Làm Sao Để Thành Người Xuất Gia Đúng Nghĩa 8
7.12.2020. KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI_ LÀM SAO ĐẾ THÀNH NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 8_ Kinh Xóm Ngựa - Trung bộ
Thích Minh Thành
Sư cô 1: Thưa thầy, nếu nói đến tâm đắc thì con tâm đắc vô minh lậu, đó là trạng thái không sáng tỏ, thân tâm vận hành trong bóng đêm của chấp thủ. Trong các phần dục lậu, hữu lậu, lậu hoặc con thấy vô minh lậu là cái thâm sâu, ai cũng chết chìm trong vô minh lậu. Người ta cứ chấp thủ mà người ta không biết, cái ngã dâng cao mà không hay thành ra con thấy mối nguy đó mình cũng vấp phải, cứ cho là ta đây. Trong quá trình học bài con mới thấy điều này mặc dù phần vô minh lậu này được nói rất ngắn nhưng mình bị rớt vào đây giống như bị chìm đắm trong bóng đêm của sự chấp thủ.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch giáo thọ sư cùng toàn thể quý huynh đệ. Qua bài Đại Kinh Xóm Ngựa, Đức Phật có dạy vị Tỳ-kheo phải biết tiết độ trong ăn uống, con tâm đắc nhất phần đó vì con thấy việc ăn uống rất quan trọng, nhiều khi bên ngoài thì thấy bình thường nhưng bên trong cái tâm vi tế luôn thúc giục mình nghĩ đến những món ăn. Mỗi khi ăn những món ngon cảm thấy vui nhưng ăn những món không vừa ý sẽ có tâm chê bai, sân hận. Nếu khắc chế được những điều đó, khi ăn không chấp vào mùi vị thì con nghĩ điều đó cần thiết đối với người xuất gia.
Sư cô 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thầy và đại chúng. Con không có gì để nói.
Sư Phụ: Thế thì trả bài. Bài kinh này Đức Phật dạy những điều gì?
Sư cô 3: Bài kinh Xóm Ngựa Đức Phật dạy những pháp tác thành Sa-môn. Người tu nhiếp phục dục tham của bản thân.
Sư Phụ: Pháp đầu tiên tác thành Sa-môn là pháp gì?
Sư cô 3: Dạ, Mô-phật là pháp tàm quý.
Sư Phụ: Nghĩa là sao?
Sư cô 3: Pháp tàm quý nghĩa là khi làm những việc sai trái thì phải biết ăn năn, hổ thẹn, xấu hổ với những điều sai trái ấy mới xứng đáng là một Sa-môn. Còn khi làm việc sai trái mà không biết xấu hổ, nhục nhã trong hành động của mình thì không xứng đáng là một Sa-môn.
Sư Phụ: Nãy giờ cọ chỉ mới giải thích chữ "tàm", còn chữ "quý" nghĩa là gì? Người nào nhắc thì người đó đứng lên trả hết bài, "quý" nghĩa là gì?
Sư cô 3: Dạ, mô Phật, là hổ thẹn, thấy sợ hãi.
Sư Phụ: Rồi sao nữa?
Sư cô 3: Mô Phật, thấy sợ hãi trước những việc làm bất thiện, sai trái.
Sư Phụ: Mời cô ngồi kế bên.
Sư cô 4: Mô Phật, bạch thầy "quý" là những sự sợ hãi với những việc làm sai của mình, phải biết sợ hãi.
Sư Phụ: Phần đó được rồi, bây giờ nói cái mới.
Sư cô 4: Trong bài kinh Xóm Ngựa, con tâm đắc phần dục lậu làm cho tâm con người ham muốn, những ham muốn mà mình không thấy được những điều vi tế bên trong. Chúng ta khó diệt tận được nên Đức Phật dạy một Sa-môn luôn phải đoạn tận được những dục lậu đó thì mới xứng đáng là một Sa-môn.
Sư Phụ: Cô có biết hộ trì căn là như thế nào không?
Sư cô 4: Mắt; tai; mũi; lưỡi lúc nào cũng phải hộ trì, không để cho nó phóng dật buông lung. Khi mắt thấy sắc mà được hộ trì sẽ không bị đắm nhiễm, phải biết tiết chế, không được ưa thích.
Sư Phụ: Nguyên văn của kinh có nhớ không? Thế nào là hộ trì căn? Khi mắt thấy sắc thì sao? Ai thuộc thì giơ tay, cái này phải thuộc mới thực tập được. Ai thuộc bài? Phải hộ trì căn như thế nào?
Sư cô 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thầy, hộ trì căn là khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Nguyên nhân gì khiến mắt không được thanh tịnh làm cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên thì chúng ta phải chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì mắt và thực hành hộ trì mắt. Cũng tương tự với tai khi nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, thân xúc chạm, với ý cũng vậy, khi ý tiếp xúc với pháp thì chúng ta phải không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên thì chúng ta phải chế ngự những nguyên nhân ấy, thực hành hộ trì ý căn.
Sư Phụ: Khi ý tiếp xúc với pháp thì chữ "pháp" đó có ý nghĩa là gì?
Sư cô 5: Kính bạch thầy, các pháp này giống như là trong giây phút có tất cả các pháp, nó làm cho những gì câu hữu lên với ý như là ta nhận diện ra ý, ví dụ khi mắt thấy sắc thì ý nổi lên tức là khi mắt thấy sắc thì ý sẽ phán định về sắc đó như thế nào theo cách nhìn của chính ta.
Sư Phụ: Không phải. Ai biết? Trong phần hộ trì căn của kinh có câu "ý nhận thức các pháp" thì "các pháp" trong câu đó là các pháp gì?
Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, thân xúc chạm thì đã biết rồi nhưng khi ý nhận thức các pháp thì các pháp này là gì? Chúng ta đã được học rồi, trong kinh Nikāya đã nói rất rõ, các pháp này là pháp gì?
Sư cô 5: Bạch thầy, cho con xin nói, nếu như sai…
Sư Phụ: Thì đương nhiên sai thầy đâu có đánh.
Sư cô 5: Bạch thầy, nếu như mắt; tai; mũi; lưỡi thuộc về sắc thì chắc ý thuộc về phần tâm, nghĩa là nó mang cả thọ; tưởng; hành; thức, lúc này ta sẽ quan sát những cái đó.
Sư Phụ: Đúng nhưng bị dư, ai nói lại chính xác hơn?
