồi, nghe được chút ít rồi bảo được rồi, muốn tu thôi. Phải nghe và quán chiếu chừng nào thâm nhập, gọi là thể nhập chánh tri kiến, chánh tri kiến của mình phải vững chắc như sơn từ đây cho đến năm năm nữa. Tại sao khi mình tiếp duyên xúc cảnh thì lúc đó thọ nổi lên? Vì những khi bình thường mình không có sự để tâm tu tập cảm thọ, không quán chiếu cảm thọ cho nên khi có gió thôi là lửa phừng lên, tức là đã có lửa than sẵn rồi. Còn tu sâu sắc là lửa than đã tắt, muốn nhen nhóm lên cho cháy thì cũng phải lâu, phải khó, ngược lại đã cháy sẵn rồi, chỉ cần có gió là bốc lên thôi cho nên có rất nhiều loại lửa than.
Những hình bóng trong tâm cũng nung đốt mình, đừng nói ở ngoài mà những khi đang ngồi thiền cũng có những hình bóng mà mình không chịu loại trừ, không chịu diệt tận, ngược lại cứ lưu giữ thì những hình bóng đó cũng là than đỏ. Khi ngồi thiền mà nhớ lại vợ hoặc những sinh hoạt lúc trước thì mình có buông ra không hay nó dẫn mình đi theo nó luôn, nhớ con, nhớ nhà? Mình không dập tắt mà đi theo nó là nó dẫn mình đi xa luôn, lát sau nhớ ra mới phát hiện ra quay trở lại.
Trong những hình bóng đó có ái trong đó, có dục trong đó, có luyến trong đó, có tham và thậm chí có sân trong đó. Cái hơi khó hiểu là trong những hình bóng đó có si, si ở đây không phải là hôn trầm, ngủ gục, cái đó là nặng rồi mà si ở đây là khi nó hiện ra mà mình không nhận biết đây chỉ là tưởng uẩn, mình đi theo nó. Trạng thái không thấy, không biết ngũ uẩn một cách tinh minh như vậy gọi là si, độ chiếu sáng của trí ngũ uẩn có nhiều cấp độ, lúc trí của mình đầy đủ, sung mãn là mình nhận biết liền, còn cái trí lờ mờ, yếu thì mình cũng thấy nhưng lại đi theo nó, tệ nhất là khi nó khởi lên là mình nhập chung với nó làm một.
Khi mình tỉnh táo, mạnh mẽ, sáng suốt nhận diện ngũ uẩn cái nào ra cái đó, mình biết cái nào là sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì trí huệ sung mãn, tinh minh nhưng khi yếu đi thì lúc đó cũng thấy thọ; tưởng; hành nhưng bị lẫn lộn, đến lúc không còn thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa mà chỉ thấy một cái tôi duy nhất thì đó là những cấp độ nhận diện năm uẩn.
Khi chỉ thấy một cái tôi duy nhất thì bắt đầu buông thả và trở về những tập khí phàm tục, gọi là mất mình, mất trí huệ, ngọn đèn trí huệ bị tắt mất. Đến khi vào nghe pháp, tác ý, thiền quán, quở trách, la mắng tâm thì tỉnh lại, ngọn đèn trí huệ được mồi lửa lên. Ngọn đèn cứ lúc có lúc không, chúng ta không giữ lửa được nên khó thể nhập Thánh tri kiến, nó đòi hỏi mình sự kiên trì, tinh tấn nhưng phải có sự liên tục, bền lâu. Có khi chỉ kiên trì được một tuần, đến tuần sau là thả lỏng bản thân, những thời nghe pháp, học pháp là nhiên liệu châm dầu vào, nếu không để hết nhiên liệu là ngọn đèn bị tắt mất. Đó là ngọn lửa trí huệ còn than đỏ ở đây chính là vô minh, tham, sân, si, các hành cũng là than đỏ, những suy nghĩ đó nung đốt mình. Cứ suy nghĩ "tại sao nói tôi như vậy", "tại sao đối xử với tôi như vậy", "tại sao nhìn tôi như vậy", cứ nói như vậy rồi có cảm giác bực bội, khó chịu.
Cái thức cũng vậy, cái biết làm cho mình thống khổ, sầu bi, ưu não thì biết làm gì, hãy bỏ cái biết đó đi. Mình nghe hay thấy cái gì mà sanh ra sân hận thì bỏ cái biết đó, dùng thức diệt thức, chuyển qua cái biết khác, quán chiếu Corona, quán chiếu bị thần kinh, bị xiềng xích ba mươi năm. Mình đang biết điều đó nhưng nó làm mình bực bội thì mình chuyển cái biết khác, không trú vào cái thức đó nữa, trải rộng tâm từ lan tỏa rộng mọi nơi, không cho cái thức này thiêu đốt mình. Cái biết này làm cho mình sân, nếu không biết thì không có sân, bây giờ diệt cái biết này để sanh cái biết trong pháp, không thọ cái này nữa, chuyển tâm mình thoát ly khỏi chỗ đó. Đó là sự thiện xảo trong sự huấn luyện tu tập năm uẩn.
Con đang đi thiền hành trong thất mà bên kia mở nhạc ầm ĩ là trong người thấy khó chịu, thọ; tưởng; hành vận hành nhưng con mở như lý tác ý đã ghi âm lên. "Mày bản ngã cái gì? Ai ở đây? Trống rỗng không có ai ở đây cả, lỗ tai này là trống không, âm thanh đó là trống không, sự tiếp xúc này cũng trống không. Cái thọ này là lửa than, ưa thích lửa than để đốt cháy hay sao". Mình tác ý như vậy thì lúc đó mình diệt cái thức biết theo phiền não để chuyển cái biết trong pháp, đó là dùng thức diệt thức, không cho nó biết theo cái đó nữa, chặn cái biết đó để sanh ra cái biết khác.
Mình đang nói chuyện hoặc tiếp xúc với người đó mà họ làm mình khó chịu, bực bội nên mình cáo lui vào mở pháp lên nghe, đây là ở ngoài còn bên trong là tự mình phải biết tác ý để không cho biết theo câu nói đó nữa, lỗ tai tiếp xúc âm thanh sanh ra thọ, cái thọ sân lên là chỉ biết có bao nhiêu đó, không đi ra được, cho nên mình phải thoát ra khỏi tâm mình.
Khi thấy được ngũ uẩn là than đỏ nên bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ; tưởng; hành; thức. Chỉ có thấy được như vậy mới nhàm chán, còn không thấy được là không thể nhàm chán, chỉ có thấy nó là than lửa, than đỏ, than hừng thì mới nhàm chán, Đức Phật đưa ra rất nhiều hình ảnh để mình thực tập quán chiếu. Thấy như vậy mới nhàm chán, khi đã nhàm chán thì không tham muốn nữa, không tham muốn nữa thì giải thoát, khi thực tập rồi mới thấy thú vị, phấn khởi, hứng thú trong sự tu học.
