Làm An Tâm Người Bệnh 2
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
LÀM AN TÂM NGƯỜI BỆNH 2
BẰNG BỐN DỰ LƯU PHẦN
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư Tăng Ni và toàn thể quý Phật tử. Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe chủ đề "làm an tâm người bệnh".
Trong bài kinh này ông Cấp-cô-độc bệnh nên nhờ người đến thỉnh ngài Anan đến và ngài Anan đi một mình, không có ngài Xá-lợi-phất đi cùng. Chúng ta thấy rằng trên đời này cái gì cũng có nhân có quả, bình thường ông Cấp-cô-độc lo lắng phụng sự, cúng dường cho chúng Tăng, đến nay ông bị bệnh nặng với lòng tha thiết, chân thành cung thỉnh mong muốn được gặp thì các ngài đến, khi đọc mỗi lời kinh đều phải chiêm nghiệm mới thấy rằng tất cả đều có nhân có duyên, có nhân có quả, không phải tự nhiên mà diễn ra. Bình thường ông Cấp-cô-độc thường tới lui cúng dường, hộ pháp cho Đức Phật và chúng Tăng bằng tất cả tấm lòng cung kính, nói vậy không có nghĩa rằng những người không cúng dường thì Phật và chúng Tăng không độ nhưng việc gì cũng có nhân quả cả, trong Phật giáo dùng từ "cận sự nam" và "cận sự nữ". Cận là thân cận, sự là phụng sự, người nam và người nữ thân cận, phụng sự tam bảo, đó là một danh từ khác dùng cho người nam hoặc người nữ đã quy y tam bảo thường tới lui đạo tràng, chùa chiền để chăm lo, hỗ trợ, còn gọi là ngoại hộ thiện tri thức, tức là những vị này hỗ trợ bên ngoài cho chúng Tăng tu học. Vì thế khi ông Cấp-cô-độc bệnh, ông cho người đi cầu thỉnh thì có khi ngài Xá-lợi-phất đến thăm, có khi ngài Anan đến thăm, có hôm Đức Thế Tôn đến, phước báo của ông Cấp-cô-độc không uổng phí khi cả một đời của ông đã tín thành bằng một lòng tin tuyệt đối đối với Đức Thế Tôn, bằng một sự chân thành cung kính. Ông Cấp-cô-độc có nhân duyên với Phật rất đặc biệt, khi ông đến nhà bạn chơi, tại đó chỉ mới vừa nghe danh từ "Đức Phật" thôi là trong lòng ông đã phát khởi lên sự tôn kính, khát ngưỡng. Hôm sau nhà bạn ông thỉnh Đức Phật cúng trai Tăng nhưng ông không chờ đến khi đó mà tối đó ba lần ông thức dậy mong trời sáng nhanh để yết kiến Đức Phật, trời chưa sáng ông đã đi, khi ông đến gần đến thì Đức Thế Tôn đã gọi tên ông. Trong bài kinh Ác Giới, hay Anàthapindika này nói về hộ niệm, trợ niệm, có nhiều Phật tử nói không biết cách hộ niệm, trợ niệm, nhất là trong thời kì dịch bệnh này có những lúc đau buồn, đau khổ nên mong quý thầy có bài pháp giúp cho các vị an tâm, và chính là bài kinh này, các vị cần đọc kinh, nghe giảng giải, thực hành và cần nhớ bài nào phù hợp thì nghe nhiều lần để thực tập, đây là những bài kinh thành quả cuối đời của lòng chân thành, cung kính của cư sĩ Cấp-cô-độc, đọc những bài kinh này phải thấy được hoa trái của lòng tin, hoa trái của sự cung kính, chân thành, hoa trái của sự bố thí, cúng dường bằng tất cả tinh thần của người cư sĩ, gọi là cận sự nam, còn bên nữ có vị Visakha và nhiều người khác, các Phật tử nên tìm đọc những tấm gương của các vị cư sĩ hộ pháp thời Đức Phật tuyệt diệu đến thế nào. Đây là thành quả, là hoa quả, hoa trái mà cuối đời ông Cấp-cô-độc nhận được từ Đức Thế Tôn, từ bậc tướng quân chánh pháp là ngài Xá-lợi-phất và từ vị thị giả tối thượng của Đức Như Lai là ngài Ananda đến thăm bệnh. Ông Cấp-cô-độc bệnh đi không nổi nên đã nhờ một người đến đảnh lễ dưới chân ngài Anan rồi thưa chuyện, khi ngài Anan đến ngồi vào chỗ ngồi soạn sẵn thì ngài Anan mới bắt đầu khai thị, nhắc nhở.
"-- Này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu bốn pháp nên run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Tại sao kẻ phàm phu không tu học chánh pháp lại bị run sợ, hoảng hốt đối với cái chết? Tại sao họ lại sợ hãi đời sau không biết đi về đâu? Vì có bốn điều.
"Thế nào là bốn?
Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Phật. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Phật, vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Con người sống trên đời phải có chỗ dựa, chúng ta ngồi có ghế dựa, chúng ta ở có căn nhà, ngủ thì có gường, đây là vật chất còn nói về người thì có ông bà, cha mẹ, anh chị em hoặc vợ chồng, nhưng hai chỗ dựa vật chất và con người này chưa đủ vì đời sống chúng ta không chỉ có vật chất và con người mà còn phải có chỗ dựa tinh thần, đây là nhu cầu tất yếu của tâm linh. Có những cảnh tượng như đang động đất mà người ta đang làm lễ cầu nguyện là người ta cứ cầu nguyện, khi có niềm tin là người ta có chỗ dựa tinh thần, báo chí đưa tin bên ngoài đang nổ súng còn bên trong đang cầu nguyện là cứ cầu nguyện, thậm chí dịch bệnh nhưng không sợ vẫn đi cầu nguyện, cho nên chỗ dựa của tâm linh rất quan trọng, đó là một nhu cầu thiết yếu của đời sống, nếu không có thì tinh thần không có chỗ dựa, bị bấp bênh, có chuyện gì là sụp đổ lập tức, còn người có chỗ dựa tinh thần thì người ta có sự an tâm. Nhưng chỗ dựa đó là chỗ dựa gì, có chánh đáng hay không, chỗ dựa đó có phải là chỗ dựa thật sự đem lại bình an cho mình không.
"Ai quy y Ðức Phật,
Chánh pháp và chư Tăng,
Ai dùng chánh tri kiến,
Thấy được bốn Thánh đế"
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 190)
"Thấy khổ và khổ tập,
Thấy sự khổ vượt qua,
Thấy đường Thánh tám ngành,
Ðưa đến khổ não tận"
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 191)
"Thật quy y an ổn,
Thật quy y tối thượng,
Có quy y như vậy,
Mới thoát mọi khổ đau"
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 192)
Vì thế đối với người sắp chết thì chỗ dựa tinh thần rất quan trọng, nhất là khi đối đầu với nguy hiểm, ví dụ trong thời điểm dịch bệnh này người biết tu sẽ nhìn nhận sự việc khác với người không biết tu, một người tin Phật sẽ rất khác với người không tin Phật cho nên một người không có lòng tin với tôn giáo hoặc có lòng tin không đủ với một người thành tựu lòng tin chân chánh rất khác nhau. Vì thế ngài Anan nói kẻ phàm phu không biết tu chánh pháp thì tâm họ không có lòng tin với Phật, những khi nguy hiểm xảy ra hoặc khi đối diện cái chết họ sẽ hoảng hốt, sợ hãi với cái chết đó trong đời này và cả trong đời sau. Chính chỗ này mà hôm trước chúng ta làm lễ tưởng niệm ân đức cố đại lão Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu đã đọc bài kinh nói về ba bậc mà chúng ta không thể đền đáp hết ân đức.
"- Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, làm nhiều lợi ích cho người khác. Thế nào là ba?
Do người nào, này các Tỳ-kheo, có người được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, do người nào, người khác rõ biết: 'Ðây là khổ', rõ biết: 'Ðây là khổ tập', rõ biết: 'Ðây là khổ diệt', rõ biết: 'Ðây là con đường đưa đến khổ diệt', người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, do người nào, người khác đoạn trừ các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, làm lợi ích nhiều cho người khác. Ta nói rằng không có một người nào khác làm lợi ích nhiều hơn cho người bằng ba hạng người này. Ta nói rằng người này không thể khéo trả ơn cho ba hạng người kia, như đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, hành động thân thiện, bố thí các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh..." (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, Nhiều Lợi Ích)
Thứ nhất từ người nào mà nhờ người đó giúp mình biết nương tựa Phật, Pháp, Tăng, đối với hạng người đó không thể lấy bất cứ cái gì để đền đáp được, từ người nào mà nhờ người đó mình có chỗ dựa tối thượng là Đức Phật, chánh pháp và chúng Tăng. Ở đây đang nói đến quy y theo kinh Nikāya chứ không phải vào làm lễ quy y rồi có tờ giấy chứng nhận là cả chục năm sau cũng không đến chùa nữa, mà phải thật sự thành tựu một tấm lòng tịnh tín, tha thiết, chân thành, thành tín đối với Đức Phật, đối với sự chứng ngộ của Đức Phật và đối với những người tu chân chánh theo những lời dạy đó. Người nào giúp cho mình thành tựu ba pháp quy y này, ba pháp nương tựa này thì mình không bao giờ đền đáp đủ công ơn dù suốt đời có dâng hoa quả, cúng dường. Hạng người thứ hai là từ người nào giúp cho mình thấy được Khổ Thánh Đế.
"Mẹ cha cho con xác thân này rồi một ngày kia vô thường tan hoại. Thầy cho con đôi mắt trí tuệ một khi mở ra đường luân hồi con vĩnh viễn thoát xa". (Bao la tình thầy – Thích Pháp Như)
Con mắt trí tuệ đó là con mắt thấy được Khổ Thánh Đế, thấy được năm uẩn, thấy được lậu hoặc, đó là ân nhân vĩ đại thứ hai, dù cho có đem hết tấm lòng cung kính, cúng dường, đảnh lễ, tôn trọng cũng không báo đáp được hết ân đức của người này, đó là người khai đạo nhãn, mở con mắt tuệ cho mình. Hạng người thứ ba là người nào giúp cho mình tẩy sạch hết tham, sân, si, vô minh và bản ngã, đó là ân nhân vĩ đại thứ ba, không có gì có thể đền ơn. Đức Phật đã nói chỉ riêng đối với cha mẹ có cõng hai người hai bên vai suốt trăm năm dù có đại tiểu tiện cũng không trả được hết công ơn của đấng sinh thành thì huống chi bậc mở đạo nhãn cho mình để thấy được bốn Thánh trí, thấy được ngũ uẩn.