Sư cô 6: Mô Phật, "ý nhận thức các pháp" là trong ý có những hình bóng của các pháp mà chúng ta lưu lại trong tâm để vận hành theo ngũ uẩn.
Sư Phụ: Cũng chưa được, mời cô ngồi bàn đầu.
Sư cô 7: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, thưa thầy "các pháp" ở đây nghĩa là thọ; tưởng; hành.
Sư Phụ: Đây mới là câu trả lời chính xác nhất. Phải nắm vững điều này, pháp ở đây là thọ; tưởng; hành. Đây là điều khó nhất, đọc sơ qua trong kinh sẽ không biết được mà phải thực tập thiền để nhận thức được các pháp. Chẳng hạn tối ngồi thiền đang hướng về tâm thì thấy trong tâm có hình bóng em bé đáng yêu, bụ bẫm, như vậy mình thấy trong tâm thấy hình bóng em bé thì có cảm giác dễ chịu, có suy nghĩ đứa bé đó trắng trẻo, dễ mến thì đó là nhận thức các pháp. Sau khi có thọ; tưởng; hành số 1, nếu không dừng lại mà tiếp tục sẽ có thọ; tưởng; hành số 2, ví dụ suy nghĩ tiếp hôm sau nó đến phải bế mới được, khi nghĩ vậy lại có hình ảnh bồng bế đứa nhỏ đó, có cảm giác dễ chịu thì đó là thọ; tưởng; hành số 2. Đó là ý nhận thức các pháp nhưng lúc đó tâm mình vô minh, không học nhận diện ngũ uẩn, không để ý trở lại bên trong, không thấy rõ các pháp nên khi nó vận hành là mình nhập cuộc chung, nó dẫn mình đi miên man thì đó là vô minh vì không biết cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành và cũng không biết trong đó có ái.
Tiến sâu hơn trong các pháp này có ái, có dục, tức là sự thúc giục yêu thích, muốn tiếp xúc với những hình bóng, cảm giác đó nữa thì đó vẫn là ái nhưng ở hình thức khác. Hằng ngày mình sống với nó, bây giờ bỗng nhiên đang ngồi học kinh thì chợt nhớ đến hình bóng người đã chỉ trích mình, lúc đó mình không đối diện họ mà lại ở một mình trong phòng để học kinh mà tự nhiên có hình bóng hiện ra trong tâm. Những gì chúng ta học ở đây là pháp sống, là tâm lý học của Phật giáo. Khi có hình bóng đó hiện ra thì tưởng hiện ra, có cảm giác khó chịu đi theo vậy là thọ sanh khởi, lúc đó có suy nghĩ tiêu cực về người đó sanh khởi là hành. Trong thọ; tưởng; hành này có sân tùy miên còn khi nãy là tham đối với hình bóng em bé. Chúng ta nhớ rằng mỗi một lần lạc thọ, cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú sanh khởi thì cái tham này cũng tăng trưởng theo đó, mỗi lần cảm giác vui sướng, hoan hỉ sanh khởi mà mình chấp nhận nó thì đồng nghĩa mình đang nuôi lớn, phát triển nó mà Đức Phật gọi là tùy tăng, nghĩa là tham tùy miên tùy tăng theo cảm giác lạc thọ, sân tùy miên cũng tùy tăng theo cảm giác khổ thọ.
Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Cho nên mỗi lần hình bóng người chỉ trích mình hiện lên, đồng thời có cảm giác, suy nghĩ thì mỗi lần như vậy cái sân này tăng lên thêm, nó chất chứa, tích tụ, tăng trưởng, phát triển như vậy dù ở một mình, nếu gặp mặt nhau thì tăng còn nhanh hơn nữa, khổ thọ tăng lên, sân phát triển thêm. Và nếu nhớ một người không thương không ghét thì có hình bóng người đó hiện lên, mình không nhận thức được lúc đó ý đang nhận thức các pháp, sự để ý trở lại bên trong xem có gì trong đó, sau đó thấy có hình bóng, có suy nghĩ, có cảm giác và mình rõ biết ba điều này gọi là ý căn, đây là các pháp, đây là nhận thức tức là ý thức, căn – trần – thức là 18 giới. Một người không để ý lại nội tâm mà lo hướng ngoại sẽ không thấy các pháp trong tâm vận hành, vì thế khi để ý vào nội tâm thì các pháp mới hiện ra, còn nếu cứ hướng ngoại, rong ruổi ra bên ngoài thì không nhìn thấy được thân tâm, gọi là mù lòa cho nên Đức Phật đã nói trong Tương Ưng Bộ:
Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Ý là mù lòa. Các pháp là mù lòa. Ý thức là mù lòa. Ý xúc là mù lòa. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Tất cả pháp vận hành trong tâm mà không thấy thì gọi là mù lòa. Sự dễ thương, đẹp, đáng yêu, danh từ chuyên môn gọi là tịnh tướng, thì đó là thức ăn cho tham, tham chưa sanh sẽ sanh khởi, tham đã sanh thì tăng trưởng, phát triển quảng đại.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, dẫn đến dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỳ-kheo, như tịnh tướng. Tịnh tướng, này các Tỳ-kheo, nếu không như lý tác ý, đưa đến dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại. (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Tịnh tướng là đẹp đẽ, sạch sẽ, dễ mến, dễ thương, mình chết với cái này vì đây là thức ăn cho tham. Thức ăn cho sân là chướng ngại tướng, tức là mình thấy người đó hoặc điều gì đó làm mình chướng tai gai mắt, trong cái thấy của mình đó là chướng tai gai mắt thì đó là thức ăn cho sân.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỳ-kheo, như đối ngại tướng. Ðối ngại tướng, này các Tỳ-kheo, nếu không như lý tác ý, đưa đến sân, chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại. (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Tại sao có tham sân si và tham sân si ở đâu, làm sao để nhiếp phục, đoạn tận tham sân si đều được Đức Phật dạy rành rẽ, rõ ràng. Học và thực tập sẽ thấy tâm mình hiện rõ hết tất cả các pháp trong thân tâm.