II. Bụi cỏ mềm yếu bên sông
Hình ảnh thứ hai Đức Phật dạy là hai bên dòng sông mọc lên những cây cỏ lau, người này rơi xuống dòng sông nhưng lại không biết bơi, dòng nước mạnh cuốn trôi người này, trong lúc bị cuốn đi thì người này nắm được vào những cọng cỏ lau yếu ớt ấy nhưng những cọng cỏ ấy không đủ sức giữ người này lại, thế là người này bị nước cuốn trôi. Người này bị chết, thống khổ, tai nạn, kẻ vô văn phàm phu cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tôi, là của tôi thì người này cũng bị tai ách, khổ nạn.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một con sông từ núi cao chảy xuống, từ xa chảy đến, dòng nước chảy xiết. Trên hai bờ con sông ấy, nếu cỏ lau kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại lau babbakjà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ bìranà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cây mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống.
Và một người bị dòng nước của con sông ấy cuốn trôi, nếu người ấy nắm lấy cỏ lau kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại cỏ kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại lau babbakjà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy các loại cây, loại cây này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Khi sắc ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, I. Dòng Sông)
Qua ví dụ này Đức Phật muốn nói người không biết bơi mà bị rơi xuống dòng sông nước xoáy cuốn trôi mà người này lại gửi thân mạng mình vào những cọng cỏ thì làm sao an ổn khỏi các khổ ách được. Phải chi bám vào cái gì chắc chắn như thành cầu hay rễ cây cổ thụ thì họa may còn sống sót được, còn đằng này nắm vào cọng cỏ dễ bị đứt, ngũ uẩn này cũng là thứ dễ bị đứt, là cái thứ mong manh, là cái thứ không đáng tin cậy, không phải chỗ để nương dựa, không vững chắc giống như cọng cỏ. Dòng nước cuốn trôi đó chính là dòng luân hồi sanh tử, người này muốn thoát ra mà lại đi bám vào ngũ uẩn thì làm sao thoát ra được?
"... quán thọ... quán tưởng... quán các hành...
...quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy rơi vào tai ách khổ nạn". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, I. Dòng Sông)
Mình phải quán dòng sông đó là dòng sống chết, dòng dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã là một dòng nước lũ từ trên núi đổ xuống. Bây giờ có rất nhiều người chết vì dịch bệnh, sau khi chết họ đi đâu? Họ đang ở đâu? Ông bà của mình chết rồi họ đang ở đâu? Cha mẹ mình mất đi rồi họ đang ở đâu? Đang làm gì? Những người thân của mình qua đời rồi bây giờ họ ra sao? Tất cả đều bị cuốn trôi, đều bị phá sập, mình đang bị dòng nước lũ cuốn, tất cả chúng sanh, tất cả hữu tình đang bị cuốn, đang bị trôi, đang bị chìm nổi thăng trầm trên một dòng sông chảy xiết như vậy mà lại chụp vào những cọng cỏ, tức là chụp vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chụp vào thân xác này, chụp vào những vật chất này.
Tiền bạc, ruộng vườn, đất đai, danh vọng, địa vị là chụp vào những cọng cỏ, cố vấn tối cao hay phó thủ tướng gì cũng nhiễm nCov. Cái vô thường, bệnh tật không tránh né một ai cả, không phải người này quyền cao chức trọng là virut tránh ra, cái già, bệnh, chết không từ bất kì ai.
Không gặp được bậc Thánh, không gặp được bậc chân nhân, bậc chánh tri kiến, không nghe pháp, không tu tập Thánh pháp nên cho rằng sắc là mình hoặc mình là sắc, hay là sắc ở trong mình hay mình ở trong sắc, đó là họ nắm vào cọng cỏ và cọng cỏ này sẽ bị đứt, dòng sông sẽ cuốn trôi họ đi. Họ nắm vào xe cộ, tiền bạc, đất đai, ruộng vườn, sổ tiết kiệm, nắm vào những cái đó và cuối cùng nó bị đứt, họ bị cuốn theo lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng sân, lòng ngã mạn tăm tối trong ngũ uẩn và tiếp tục những đời sống khác trong vô tận. Đối với những cảm giác, nghĩ tưởng cũng giống vậy.
Đó là hình ảnh thứ hai con muốn giới thiệu đến đại chúng, những bụi cỏ mềm yếu bên dòng sông, phải quán chiếu rằng tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là những bụi cỏ rũ xuống bên bờ sông, không có gì bền chắc, kiên cố, không có gì đáng nương dựa vì nó sẽ đứt. Nếu mình cứ huân tập, nghe và chiêm nghiệm những điều này thường xuyên thì đến khi hữu sự xảy ra mình sẽ thấy đúng như vậy, cứ nghe và quán chiếu thường xuyên và đến một lúc nào đó cái thấy của mình và cái thấy này sẽ hòa làm một. Bản thân Minh Thành cũng thực tập, nghe và quán chiếu như vậy mà con nhìn mọi sự, mọi vật giống như vậy nhưng phải kiên trì với mục tiêu.
III. Cần nắm vững
Người bắn cung là phải nhắm trúng vào hồng tâm, đừng để lệch thì chắn chắn sẽ thành công.
"Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- 'Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp', bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là vị thuyết pháp? Cho đến như thế nào, được gọi là vị thực hành pháp tùy pháp? Cho đến như thế nào, được gọi là vị đã đạt đến Niết-bàn ngay trong hiện tại?" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, IV. Vị Thuyết Pháp)
Vị Tỳ-kheo này hỏi Đức Phật ba câu hỏi, thứ nhất như thế nào mới là vị pháp sư, thứ hai như thế nào mới là vị thực hành pháp, thứ ba như thế nào là vị thành tựu pháp.
"-- Nếu Tỳ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỳ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỳ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, IV. Vị Thuyết Pháp)
Nếu giảng pháp mà nói cho người khác nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc thì người đó là pháp sư, là vị thuyết pháp. Bất cứ lúc nào mà thọ; tưởng; hành; thức của mình tương ưng với chỗ nhàm chán, ly tham đối với sắc thì những gì mình nói ra là thuyết pháp, hiện tại có được bao nhiêu người giảng pháp với mục đích này? Phải giảng được như vậy mới gọi là pháp sư của Đức Phật, phải nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, chấm dứt đối với sắc, không tiếp tục trong sắc nữa.
Khi đã tu học trong dòng pháp này rồi sẽ có cái nhìn rất khác với bên ngoài, ngày xưa được nghe đi nước ngoài thì ham thích còn giờ nghe đi nước ngoài mà thấy trong lòng nguội lạnh, đi đâu cũng toàn tham, sân, si, vô minh, bản ngã, không có gì khác cả, nhiều khi những chỗ phát triển đó lại càng nhiều dục, tham, ái, vô minh, bản ngã hơn nữa.