"Có hai hạng người, này các Tỳ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỳ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha.
Hơn nữa, này các Tỳ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này". (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, Ðất)
Đối với một người thành tựu chánh kiến sẽ không bao giờ bất kính đối với bậc đạo sư, điều đó không thể xảy ra, niềm tôn kính bậc đạo sư là tuyệt đối không dao động, người nào còn dao động thì người đó chưa thành tựu chánh kiến. Từ người nào được quy y tam bảo đúng theo tinh thần chánh pháp của Đức Phật, từ người nào giúp mình thấy chánh kiến, thấy được sự thật khổ và con đường diệt khổ, từ người nào giúp mình tẩy sạch tất cả lậu hoặc, cấu uế, tham, sân, si, bản ngã thì đó là ba ân nhân vĩ đại, không có gì có thể báo đáp được. Chúng ta cần đọc tụng bài kinh Nhiều lợi ích này thường xuyên vì bản ngã của chúng ta rất ghê gớm, đụng chuyện sẽ bất kính với ngay cả đạo sư của mình, nếu không có sự tác ý, quán chiếu, thường xuyên tu tập thì bản ngã sẽ hủy hoại sự nghiệp tu hành, với cái trí phàm phu nhìn đâu cũng sai nên đừng tin vào cái thấy biết và cảm giác của mình dù cho chính mắt nhìn thấy, phải đặt hết tâm trí vào pháp. Khi một người bệnh khổ gần chết mà họ thấy rằng mình không tin Phật thì họ sẽ hoảng sợ vì không có chỗ dựa tinh thần, hiện tại thì đau đớn, khó chịu với cái bệnh, tương lai thì mù mịt không biết đi về đâu, lúc chết thì tài sản không đem theo được, những người thân thiết yêu thương cũng không có ai đi chung con đường với mình nên cô đơn, bơ vơ và cuối cùng là thân xác mà mình tô bồi, o bế, nâng niu này sắp sửa rã tan, ba cái đó đều mất hết thì làm sao không sợ, ngoài ra còn ác nghiệp chồng chất vậy mà không có chỗ nào nương tựa thì làm sao không sợ được, vì thế trong kinh ghi kẻ vô văn phàm phu không thành tựu lòng tin, khi tự thấy lòng không tin của mình với Phật thì hoảng sợ, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Chúng ta thường đọc tụng và lễ lạy trí đức Như Lai là nhằm nhớ lại ân đức, công đức của Phật, nhớ về trí tuệ, lòng từ bi của ngài để làm tăng trưởng cảm thọ tịnh tín, không phải mình lễ trí đức Như Lai rồi ngài ban phước cho mình mà đọc để tưới tẩm, tăng trưởng những sự tác ý, cảm xúc, những sự thấy biết về đức độ, đạo hạnh, từ bi và trí tuệ của Như Lai để tăng trưởng lòng tin trong sáng không dao động đối với Đức Phật, vì thế lễ lạy trí đức Như Lai rất quan trọng, không phải đọc cho xong mà phải đọc tụng cho đến khi nào thành tựu tịnh tín bất động, phải vừa đọc vừa quán chiếu, chiêm nghiệm, đọc một câu rồi lạy xuống một lạy để cảm thọ ngấm vào thân tâm, tăng trưởng thêm lòng tin vì lòng tin của mình chưa đủ mạnh, nếu lòng tin đầy đủ là đã Nhập Lưu. Danh xưng "Thế Tôn" có nghĩa là người được thế gian tôn kính.
"Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc đáng được tôn kính
Ngài được trời tôn kính
Ngài được đời tôn vinh
Được thế giới tôn thờ
Được lịch sử tôn trọng
Được thế gian tôn quý.
Vì vậy, Ngài được gọi
Danh xưng 'Đức Thế Tôn',
Bậc Thế Gian Tôn Kính.
Con thật kính phục Ngài,
Con thật kính ngưỡng Ngài,
Con xin quy phục Ngài,
Con xin đảnh lễ Ngài".
(Nghi thức tu học Nikāya – Đảnh lễ trí đức Như Lai)
Khi đọc một câu là lạy xuống một câu thì lập tức cái lo lắng, sợ hãi trong dịch bệnh sẽ tan biến, cảm thọ đau bệnh cũng sẽ tan biến. Những vị bị nhiễm bệnh cứ mở bài đảnh lễ trí đức Như Lai lên đọc theo và lạy từng câu, lạy tới đâu là cảm thọ ngấm vào thân tâm tới đó, bệng nặng thành nhẹ, nhẹ sẽ mau hết, nếu không vượt qua được thọ mạng đã hết nhưng nhớ những câu niệm này thì mình vẫn sanh lên nhân gian thiên thương, không đọa vào ba đường ác, trong những giây phút cuối cùng cận tử nghiệp mà nhớ được những đạo lý, nghĩa lý trong đây thì chắc chắn sẽ sanh nhân gian thiên thượng.
"Thế Tôn nói như sau:
-- Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, một cuộc chiến dữ dội khởi lên giữa chư Thiên và các Asùra.
Rồi này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
' -- Này thân hữu, khi các Ông lâm chiến, nếu sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên; lúc ấy, các Ông hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của ta. Khi các Ông nhìn lên đầu ngọn cờ của ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược sẽ tiêu diệt.
Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của ta, thời hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt.
Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên cũng sẽ tiêu diệt.
Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt'
Này các Tỳ-kheo, khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên chủ Sakka, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược được khởi lên, có thể sẽ biến diệt và sẽ không biến diệt.
Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì Thiên chủ Sakka chưa đoạn diệt tham, chưa đoạn diệt sân, chưa đoạn diệt si, còn nhát gan, hoảng hốt, hoảng sợ, hoảng chạy.
Và này các Tỳ-kheo, Ta nói như sau: Này các Tỳ-kheo, khi các Ông đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta: 'Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn'.
Này các Tỳ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.
Nếu các Ông không niệm nhớ đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp: Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu'
Này các Tỳ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Pháp, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
Nếu các Ông không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng: 'Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời'
Này các Tỳ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến chúng Tăng, thời sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
Vì sao? Này các Tỳ-kheo, Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, không nhát gan, không hoảng hốt, không hoảng sợ, không hoảng chạy". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, III. Dhajaggam: Ðầu Lá Cờ)
Thiên chủ Sakka ra đánh trận nhưng nói rằng người nào mang tâm lý sợ sệt thì hãy nhìn vào ngọn cờ của các phạm thiên nhưng nhìn vào đó có người hết sợ có người vẫn không hết sợ vì cho dù có là phạm thiên, là vua trời nhưng vẫn còn tham, sân, si, còn hoảng hốt, sợ hãi, tuy nhiên Đức Thế Tôn là bậc diệt tận tham, sân, si, có công đức viên mãn, cứu cánh giác ngộ cho nên khi nhớ về ngài, niệm về ngài thì thân tâm có chỗ dựa tối thượng, vững chắc, kiên cố nên được bình an. Chỗ dựa đó bằng kim cương bất động thì làm gì có sự sợ hãi ở đây, ngồi ghế bấp bênh mới sợ, còn ngồi bằng ghế kim cương bất động, đầy đủ công đức trí tuệ, từ bi nên rất bình an, đó là lý do những người niệm Phật không có sợ hãi, người nào còn sợ thì người đó chưa thành tựu lòng tin trọn vẹn cho nên cần tưới tẩm thêm lòng tin, khắc phục bằng cách đọc trí đức Như Lai rồi lễ lạy hoặc đọc những bài kinh trong Nikāya nói về công đức của Phật, đó là chỗ dựa tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất, không còn chỗ dựa vào cao hơn được nữa vì Đức Thế Tôn là bậc tối thượng trong nhân thiên ba cõi thì làm gì còn ai cao hơn ngài nữa. Ví dụ mình có mối thân quen với nhà vua, ngày nào cũng nói chuyện đàm đạo với nhau thì chắc chắn trong tâm sẽ có chỗ dựa vững chắc là nhà vua, như vậy những người muốn hại mình cũng khó làm được, chỉ trừ nhân quả nghiệp báo thì phải trả, còn những cái khác rất khó vì tâm mình an trú trong biển trí tuệ công đức của Như Lai thì lòng mình sẽ an tịnh, an lạc, bình an. Trong thời điểm này các Phật tử trong đạo tràng Nikāya phải đầu tư thật nhiều vào bốn Dự Lưu phần này, nghe thật kĩ, tụng cho nhiều để bớt lo lắng, bất an, có chết cũng an trú trong thiện pháp, Thánh pháp, trong hồng danh vĩ đại của Đức Phật. Còn những người nào sợ hãi vì họ thấy tâm họ không tin một điều gì cả, không tin Phật, không tin Pháp, không tin Tăng, không tin ngũ uẩn mà thấy có một cái tôi rành rõ, có một cái ta to tướng nên hiển nhiên họ sẽ sợ hãi, bất an, còn bây giờ tin ngũ uẩn, không có ta, không có cái của ta, tin bản chất của tứ đại này là ung nhọt, bất an, là tật bệnh, mũi tên, là nhiều khổ đau, nhiều ưu não, những gì Phật nói đều hiện hành, có sự thực chứng thì lúc đó tâm lại càng tịnh tín cho nên những lúc thiên tai, thảm họa, dịch bệnh thì lòng tin pháp càng rực sáng hơn nữa, chỉ khi nào không tin pháp mới sợ hãi. Đức Phật nói về vô thường thì bây giờ vô thường đang diễn ra, Đức Phật nói về khổ thì khổ đang diễn ra tràn ngập, Đức Phật nói tất cả pháp biến đổi tan hoại thì nó đang diễn ra trước mắt mình, những gì mình thấy đang minh chứng cho lời Phật nói, nếu mình thật sự là một người luôn tưới tẩm, thực hành pháp quy y bốn Dự Lưu phần này thì đây là lúc mình tỏ sáng lòng tin đối với pháp chứ tại sao lại lo sợ?
"Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Pháp. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Pháp; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Họ không tin vào ngũ uẩn, không tin vô thường, khổ, vô ngã, không tin không có tôi, không có của tôi cho nên khi thấy lòng không tin với pháp thì người đó hốt hoảng, lo sợ với cái chết, về đời sau. Một khi đã thấy đây là pháp Đức Thế Tôn chứng ngộ, đây là pháp ngài đã trình bày, đây là pháp mình tu học, đây là pháp mình ngồi hằng giờ trên Bồ-đoàn để quán chiếu, đây là pháp hằng ngày mình được học, được tu và đến giờ đang diễn ra thực trạng, thực tướng của thế gian thì lòng tin mình càng kiên trú, càng vững chắc, càng chói sáng và bừng sáng. Vì thế làm gì có cái sợ ở đây, biết tu là không có sợ hãi vì có chỗ dựa vững chắc, tối thượng là Thánh pháp. Khi kẻ vô văn phàm phu nhìn thấy lòng bất tín, không tin tưởng của họ với pháp thì chẳng những sợ ngay trong hiện tại mà còn sợ sau khi nhắm mắt đi về đâu, ngược lại có tu học là không có gì phải sợ hãi, càng thành tựu lòng tin bất động đối với pháp, đây là lúc chánh pháp được chói sáng, tỏ sáng, chiếu sáng trong tâm mình vì pháp do Đức Thế Tôn nói quá đúng, là sự thật đang diễn ra ngay trước mắt.
"Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với chúng Tăng. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với chúng Tăng; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Nhìn lại thấy mình không tin tưởng những bậc có đạo hạnh tu hành, mình xem thường, không tôn kính, không tin tưởng thì khi bệnh, khi sắp chết sẽ hốt hoảng. Còn giờ mình kính những bậc đáng kính, tôn trọng những bậc đáng tôn trọng, đảnh lễ những bậc đáng đảnh lễ, cúng dường những bậc đáng cúng dường thì tâm mình hạnh phúc, bình an, nghĩ lại thấy mình rất sáng suốt, chọn đúng bạn đạo, đúng đường, đúng chánh pháp nên mình hoan hỉ dù cái chết đang đến, đời sau mình đi vào những cảnh giới tốt lành vì mình có chỗ dựa tối thượng là Phật, pháp, Tăng đầy sự thù thắng.
"Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu ác giới. Khi vị ấy tự thấy sự thành tựu ác giới của mình; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Do thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Kẻ phàm phu không biết tu, không thọ giới, không giữ giới, không tu tập giới, không có tâm hướng thượng, phát triển về đức hạnh trong đời sống sa đọa, thấp hèn, hạ liệt thì người này sẽ run sợ, hoảng hốt về cái chết, về đời sau. Cần nhớ một điều khi gần chết, cận tử nghiệp sẽ tự động nhìn lại hết cả quãng đời của mình. Khi còn trẻ, còn khỏe mạnh thì chạy trốn, cứ hướng ngoại, bận này làm làm nọ nhưng đến khi bệnh tật xảy ra, nằm trên gường bệnh mới đối diện với thân tâm, những thọ; tưởng; hành của quá khứ sẽ hiện về giống như bộ phim chiếu chậm, sống đến 70 tuổi là bộ phim dài 70 tập, sống 50 tuổi là bộ phim dài 50 tập, bộ phim đó sẽ chiếu lại hết tất cả những gì mình đã làm trong quá khứ, những lúc mình hèn hạ, xấu xa, tội lỗi, không có giới hạnh, không cố gắng tăng thượng đạo hạnh như thế nào, cho nên người này sẽ lo lắng, run sợ với cái chết đang cận kề hoặc hoang mang không biết đời sau sẽ đi về đâu.
"Do thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không có sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thế nào là bốn? Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật: 'Ðây là là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn'. Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Phật, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Trong đoạn kinh này dùng chữ "không" tức là phủ nhận tất cả những gì có ở đoạn kinh trước đó mình vừa học, nghĩa là ở trên lo lắng, sợ hãi, hoảng hốt, bất an thì ở đây tâm được bình an, nhẹ nhàng, an lạc. Trú trong pháp lúc bệnh sẽ không thấy sợ hãi, bệnh tình thuyên giảm, nhẹ bớt, thậm chí thân bệnh nhưng tâm vẫn an lạc, đó là Phật pháp thiết thực, hiện tại, mình được thực nghiệm, thực chứng ngay trước mắt, còn lúc nào thấy sợ sệt là lúc đó không an trú vào lòng tin Phật, lòng tin pháp, lòng tin Tăng, lòng tin giới, còn khi đã an trú mà vẫn sợ là do bốn lòng tin đó chưa đủ mạnh thì phải có ý thức tăng trưởng, phát triển thêm, cứ an trú vào Đức Phật, đảnh lễ Đức Phật, đọc lên bài trí đức của Như Lai và tác ý lạy từng câu thì cái sợ hãi sẽ tan biến, trở lại cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, mát mẻ, ngọt ngào, thanh lương. Bậc Đa văn Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này không còn gì để sợ ngay cả cái chết, vì ngày nào cũng niệm chết, ngày nào cũng học sanh, lão, bệnh, tử, hoại không, biến hoại, tan biến, ngày nào cũng quán chín giai đoạn tử thi nên bây giờ cái chết đến là đúng như những gì đã học thì đâu còn gì để sợ nữa cho nên tâm vị đó an tịnh. Trong giai đoạn này tu càng thâm sâu hơn nữa, trí tuệ càng rực sáng hơn bình thường vì bình thường không thấy khổ nhiều, bây giờ thấy Khổ Thánh Đế, bình thường không thấy nhàm chán nhưng giờ thấy rất nhàm chán, bình thường không muốn hướng tâm đến từ bỏ nhưng giờ hướng tâm đến từ bỏ nhiều hơn, bình thường khi học sự thật này có khi mờ khi tỏ nhưng giờ thấy sự thật sáng rực, nhìn đâu cũng thấy khổ sầu, lo lắng, bất an.
"Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: 'Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... chỉ người có trí tự mình giác hiểu". Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Pháp, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Pháp do Thế Tôn thuyết vô cùng khéo léo, thiện xảo, không có người thuyết pháp thứ hai có thể khéo bằng, không một ai ngang hàng, ngang tầm có thể nói pháp được như Thế Tôn, những bài kinh được lưu truyền gần ba ngàn năm có biết bao người học mà không một ai thuyết pháp được như Thế Tôn, cho nên những gì Thế Tôn nói là thiện thuyết, khéo thuyết, tối thượng thuyết, có nghĩa có văn, cứu cánh cùng cực của sự thật, chân lý trong tam giới.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha.
Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:
-- Kapilavatthu này, bạch Thế Tôn, là phồn vinh, phú cường, dân cư đông đúc, quần chúng khắp nơi chen chúc, chật hẹp. Bạch Thế Tôn, sau khi con hầu hạ Thế Tôn hay các Tỳ-kheo đáng kính, vào buổi chiều, con đi vào Kapilavatthu, con gặp con voi cuồng chạy; con gặp con ngựa cuồng chạy; con gặp người cuồng chạy; con gặp cỗ xe lớn cuồng chạy; con gặp cỗ xe nhỏ cuồng chạy. Trong khi ấy, bạch Thế Tôn, tâm con nghĩ đến Phật bị hoang mang, tâm con nghĩ đến Pháp bị hoang mang, tâm con nghĩ đến chúng Tăng bị hoang mang. Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Nếu lúc ấy con mệnh chung, thời sanh thú của con là gì, sanh xứ đời sau chỗ nào?'
-- Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông! Do thành tựu bốn pháp, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Thế nào là bốn?
Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: 'Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn..'.... đối với Pháp... đối với Tăng... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
Ví như, này Mahànàma, một cây thiên về phía Ðông, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nếu bị chặt đứt từ gốc rễ, nó sẽ ngả về phía nào?
-- Bạch Thế Tôn, về phía nào nó thiên, về phía nào nó hướng, về phía nào nó xuôi.
-- Cũng vậy, này Mahànàma, do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, II. Mahànàma (2))
Ngài Mahanama nói với Thế Tôn rằng ngài đi tới đi lui phụng sự tam bảo nhưng lỡ một ngày nào đó bị bò húc chết hoặc đi xe tông chết hoặc có người giết chết thì lúc đó sẽ hoảng loạn nên sanh thú của ngài sẽ ra sao. Thế Tôn trả lời rất ngắn gọn, lúc bình thường một cái cây nghiêng về phía đông, xuôi về phương đông thì mai đây có ngã đổ cũng phải ngã về hướng đông, cho nên đừng sợ gì cả, chỉ sợ rằng lúc còn sống nghiêng về phía khác, tức là nghiêng về ác và bất thiện pháp thì khi chết đi cũng sẽ nghiêng theo hướng đó, còn nếu nghiêng về Phật, pháp, Tăng, về giới thì khi ngã xuống phải sẽ nghiêng về chiều thiện đó. Chỉ với một ví dụ nhỏ thôi mà Đức Phật đã làm an tâm người đang lo lắng, sợ hãi, chúng ta phải cố gắng học kinh để nhớ lời kinh, trú vào pháp chứ đừng nhớ những lời thị phi phàm tình.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, có một hồ nước bề dài năm mươi do tuần, bề rộng năm mươi do tuần, bề sâu năm mươi do tuần, đầy nước tràn trên bờ để con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ nước ấy, có người lấy lên một ít nước trên đầu ngọn cỏ kusa.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít nước lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa, hay là nước trong hồ nước?
-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong hồ nước. Còn ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa. Chúng không có thể ước tính, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở hồ nước với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn. Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: 'Ðây là Khổ'.. đã rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiện Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), VI. Phẩm chứng đạt, II. Ao Hồ)
Đức Thế Tôn hỏi nước trên đầu ngọn cỏ nhiều hay nước trong hồ nước lớn là nhiều thì các vị Tỳ-kheo đáp lại nước trong hồ nhiều hơn nước trên đầu ngọn cỏ. Thế Tôn nói tiếp, với người đã thành tựu chánh kiến thì cái khổ được diệt trừ nhiều như nước trong hồ nước lớn, cái khổ còn lại ít như nước trên đầu ngọn cỏ. Đây thật sự là tối thượng thuyết, không ai có thể nói pháp được như vậy ngoài Thế Tôn, không những về văn, về ngữ, về lời mà còn về nghĩa đều viên mãn, nhưng về sự thật chứng ngộ của ngài mới là điều tối thượng. Từ Bồ-đề đạo tràng khi ngài thành Chánh Giác cho đến Tala song thọ khi nhập Niết-bàn thì tất cả những gì ngài tuyên bố đều đúng như vậy, không có sự sai khác, cái đó gọi là khéo thuyết.
"Này Cunda, trong thời gian giữa đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác và đêm Như Lai nhập Vô dư y Niết-bàn giới, trong thời gian ấy, những gì Như Lai nói trong khi thuyết giảng, nói chuyện hay trình bày, tất cả là như vậy, chớ không gì khác. Do vậy mới gọi là Như Lai.