Căn – trần – thức hội tụ, giao thoa gọi là ý xúc, khi có ý xúc sẽ sanh ra thọ; tưởng; hành. Không cần đối diện với người đó mà tự thân sẽ làm việc, tham sân si sanh khởi, chính cái này quậy làm mình không ngồi thiền, không nhập thất, ở một mình được. Những hình ảnh xâm chiếm, ám ảnh thân tâm, những hình ảnh của dục tham ái sanh khởi, áp đảo, chế ngự làm tâm bất an, không còn tự chủ được làm ngồi không yên, ở không yên. Nói kĩ và vi tế hơn thì gọi là sắc tưởng, sắc tư, những suy nghĩ về sắc đó, những hình bóng của cảm giác hiện trở lại thì gọi chung là pháp tưởng, suy nghĩ về sự suy nghĩ đó là pháp tư. Âm thanh đó đã qua rồi nhưng bây giờ âm thanh đó vang trở lại gọi là thanh tưởng, suy nghĩ về âm thanh, câu nói đó gọi là thanh tư. Có tất cả 6 tưởng: Sắc tưởng; thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng; xúc tưởng; pháp tưởng, vì thế trong tâm hoạt động rất khủng khiếp mà mình thì biết không được bao nhiêu, tâm mình là siêu tốc, nhanh hơn bất cứ thứ gì trong đời và mình không nắm bắt được bao nhiêu nếu không học theo lời dạy của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya, không thực tập thiền định thì hoàn toàn không biết gì về nội tâm, nếu có biết chỉ là biết những cái đã rồi, biết những cái bên ngoài của vô văn phàm phu, của người bình thường. Như vậy chúng ta đã giải thích cụm từ "ý nhận thức các pháp".
Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Đây là bậc A-la-hán đã chấm dứt được sanh tử, là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người.
Này các Tỳ-kheo, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: "Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo biết như thật: "Đây là khổ... biết như thật: "Đây là Con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc!" Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát, vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần phải làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa".
(Bậc A-la-hán)
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như vậy được gọi là Sa-môn, là Bà-la-môn, là vị đã tắm sạch sẽ, là vị đã biết và hiểu rõ, là bậc có học, là bậc Thánh, là bậc A-la-hán.
Này các Tỳ-kheo, như thế nào, Tỳ-kheo là Sa-môn? Vị này đã làm cho dừng lại các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo là Sa-môn. (Trung Bộ Kinh, 39. Đại kinh Xóm ngựa)
Khi Đức Phật nói ra sẽ giải thích một cách tường tận, đầy đủ chứ không phải nói suông. Khi được hỏi Sa-môn là gì thì phải lấy trong kinh này ra nói chứ không phải nói theo ý của mình, bậc Sa-môn được định nghĩa trong đây là bậc thánh Tăng tối cao đã lậu tận.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào Tỳ-kheo là Bà-la-môn? Vị này đã tẩn xuất ra ngoài các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo là Bà-la-môn. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bậc A-la-hán))
Tẩn xuất là đuổi ra khỏi thân tâm, phía trên là dừng lại các ác còn ở đây là đuổi ra hết tất cả cái ác.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo đã tắm sạch sẽ? Vị này đã tắm gội sạch sẽ các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đã tắm sạch sẽ. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bậc A-la-hán))
Các vị đã tắm gội sạch sẽ chưa? Vẫn chưa sạch được dù cho tắm ngàn lần cũng còn dơ bẩn, cho đến khi nào tham sân si, vô minh và bản ngã được diệt tận thì lúc đó mới gọi là Tỳ-kheo đã tắm sạch sẽ. Dù cho có ngâm mình tắm gội từ giờ cho đến chết thì dơ vẫn là sơ, tham sân si, vô minh và bản ngã còn tồn đọng, tồn tại trong thân tâm thì vẫn còn cấu nhiễm, vẫn còn ô uế, vẫn còn bất tịnh, mình chưa được gọi là tắm sạch sẽ. Nhìn mặt rất hiền từ nhưng đụng chuyện mới biết như thế nào, nhất là thời đại bây giờ hở tí là chém, giết, đánh nhau, trong tấm thân này là thuốc nổ, lựu đạn, dao găm, gươm đao, đó là Khổ - Tập Thánh Đế, chất chứa trong này là mưu hại, mưu mô, ganh tị, đố kị… cho nên làm sao thân tâm sạch sẽ được. Vì trong đó dơ bẩn nên biểu hiện ra cái thân đầy máu mủ, phân và nước tiểu, vì trong đó dơ nên mới biểu hiện ra…
… những hành động cướp giật, đâm chém.
… hãm hại, mưu hại, sát hại.
… khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc.
… khẩu tranh, đấu tranh, cạnh tranh, tranh giành, chiến tranh.
… cảnh tan thương dâu bể, thống khổ đầy rẫy khắp thế giới, toàn cầu.