Khi thực hành việc nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ đối với sắc thì gọi là hành giả, vị tùy pháp. Trong chữ sắc này cũng là thọ; tưởng; hành; thức, là ngũ uẩn, cái nào Đức Phật nói ra cũng là Chánh Đẳng Chánh Giác, khi nói một vấn đề gì đó là nói cho đến tận cùng vấn đề đó thì mới gọi là bậc Thế Gian Giải, Chánh Biến Tri, trong một bài kinh khác Đức Phật nói sắc cần phải biến tri, thọ; tưởng; hành; thức cần phải biến tri.
Biến tri là cái biết thấu đáo, phổ quát, cùng khắp. Sự thực hành nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vừa đủ để gọi là người thực hành pháp và tùy pháp nhưng hiện tại bây giờ có rất ít người thực hành theo những điều này, như vậy mới gọi là mạt pháp, không còn ai nói pháp này nữa, không còn ai hướng dẫn để thực hành cái pháp này nữa, không còn ai chứng đạt cái pháp này nữa thì gọi là mạt pháp.
Nhưng nơi nào, thời gian nào, người nào còn nói pháp này thì còn chánh pháp, còn người thể nhập, chứng đắc, thành tựu pháp này thì chánh pháp còn. Đây chính là chuẩn mực của pháp, thước đo của pháp, định lý của pháp, nếu không nắm được những định lý, tông chỉ, đường lối này thì ra giảng cái gì? Không khéo sẽ đảo lộn pháp, đó gọi là loạn pháp.
Nếu chỉ muốn nghe tâm sự muốn xây cái này, muốn cất cái kia thì đó có phải ly tham, đoạn diệt, nhàm chán sắc không? Nhưng lại lấy cái này làm sự nghiệp, làm sự tu tiến mới đau lòng, đó là lý do con muốn giảng kinh này. Bây giờ kinh này chỉ để trong kho, trên bàn thờ, trong tủ, có đem ra đọc cũng không hiểu, có hiểu cũng hiểu không đến nên mình phải làm, ở đây chính là phim trường của kinh tạng Nikāya thế kỉ 21, không phải chỉ có mình ngồi đây để nghe giảng pháp mà những lời này sẽ còn được lưu truyền ra thế giới để mọi người tu học. Bây giờ không còn cho đến cực kì hiếm có người giảng kinh này, con học trong trường Phật học mười năm mà không được nghe kinh này.
Có ba cấp độ trong pháp, thứ nhất là nói pháp, nói với sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt thì gọi là pháp sư, thứ hai là thực hành pháp, thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ngũ uẩn thì gọi là vị thực hành pháp, thứ ba là thành tựu pháp, thực thành cho đến mức thật sự nhàm chán, đoạn diệt, ly tham đối với ngũ uẩn, được giải thoát khỏi ngũ uẩn thì được gọi là "Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại".
Đây là tóm thâu cốt tủy của Thánh pháp, hễ bất cứ lúc nào mình suy nghĩ, tác ý, cảm thọ, cảm xúc mà nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ngũ uẩn thì đó là pháp, bất cứ thọ; tưởng; hành; thức nào không nhàm chán, không ly tham, không muốn chấm dứt thì đó là phi pháp. Mình phải nhìn sâu vào là phải nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với tham, sân, si, vô minh, bản ngã và chấp thủ đối với ngũ uẩn, đi sâu vào là phải như vậy. Cho nên giải thoát là không chấp thủ đối với ngũ uẩn, không chấp thủ đối với ngũ uẩn là không chấp thủ đối với dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã ở trong ngũ uẩn.
Mình đã lên phương án hết rồi mà huynh đệ làm bể kế hoạch, chương trình là lúc đó mình thấy khó chịu, đó gọi là chấp thủ, là kiến chấp, là cái chấp trong ý hành của mình. Bà Năm tính sáng nay nấu mì, kho nấm rơm, chiên tàu hủ xả ớt nhưng người mới vào lại không muốn, hôm qua đi chợ hết rồi mà hôm nay không làm, đó là trái ngược với dự tính của mình nên mình sân si, phiền não lên, sầu, bi, khổ, ưu, não, lúc đó than đỏ đốt mình lên.
Bây giờ dùng thức diệt thức nghĩa là mình đã nói hết rồi mà người kia không chịu nghe, nếu mình chấp vào ý kiến của mình thì mình sầu, bi, khổ, ưu, não, bực bội, mình giữ cái bực bội này vô cùng mệt nên cần tác ý đánh đuổi nó, không được biết chuyện này nữa mà quay vào biết chuyện trong pháp, mình biết trải tâm từ và mình trải tâm từ cho mình trước chứ không phải trải tâm từ cho người kia, trải tâm từ để lửa than này nguội tắt đi thì đó là dùng thức diệt thức, không nhận thọ sân đó mà thoát khỏi nó, chuyển qua thọ từ, thọ bi, thọ xả, chánh niệm tỉnh giác trú xả, quán xuất ly với trí tuệ.
Không được nói qua lại với người kia nữa, mình có thể nói khi cảm thọ sân trong người đã tan hết, còn sân mà nói là hại mình hại người, hại cả hai. Đó là sự thực hành nhàm chán, ly tham, từ bỏ đối với tham, sân, si, vô minh, bản ngã, chấp thủ đối với ngũ uẩn, đó là vị hành pháp, tùy pháp.
Phải thực hành mới gọi là hành pháp, phải đi theo mới gọi là tùy pháp, còn bây giờ chỉ nói không thì làm sao gọi là hành pháp, tùy pháp nhưng nói cũng đã khó rồi. Bây giờ tìm ra một vị pháp sư, giảng sư nói pháp này cũng không phải dễ, tìm ra một người vừa nói vừa thực hành thì càng khó hơn nữa, bây giờ chẳng những người này nói, người này làm mà còn thành tựu thì vô cùng khó khăn cho nên phải cung kính. Mình đi con đường này là chắc chắn mình sẽ giảm thiểu tham, sân, si, sầu, bi, ưu, não, chắc chắn mình sẽ đi đến giải thoát từng phần, chắc chắn mình sẽ đi xuôi về Niết-bàn, nhập về Niết-bàn, đi đến Niết-bàn.
Cho nên phải nói, làm và thành tựu chỉ trong chỗ nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ngũ uẩn, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với tham, sân, si, vô minh, bản ngã, chấp thủ ở trong ngũ uẩn. Muốn làm được điều này cần rất nhiều pháp hỗ trợ như tu tập tâm hiền, tâm từ, tâm hỷ, tâm xả, phải tu tập rất nhiều phép quán chứ không phải đơn giản.
./.
Sắc Là Lửa Than
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Than đỏ PAGEREF _Toc179559517 \h 1
II. Bụi cỏ mềm yếu bên sông PAGEREF _Toc179559518 \h 9
III. Cần nắm vững PAGEREF _Toc179559519 \h 11
I. Than đỏ
Phải quán chiếu cuộc sống hiện tại của mình là cuộc sống thần tiên, phải trân trọng từng giây, từng phút, từng ngày. Hiện tại bây giờ ở dưới phố người ta đang say sưa, hôn mê, si ám, người ta đang đau khổ, bệnh hoạn trong cảnh ngục tù, cảnh điên khùng. Thật là thống khổ! Phải tác ý như vậy để trân trọng giây phút hiện tại và nắm bắt trọn vẹn khoảnh khắc mỗi khi mình lơ đễnh, phải làm cho mình tinh minh, tỉnh táo, sáng tỏ trong giây phút hiện tại, mình đi đến đâu cũng như mặt trời.