-Này Cunda, ở đây vị đạo sư xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên bố và được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết". (Trường Bộ Kinh, 29. Kinh Thanh tịnh)
Những gì Đức Thế Tôn nói là sự thật, là chân thật, đó là tối thượng thuyết, là bậc thiện thuyết bậc nhất, những gì ngài nói đều liên hệ đến mục đích, có thể dập tắt đau khổ cho chúng sanh, tẩy sạch tham, sân, si, vô minh và bản ngã, làm cho chúng sanh có cảm giác khinh an, nhẹ nhàng, mát mẻ, tuyệt vời, cảm giác ly tham, ly dục, xả bỏ, thoát ra, không có người nào thuyết pháp ngang bằng chứ đừng nói gì vượt hơn Thế Tôn, có nhân có quả ở chỗ mấy chục ngàn bài kinh sau 2600 năm vẫn được học thuộc lòng.
"Thế Tôn nói như sau:
- Đầy đủ bốn đức tánh, này các Tỳ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo :
Nói lời thiện thuyết, không nói lời ác thuyết,
Nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp,
Nói lời ái ngữ, không nói lời ác ngữ,
Nói lời chơn ngữ, không nói lời phi chơn.
Đầy đủ bốn đức tính này, này các Tỳ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích.
Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ, Đạo Sư lại nói thêm:
Bậc Thiện Nhơn dạy rằng:
Thứ nhất là thiện thuyết,
Thứ hai nói đúng pháp,
Chớ nói lời phi pháp,
Thứ ba nói ái ngữ,
Chớ nói lời ác ngữ,
Thứ tư, nói chơn thực,
Chớ nói lời phi chơn.
Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
- Thế Tôn, hãy soi sáng cho con! Thiện Thệ, hãy soi sáng cho con!
Thế Tôn nói:
- Này Vangìsa, mong rằng Ông được soi sáng.
Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán thích đáng:
Ai nói lên lời gì,
Lời ấy không khổ mình,
Lại không làm hại người,
Lời ấy là thiện thuyết.
Ai nói lời ái ngữ,
Lời nói khiến hoan hỉ,
Lời nói không ác độc,
Lời ấy là ái ngữ.
Các lời nói chơn thật,
Là lời nói bất tử,
Như vậy là thường pháp,
Từ thuở thật ngàn xưa.
Bậc Thiện Nhân được xem,
An trú trên chơn thực,
Trên nghĩa và trên pháp,
Lời đồn là như vậy.
Lời đức Phật nói lên,
Đạt an ổn Niết-bàn,
Chấm dứt mọi khổ đau,
Thật lời nói tối thượng". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, V. Khéo Nói)
Thế Tôn khéo thuyết về tứ đại, khéo thuyết về thập nhị xứ, về thập bát giới, Thế Tôn khéo thuyết về ngũ uẩn, về Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, ngũ căn, ngũ lực, thất Bồ-đề Phần, về Bát Thánh Đạo,… Tất cả những cái đó là khéo thuyết, là tối thượng thuyết. Đức Phật đã nói trong kinh rằng pháp do ngài chứng ngộ, khéo thuyết nên các Tỳ-kheo phải lưu giữ, truyền bá, lưu bố rộng rãi.
"- Này các Tỳ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người ? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần.
Này các Tỳ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng của đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người". (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Chúng ta chỉ cần ngồi tụng và quán chiếu từng lời kinh cũng cảm thấy hạnh phúc dạt dào, hoan hỉ với Thánh pháp cho nên chỉ cần trú vào pháp là những cảm giác lo lắng, bất an, sợ hãi đều bị dập tắt, phải biết nếm hương vị của pháp, hương vị của giải thoát, hương vị của mục đích, đừng tụng cho xong, đừng đọc cho có, phải làm cái lưỡi trong tô canh chứ đừng làm cái muỗng trong tô canh vì cái muỗng thì làm sao biết được hương vị của tô canh, phải là cái lưỡi mới nếm được hương vị của canh. Vì vậy đọc kinh mà đọc lướt qua thì chẳng có gì cả nhưng khi nếm được hương vị của pháp mới thấy từng lời, từng câu trong kinh rất vi diệu. Một vị Bà-la-môn đến nói rằng pháp do Thế Tôn thuyết rất thiết thực ngay trong hiện tại, thì như thế nào gọi là thiết thực, hiện tại. Đức Phật hỏi lại nội tâm ông có tham thì ông có biết không, vị ngoại đạo nói biết, Thế Tôn hỏi tham lam làm ông đau khổ ông có biết không, vị ngoại đạo nói biết. Thế Tôn nói tiếp nội tâm ông có sân thì ông có biết không, vị ngoại đạo trả lời là biết có sân, Thế Tôn nói cái sân này làm khổ mình, khổ người, khổ cả hai phải không thì vị đó nói đúng như vậy, Thế Tôn lại hỏi nếu nội tâm không có tham, sân, si, bản ngã, không làm khổ mình, khổ người mà làm an vui mọi người thì ông có biết không, vị ngoại đạo nói đúng là vậy. Cuối cùng ngài nói như vậy gọi là thiết thực, hiện tại.
"Pháp là thiết thực hiện tại, pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu?
- Vậy này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời; Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham ái'? Hay nội tâm không có tham ái. Ông có biết: "Nội tâm ta không có tham ái"?
- Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham ái'. Hay nội tâm không có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham ái. 'Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm ta có si'? Hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si'?
-Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si'. Hay nội tâm không có si, Ông có biết: "Nội tâm ta không có si". Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại...Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có thân uế..., hay nội tâm có khẩu uế...hay nội tâm có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta có ý uế'? Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có ý uế...'?
- Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta có ý uế'. Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có ý uế'. Như vậy này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (VI). Cho Ðời Này (2))
Nghe Phật nói xong thì vị Bà-la-môn tán thán Đức Thế Tôn, mong muốn được làm đệ tử của ngài, một là trở thành Thánh Tăng, hai là trở thành cư sĩ tham dự vào hàng bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật. Đó được gọi là khéo thuyết, thiết thực, hiện tại, không có trải qua thời gian, đến để mà thấy có hiệu quả tức thời, được người trí tự mình giác hiểu. Còn giờ nếu tâm mình thấy sợ hãi, bất an, hoảng loạn thì hãy đọc lên bài đảnh lễ trí đức Như Lai.
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc nói, nín, đứng, đi
Tâm không động theo cảnh,
Tâm không chạy theo trần.
Chánh giác rõ thế giới,
Thấy biết rõ cuộc đời.
Nói gì thì làm vậy,
Làm gì thì nói vậy,
Nói làm không sai khác,
Không mâu thuẫn trước sau.
Từ khi Ngài Chánh Giác
Đến khi Ngài Niết-bàn
Điều gì Ngài tuyên bố
Không thể có đổi thay.
Trước sau Tâm - Tuệ Ngài
Thanh tịnh và nhất như.
Vì vậy, Ngài được gọi
Danh xưng 'Đức Như Lai'
Bậc Tâm – Tuệ Viên thành,
Nhất như, không đổi khác.
Con thật kính phục Ngài,
Con thật kính ngưỡng Ngài
Con xin quy phục Ngài,
Con xin đảnh lễ Ngài.
(Nghi thức tu học Nikāya – Đảnh lễ trí đức Như Lai)
Đọc lên như vậy là tâm lập tức bình an, an ổn, ấm áp, tâm lập tức có chỗ nương dựa vững chắc tối thượng, đó là thiết thực, hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng làm cho mình hướng thượng. Khi không đọc pháp mà đọc tin tức, thời sự là tâm hướng hạ, còn khi đọc pháp, tụng pháp, niệm pháp là khi đó tâm hướng thượng. Mình đọc pháp và ghi nhớ pháp thì mình sẽ buông bỏ những thứ hạ liệt, thấp hèn, những thứ vô minh, tham ái, tham ái để hướng thượng lên cao.
"Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Ðáng được tán thán, này các Tỳ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ". (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực).
Qua đây chúng ta thấy rằng khi đã có lòng tịnh tín đối với tam bảo thì người đó sẽ không có hoảng hốt, không sợ sệt về cái chết và về đời sau. Khi đã biết được sự thật của nhân sinh thế giời này thì tâm sẽ có sự bình an, lắng dịu, dễ chịu, an trú, không lay động mà tâm hướng về quang minh, về ánh sáng trí tuệ, hướng về tâm rộng mở, đó cũng là lý do phải tu tập tứ vô lượng tâm, cho nên khi đã có chỗ dựa tối thượng thì dù có đối diện với bệnh khổ, đối diện với chết chóc vẫn thấy bình an, đó là pháp bảo, là Thánh pháp. Một người có cả gia tài, kho báu thì làm sao đi lang thang ăn xin được, cũng vậy, với người đã tin vào pháp thì tâm không còn lang thang lo lắng những việc vu vơ, có bất kì chuyện gì xảy ra cũng trú vào pháp, lấy đó làm chỗ dựa tinh thần. Đang đi ngoài đường gặp mưa bão, sấm sét, gió thổi mạnh thì tất nhiên phải tìm chỗ trú, ở ngoài biến động thì phải trú vào ngôi nhà, đó là ngôi nhà tâm linh của mình, còn để tâm lang thang bên ngoài mới bị mưa ướt, giá lạnh, khổ sầu. Người không quy y pháp, không nương tựa pháp, không thành tựu trong bốn Dự Lưu phần giống như một người đang lang thang giữa trời mưa to gió lớn, sấm chớp giật liên hồi, chịu cảnh đói lạnh, còn người nào trú trong pháp, quy y pháp, học pháp thì người đó giống như đang trú trong tòa lâu đài vĩ đại của tâm linh, có chỗ nương tựa, an trú, vững chắc trong nội tâm. Các Phật tử muốn tâm mình lang thang không nơi nương tựa hay tâm mình có chỗ trú trong tòa lâu dài? Muốn trú trong tòa lâu đài thì phải để tâm vào pháp, phải học pháp, nghe pháp, suy tư về pháp, có Phật tử tâm sự rằng khi bệnh thì mở pháp lên nghe suốt ngày, tâm an trú trong pháp nên bớt lo lắng, thấy nhẹ nhàng trở lại, đó là đang tu tập bốn Dự Lưu phần, bốn phần tin Phật, tin Tăng, tin pháp, tin giới sẽ giúp mình tham dự vào dòng luân lưu của trí tuệ, bốn pháp này đưa mình vào dòng chảy của trí huệ đó, một khi đã vào được dòng trí tuệ đó thì tự động mình sẽ hướng thượng vì pháp này có công năng đưa người về phía trước. Từ phàm phu lên Dự Lưu sẽ rất gian khổ, khó khăn nhưng một khi vào được Dự Lưu là chắc chắn không thối chuyển nữa, cho nên mình cần nỗ lực, cố gắng trong giai đoạn đầu để vào được Dự Lưu, chúng ta phải chịu khổ ban đầu để sau này không còn khổ nữa, chịu khó thời gian đầu để sau này không còn khó nữa, đừng sợ hãi gì cả. Những gì mình đang làm bây giờ, ăn chay rát ruột cạo đầu rát da, thức khuya dậy sớm, bỏ cha bỏ mẹ, bỏ gia đình, xóm làng, nghề nghiệp, bạn bè để lên núi chịu khổ, ngồi thiền đau chân…sẽ được trả cái quả rất xứng đáng. Chúng ta đừng sợ những cái này vì thành quả đem lại sẽ là Dự Lưu Thánh quả, điều tuyệt diệu phía trước đang chờ đón mình là dòng chảy của Thánh trí tuệ, chúng ta chỉ còn lo lắng khi trong thân tâm còn tham, sân, si, vô minh, bản ngã, còn những thứ bên ngoài chẳng có gì đáng lo nữa cả vì bản chất nó đã như vậy, ai rồi cũng phải chết chỉ khác nhau ở thời gian, người đi trước kẻ đi sau, không sớm thì muộn cũng gặp bệnh tật, bây giờ đừng mong cầu trèo cao vì sớm muộn mình cũng lên chỗ cao nhất là bàn thờ thôi, phải tác ý như vậy thì nghe pháp mới thấy tuyệt diệu, mới có cảm giác hạnh phúc, tuyệt diệu. Đừng sợ bệnh cũng đừng sợ chết, hãy sợ rằng khi cái chết cận kề mà vẫn chưa thành tựu pháp, chưa ngộ pháp, chưa chứng pháp, chưa đạt pháp. Những cái đáng sợ lại không biết sợ, những thứ không đáng sợ lại sợ. Đừng sợ chết, đừng sợ bệnh cũng đừng sợ già, chỉ sợ rằng ngay lúc gần chết vẫn chưa thành tựu lòng tịnh tín, vẫn chưa thấy được pháp, lúc đó chỉ lo đau bệnh, lo mất tài sản, mất chồng, mất con, mất vợ. Vì vậy khi đã thành tựu lòng tin với Phật, với pháp, với Tăng và giới thì tâm người này được bình an, an ổn, thanh lương.