Đó là một nội tâm đầy cấu nhiễm, bị nhiễm dục, nhiễm hữu và nhiễm vô minh, dơ không còn từ nào để nói chính là cái dơ của tâm, cho nên sự tu của mình là thanh lọc nội tâm, tắm gội sạch sẽ, tức là hộ trì căn, thiền định để thanh lọc sự cấu nhiễm của tâm để bớt dơ, bớt hôi, cho đến khi sạch hoàn toàn thì lậu tận, tức là hết dơ. Còn chúng ta nói tu nhưng thật sự chưa muốn thanh lọc, chỉ muốn làm đẹp vỏ bề ngoài, bậc chân tu là bậc thật sự khao khát, ước muốn làm cho bản thân được sạch sẽ từ trong ra ngoài, còn cấu nhiễm nào trong tâm sẽ xấu hổ, sợ hãi, cảm thấy tội lỗi, họ không muốn những pháp ác, bất thiện tồn tại trong tâm, họ thấy đó là điều bất an, bất ổn, vì thế pháp tàm quý là pháp đứng đầu trong sự tác thành Sa-môn, nếu không có nó không thể thành tựu phạm hạnh của người tu, điều này cực kì quan trọng. Tàm quý là xấu hổ, lo lắng và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp, những cấu nhiễm, cho nên nếu bản thân còn nhiều dục tham, sân si thì phải biết lo lắng, xấu hổ, sợ hãi. Khi ngọn lửa sân sanh khởi lên là đốt hết mọi thứ, lúc đó nó xâm chiếm, áp đảo hoàn toàn thân tâm, ngũ uẩn đều sân hận nên không còn biết gì nữa thì làm sao đi ra khỏi nó, trừ bậc thành tựu chánh tri kiến, thấy được ngũ uẩn mới có đường xuất ly, thấy được phương pháp thoát ra, còn không nó bao trùm hết thân tâm. Cho nên sự tu học của chúng ta là tắm gội thân tâm cho sạch, ngồi thiền, Như lý tác ý, lạy sám hối thật nhiều trong sự nhận lỗi, sửa lỗi để làm mới bản thân khỏi những uế nhiễm.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo đã biết và hiểu rõ? Vị này đã biết và hiểu rõ các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đã biết và hiểu rõ. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bậc A-la-hán))
Mình hay xem thường những điều này, cứ nói không làm gì ác nhưng khi có người nói mình ác thì sân lên, khó chịu nhưng thật sự là mình ác, ác pháp của mình rất nhiều. Đức Phật định nghĩa rất rõ ràng thiết thực trong kinh Nikāya để mình tu hành thành tựu, còn không chỉ toàn nói trời mây "Thử nhứt biện hương, bất tùng thiên giáng, khởi thuộc địa sanh. Siêu hồ nhựt nguyệt chi quang, hàm đẳng thái hư chi lượng", nghe rất hay nhưng chẳng có gì hết. Tu là phải thực tế, phải chân thật, phải chân thành, phải nhìn nhận lỗi lầm để biết vị trí của mình, còn đang ở dưới đất mà toàn nói chuyện trên trời thì đó là tu trong sự ảo tưởng, si tưởng, các ác bất thiện pháp còn chưa nhìn thấy thì nói gì đến thánh nhân.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo có học? Vị này đã tiêu diệt các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có học.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo được gọi là bậc Thánh? Vị này đã làm cho xa lìa các ác pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo được gọi là bậc Thánh. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bậc A-la-hán))
Bậc thánh là bậc xa lìa các ác và bất thiện và tham sân si, bản ngã, dục ái là ác, bất thiện pháp. Người này tắm sạch, tẩy sạch, làm dừng lại tất cả các ác, tiêu diệt toàn bộ ác bất thiện pháp. Đó gọi là Tỳ-kheo có học, đó gọi là bậc thánh không còn đưa đến sanh, già, chết trong tương lai.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo được gọi là bậc A-la-hán? Vị này đã làm cho xa lìa các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo là bậc A-la-hán. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bậc A-la-hán))
Có bảy định nghĩa chỉ cho bậc A-la-hán, làm dừng lại, đuổi ra khỏi cái ác, đuổi khỏi thân tâm, thấu hiểu cái ác, tiêu diệt các ác, xa lìa cái ác, như vậy gọi là bậc thánh, bậc A-la-hán. Vậy mình là ai mà nói mình ác là mình sân lên? Trong suy nghĩ của mình có ác bất thiện pháp nhưng khi có người nói "sao tu mà ác vậy" là giận lên, bản ngã lên. Cái giận là ác, bản ngã là ác nhưng người ta nói ác thì mình chối. Có hai người đàn ông nói chuyện với nhau, anh A nói anh B cái gì cũng tốt hết chỉ có điều hay nổi nóng, anh B nhào đến thộp cổ anh A nói "tôi nổi nóng khi nào". Mình cười anh chàng đó nhưng cũng giống vậy, "tôi bản ngã hồi nào", mặt phừng phừng lên "tôi sân khi nào", đó là do không thấy được tự thân nên Đức Phật gọi là kẻ mù lòa.
Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi... (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Vô minh làm cho không mắt, tác thành không trí làm thành bệnh hoạn, khổ đau. Chúng ta học cái này để phá vô minh, học để thành tựu sự thấy biết để hiểu rõ thế nào là ác, cho đến bậc Tu-đà-hoàn, bậc Nhập lưu mới biết thật sự ác là như thế nào. Tham sân si là căn bản của ác, bất thiện pháp nhưng chữ tham sân si không đơn giản như mình hiểu thông thường, ngồi thiền trên bồ đoàn nhưng trong thân tâm là tham dục ái, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác là thích thú, đam mê, khao khát, vậy là phải đi gội rửa ngay. Tắm bằng thánh thủy, thánh pháp thủy tức là nước chánh pháp của bậc thánh mới làm sạch được tâm cấu uế, lậu hoặc chứ không phải tắm bằng nước thường. Trong thời Đức Phật có ông già chống gậy đứng kế Phật bĩu môi, sau đó Đức Phật hỏi thì ông mới nói chuyện, Phật hỏi một ngày ông làm gì thì ông nói tự hào một ngày tắm năm sáu lần để sạch tội lỗi, nghiệp chướng. Sau đó Đức Phật giảng bài pháp cho nghe thì ông già mới nhận thức được nước thường không thể rửa được tâm dơ, phải là thánh pháp thủy, là nước chánh pháp của bậc thánh mới rửa được tâm dơ. Hôm nay chúng ta biết thêm được chữ "lậu" trong dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu có nghĩa là dơ bẩn, cấu nhiễm và tất cả tâm của chúng ta bị vô minh nhiễm và khát ái nhiễm, hai cái này bám rễ trong xương tủy trong vô lượng vô biên kiếp vì thế mà sanh ra không cần ai dạy cũng biết dục, bản ngã trong vô lượng vô biên kiếp điêu luyện thuần thục, thiện xảo trong vô minh, khát ái, bản ngã nên không cần ai dạy cũng biết. Sự tu của chúng ta là tẩn xuất, tẩy sạch, làm dừng lại, xa lìa và hiểu biết rõ về nó, cho nên sự học của chúng ta để thấy biết một cách chính xác nguyên nhân làm khổ, thấy được và biết được nên nắm ngay chỗ đó xử lý thì khổ giảm bớt để đi đến chấm dứt, Đức Phật chỉ dạy có bao nhiêu đó thôi.
Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ. (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Những người đi sau vẽ ra mênh mông thiên địa chứ thực tế lời gốc của Đức Phật rất đơn giản, chân chất, rõ ràng và cụ thể trong năm uẩn, nhìn thấy năm uẩn, xem các cảm thọ, từ trong cảm thọ thấy vô minh và bản ngã, từ đó có những phương pháp thiện xảo, khéo léo để tẩy sạch, đó là đạo lộ của bậc thánh. Còn mình hiểu tùm lum, không biết đường tu, chưa học thì còn nhìn thấy, biết chút đỉnh, đến khi học xong lại mịt mờ vì quá nhiều. Học xong Cao đẳng Phật học, Tiến sĩ Phật giáo mà không biết đường tu vì có quá nhiều tư tưởng, mạnh ai nấy nói cho nên học theo kinh Nikāya mới thấy được Phật pháp nguyên chất.