Tối qua mặt trăng rất sáng, con tắt một bên đèn rồi đi thiền hành dưới thất, sau đó tắt cả hai bên đèn, khi bước vào bóng tối thì thọ; tưởng; hành của mình rất khác, mình nhìn vào thọ; tưởng; hành của mình và tác ý "có gì đâu, tại sao bóng tối lại thay đổi thọ; tưởng; hành", cứ đi bình thường rồi nhiếp phục cảm thọ. Tắt hết cả hai bên đèn và đi thiền hành trong bóng tối để ngắm mặt trăng và quán chiếu thân thể mình giống như mặt trăng, phải tỏa ra ánh sáng, phải tỏa ra sự thanh lương, trong mát cho tự thân và cho tha nhân, vậy là tối qua con đi thiền hành cùng với mặt trăng.
Mình phải khéo léo tác ý và quán chiếu, lúc trước ngay hồ nước có con rắn bò ra, mỗi lần đi ngang phải nhìn xem có con rắn không, mình biết rằng cái này do thọ; tưởng; hành và phải nhiếp phục, đánh tan thọ; tưởng; hành đó để đi chậm rãi, bình thường. Cái tâm mình dễ bị định kiến, thành kiến, mình bị la rầy một lần là lần sau gặp người đó sẽ có suy nghĩ thế nào cũng bị la rầy nữa, cái đó chỉ là thọ; tưởng; hành của quá khứ thôi, cái chỗ đó có con rắn hôm trước nhưng vài ngày sau đi ngang lại sợ, chỉ có hôm đó là có còn giờ đi ngang không còn nữa.
Mỗi lần đi qua hồ nước mình quán chiếu và nhiếp phục thọ; tưởng; hành sẽ thấy rất hay, qua đây thấy rằng mình rất dễ có định kiến, thành kiến, kiếp chấp đối với các pháp. Hôm trước bị sư phụ hay cha mẹ la rầy, hôm sau thấy họ đi đến thì tưởng la mình nữa nhưng không ngờ là cho bánh kẹo cho nên mình sống rất nhiều với thọ; tưởng; hành của quá khứ trong khi các pháp luôn trôi chảy từng giây từng phút, không có khoảnh khắc nào giống khoảnh khắc nào. Tuy rằng mỗi ngày thời khóa giống nhau nhưng thọ; tưởng; hành vận hành khác, căn; trần; thức vận hành khác, các lậu hoặc bên trong vận hành khác, nó luôn luôn mới.
"-- Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!
Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.
Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: 'Ta đã được giải thoát'. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)
Sắc là lửa than, là than hực, hình ảnh này rất thấm thía, xúc động, mình muốn sụp xuống lạy vì nó chính xác, nó rõ ràng, cụ thể, thiết thực. Chạm vào nó là phỏng, nhưng không phải phỏng vài ngày là hết mà phỏng suốt đời. Sắc là lửa than cháy hừng hực, cháy rừng rực và lúc nào nó cũng tỏa nhiệt ra, nó bắt lửa, nó bốc khói, hơi nóng của nó lúc nào cũng tỏa ra, người ta gọi nó là nóng bỏng, gọi là nhiệt não, nóng bức, thiêu đốt, đốt cháy. Phải quán sắc giống như lửa than, vô lượng vô số và vô biên chúng sanh hữu tình quằn quại trong đó và chính mình cũng đang quằn quại trong đó, bị tàn hại trong đó, thân tàn ma dại trong đó, khổ lụy, đắng cay, ác độc, sự đam mê, khao khát, thúc giục, đòi hỏi, tìm kiếm, mơ tưởng trong cục lửa than đó rồi bị đốt cháy, thiêu rụi.
Cách đây không lâu ngoài Bảo Lộc có một người mới ngoài ba mươi bị chết cháy, người ta không nhận diện được hình hài. Người ta tưởng người này bị người kia đốt nhưng đó là cục lửa than, sắc đốt cháy mình. Trong sắc có dục, trong sắc có ái, có tham cho nên Đức Phật nói tất cả đều đang bốc cháy bởi lòng dục, lòng ái, bốc cháy bởi lòng khao, lòng khát, lòng tham muốn. Khi loài ngạ quỷ cầm vào thứ gì là thứ đó bốc cháy lên thành than, đó là do lòng tham lam, bủn xỉn, keo kiệt đốt cháy thức ăn.
Nhìn sâu vào nữa thì không chỉ có sắc không mà mắt cũng đang bị bốc cháy, nhìn thấy cái gì đẹp dù là người hay món đồ thì con mắt đó cũng bốc cháy, các sắc đang bốc cháy, cái sự rõ biết các sắc cũng đang bốc cháy và căn, trần, thức cùng nhau bốc cháy. Trong sự tiếp xúc đó bốc cháy, trong cảm giác sanh khởi ra từ sự tiếp xúc đó bốc cháy, trong cái chấp thủ đó bốc cháy, thân thể chúng ta là cả một khối than nóng đỏ rực đang bốc cháy trong dục, tham và ái, lòng khao khát, mong muốn, lòng tưởng mơ, truy đuổi và bao nhiêu những thủ đoạn, âm mưu xảo quyệt để đạt được tham dục đó đều đang bốc cháy, cả địa cầu này đều đang bốc cháy, cơ thể mỗi người đều đang bốc cháy.
Thật sự là đang hỏa hoạn khắp hành tinh, chỉ có bậc A-la-hán mới dập tắt hết tất cả ngọn lửa để trở thành mát lạnh tịch tịnh. Cho đến khi nào mình thấy sắc đẹp, tất cả đồ vật tốt lành, tiện nghi mà cảm giác của mình hoàn toàn lắng dịu, không sanh khởi dục, tham, ái thì lúc đó mới có sự bình an, trong khi căn tiếp xúc trần, con mắt thấy người đáng ưa, đáng thích, tai nghe tiếng, ngay cả tiếng nhạc thiền cũng phải kiểm soát tâm để xem tâm có bị dính mắc vào tiếng nhạc thiền đó không.
Thật ra con mở nhạc thiền vì những người sơ cơ mới, phải có màu sắc âm thanh để hướng dẫn họ tu tập, còn mình đi sâu sắc vào rồi thì không cần những tiếng đó cho nên mình phải kiểm soát xem nó có đang bốc cháy bởi tiếng nhạc đó không. Ngoài đời bốc cháy với những tiếng nhạc tình tứ, còn mình đi tu không khéo lại bị bốc cháy bởi sự trá hình của nhạc Phật giáo hoặc thanh nhã hơn là nhạc thiền, trong cái đó vẫn có sự ái thích cho nên vẫn cần sự kiểm soát tâm.