"Lại nữa, này Gia chủ... lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở đời"... về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Mình tôn kính những bậc đáng kính, mình cúng dường những vị đáng cúng dường, mình tu học đạo lộ đúng theo Thánh đạo thì lúc gần chết nhìn lại tâm sẽ tự động hân hoan, vui thích. Mình chọn con đường sáng suốt, đẹp đẽ thì mình có quyền hoan hỉ, vì ngoài kia có biết bao người lầm đường lạc lối, không tìm thấy chánh pháp trong khi mình tôn thờ bậc tối tôn tối thượng, bậc thầy của trời và người chỉ cho mình đạo lộ diệt khổ rõ ràng thì phải hoan hi, vui cười, vì thế khi thành tựu lòng tin với Phật, pháp, Tăng và giới thì phải vui vẻ để tiếp tục tu tập nữa chứ không phải vui để thỏa mãn, tự mãn, nghĩa là vui để tiến tu chứ không phải vui để hài lòng, đứng lại. Năm điều kiện để đưa đến đời sống an lạc là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, ngoại tình, tà dâm, từ bỏ nói dối, nói lời hung ác, nói lời thiêu dệt, từ bỏ sử dụng những chất say sưa, nghiện ngập, mình từ bỏ những điều này vì làm vậy được bậc Thánh ái kính, chư thiên kính trọng vì người nào từ bỏ được những thứ đó thì người này phải có sự tu tập để nhiếp phục tham dục, tham ái ở đời, nếu không nhiếp phục tham ái, sân si thì không thể từ bỏ được những thứ đó. Ngoài năm giới ban đầu ra chúng ta có thêm không ngủ gường cao rộng lớn, không thoa hương phấn sáp vào người, không ăn chiều, đây là tám giới trong bát quan trai giới. Trong tám giới này thêm hai giới là giữ gìn tâm ý, không tham, không sân và không có tà kiến, tức là lìa tham, sân, tà kiến (si), ngoài ra còn giới của Sa-di và giới của Tỳ-kheo. Đối với những giới này phải luôn hướng đến sự tăng thượng phát triển thêm chứ không để cho bị bể vụn, phá hoại, ô nhiễm, dù chưa được trọn vẹn nhưng tâm phải luôn hoàn thiện các giới, cái đó gọi là tăng thượng giới học, không được hài lòng với những gì đang có mà phải luôn hướng thượng. Khi giữ được một giới nào đó thì mình sẽ thoát khỏi cái khổ trong cái đó, ví dụ nếu giữ được giới không sát sanh, không cắt cổ, mổ bụng mà mình ăn chay rau củ, quả, đậu vậy là mình được giải thoát khỏi nghiệp đó. Nếu trộm cắp sẽ có quả báo trong nghiệp trộm cắp, còn giờ mình không trộm cắp thì mình được giải thoát khỏi nghiệp quả của trộm cắp, đây gọi là biệt giải thoát giới, tức là giải thoát từng phần trong các giới, khi từ bỏ được những ác nghiệp thì mình sẽ thoát được quả báo khổ của ác nghiệp đó vậy là đưa đến giải thoát. Dính vào tà dâm, ngoại tình sẽ đau khổ, bất an cho tự thân mình, cho vợ/chồng mình, cho con cái mình, cho gia đình mình, bây giờ từ bỏ tà hạnh trong các dục đó sẽ thoát ra khỏi ác nghiệp của tà hạnh trong các dục đem lại quả báo khổ trong hiện tại và trong những đời sống về sau. Nếu giữ được giới nào thì mình thoát ra được ác nghiệp của giới đó đem lại, còn không giữ được giới sẽ bị trói cột trong quả báo ác nghiệp đem lại. Nhậu nhẹt làm say sưa, say mê điên đảo rồi về nhà đập phá đồ đạc, đánh vợ đánh con, quyết định sai kí vào là tán gia bại sản, làm tiêu tan tất cả sự nghiệp, uống rượu tưởng là chuyện đơn giản nhưng lại là nguyên nhân phạm vào những giới trước đó, uống say sưa nói qua nói lại vài câu là cự cãi hoặc đánh nhau, đâm chém, vậy là phạm vào giới sát sanh hoặc phạm vào tội tà dâm, những quán Bar mọc lên như nấm, vào đó uống rượu rồi sau đó là những chuyện xấu khác kéo theo, làm đổ vỡ hết tất cả cho nên từ bỏ rượu men, rượu nấu, từ bỏ những chất say sưa, nghiện ngập là thoát ra khỏi cái ác nghiệp của hành động đó sẽ đưa đến quả báo khổ trong hiện tại và tương lai. Đức Thế Tôn dạy phải từ bỏ tham lam, tán thán từ bỏ tham, khuyến khích từ bỏ tham chứ không được tùy thuận theo cái tham, không những mình tham còn khuyến khích người khác tham theo mình, đọc trong kinh thấy lạ vì tại sao lại khuyến khích tham nhưng ngoài đời có rất nhiều "lấy đi, không lấy thì uổng", chỉ cần không chánh niệm tỉnh giác là rơi vào bẫy ngay, từ bỏ tham lam, trộm cắp sẽ không bị quả báo khổ của hành động tham lam đưa lại, đối với sân giận, tức giận cũng vậy, tán thán việc từ bỏ sân giận, không tùy thuận theo cái sân đó, còn nếu thuận theo sân giận, khuyến khích người ta sân giận, vui với sân giận thì ác nghiệp cứ thế nhân lên, chồng chất lên nhau. Tu ngũ uẩn tuyệt vời ở chỗ cái sân vừa nhen nhóm là mình chặn lại rồi, cảm thọ sân vừa sanh khởi là mình đã diệt trừ chứ không cần đợi phát ra lời nói hay hành động, như vậy mới gọi là bậc trí, mỗi một giới như vậy giúp mình hoàn thiện nhân cách, đạo đức, giới hạnh của người tu. Khi mình tu tập được như vậy nhưng mình không chấp thủ vào việc mình đã làm, tu tập pháp vô ngã, trừ diệt cái tôi, có tàm quý hổ thẹn chứ không phải thấy mình làm được rồi cho mình giỏi, mình hay hơn người ta, còn nếu không sám hối diệt ngã mà mình làm được trong khi người ta không làm hoặc làm không được thì bản ngã tăng cao "tôi có tu người ta không tu" , "tôi giữ được giới người ta không giữ được", "tôi trong sạch còn người ta phạm giới", càng phát huy thêm bản ngã, như vậy gọi là giới bị chấp thủ, mà chấp thủ sẽ không đưa đến thiền định. Muốn thiền định thì tâm phải bình an, an tịnh, ăn cắp đồ người khác thì vào ngồi thiền làm sao tâm yên được hoặc là giết người thì làm sao yên ổn được. Tất cả những gì Đức Phật dạy là nằm chuẩn bị tư lương, hành trang cho mình bước vào dòng chảy của trí tuệ, nếu phạm giới thì tâm bất an, còn không phạm giới thì tâm yên định và quan trọng là tuy có thực hành giới nhưng tâm mình không chấp thủ vào đó, tâm không chấp thủ sẽ đưa đến thiền định, tất cả chỉ là ngũ uẩn thôi, không có ai ở đây mà so sánh hơn thua, cao thấp, mình giữ được hết giới nhưng không nhìn ngó, khinh khi người khác. Phải tu trong tinh thần vô ngã, nếu không hướng đến tinh thần vô ngã thì càng làm nhiều lại cư công càng cao, tức là cư trú vào công lao để tăng trưởng bản ngã, cái này xảy ra rất nhiều, làm nhiều rồi ta đây, học cao cũng ta đây, tu nhiều mà không khéo cũng ta đây, nếu không thực tập pháp phá trừ bản ngã là làm gì sẽ dính mắc cái đó, học được cái gì là chấp cái đó vì thế phải lạy sám hối diệt ngã thường xuyên để phá trừ bản ngã, làm gì, học cái gì cũng phải hướng đến việc nhiếp phục bản ngã, diệt tận, tẩy sạch bản ngã, như vậy mới đưa đến tâm bình an. Khi một người tự thấy mình thành tựu các giới, được các bậc Thánh thương mến thì tâm vị ấy bình an, không run sợ, đối diện các chết cũng không sợ, còn người nào không giữ giới, phạm giới khi chết sẽ sợ hãi, ác nghiệp nào cũng có mặt mình nên khi đó sẽ hoảng hốt.
"Thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, bậc Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Tâm vị ấy hoan hỉ, mát mẻ, dễ chịu với giới đã thành tựu. Phải cảm thấy vui sướng, hạnh phúc về những điều mình đã giữ gìn, khi đang đối diện nguy hiểm hay cái chết thì nhìn lại cả bốn Dự Lưu phần đều thành tựu sẽ thấy hạnh phúc. Khi còn trẻ, khỏe lại đi tạo nghiệp, châm chọc người này, cười chê người kia, bản ngã cao vút, đến khi đau bệnh thấy lại những việc đã làm rồi khổ đau, lo lắng, bất an. Còn nhìn lại thấy mình có lòng từ, bi, hỷ, xả, có lòng tin Phật, tin pháp, tin Tăng, có giữ gìn, làm việc thiện, bố thí, cúng dường thì mình hoan hỉ, cuối cùng vẫn phải quay lại nhìn những thiện nghiệp và ác nghiệp của mình, thiện nghiệp ở đây chính là bốn Dự Lưu phần, đó là lòng tin Phật, tin vào sự chứng ngộ của Đức Phật và giáo pháp, tin vào những vị tu hành chân chánh bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng, kiểm tra lại những giới mình đã hành trì và thực tập, lúc đó lòng mình sẽ bình an, nhẹ nhàng, an ổn.
"-- Thưa Tôn giả Ananda, con không sợ hãi. Sao con có thể sợ hãi? Con đã thành tựu lòng tịnh tín đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... thưa Tôn giả, phàm có những học giới hòa kính (sàmici) tại gia do Thế Tôn thuyết giảng, con thấy không có tự mình vi phạm một giới nào.
-- Lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ! Khéo lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ ! Gia chủ đã tuyên bố về Dự lưu quả rồi". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Ông Cấp-cô-độc không còn sợ vì đã thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Thế Tôn, thành tựu lòng tin không dao động đối với sự chứng ngộ giáo pháp của Đức Phật, thành tựu lòng tin không dao động đối với chúng Tăng, ông không vi phạm một giới nào của người cư sĩ và ông được ngài Ananda tán thán thật là tốt lành, phước báo, ông được lợi ích to lớn, tự mình tuyên bố về Thánh quả Dự Lưu. Đó là một vị cư sĩ đang bệnh nặng gần chết nhưng tự mình tuyên bố dõng dạc, oai hùng tại sao lại phải sợ hãi khi thành tựu lòng tin vào tam bảo, hoàn toàn không phạm bất cứ một giới nào và tự mình tuyên bố tham dự vào dòng chảy trí huệ của bậc Thánh./.
LÀM AN TÂM NGƯỜI BỆNH 2
BẰNG BỐN DỰ LƯU PHẦN
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư Tăng Ni và toàn thể quý Phật tử. Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe chủ đề "làm an tâm người bệnh".
Trong bài kinh này ông Cấp-cô-độc bệnh nên nhờ người đến thỉnh ngài Anan đến và ngài Anan đi một mình, không có ngài Xá-lợi-phất đi cùng. Chúng ta thấy rằng trên đời này cái gì cũng có nhân có quả, bình thường ông Cấp-cô-độc lo lắng phụng sự, cúng dường cho chúng Tăng, đến nay ông bị bệnh nặng với lòng tha thiết, chân thành cung thỉnh mong muốn được gặp thì các ngài đến, khi đọc mỗi lời kinh đều phải chiêm nghiệm mới thấy rằng tất cả đều có nhân có duyên, có nhân có quả, không phải tự nhiên mà diễn ra. Bình thường ông Cấp-cô-độc thường tới lui cúng dường, hộ pháp cho Đức Phật và chúng Tăng bằng tất cả tấm lòng cung kính, nói vậy không có nghĩa rằng những người không cúng dường thì Phật và chúng Tăng không độ nhưng việc gì cũng có nhân quả cả, trong Phật giáo dùng từ "cận sự nam" và "cận sự nữ". Cận là thân cận, sự là phụng sự, người nam và người nữ thân cận, phụng sự tam bảo, đó là một danh từ khác dùng cho người nam hoặc người nữ đã quy y tam bảo thường tới lui đạo tràng, chùa chiền để chăm lo, hỗ trợ, còn gọi là ngoại hộ thiện tri thức, tức là những vị này hỗ trợ bên ngoài cho chúng Tăng tu học. Vì thế khi ông Cấp-cô-độc bệnh, ông cho người đi cầu thỉnh thì có khi ngài Xá-lợi-phất đến thăm, có khi ngài Anan đến thăm, có hôm Đức Thế Tôn đến, phước báo của ông Cấp-cô-độc không uổng phí khi cả một đời của ông đã tín thành bằng một lòng tin tuyệt đối đối với Đức Thế Tôn, bằng một sự chân thành cung kính. Ông Cấp-cô-độc có nhân duyên với Phật rất đặc biệt, khi ông đến nhà bạn chơi, tại đó chỉ mới vừa nghe danh từ "Đức Phật" thôi là trong lòng ông đã phát khởi lên sự tôn kính, khát ngưỡng. Hôm sau nhà bạn ông thỉnh Đức Phật cúng trai Tăng nhưng ông không chờ đến khi đó mà tối đó ba lần ông thức dậy mong trời sáng nhanh để yết kiến Đức Phật, trời chưa sáng ông đã đi, khi ông đến gần đến thì Đức Thế Tôn đã gọi tên ông. Trong bài kinh Ác Giới, hay Anàthapindika này nói về hộ niệm, trợ niệm, có nhiều Phật tử nói không biết cách hộ niệm, trợ niệm, nhất là trong thời kì dịch bệnh này có những lúc đau buồn, đau khổ nên mong quý thầy có bài pháp giúp cho các vị an tâm, và chính là bài kinh này, các vị cần đọc kinh, nghe giảng giải, thực hành và cần nhớ bài nào phù hợp thì nghe nhiều lần để thực tập, đây là những bài kinh thành quả cuối đời của lòng chân thành, cung kính của cư sĩ Cấp-cô-độc, đọc những bài kinh này phải thấy được hoa trái của lòng tin, hoa trái của sự cung kính, chân thành, hoa trái của sự bố thí, cúng dường bằng tất cả tinh thần của người cư sĩ, gọi là cận sự nam, còn bên nữ có vị Visakha và nhiều người khác, các Phật tử nên tìm đọc những tấm gương của các vị cư sĩ hộ pháp thời Đức Phật tuyệt diệu đến thế nào. Đây là thành quả, là hoa quả, hoa trái mà cuối đời ông Cấp-cô-độc nhận được từ Đức Thế Tôn, từ bậc tướng quân chánh pháp là ngài Xá-lợi-phất và từ vị thị giả tối thượng của Đức Như Lai là ngài Ananda đến thăm bệnh. Ông Cấp-cô-độc bệnh đi không nổi nên đã nhờ một người đến đảnh lễ dưới chân ngài Anan rồi thưa chuyện, khi ngài Anan đến ngồi vào chỗ ngồi soạn sẵn thì ngài Anan mới bắt đầu khai thị, nhắc nhở.
"-- Này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu bốn pháp nên run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Tại sao kẻ phàm phu không tu học chánh pháp lại bị run sợ, hoảng hốt đối với cái chết? Tại sao họ lại sợ hãi đời sau không biết đi về đâu? Vì có bốn điều.
"Thế nào là bốn?
Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Phật. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Phật, vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Con người sống trên đời phải có chỗ dựa, chúng ta ngồi có ghế dựa, chúng ta ở có căn nhà, ngủ thì có gường, đây là vật chất còn nói về người thì có ông bà, cha mẹ, anh chị em hoặc vợ chồng, nhưng hai chỗ dựa vật chất và con người này chưa đủ vì đời sống chúng ta không chỉ có vật chất và con người mà còn phải có chỗ dựa tinh thần, đây là nhu cầu tất yếu của tâm linh. Có những cảnh tượng như đang động đất mà người ta đang làm lễ cầu nguyện là người ta cứ cầu nguyện, khi có niềm tin là người ta có chỗ dựa tinh thần, báo chí đưa tin bên ngoài đang nổ súng còn bên trong đang cầu nguyện là cứ cầu nguyện, thậm chí dịch bệnh nhưng không sợ vẫn đi cầu nguyện, cho nên chỗ dựa của tâm linh rất quan trọng, đó là một nhu cầu thiết yếu của đời sống, nếu không có thì tinh thần không có chỗ dựa, bị bấp bênh, có chuyện gì là sụp đổ lập tức, còn người có chỗ dựa tinh thần thì người ta có sự an tâm. Nhưng chỗ dựa đó là chỗ dựa gì, có chánh đáng hay không, chỗ dựa đó có phải là chỗ dựa thật sự đem lại bình an cho mình không.
"Ai quy y Ðức Phật,
Chánh pháp và chư Tăng,
Ai dùng chánh tri kiến,
Thấy được bốn Thánh đế"
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 190)
"Thấy khổ và khổ tập,
Thấy sự khổ vượt qua,
Thấy đường Thánh tám ngành,
Ðưa đến khổ não tận"
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 191)
"Thật quy y an ổn,
Thật quy y tối thượng,
Có quy y như vậy,
Mới thoát mọi khổ đau"
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 192)
Vì thế đối với người sắp chết thì chỗ dựa tinh thần rất quan trọng, nhất là khi đối đầu với nguy hiểm, ví dụ trong thời điểm dịch bệnh này người biết tu sẽ nhìn nhận sự việc khác với người không biết tu, một người tin Phật sẽ rất khác với người không tin Phật cho nên một người không có lòng tin với tôn giáo hoặc có lòng tin không đủ với một người thành tựu lòng tin chân chánh rất khác nhau. Vì thế ngài Anan nói kẻ phàm phu không biết tu chánh pháp thì tâm họ không có lòng tin với Phật, những khi nguy hiểm xảy ra hoặc khi đối diện cái chết họ sẽ hoảng hốt, sợ hãi với cái chết đó trong đời này và cả trong đời sau. Chính chỗ này mà hôm trước chúng ta làm lễ tưởng niệm ân đức cố đại lão Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu đã đọc bài kinh nói về ba bậc mà chúng ta không thể đền đáp hết ân đức.
"- Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, làm nhiều lợi ích cho người khác. Thế nào là ba?