./.
Thích Minh Thành
Sư cô 1: Thưa thầy, nếu nói đến tâm đắc thì con tâm đắc vô minh lậu, đó là trạng thái không sáng tỏ, thân tâm vận hành trong bóng đêm của chấp thủ. Trong các phần dục lậu, hữu lậu, lậu hoặc con thấy vô minh lậu là cái thâm sâu, ai cũng chết chìm trong vô minh lậu. Người ta cứ chấp thủ mà người ta không biết, cái ngã dâng cao mà không hay thành ra con thấy mối nguy đó mình cũng vấp phải, cứ cho là ta đây. Trong quá trình học bài con mới thấy điều này mặc dù phần vô minh lậu này được nói rất ngắn nhưng mình bị rớt vào đây giống như bị chìm đắm trong bóng đêm của sự chấp thủ.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch giáo thọ sư cùng toàn thể quý huynh đệ. Qua bài Đại Kinh Xóm Ngựa, Đức Phật có dạy vị Tỳ-kheo phải biết tiết độ trong ăn uống, con tâm đắc nhất phần đó vì con thấy việc ăn uống rất quan trọng, nhiều khi bên ngoài thì thấy bình thường nhưng bên trong cái tâm vi tế luôn thúc giục mình nghĩ đến những món ăn. Mỗi khi ăn những món ngon cảm thấy vui nhưng ăn những món không vừa ý sẽ có tâm chê bai, sân hận. Nếu khắc chế được những điều đó, khi ăn không chấp vào mùi vị thì con nghĩ điều đó cần thiết đối với người xuất gia.
Sư cô 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thầy và đại chúng. Con không có gì để nói.
Sư Phụ: Thế thì trả bài. Bài kinh này Đức Phật dạy những điều gì?
Sư cô 3: Bài kinh Xóm Ngựa Đức Phật dạy những pháp tác thành Sa-môn. Người tu nhiếp phục dục tham của bản thân.
Sư Phụ: Pháp đầu tiên tác thành Sa-môn là pháp gì?
Sư cô 3: Dạ, Mô-phật là pháp tàm quý.
Sư Phụ: Nghĩa là sao?
Sư cô 3: Pháp tàm quý nghĩa là khi làm những việc sai trái thì phải biết ăn năn, hổ thẹn, xấu hổ với những điều sai trái ấy mới xứng đáng là một Sa-môn. Còn khi làm việc sai trái mà không biết xấu hổ, nhục nhã trong hành động của mình thì không xứng đáng là một Sa-môn.
Sư Phụ: Nãy giờ cọ chỉ mới giải thích chữ "tàm", còn chữ "quý" nghĩa là gì? Người nào nhắc thì người đó đứng lên trả hết bài, "quý" nghĩa là gì?
Sư cô 3: Dạ, mô Phật, là hổ thẹn, thấy sợ hãi.
Sư Phụ: Rồi sao nữa?
Sư cô 3: Mô Phật, thấy sợ hãi trước những việc làm bất thiện, sai trái.
Sư Phụ: Mời cô ngồi kế bên.
Sư cô 4: Mô Phật, bạch thầy "quý" là những sự sợ hãi với những việc làm sai của mình, phải biết sợ hãi.
Sư Phụ: Phần đó được rồi, bây giờ nói cái mới.
Sư cô 4: Trong bài kinh Xóm Ngựa, con tâm đắc phần dục lậu làm cho tâm con người ham muốn, những ham muốn mà mình không thấy được những điều vi tế bên trong. Chúng ta khó diệt tận được nên Đức Phật dạy một Sa-môn luôn phải đoạn tận được những dục lậu đó thì mới xứng đáng là một Sa-môn.
Sư Phụ: Cô có biết hộ trì căn là như thế nào không?
Sư cô 4: Mắt; tai; mũi; lưỡi lúc nào cũng phải hộ trì, không để cho nó phóng dật buông lung. Khi mắt thấy sắc mà được hộ trì sẽ không bị đắm nhiễm, phải biết tiết chế, không được ưa thích.
Sư Phụ: Nguyên văn của kinh có nhớ không? Thế nào là hộ trì căn? Khi mắt thấy sắc thì sao? Ai thuộc thì giơ tay, cái này phải thuộc mới thực tập được. Ai thuộc bài? Phải hộ trì căn như thế nào?
Sư cô 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thầy, hộ trì căn là khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Nguyên nhân gì khiến mắt không được thanh tịnh làm cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên thì chúng ta phải chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì mắt và thực hành hộ trì mắt. Cũng tương tự với tai khi nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, thân xúc chạm, với ý cũng vậy, khi ý tiếp xúc với pháp thì chúng ta phải không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên thì chúng ta phải chế ngự những nguyên nhân ấy, thực hành hộ trì ý căn.
Sư Phụ: Khi ý tiếp xúc với pháp thì chữ "pháp" đó có ý nghĩa là gì?
Sư cô 5: Kính bạch thầy, các pháp này giống như là trong giây phút có tất cả các pháp, nó làm cho những gì câu hữu lên với ý như là ta nhận diện ra ý, ví dụ khi mắt thấy sắc thì ý nổi lên tức là khi mắt thấy sắc thì ý sẽ phán định về sắc đó như thế nào theo cách nhìn của chính ta.
Sư Phụ: Không phải. Ai biết? Trong phần hộ trì căn của kinh có câu "ý nhận thức các pháp" thì "các pháp" trong câu đó là các pháp gì?
Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, thân xúc chạm thì đã biết rồi nhưng khi ý nhận thức các pháp thì các pháp này là gì? Chúng ta đã được học rồi, trong kinh Nikāya đã nói rất rõ, các pháp này là pháp gì?
Sư cô 5: Bạch thầy, cho con xin nói, nếu như sai…
Sư Phụ: Thì đương nhiên sai thầy đâu có đánh.
Sư cô 5: Bạch thầy, nếu như mắt; tai; mũi; lưỡi thuộc về sắc thì chắc ý thuộc về phần tâm, nghĩa là nó mang cả thọ; tưởng; hành; thức, lúc này ta sẽ quan sát những cái đó.
Sư Phụ: Đúng nhưng bị dư, ai nói lại chính xác hơn?