Sắc là than đỏ cho nên lại gần nó là tỏa nhiệt gây bức xức, nóng lên thì thiêu đốt mọi thứ cho nên đời sống độc cư của người xuất gia, đời sống núi rừng của người tu A-lan-nhã chính là rời xa than đỏ. Các thầy trẻ ở trong chùa mà có các khóa tu sinh viên, các thanh thiếu niên trẻ đẹp ở gần tiếp xúc như vậy thì làm sao tu được, trong tâm chưa giải quyết xong lại gặp trở ngại bên ngoài gọi là nội công ngoại kích thì làm sao nhiếp phục nổi? Cho nên đời sống người tu là đời sống viễn ly, như vậy mà thời Đức Phật vẫn có một số vị Tỳ-kheo hoàn tục, dù được chính sự giáo hóa của Đức Phật, dù ở trong giới luật độc cư thiền định như vậy mà vẫn bị dục quật ngã. Bây giờ mình tu mà mình sống sai như vậy ngày đêm, ngài Kassapa là người không thích giao thiệp, không tán thán sự giao du, giao thiệp.
"-- Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán thán hạnh tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là người sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người tinh cần và tán thán hạnh tinh cần". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), IV. Ði Ðến Các Gia Ðình)
Ngay cả cái điện thoại cũng là công cụ giao thiệp và phải khéo biết viễn ly, sử dụng nó như thế nào. Những món đồ cũng là lửa than, cây kiếm Nhật cũng là lửa than, chiếc xe mình ưa thích cũng là lửa than, ví tiền mình cất kĩ là lửa than, những món đồ quý mình cất kĩ là lửa than, Nói rộng ra sổ tiết kiệm là lửa than, vàng là lửa than, bất cứ lúc nào nó cũng đốt cháy mình, đi vào tìm mà bị ai lấy mất rồi thì nó đốt cháy mất tâm can làm mình đau khổ, sầu, bi, ưu, não, nước mắt ràng rụa, thậm chí là ngất xỉu, đó chính là lửa than đốt cháy chúng sanh, đốt cháy hữu tình.
Căn – trần – thức – xúc – thọ – ái – thủ – hữu đều là lửa than hừng đỏ rực. Từng câu từng chữ trong kinh là sự kết tinh Thánh tuệ, Thánh trí, Thánh quả, Thánh đạo, khi đọc mỗi câu trong này phải dâng trào cảm xúc sâu sắc chứ không phải đọc cho hết bài kinh, đọc tới đâu phải cảm nhận thâm sâu câu kinh đó, thậm chí là phải chấn động tâm thức thì mới gọi là thuộc kinh Nikāya, phải tuyên dương diệu pháp, chuyển pháp luân tức là lúc đó bánh xe chánh pháp lăn chuyển, vận hành trong ngũ uẩn của mình.
Đó là pháp chuyển ngũ uẩn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình đều rung động, chấn động, xúc động, cảm động trong Thánh trí khi mình học kinh Nikāya. Không được đọc cho hết bài kinh, cho hết câu, hết chữ mà phải vừa đọc vừa để tâm, để cảm thọ vào đó, để cảm xúc mình vào đó, làm cho ngũ uẩn của mình vận hành theo pháp.
Phải cẩn thận với đống than đỏ này, hai người làm việc chung với nhau, mình nói mà người làm chung không nghe mình thì lúc đó cảm thọ trong người mình giống than đỏ không? Ở trong chùa tu nhiếp phục cảm thọ mà còn như vậy thì ở ngoài sẽ như thế nào? Cho nên thọ là than đỏ, chánh tri kiến của mình phải sâu sắc đến vậy, phải nhìn thấy kinh Nikāya trong sinh hoạt hằng ngày chứ không phải kinh Nikāya chỉ là lúc lên tụng đọc.
Huynh đệ tu chung với nhau mà lúc lên dẫn chúng trên chánh điện là dẫn theo kiểu của họ chứ không theo kiểu của ai hết, lúc đó phải xem thọ có than đỏ không. Hôm nào lên tụng kinh cũng gõ mõ bình thường nhưng hôm nay lên tụng lại gõ mõ tăng tốc, dưới này không ai theo kịp cho nên thọ là than đỏ, tưởng là than đỏ, hành là than đỏ, thức là than đỏ. Đang ở trên chánh điện mà còn than đỏ như vậy thì ở ngoài sẽ ra sao? Có nhiều người còn nói "hên là hôm nay tu ăn chay chứ không là biết tay nhau".
Cái hay của mình là thấy được ngũ uẩn vận hành, còn những người không tu theo dòng pháp này họ không biết, họ nghĩ rằng lúc đó họ đang giận thôi. Đây là chỗ khác biệt giữa Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu, họ chỉ nghĩ "tôi giận, tôi tức" chứ họ không biết lúc đó đang có cảm thọ khổ, trong cảm thọ này có sân. Còn mình đã biết được như vậy là bắt đầu có sự tách mình ra khỏi cảm thọ, cái trí nhìn thấy năm uẩn thì thuộc về trí tuệ không phải ngũ uẩn, đây là chỗ thâm sâu. Cái biết được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là than đỏ thì cái đó không phải than đỏ, cái biết được đây là sắc, đây là thọ, đây là tưởng; hành; thức thì cái đó không phải là ngũ uẩn, cái đó là Thánh trí.
Lúc trước mình cũng là sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng mình nhập chung với nó làm một, còn giờ mình biết được sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cái biết đó không phải là sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà cái biết đó được mồi ngọn đèn Thánh trí của Đức Phật. Nghĩa là từ ngọn đèn Thánh trí ngũ uẩn của Đức Phật, mình đem cây đèn không có lửa của mình mồi qua, thì khi mình mồi qua được rồi thì ánh sáng từ ngọn đèn của Đức Phật truyền qua ngọn đèn của mình, nếu ngọn đèn của mình có đầy đủ nhiên liệu thì đèn mình sẽ sáng mãi, mình giữ không cho nó tắt.
Việc nghe pháp và thiền định là nhằm giữ lửa, châm nhiên liệu liên tục, còn lúc nào không thấy ngũ uẩn mà chỉ thấy có một cái tôi thì ngọn đèn Thánh trí tắt mất, chỉ có tri kiến phàm phu. Lúc nào nhìn thấy ngũ uẩn hoạt động, thấy được nó là than đỏ thì lúc đó tri kiến đó không phải là tri kiến phàm phu, tuy rằng chưa nhập Thánh trọn vẹn nhưng không phải của phàm nữa vì phàm không thể thấy được ngũ uẩn, chỉ có Thánh trí mới thấy được ngũ uẩn.
Đó là lý do cần nhận diện ngũ uẩn liên tục vì chỉ có nhận diện ngũ uẩn mới không bị ngũ uẩn đồng hóa, vì thế sự tu hành Thánh trí năm uẩn này rất sâu sắc. Phải đọc kĩ bộ Thánh trí năm uẩn, phải tập nhìn mọi thứ đều là than đỏ, cảm thọ này là lửa than, phải quán chiếu nó là lửa than để mình có sự nỗ lực dập tắt nó. Mình học những cái này để ứng dụng khắp tất cả mọi hoàn cảnh, phải quán nguy hại với trí tuệ xuất ly, phải thấy sự nguy hiểm và tác hại của cảm giác lửa than này. Khi đã thấy sự nguy hiểm và tác hại của cảm giác lửa than này bằng trí tuệ thì nó sẽ có công năng tác ý để xuất ly, thoát ra khỏi đó.