Sư cô 6: Mô Phật, "ý nhận thức các pháp" là trong ý có những hình bóng của các pháp mà chúng ta lưu lại trong tâm để vận hành theo ngũ uẩn.
Sư Phụ: Cũng chưa được, mời cô ngồi bàn đầu.
Sư cô 7: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, thưa thầy "các pháp" ở đây nghĩa là thọ; tưởng; hành.
Sư Phụ: Đây mới là câu trả lời chính xác nhất. Phải nắm vững điều này, pháp ở đây là thọ; tưởng; hành. Đây là điều khó nhất, đọc sơ qua trong kinh sẽ không biết được mà phải thực tập thiền để nhận thức được các pháp. Chẳng hạn tối ngồi thiền đang hướng về tâm thì thấy trong tâm có hình bóng em bé đáng yêu, bụ bẫm, như vậy mình thấy trong tâm thấy hình bóng em bé thì có cảm giác dễ chịu, có suy nghĩ đứa bé đó trắng trẻo, dễ mến thì đó là nhận thức các pháp. Sau khi có thọ; tưởng; hành số 1, nếu không dừng lại mà tiếp tục sẽ có thọ; tưởng; hành số 2, ví dụ suy nghĩ tiếp hôm sau nó đến phải bế mới được, khi nghĩ vậy lại có hình ảnh bồng bế đứa nhỏ đó, có cảm giác dễ chịu thì đó là thọ; tưởng; hành số 2. Đó là ý nhận thức các pháp nhưng lúc đó tâm mình vô minh, không học nhận diện ngũ uẩn, không để ý trở lại bên trong, không thấy rõ các pháp nên khi nó vận hành là mình nhập cuộc chung, nó dẫn mình đi miên man thì đó là vô minh vì không biết cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành và cũng không biết trong đó có ái.
Tiến sâu hơn trong các pháp này có ái, có dục, tức là sự thúc giục yêu thích, muốn tiếp xúc với những hình bóng, cảm giác đó nữa thì đó vẫn là ái nhưng ở hình thức khác. Hằng ngày mình sống với nó, bây giờ bỗng nhiên đang ngồi học kinh thì chợt nhớ đến hình bóng người đã chỉ trích mình, lúc đó mình không đối diện họ mà lại ở một mình trong phòng để học kinh mà tự nhiên có hình bóng hiện ra trong tâm. Những gì chúng ta học ở đây là pháp sống, là tâm lý học của Phật giáo. Khi có hình bóng đó hiện ra thì tưởng hiện ra, có cảm giác khó chịu đi theo vậy là thọ sanh khởi, lúc đó có suy nghĩ tiêu cực về người đó sanh khởi là hành. Trong thọ; tưởng; hành này có sân tùy miên còn khi nãy là tham đối với hình bóng em bé. Chúng ta nhớ rằng mỗi một lần lạc thọ, cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú sanh khởi thì cái tham này cũng tăng trưởng theo đó, mỗi lần cảm giác vui sướng, hoan hỉ sanh khởi mà mình chấp nhận nó thì đồng nghĩa mình đang nuôi lớn, phát triển nó mà Đức Phật gọi là tùy tăng, nghĩa là tham tùy miên tùy tăng theo cảm giác lạc thọ, sân tùy miên cũng tùy tăng theo cảm giác khổ thọ.
Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Cho nên mỗi lần hình bóng người chỉ trích mình hiện lên, đồng thời có cảm giác, suy nghĩ thì mỗi lần như vậy cái sân này tăng lên thêm, nó chất chứa, tích tụ, tăng trưởng, phát triển như vậy dù ở một mình, nếu gặp mặt nhau thì tăng còn nhanh hơn nữa, khổ thọ tăng lên, sân phát triển thêm. Và nếu nhớ một người không thương không ghét thì có hình bóng người đó hiện lên, mình không nhận thức được lúc đó ý đang nhận thức các pháp, sự để ý trở lại bên trong xem có gì trong đó, sau đó thấy có hình bóng, có suy nghĩ, có cảm giác và mình rõ biết ba điều này gọi là ý căn, đây là các pháp, đây là nhận thức tức là ý thức, căn – trần – thức là 18 giới. Một người không để ý lại nội tâm mà lo hướng ngoại sẽ không thấy các pháp trong tâm vận hành, vì thế khi để ý vào nội tâm thì các pháp mới hiện ra, còn nếu cứ hướng ngoại, rong ruổi ra bên ngoài thì không nhìn thấy được thân tâm, gọi là mù lòa cho nên Đức Phật đã nói trong Tương Ưng Bộ:
Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Ý là mù lòa. Các pháp là mù lòa. Ý thức là mù lòa. Ý xúc là mù lòa. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Tất cả pháp vận hành trong tâm mà không thấy thì gọi là mù lòa. Sự dễ thương, đẹp, đáng yêu, danh từ chuyên môn gọi là tịnh tướng, thì đó là thức ăn cho tham, tham chưa sanh sẽ sanh khởi, tham đã sanh thì tăng trưởng, phát triển quảng đại.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, dẫn đến dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỳ-kheo, như tịnh tướng. Tịnh tướng, này các Tỳ-kheo, nếu không như lý tác ý, đưa đến dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại. (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Tịnh tướng là đẹp đẽ, sạch sẽ, dễ mến, dễ thương, mình chết với cái này vì đây là thức ăn cho tham. Thức ăn cho sân là chướng ngại tướng, tức là mình thấy người đó hoặc điều gì đó làm mình chướng tai gai mắt, trong cái thấy của mình đó là chướng tai gai mắt thì đó là thức ăn cho sân.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỳ-kheo, như đối ngại tướng. Ðối ngại tướng, này các Tỳ-kheo, nếu không như lý tác ý, đưa đến sân, chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại. (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Tại sao có tham sân si và tham sân si ở đâu, làm sao để nhiếp phục, đoạn tận tham sân si đều được Đức Phật dạy rành rẽ, rõ ràng. Học và thực tập sẽ thấy tâm mình hiện rõ hết tất cả các pháp trong thân tâm.