Giai đoạn chúng ta tu ở đây là nhằm thành tựu chánh tri kiến, phải nghe pháp ít nhất là ba năm liên tục, còn con là nghe cả mười năm chứ không phải nghe vài lần là bảo đủ rồi, nghe được chút ít rồi bảo được rồi, muốn tu thôi. Phải nghe và quán chiếu chừng nào thâm nhập, gọi là thể nhập chánh tri kiến, chánh tri kiến của mình phải vững chắc như sơn từ đây cho đến năm năm nữa. Tại sao khi mình tiếp duyên xúc cảnh thì lúc đó thọ nổi lên? Vì những khi bình thường mình không có sự để tâm tu tập cảm thọ, không quán chiếu cảm thọ cho nên khi có gió thôi là lửa phừng lên, tức là đã có lửa than sẵn rồi. Còn tu sâu sắc là lửa than đã tắt, muốn nhen nhóm lên cho cháy thì cũng phải lâu, phải khó, ngược lại đã cháy sẵn rồi, chỉ cần có gió là bốc lên thôi cho nên có rất nhiều loại lửa than.
Những hình bóng trong tâm cũng nung đốt mình, đừng nói ở ngoài mà những khi đang ngồi thiền cũng có những hình bóng mà mình không chịu loại trừ, không chịu diệt tận, ngược lại cứ lưu giữ thì những hình bóng đó cũng là than đỏ. Khi ngồi thiền mà nhớ lại vợ hoặc những sinh hoạt lúc trước thì mình có buông ra không hay nó dẫn mình đi theo nó luôn, nhớ con, nhớ nhà? Mình không dập tắt mà đi theo nó là nó dẫn mình đi xa luôn, lát sau nhớ ra mới phát hiện ra quay trở lại.
Trong những hình bóng đó có ái trong đó, có dục trong đó, có luyến trong đó, có tham và thậm chí có sân trong đó. Cái hơi khó hiểu là trong những hình bóng đó có si, si ở đây không phải là hôn trầm, ngủ gục, cái đó là nặng rồi mà si ở đây là khi nó hiện ra mà mình không nhận biết đây chỉ là tưởng uẩn, mình đi theo nó. Trạng thái không thấy, không biết ngũ uẩn một cách tinh minh như vậy gọi là si, độ chiếu sáng của trí ngũ uẩn có nhiều cấp độ, lúc trí của mình đầy đủ, sung mãn là mình nhận biết liền, còn cái trí lờ mờ, yếu thì mình cũng thấy nhưng lại đi theo nó, tệ nhất là khi nó khởi lên là mình nhập chung với nó làm một.
Khi mình tỉnh táo, mạnh mẽ, sáng suốt nhận diện ngũ uẩn cái nào ra cái đó, mình biết cái nào là sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì trí huệ sung mãn, tinh minh nhưng khi yếu đi thì lúc đó cũng thấy thọ; tưởng; hành nhưng bị lẫn lộn, đến lúc không còn thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa mà chỉ thấy một cái tôi duy nhất thì đó là những cấp độ nhận diện năm uẩn.
Khi chỉ thấy một cái tôi duy nhất thì bắt đầu buông thả và trở về những tập khí phàm tục, gọi là mất mình, mất trí huệ, ngọn đèn trí huệ bị tắt mất. Đến khi vào nghe pháp, tác ý, thiền quán, quở trách, la mắng tâm thì tỉnh lại, ngọn đèn trí huệ được mồi lửa lên. Ngọn đèn cứ lúc có lúc không, chúng ta không giữ lửa được nên khó thể nhập Thánh tri kiến, nó đòi hỏi mình sự kiên trì, tinh tấn nhưng phải có sự liên tục, bền lâu. Có khi chỉ kiên trì được một tuần, đến tuần sau là thả lỏng bản thân, những thời nghe pháp, học pháp là nhiên liệu châm dầu vào, nếu không để hết nhiên liệu là ngọn đèn bị tắt mất. Đó là ngọn lửa trí huệ còn than đỏ ở đây chính là vô minh, tham, sân, si, các hành cũng là than đỏ, những suy nghĩ đó nung đốt mình. Cứ suy nghĩ "tại sao nói tôi như vậy", "tại sao đối xử với tôi như vậy", "tại sao nhìn tôi như vậy", cứ nói như vậy rồi có cảm giác bực bội, khó chịu.
Cái thức cũng vậy, cái biết làm cho mình thống khổ, sầu bi, ưu não thì biết làm gì, hãy bỏ cái biết đó đi. Mình nghe hay thấy cái gì mà sanh ra sân hận thì bỏ cái biết đó, dùng thức diệt thức, chuyển qua cái biết khác, quán chiếu Corona, quán chiếu bị thần kinh, bị xiềng xích ba mươi năm. Mình đang biết điều đó nhưng nó làm mình bực bội thì mình chuyển cái biết khác, không trú vào cái thức đó nữa, trải rộng tâm từ lan tỏa rộng mọi nơi, không cho cái thức này thiêu đốt mình. Cái biết này làm cho mình sân, nếu không biết thì không có sân, bây giờ diệt cái biết này để sanh cái biết trong pháp, không thọ cái này nữa, chuyển tâm mình thoát ly khỏi chỗ đó. Đó là sự thiện xảo trong sự huấn luyện tu tập năm uẩn.
Con đang đi thiền hành trong thất mà bên kia mở nhạc ầm ĩ là trong người thấy khó chịu, thọ; tưởng; hành vận hành nhưng con mở như lý tác ý đã ghi âm lên. "Mày bản ngã cái gì? Ai ở đây? Trống rỗng không có ai ở đây cả, lỗ tai này là trống không, âm thanh đó là trống không, sự tiếp xúc này cũng trống không. Cái thọ này là lửa than, ưa thích lửa than để đốt cháy hay sao". Mình tác ý như vậy thì lúc đó mình diệt cái thức biết theo phiền não để chuyển cái biết trong pháp, đó là dùng thức diệt thức, không cho nó biết theo cái đó nữa, chặn cái biết đó để sanh ra cái biết khác.
Mình đang nói chuyện hoặc tiếp xúc với người đó mà họ làm mình khó chịu, bực bội nên mình cáo lui vào mở pháp lên nghe, đây là ở ngoài còn bên trong là tự mình phải biết tác ý để không cho biết theo câu nói đó nữa, lỗ tai tiếp xúc âm thanh sanh ra thọ, cái thọ sân lên là chỉ biết có bao nhiêu đó, không đi ra được, cho nên mình phải thoát ra khỏi tâm mình.
Khi thấy được ngũ uẩn là than đỏ nên bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ; tưởng; hành; thức. Chỉ có thấy được như vậy mới nhàm chán, còn không thấy được là không thể nhàm chán, chỉ có thấy nó là than lửa, than đỏ, than hừng thì mới nhàm chán, Đức Phật đưa ra rất nhiều hình ảnh để mình thực tập quán chiếu. Thấy như vậy mới nhàm chán, khi đã nhàm chán thì không tham muốn nữa, không tham muốn nữa thì giải thoát, khi thực tập rồi mới thấy thú vị, phấn khởi, hứng thú trong sự tu học.
II. Bụi cỏ mềm yếu bên sông
Hình ảnh thứ hai Đức Phật dạy là hai bên dòng sông mọc lên những cây cỏ lau, người này rơi xuống dòng sông nhưng lại không biết bơi, dòng nước mạnh cuốn trôi người này, trong lúc bị cuốn đi thì người này nắm được vào những cọng cỏ lau yếu ớt ấy nhưng những cọng cỏ ấy không đủ sức giữ người này lại, thế là người này bị nước cuốn trôi. Người này bị chết, thống khổ, tai nạn, kẻ vô văn phàm phu cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tôi, là của tôi thì người này cũng bị tai ách, khổ nạn.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một con sông từ núi cao chảy xuống, từ xa chảy đến, dòng nước chảy xiết. Trên hai bờ con sông ấy, nếu cỏ lau kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại lau babbakjà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ bìranà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cây mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống.
Và một người bị dòng nước của con sông ấy cuốn trôi, nếu người ấy nắm lấy cỏ lau kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại cỏ kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại lau babbakjà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy các loại cây, loại cây này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Khi sắc ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, I. Dòng Sông)
Qua ví dụ này Đức Phật muốn nói người không biết bơi mà bị rơi xuống dòng sông nước xoáy cuốn trôi mà người này lại gửi thân mạng mình vào những cọng cỏ thì làm sao an ổn khỏi các khổ ách được. Phải chi bám vào cái gì chắc chắn như thành cầu hay rễ cây cổ thụ thì họa may còn sống sót được, còn đằng này nắm vào cọng cỏ dễ bị đứt, ngũ uẩn này cũng là thứ dễ bị đứt, là cái thứ mong manh, là cái thứ không đáng tin cậy, không phải chỗ để nương dựa, không vững chắc giống như cọng cỏ. Dòng nước cuốn trôi đó chính là dòng luân hồi sanh tử, người này muốn thoát ra mà lại đi bám vào ngũ uẩn thì làm sao thoát ra được?
"... quán thọ... quán tưởng... quán các hành...
...quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy rơi vào tai ách khổ nạn". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, I. Dòng Sông)
Mình phải quán dòng sông đó là dòng sống chết, dòng dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã là một dòng nước lũ từ trên núi đổ xuống. Bây giờ có rất nhiều người chết vì dịch bệnh, sau khi chết họ đi đâu? Họ đang ở đâu? Ông bà của mình chết rồi họ đang ở đâu? Cha mẹ mình mất đi rồi họ đang ở đâu? Đang làm gì? Những người thân của mình qua đời rồi bây giờ họ ra sao? Tất cả đều bị cuốn trôi, đều bị phá sập, mình đang bị dòng nước lũ cuốn, tất cả chúng sanh, tất cả hữu tình đang bị cuốn, đang bị trôi, đang bị chìm nổi thăng trầm trên một dòng sông chảy xiết như vậy mà lại chụp vào những cọng cỏ, tức là chụp vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chụp vào thân xác này, chụp vào những vật chất này.
Tiền bạc, ruộng vườn, đất đai, danh vọng, địa vị là chụp vào những cọng cỏ, cố vấn tối cao hay phó thủ tướng gì cũng nhiễm nCov. Cái vô thường, bệnh tật không tránh né một ai cả, không phải người này quyền cao chức trọng là virut tránh ra, cái già, bệnh, chết không từ bất kì ai.
Không gặp được bậc Thánh, không gặp được bậc chân nhân, bậc chánh tri kiến, không nghe pháp, không tu tập Thánh pháp nên cho rằng sắc là mình hoặc mình là sắc, hay là sắc ở trong mình hay mình ở trong sắc, đó là họ nắm vào cọng cỏ và cọng cỏ này sẽ bị đứt, dòng sông sẽ cuốn trôi họ đi. Họ nắm vào xe cộ, tiền bạc, đất đai, ruộng vườn, sổ tiết kiệm, nắm vào những cái đó và cuối cùng nó bị đứt, họ bị cuốn theo lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng sân, lòng ngã mạn tăm tối trong ngũ uẩn và tiếp tục những đời sống khác trong vô tận. Đối với những cảm giác, nghĩ tưởng cũng giống vậy.
Đó là hình ảnh thứ hai con muốn giới thiệu đến đại chúng, những bụi cỏ mềm yếu bên dòng sông, phải quán chiếu rằng tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là những bụi cỏ rũ xuống bên bờ sông, không có gì bền chắc, kiên cố, không có gì đáng nương dựa vì nó sẽ đứt. Nếu mình cứ huân tập, nghe và chiêm nghiệm những điều này thường xuyên thì đến khi hữu sự xảy ra mình sẽ thấy đúng như vậy, cứ nghe và quán chiếu thường xuyên và đến một lúc nào đó cái thấy của mình và cái thấy này sẽ hòa làm một. Bản thân Minh Thành cũng thực tập, nghe và quán chiếu như vậy mà con nhìn mọi sự, mọi vật giống như vậy nhưng phải kiên trì với mục tiêu.
III. Cần nắm vững
Người bắn cung là phải nhắm trúng vào hồng tâm, đừng để lệch thì chắn chắn sẽ thành công.
"Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- 'Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp', bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là vị thuyết pháp? Cho đến như thế nào, được gọi là vị thực hành pháp tùy pháp? Cho đến như thế nào, được gọi là vị đã đạt đến Niết-bàn ngay trong hiện tại?" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, IV. Vị Thuyết Pháp)
Vị Tỳ-kheo này hỏi Đức Phật ba câu hỏi, thứ nhất như thế nào mới là vị pháp sư, thứ hai như thế nào mới là vị thực hành pháp, thứ ba như thế nào là vị thành tựu pháp.
"-- Nếu Tỳ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỳ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỳ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, IV. Vị Thuyết Pháp)
Nếu giảng pháp mà nói cho người khác nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc thì người đó là pháp sư, là vị thuyết pháp. Bất cứ lúc nào mà thọ; tưởng; hành; thức của mình tương ưng với chỗ nhàm chán, ly tham đối với sắc thì những gì mình nói ra là thuyết pháp, hiện tại có được bao nhiêu người giảng pháp với mục đích này? Phải giảng được như vậy mới gọi là pháp sư của Đức Phật, phải nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, chấm dứt đối với sắc, không tiếp tục trong sắc nữa.