Căn – trần – thức hội tụ, giao thoa gọi là ý xúc, khi có ý xúc sẽ sanh ra thọ; tưởng; hành. Không cần đối diện với người đó mà tự thân sẽ làm việc, tham sân si sanh khởi, chính cái này quậy làm mình không ngồi thiền, không nhập thất, ở một mình được. Những hình ảnh xâm chiếm, ám ảnh thân tâm, những hình ảnh của dục tham ái sanh khởi, áp đảo, chế ngự làm tâm bất an, không còn tự chủ được làm ngồi không yên, ở không yên. Nói kĩ và vi tế hơn thì gọi là sắc tưởng, sắc tư, những suy nghĩ về sắc đó, những hình bóng của cảm giác hiện trở lại thì gọi chung là pháp tưởng, suy nghĩ về sự suy nghĩ đó là pháp tư. Âm thanh đó đã qua rồi nhưng bây giờ âm thanh đó vang trở lại gọi là thanh tưởng, suy nghĩ về âm thanh, câu nói đó gọi là thanh tư. Có tất cả 6 tưởng: Sắc tưởng; thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng; xúc tưởng; pháp tưởng, vì thế trong tâm hoạt động rất khủng khiếp mà mình thì biết không được bao nhiêu, tâm mình là siêu tốc, nhanh hơn bất cứ thứ gì trong đời và mình không nắm bắt được bao nhiêu nếu không học theo lời dạy của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya, không thực tập thiền định thì hoàn toàn không biết gì về nội tâm, nếu có biết chỉ là biết những cái đã rồi, biết những cái bên ngoài của vô văn phàm phu, của người bình thường. Như vậy chúng ta đã giải thích cụm từ "ý nhận thức các pháp".
Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Đây là bậc A-la-hán đã chấm dứt được sanh tử, là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người.
Này các Tỳ-kheo, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: "Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo biết như thật: "Đây là khổ... biết như thật: "Đây là Con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc!" Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát, vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần phải làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa".
(Bậc A-la-hán)
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như vậy được gọi là Sa-môn, là Bà-la-môn, là vị đã tắm sạch sẽ, là vị đã biết và hiểu rõ, là bậc có học, là bậc Thánh, là bậc A-la-hán.
Này các Tỳ-kheo, như thế nào, Tỳ-kheo là Sa-môn? Vị này đã làm cho dừng lại các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo là Sa-môn. (Trung Bộ Kinh, 39. Đại kinh Xóm ngựa)
Khi Đức Phật nói ra sẽ giải thích một cách tường tận, đầy đủ chứ không phải nói suông. Khi được hỏi Sa-môn là gì thì phải lấy trong kinh này ra nói chứ không phải nói theo ý của mình, bậc Sa-môn được định nghĩa trong đây là bậc thánh Tăng tối cao đã lậu tận.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào Tỳ-kheo là Bà-la-môn? Vị này đã tẩn xuất ra ngoài các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo là Bà-la-môn. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bậc A-la-hán))
Tẩn xuất là đuổi ra khỏi thân tâm, phía trên là dừng lại các ác còn ở đây là đuổi ra hết tất cả cái ác.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo đã tắm sạch sẽ? Vị này đã tắm gội sạch sẽ các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đã tắm sạch sẽ. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bậc A-la-hán))
Các vị đã tắm gội sạch sẽ chưa? Vẫn chưa sạch được dù cho tắm ngàn lần cũng còn dơ bẩn, cho đến khi nào tham sân si, vô minh và bản ngã được diệt tận thì lúc đó mới gọi là Tỳ-kheo đã tắm sạch sẽ. Dù cho có ngâm mình tắm gội từ giờ cho đến chết thì dơ vẫn là sơ, tham sân si, vô minh và bản ngã còn tồn đọng, tồn tại trong thân tâm thì vẫn còn cấu nhiễm, vẫn còn ô uế, vẫn còn bất tịnh, mình chưa được gọi là tắm sạch sẽ. Nhìn mặt rất hiền từ nhưng đụng chuyện mới biết như thế nào, nhất là thời đại bây giờ hở tí là chém, giết, đánh nhau, trong tấm thân này là thuốc nổ, lựu đạn, dao găm, gươm đao, đó là Khổ - Tập Thánh Đế, chất chứa trong này là mưu hại, mưu mô, ganh tị, đố kị… cho nên làm sao thân tâm sạch sẽ được. Vì trong đó dơ bẩn nên biểu hiện ra cái thân đầy máu mủ, phân và nước tiểu, vì trong đó dơ nên mới biểu hiện ra…
… những hành động cướp giật, đâm chém.
… hãm hại, mưu hại, sát hại.
… khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc.
… khẩu tranh, đấu tranh, cạnh tranh, tranh giành, chiến tranh.
… cảnh tan thương dâu bể, thống khổ đầy rẫy khắp thế giới, toàn cầu.
Đó là một nội tâm đầy cấu nhiễm, bị nhiễm dục, nhiễm hữu và nhiễm vô minh, dơ không còn từ nào để nói chính là cái dơ của tâm, cho nên sự tu của mình là thanh lọc nội tâm, tắm gội sạch sẽ, tức là hộ trì căn, thiền định để thanh lọc sự cấu nhiễm của tâm để bớt dơ, bớt hôi, cho đến khi sạch hoàn toàn thì lậu tận, tức là hết dơ. Còn chúng ta nói tu nhưng thật sự chưa muốn thanh lọc, chỉ muốn làm đẹp vỏ bề ngoài, bậc chân tu là bậc thật sự khao khát, ước muốn làm cho bản thân được sạch sẽ từ trong ra ngoài, còn cấu nhiễm nào trong tâm sẽ xấu hổ, sợ hãi, cảm thấy tội lỗi, họ không muốn những pháp ác, bất thiện tồn tại trong tâm, họ thấy đó là điều bất an, bất ổn, vì thế pháp tàm quý là pháp đứng đầu trong sự tác thành Sa-môn, nếu không có nó không thể thành tựu phạm hạnh của người tu, điều này cực kì quan trọng. Tàm quý là xấu hổ, lo lắng và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp, những cấu nhiễm, cho nên nếu bản thân còn nhiều dục tham, sân si thì phải biết lo lắng, xấu hổ, sợ hãi. Khi ngọn lửa sân sanh khởi lên là đốt hết mọi thứ, lúc đó nó xâm chiếm, áp đảo hoàn toàn thân tâm, ngũ uẩn đều sân hận nên không còn biết gì nữa thì làm sao đi ra khỏi nó, trừ bậc thành tựu chánh tri kiến, thấy được ngũ uẩn mới có đường xuất ly, thấy được phương pháp thoát ra, còn không nó bao trùm hết thân tâm. Cho nên sự tu học của chúng ta là tắm gội thân tâm cho sạch, ngồi thiền, Như lý tác ý, lạy sám hối thật nhiều trong sự nhận lỗi, sửa lỗi để làm mới bản thân khỏi những uế nhiễm.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo đã biết và hiểu rõ? Vị này đã biết và hiểu rõ các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đã biết và hiểu rõ. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bậc A-la-hán))
Mình hay xem thường những điều này, cứ nói không làm gì ác nhưng khi có người nói mình ác thì sân lên, khó chịu nhưng thật sự là mình ác, ác pháp của mình rất nhiều. Đức Phật định nghĩa rất rõ ràng thiết thực trong kinh Nikāya để mình tu hành thành tựu, còn không chỉ toàn nói trời mây "Thử nhứt biện hương, bất tùng thiên giáng, khởi thuộc địa sanh. Siêu hồ nhựt nguyệt chi quang, hàm đẳng thái hư chi lượng", nghe rất hay nhưng chẳng có gì hết. Tu là phải thực tế, phải chân thật, phải chân thành, phải nhìn nhận lỗi lầm để biết vị trí của mình, còn đang ở dưới đất mà toàn nói chuyện trên trời thì đó là tu trong sự ảo tưởng, si tưởng, các ác bất thiện pháp còn chưa nhìn thấy thì nói gì đến thánh nhân.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo có học? Vị này đã tiêu diệt các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có học.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo được gọi là bậc Thánh? Vị này đã làm cho xa lìa các ác pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo được gọi là bậc Thánh. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bậc A-la-hán))
Bậc thánh là bậc xa lìa các ác và bất thiện và tham sân si, bản ngã, dục ái là ác, bất thiện pháp. Người này tắm sạch, tẩy sạch, làm dừng lại tất cả các ác, tiêu diệt toàn bộ ác bất thiện pháp. Đó gọi là Tỳ-kheo có học, đó gọi là bậc thánh không còn đưa đến sanh, già, chết trong tương lai.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo được gọi là bậc A-la-hán? Vị này đã làm cho xa lìa các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo là bậc A-la-hán. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bậc A-la-hán))
Có bảy định nghĩa chỉ cho bậc A-la-hán, làm dừng lại, đuổi ra khỏi cái ác, đuổi khỏi thân tâm, thấu hiểu cái ác, tiêu diệt các ác, xa lìa cái ác, như vậy gọi là bậc thánh, bậc A-la-hán. Vậy mình là ai mà nói mình ác là mình sân lên? Trong suy nghĩ của mình có ác bất thiện pháp nhưng khi có người nói "sao tu mà ác vậy" là giận lên, bản ngã lên. Cái giận là ác, bản ngã là ác nhưng người ta nói ác thì mình chối. Có hai người đàn ông nói chuyện với nhau, anh A nói anh B cái gì cũng tốt hết chỉ có điều hay nổi nóng, anh B nhào đến thộp cổ anh A nói "tôi nổi nóng khi nào". Mình cười anh chàng đó nhưng cũng giống vậy, "tôi bản ngã hồi nào", mặt phừng phừng lên "tôi sân khi nào", đó là do không thấy được tự thân nên Đức Phật gọi là kẻ mù lòa.
Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi... (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Vô minh làm cho không mắt, tác thành không trí làm thành bệnh hoạn, khổ đau. Chúng ta học cái này để phá vô minh, học để thành tựu sự thấy biết để hiểu rõ thế nào là ác, cho đến bậc Tu-đà-hoàn, bậc Nhập lưu mới biết thật sự ác là như thế nào. Tham sân si là căn bản của ác, bất thiện pháp nhưng chữ tham sân si không đơn giản như mình hiểu thông thường, ngồi thiền trên bồ đoàn nhưng trong thân tâm là tham dục ái, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác là thích thú, đam mê, khao khát, vậy là phải đi gội rửa ngay. Tắm bằng thánh thủy, thánh pháp thủy tức là nước chánh pháp của bậc thánh mới làm sạch được tâm cấu uế, lậu hoặc chứ không phải tắm bằng nước thường. Trong thời Đức Phật có ông già chống gậy đứng kế Phật bĩu môi, sau đó Đức Phật hỏi thì ông mới nói chuyện, Phật hỏi một ngày ông làm gì thì ông nói tự hào một ngày tắm năm sáu lần để sạch tội lỗi, nghiệp chướng. Sau đó Đức Phật giảng bài pháp cho nghe thì ông già mới nhận thức được nước thường không thể rửa được tâm dơ, phải là thánh pháp thủy, là nước chánh pháp của bậc thánh mới rửa được tâm dơ. Hôm nay chúng ta biết thêm được chữ "lậu" trong dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu có nghĩa là dơ bẩn, cấu nhiễm và tất cả tâm của chúng ta bị vô minh nhiễm và khát ái nhiễm, hai cái này bám rễ trong xương tủy trong vô lượng vô biên kiếp vì thế mà sanh ra không cần ai dạy cũng biết dục, bản ngã trong vô lượng vô biên kiếp điêu luyện thuần thục, thiện xảo trong vô minh, khát ái, bản ngã nên không cần ai dạy cũng biết. Sự tu của chúng ta là tẩn xuất, tẩy sạch, làm dừng lại, xa lìa và hiểu biết rõ về nó, cho nên sự học của chúng ta để thấy biết một cách chính xác nguyên nhân làm khổ, thấy được và biết được nên nắm ngay chỗ đó xử lý thì khổ giảm bớt để đi đến chấm dứt, Đức Phật chỉ dạy có bao nhiêu đó thôi.
Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ. (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Những người đi sau vẽ ra mênh mông thiên địa chứ thực tế lời gốc của Đức Phật rất đơn giản, chân chất, rõ ràng và cụ thể trong năm uẩn, nhìn thấy năm uẩn, xem các cảm thọ, từ trong cảm thọ thấy vô minh và bản ngã, từ đó có những phương pháp thiện xảo, khéo léo để tẩy sạch, đó là đạo lộ của bậc thánh. Còn mình hiểu tùm lum, không biết đường tu, chưa học thì còn nhìn thấy, biết chút đỉnh, đến khi học xong lại mịt mờ vì quá nhiều. Học xong Cao đẳng Phật học, Tiến sĩ Phật giáo mà không biết đường tu vì có quá nhiều tư tưởng, mạnh ai nấy nói cho nên học theo kinh Nikāya mới thấy được Phật pháp nguyên chất.
./.