Khi đã tu học trong dòng pháp này rồi sẽ có cái nhìn rất khác với bên ngoài, ngày xưa được nghe đi nước ngoài thì ham thích còn giờ nghe đi nước ngoài mà thấy trong lòng nguội lạnh, đi đâu cũng toàn tham, sân, si, vô minh, bản ngã, không có gì khác cả, nhiều khi những chỗ phát triển đó lại càng nhiều dục, tham, ái, vô minh, bản ngã hơn nữa.
Khi thực hành việc nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ đối với sắc thì gọi là hành giả, vị tùy pháp. Trong chữ sắc này cũng là thọ; tưởng; hành; thức, là ngũ uẩn, cái nào Đức Phật nói ra cũng là Chánh Đẳng Chánh Giác, khi nói một vấn đề gì đó là nói cho đến tận cùng vấn đề đó thì mới gọi là bậc Thế Gian Giải, Chánh Biến Tri, trong một bài kinh khác Đức Phật nói sắc cần phải biến tri, thọ; tưởng; hành; thức cần phải biến tri.
Biến tri là cái biết thấu đáo, phổ quát, cùng khắp. Sự thực hành nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vừa đủ để gọi là người thực hành pháp và tùy pháp nhưng hiện tại bây giờ có rất ít người thực hành theo những điều này, như vậy mới gọi là mạt pháp, không còn ai nói pháp này nữa, không còn ai hướng dẫn để thực hành cái pháp này nữa, không còn ai chứng đạt cái pháp này nữa thì gọi là mạt pháp.
Nhưng nơi nào, thời gian nào, người nào còn nói pháp này thì còn chánh pháp, còn người thể nhập, chứng đắc, thành tựu pháp này thì chánh pháp còn. Đây chính là chuẩn mực của pháp, thước đo của pháp, định lý của pháp, nếu không nắm được những định lý, tông chỉ, đường lối này thì ra giảng cái gì? Không khéo sẽ đảo lộn pháp, đó gọi là loạn pháp.
Nếu chỉ muốn nghe tâm sự muốn xây cái này, muốn cất cái kia thì đó có phải ly tham, đoạn diệt, nhàm chán sắc không? Nhưng lại lấy cái này làm sự nghiệp, làm sự tu tiến mới đau lòng, đó là lý do con muốn giảng kinh này. Bây giờ kinh này chỉ để trong kho, trên bàn thờ, trong tủ, có đem ra đọc cũng không hiểu, có hiểu cũng hiểu không đến nên mình phải làm, ở đây chính là phim trường của kinh tạng Nikāya thế kỉ 21, không phải chỉ có mình ngồi đây để nghe giảng pháp mà những lời này sẽ còn được lưu truyền ra thế giới để mọi người tu học. Bây giờ không còn cho đến cực kì hiếm có người giảng kinh này, con học trong trường Phật học mười năm mà không được nghe kinh này.
Có ba cấp độ trong pháp, thứ nhất là nói pháp, nói với sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt thì gọi là pháp sư, thứ hai là thực hành pháp, thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ngũ uẩn thì gọi là vị thực hành pháp, thứ ba là thành tựu pháp, thực thành cho đến mức thật sự nhàm chán, đoạn diệt, ly tham đối với ngũ uẩn, được giải thoát khỏi ngũ uẩn thì được gọi là "Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại".
Đây là tóm thâu cốt tủy của Thánh pháp, hễ bất cứ lúc nào mình suy nghĩ, tác ý, cảm thọ, cảm xúc mà nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ngũ uẩn thì đó là pháp, bất cứ thọ; tưởng; hành; thức nào không nhàm chán, không ly tham, không muốn chấm dứt thì đó là phi pháp. Mình phải nhìn sâu vào là phải nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với tham, sân, si, vô minh, bản ngã và chấp thủ đối với ngũ uẩn, đi sâu vào là phải như vậy. Cho nên giải thoát là không chấp thủ đối với ngũ uẩn, không chấp thủ đối với ngũ uẩn là không chấp thủ đối với dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã ở trong ngũ uẩn.
Mình đã lên phương án hết rồi mà huynh đệ làm bể kế hoạch, chương trình là lúc đó mình thấy khó chịu, đó gọi là chấp thủ, là kiến chấp, là cái chấp trong ý hành của mình. Bà Năm tính sáng nay nấu mì, kho nấm rơm, chiên tàu hủ xả ớt nhưng người mới vào lại không muốn, hôm qua đi chợ hết rồi mà hôm nay không làm, đó là trái ngược với dự tính của mình nên mình sân si, phiền não lên, sầu, bi, khổ, ưu, não, lúc đó than đỏ đốt mình lên.
Bây giờ dùng thức diệt thức nghĩa là mình đã nói hết rồi mà người kia không chịu nghe, nếu mình chấp vào ý kiến của mình thì mình sầu, bi, khổ, ưu, não, bực bội, mình giữ cái bực bội này vô cùng mệt nên cần tác ý đánh đuổi nó, không được biết chuyện này nữa mà quay vào biết chuyện trong pháp, mình biết trải tâm từ và mình trải tâm từ cho mình trước chứ không phải trải tâm từ cho người kia, trải tâm từ để lửa than này nguội tắt đi thì đó là dùng thức diệt thức, không nhận thọ sân đó mà thoát khỏi nó, chuyển qua thọ từ, thọ bi, thọ xả, chánh niệm tỉnh giác trú xả, quán xuất ly với trí tuệ.
Không được nói qua lại với người kia nữa, mình có thể nói khi cảm thọ sân trong người đã tan hết, còn sân mà nói là hại mình hại người, hại cả hai. Đó là sự thực hành nhàm chán, ly tham, từ bỏ đối với tham, sân, si, vô minh, bản ngã, chấp thủ đối với ngũ uẩn, đó là vị hành pháp, tùy pháp.
Phải thực hành mới gọi là hành pháp, phải đi theo mới gọi là tùy pháp, còn bây giờ chỉ nói không thì làm sao gọi là hành pháp, tùy pháp nhưng nói cũng đã khó rồi. Bây giờ tìm ra một vị pháp sư, giảng sư nói pháp này cũng không phải dễ, tìm ra một người vừa nói vừa thực hành thì càng khó hơn nữa, bây giờ chẳng những người này nói, người này làm mà còn thành tựu thì vô cùng khó khăn cho nên phải cung kính. Mình đi con đường này là chắc chắn mình sẽ giảm thiểu tham, sân, si, sầu, bi, ưu, não, chắc chắn mình sẽ đi đến giải thoát từng phần, chắc chắn mình sẽ đi xuôi về Niết-bàn, nhập về Niết-bàn, đi đến Niết-bàn.
Cho nên phải nói, làm và thành tựu chỉ trong chỗ nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ngũ uẩn, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với tham, sân, si, vô minh, bản ngã, chấp thủ ở trong ngũ uẩn. Muốn làm được điều này cần rất nhiều pháp hỗ trợ như tu tập tâm hiền, tâm từ, tâm hỷ, tâm xả, phải tu tập rất nhiều phép quán chứ không phải đơn giản.
./.