Do người nào, này các Tỳ-kheo, có người được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, do người nào, người khác rõ biết: 'Ðây là khổ', rõ biết: 'Ðây là khổ tập', rõ biết: 'Ðây là khổ diệt', rõ biết: 'Ðây là con đường đưa đến khổ diệt', người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, do người nào, người khác đoạn trừ các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, làm lợi ích nhiều cho người khác. Ta nói rằng không có một người nào khác làm lợi ích nhiều hơn cho người bằng ba hạng người này. Ta nói rằng người này không thể khéo trả ơn cho ba hạng người kia, như đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, hành động thân thiện, bố thí các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh..." (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, Nhiều Lợi Ích)
Thứ nhất từ người nào mà nhờ người đó giúp mình biết nương tựa Phật, Pháp, Tăng, đối với hạng người đó không thể lấy bất cứ cái gì để đền đáp được, từ người nào mà nhờ người đó mình có chỗ dựa tối thượng là Đức Phật, chánh pháp và chúng Tăng. Ở đây đang nói đến quy y theo kinh Nikāya chứ không phải vào làm lễ quy y rồi có tờ giấy chứng nhận là cả chục năm sau cũng không đến chùa nữa, mà phải thật sự thành tựu một tấm lòng tịnh tín, tha thiết, chân thành, thành tín đối với Đức Phật, đối với sự chứng ngộ của Đức Phật và đối với những người tu chân chánh theo những lời dạy đó. Người nào giúp cho mình thành tựu ba pháp quy y này, ba pháp nương tựa này thì mình không bao giờ đền đáp đủ công ơn dù suốt đời có dâng hoa quả, cúng dường. Hạng người thứ hai là từ người nào giúp cho mình thấy được Khổ Thánh Đế.
"Mẹ cha cho con xác thân này rồi một ngày kia vô thường tan hoại. Thầy cho con đôi mắt trí tuệ một khi mở ra đường luân hồi con vĩnh viễn thoát xa". (Bao la tình thầy – Thích Pháp Như)
Con mắt trí tuệ đó là con mắt thấy được Khổ Thánh Đế, thấy được năm uẩn, thấy được lậu hoặc, đó là ân nhân vĩ đại thứ hai, dù cho có đem hết tấm lòng cung kính, cúng dường, đảnh lễ, tôn trọng cũng không báo đáp được hết ân đức của người này, đó là người khai đạo nhãn, mở con mắt tuệ cho mình. Hạng người thứ ba là người nào giúp cho mình tẩy sạch hết tham, sân, si, vô minh và bản ngã, đó là ân nhân vĩ đại thứ ba, không có gì có thể đền ơn. Đức Phật đã nói chỉ riêng đối với cha mẹ có cõng hai người hai bên vai suốt trăm năm dù có đại tiểu tiện cũng không trả được hết công ơn của đấng sinh thành thì huống chi bậc mở đạo nhãn cho mình để thấy được bốn Thánh trí, thấy được ngũ uẩn.
"Có hai hạng người, này các Tỳ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỳ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha.
Hơn nữa, này các Tỳ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này". (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, Ðất)
Đối với một người thành tựu chánh kiến sẽ không bao giờ bất kính đối với bậc đạo sư, điều đó không thể xảy ra, niềm tôn kính bậc đạo sư là tuyệt đối không dao động, người nào còn dao động thì người đó chưa thành tựu chánh kiến. Từ người nào được quy y tam bảo đúng theo tinh thần chánh pháp của Đức Phật, từ người nào giúp mình thấy chánh kiến, thấy được sự thật khổ và con đường diệt khổ, từ người nào giúp mình tẩy sạch tất cả lậu hoặc, cấu uế, tham, sân, si, bản ngã thì đó là ba ân nhân vĩ đại, không có gì có thể báo đáp được. Chúng ta cần đọc tụng bài kinh Nhiều lợi ích này thường xuyên vì bản ngã của chúng ta rất ghê gớm, đụng chuyện sẽ bất kính với ngay cả đạo sư của mình, nếu không có sự tác ý, quán chiếu, thường xuyên tu tập thì bản ngã sẽ hủy hoại sự nghiệp tu hành, với cái trí phàm phu nhìn đâu cũng sai nên đừng tin vào cái thấy biết và cảm giác của mình dù cho chính mắt nhìn thấy, phải đặt hết tâm trí vào pháp. Khi một người bệnh khổ gần chết mà họ thấy rằng mình không tin Phật thì họ sẽ hoảng sợ vì không có chỗ dựa tinh thần, hiện tại thì đau đớn, khó chịu với cái bệnh, tương lai thì mù mịt không biết đi về đâu, lúc chết thì tài sản không đem theo được, những người thân thiết yêu thương cũng không có ai đi chung con đường với mình nên cô đơn, bơ vơ và cuối cùng là thân xác mà mình tô bồi, o bế, nâng niu này sắp sửa rã tan, ba cái đó đều mất hết thì làm sao không sợ, ngoài ra còn ác nghiệp chồng chất vậy mà không có chỗ nào nương tựa thì làm sao không sợ được, vì thế trong kinh ghi kẻ vô văn phàm phu không thành tựu lòng tin, khi tự thấy lòng không tin của mình với Phật thì hoảng sợ, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Chúng ta thường đọc tụng và lễ lạy trí đức Như Lai là nhằm nhớ lại ân đức, công đức của Phật, nhớ về trí tuệ, lòng từ bi của ngài để làm tăng trưởng cảm thọ tịnh tín, không phải mình lễ trí đức Như Lai rồi ngài ban phước cho mình mà đọc để tưới tẩm, tăng trưởng những sự tác ý, cảm xúc, những sự thấy biết về đức độ, đạo hạnh, từ bi và trí tuệ của Như Lai để tăng trưởng lòng tin trong sáng không dao động đối với Đức Phật, vì thế lễ lạy trí đức Như Lai rất quan trọng, không phải đọc cho xong mà phải đọc tụng cho đến khi nào thành tựu tịnh tín bất động, phải vừa đọc vừa quán chiếu, chiêm nghiệm, đọc một câu rồi lạy xuống một lạy để cảm thọ ngấm vào thân tâm, tăng trưởng thêm lòng tin vì lòng tin của mình chưa đủ mạnh, nếu lòng tin đầy đủ là đã Nhập Lưu. Danh xưng "Thế Tôn" có nghĩa là người được thế gian tôn kính.
"Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc đáng được tôn kính
Ngài được trời tôn kính
Ngài được đời tôn vinh
Được thế giới tôn thờ
Được lịch sử tôn trọng
Được thế gian tôn quý.
Vì vậy, Ngài được gọi
Danh xưng 'Đức Thế Tôn',
Bậc Thế Gian Tôn Kính.
Con thật kính phục Ngài,
Con thật kính ngưỡng Ngài,
Con xin quy phục Ngài,
Con xin đảnh lễ Ngài".
(Nghi thức tu học Nikāya – Đảnh lễ trí đức Như Lai)
Khi đọc một câu là lạy xuống một câu thì lập tức cái lo lắng, sợ hãi trong dịch bệnh sẽ tan biến, cảm thọ đau bệnh cũng sẽ tan biến. Những vị bị nhiễm bệnh cứ mở bài đảnh lễ trí đức Như Lai lên đọc theo và lạy từng câu, lạy tới đâu là cảm thọ ngấm vào thân tâm tới đó, bệng nặng thành nhẹ, nhẹ sẽ mau hết, nếu không vượt qua được thọ mạng đã hết nhưng nhớ những câu niệm này thì mình vẫn sanh lên nhân gian thiên thương, không đọa vào ba đường ác, trong những giây phút cuối cùng cận tử nghiệp mà nhớ được những đạo lý, nghĩa lý trong đây thì chắc chắn sẽ sanh nhân gian thiên thượng.
"Thế Tôn nói như sau:
-- Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, một cuộc chiến dữ dội khởi lên giữa chư Thiên và các Asùra.
Rồi này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
' -- Này thân hữu, khi các Ông lâm chiến, nếu sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên; lúc ấy, các Ông hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của ta. Khi các Ông nhìn lên đầu ngọn cờ của ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược sẽ tiêu diệt.
Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của ta, thời hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt.
Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên cũng sẽ tiêu diệt.
Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt'
Này các Tỳ-kheo, khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên chủ Sakka, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược được khởi lên, có thể sẽ biến diệt và sẽ không biến diệt.
Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì Thiên chủ Sakka chưa đoạn diệt tham, chưa đoạn diệt sân, chưa đoạn diệt si, còn nhát gan, hoảng hốt, hoảng sợ, hoảng chạy.
Và này các Tỳ-kheo, Ta nói như sau: Này các Tỳ-kheo, khi các Ông đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta: 'Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn'.
Này các Tỳ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.
Nếu các Ông không niệm nhớ đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp: Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu'
Này các Tỳ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Pháp, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
Nếu các Ông không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng: 'Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời'
Này các Tỳ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến chúng Tăng, thời sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
Vì sao? Này các Tỳ-kheo, Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, không nhát gan, không hoảng hốt, không hoảng sợ, không hoảng chạy". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, III. Dhajaggam: Ðầu Lá Cờ)
Thiên chủ Sakka ra đánh trận nhưng nói rằng người nào mang tâm lý sợ sệt thì hãy nhìn vào ngọn cờ của các phạm thiên nhưng nhìn vào đó có người hết sợ có người vẫn không hết sợ vì cho dù có là phạm thiên, là vua trời nhưng vẫn còn tham, sân, si, còn hoảng hốt, sợ hãi, tuy nhiên Đức Thế Tôn là bậc diệt tận tham, sân, si, có công đức viên mãn, cứu cánh giác ngộ cho nên khi nhớ về ngài, niệm về ngài thì thân tâm có chỗ dựa tối thượng, vững chắc, kiên cố nên được bình an. Chỗ dựa đó bằng kim cương bất động thì làm gì có sự sợ hãi ở đây, ngồi ghế bấp bênh mới sợ, còn ngồi bằng ghế kim cương bất động, đầy đủ công đức trí tuệ, từ bi nên rất bình an, đó là lý do những người niệm Phật không có sợ hãi, người nào còn sợ thì người đó chưa thành tựu lòng tin trọn vẹn cho nên cần tưới tẩm thêm lòng tin, khắc phục bằng cách đọc trí đức Như Lai rồi lễ lạy hoặc đọc những bài kinh trong Nikāya nói về công đức của Phật, đó là chỗ dựa tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất, không còn chỗ dựa vào cao hơn được nữa vì Đức Thế Tôn là bậc tối thượng trong nhân thiên ba cõi thì làm gì còn ai cao hơn ngài nữa. Ví dụ mình có mối thân quen với nhà vua, ngày nào cũng nói chuyện đàm đạo với nhau thì chắc chắn trong tâm sẽ có chỗ dựa vững chắc là nhà vua, như vậy những người muốn hại mình cũng khó làm được, chỉ trừ nhân quả nghiệp báo thì phải trả, còn những cái khác rất khó vì tâm mình an trú trong biển trí tuệ công đức của Như Lai thì lòng mình sẽ an tịnh, an lạc, bình an. Trong thời điểm này các Phật tử trong đạo tràng Nikāya phải đầu tư thật nhiều vào bốn Dự Lưu phần này, nghe thật kĩ, tụng cho nhiều để bớt lo lắng, bất an, có chết cũng an trú trong thiện pháp, Thánh pháp, trong hồng danh vĩ đại của Đức Phật. Còn những người nào sợ hãi vì họ thấy tâm họ không tin một điều gì cả, không tin Phật, không tin Pháp, không tin Tăng, không tin ngũ uẩn mà thấy có một cái tôi rành rõ, có một cái ta to tướng nên hiển nhiên họ sẽ sợ hãi, bất an, còn bây giờ tin ngũ uẩn, không có ta, không có cái của ta, tin bản chất của tứ đại này là ung nhọt, bất an, là tật bệnh, mũi tên, là nhiều khổ đau, nhiều ưu não, những gì Phật nói đều hiện hành, có sự thực chứng thì lúc đó tâm lại càng tịnh tín cho nên những lúc thiên tai, thảm họa, dịch bệnh thì lòng tin pháp càng rực sáng hơn nữa, chỉ khi nào không tin pháp mới sợ hãi. Đức Phật nói về vô thường thì bây giờ vô thường đang diễn ra, Đức Phật nói về khổ thì khổ đang diễn ra tràn ngập, Đức Phật nói tất cả pháp biến đổi tan hoại thì nó đang diễn ra trước mắt mình, những gì mình thấy đang minh chứng cho lời Phật nói, nếu mình thật sự là một người luôn tưới tẩm, thực hành pháp quy y bốn Dự Lưu phần này thì đây là lúc mình tỏ sáng lòng tin đối với pháp chứ tại sao lại lo sợ?
"Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Pháp. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Pháp; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Họ không tin vào ngũ uẩn, không tin vô thường, khổ, vô ngã, không tin không có tôi, không có của tôi cho nên khi thấy lòng không tin với pháp thì người đó hốt hoảng, lo sợ với cái chết, về đời sau. Một khi đã thấy đây là pháp Đức Thế Tôn chứng ngộ, đây là pháp ngài đã trình bày, đây là pháp mình tu học, đây là pháp mình ngồi hằng giờ trên Bồ-đoàn để quán chiếu, đây là pháp hằng ngày mình được học, được tu và đến giờ đang diễn ra thực trạng, thực tướng của thế gian thì lòng tin mình càng kiên trú, càng vững chắc, càng chói sáng và bừng sáng. Vì thế làm gì có cái sợ ở đây, biết tu là không có sợ hãi vì có chỗ dựa vững chắc, tối thượng là Thánh pháp. Khi kẻ vô văn phàm phu nhìn thấy lòng bất tín, không tin tưởng của họ với pháp thì chẳng những sợ ngay trong hiện tại mà còn sợ sau khi nhắm mắt đi về đâu, ngược lại có tu học là không có gì phải sợ hãi, càng thành tựu lòng tin bất động đối với pháp, đây là lúc chánh pháp được chói sáng, tỏ sáng, chiếu sáng trong tâm mình vì pháp do Đức Thế Tôn nói quá đúng, là sự thật đang diễn ra ngay trước mắt.
"Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với chúng Tăng. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với chúng Tăng; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Nhìn lại thấy mình không tin tưởng những bậc có đạo hạnh tu hành, mình xem thường, không tôn kính, không tin tưởng thì khi bệnh, khi sắp chết sẽ hốt hoảng. Còn giờ mình kính những bậc đáng kính, tôn trọng những bậc đáng tôn trọng, đảnh lễ những bậc đáng đảnh lễ, cúng dường những bậc đáng cúng dường thì tâm mình hạnh phúc, bình an, nghĩ lại thấy mình rất sáng suốt, chọn đúng bạn đạo, đúng đường, đúng chánh pháp nên mình hoan hỉ dù cái chết đang đến, đời sau mình đi vào những cảnh giới tốt lành vì mình có chỗ dựa tối thượng là Phật, pháp, Tăng đầy sự thù thắng.
"Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu ác giới. Khi vị ấy tự thấy sự thành tựu ác giới của mình; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Do thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Kẻ phàm phu không biết tu, không thọ giới, không giữ giới, không tu tập giới, không có tâm hướng thượng, phát triển về đức hạnh trong đời sống sa đọa, thấp hèn, hạ liệt thì người này sẽ run sợ, hoảng hốt về cái chết, về đời sau. Cần nhớ một điều khi gần chết, cận tử nghiệp sẽ tự động nhìn lại hết cả quãng đời của mình. Khi còn trẻ, còn khỏe mạnh thì chạy trốn, cứ hướng ngoại, bận này làm làm nọ nhưng đến khi bệnh tật xảy ra, nằm trên gường bệnh mới đối diện với thân tâm, những thọ; tưởng; hành của quá khứ sẽ hiện về giống như bộ phim chiếu chậm, sống đến 70 tuổi là bộ phim dài 70 tập, sống 50 tuổi là bộ phim dài 50 tập, bộ phim đó sẽ chiếu lại hết tất cả những gì mình đã làm trong quá khứ, những lúc mình hèn hạ, xấu xa, tội lỗi, không có giới hạnh, không cố gắng tăng thượng đạo hạnh như thế nào, cho nên người này sẽ lo lắng, run sợ với cái chết đang cận kề hoặc hoang mang không biết đời sau sẽ đi về đâu.
"Do thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không có sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thế nào là bốn? Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật: 'Ðây là là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn'. Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Phật, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Trong đoạn kinh này dùng chữ "không" tức là phủ nhận tất cả những gì có ở đoạn kinh trước đó mình vừa học, nghĩa là ở trên lo lắng, sợ hãi, hoảng hốt, bất an thì ở đây tâm được bình an, nhẹ nhàng, an lạc. Trú trong pháp lúc bệnh sẽ không thấy sợ hãi, bệnh tình thuyên giảm, nhẹ bớt, thậm chí thân bệnh nhưng tâm vẫn an lạc, đó là Phật pháp thiết thực, hiện tại, mình được thực nghiệm, thực chứng ngay trước mắt, còn lúc nào thấy sợ sệt là lúc đó không an trú vào lòng tin Phật, lòng tin pháp, lòng tin Tăng, lòng tin giới, còn khi đã an trú mà vẫn sợ là do bốn lòng tin đó chưa đủ mạnh thì phải có ý thức tăng trưởng, phát triển thêm, cứ an trú vào Đức Phật, đảnh lễ Đức Phật, đọc lên bài trí đức của Như Lai và tác ý lạy từng câu thì cái sợ hãi sẽ tan biến, trở lại cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, mát mẻ, ngọt ngào, thanh lương. Bậc Đa văn Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này không còn gì để sợ ngay cả cái chết, vì ngày nào cũng niệm chết, ngày nào cũng học sanh, lão, bệnh, tử, hoại không, biến hoại, tan biến, ngày nào cũng quán chín giai đoạn tử thi nên bây giờ cái chết đến là đúng như những gì đã học thì đâu còn gì để sợ nữa cho nên tâm vị đó an tịnh. Trong giai đoạn này tu càng thâm sâu hơn nữa, trí tuệ càng rực sáng hơn bình thường vì bình thường không thấy khổ nhiều, bây giờ thấy Khổ Thánh Đế, bình thường không thấy nhàm chán nhưng giờ thấy rất nhàm chán, bình thường không muốn hướng tâm đến từ bỏ nhưng giờ hướng tâm đến từ bỏ nhiều hơn, bình thường khi học sự thật này có khi mờ khi tỏ nhưng giờ thấy sự thật sáng rực, nhìn đâu cũng thấy khổ sầu, lo lắng, bất an.
"Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: 'Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... chỉ người có trí tự mình giác hiểu". Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Pháp, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Pháp do Thế Tôn thuyết vô cùng khéo léo, thiện xảo, không có người thuyết pháp thứ hai có thể khéo bằng, không một ai ngang hàng, ngang tầm có thể nói pháp được như Thế Tôn, những bài kinh được lưu truyền gần ba ngàn năm có biết bao người học mà không một ai thuyết pháp được như Thế Tôn, cho nên những gì Thế Tôn nói là thiện thuyết, khéo thuyết, tối thượng thuyết, có nghĩa có văn, cứu cánh cùng cực của sự thật, chân lý trong tam giới.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha.
Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:
-- Kapilavatthu này, bạch Thế Tôn, là phồn vinh, phú cường, dân cư đông đúc, quần chúng khắp nơi chen chúc, chật hẹp. Bạch Thế Tôn, sau khi con hầu hạ Thế Tôn hay các Tỳ-kheo đáng kính, vào buổi chiều, con đi vào Kapilavatthu, con gặp con voi cuồng chạy; con gặp con ngựa cuồng chạy; con gặp người cuồng chạy; con gặp cỗ xe lớn cuồng chạy; con gặp cỗ xe nhỏ cuồng chạy. Trong khi ấy, bạch Thế Tôn, tâm con nghĩ đến Phật bị hoang mang, tâm con nghĩ đến Pháp bị hoang mang, tâm con nghĩ đến chúng Tăng bị hoang mang. Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Nếu lúc ấy con mệnh chung, thời sanh thú của con là gì, sanh xứ đời sau chỗ nào?'
-- Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông! Do thành tựu bốn pháp, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Thế nào là bốn?
Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: 'Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn..'.... đối với Pháp... đối với Tăng... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
Ví như, này Mahànàma, một cây thiên về phía Ðông, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nếu bị chặt đứt từ gốc rễ, nó sẽ ngả về phía nào?
-- Bạch Thế Tôn, về phía nào nó thiên, về phía nào nó hướng, về phía nào nó xuôi.
-- Cũng vậy, này Mahànàma, do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, II. Mahànàma (2))
Ngài Mahanama nói với Thế Tôn rằng ngài đi tới đi lui phụng sự tam bảo nhưng lỡ một ngày nào đó bị bò húc chết hoặc đi xe tông chết hoặc có người giết chết thì lúc đó sẽ hoảng loạn nên sanh thú của ngài sẽ ra sao. Thế Tôn trả lời rất ngắn gọn, lúc bình thường một cái cây nghiêng về phía đông, xuôi về phương đông thì mai đây có ngã đổ cũng phải ngã về hướng đông, cho nên đừng sợ gì cả, chỉ sợ rằng lúc còn sống nghiêng về phía khác, tức là nghiêng về ác và bất thiện pháp thì khi chết đi cũng sẽ nghiêng theo hướng đó, còn nếu nghiêng về Phật, pháp, Tăng, về giới thì khi ngã xuống phải sẽ nghiêng về chiều thiện đó. Chỉ với một ví dụ nhỏ thôi mà Đức Phật đã làm an tâm người đang lo lắng, sợ hãi, chúng ta phải cố gắng học kinh để nhớ lời kinh, trú vào pháp chứ đừng nhớ những lời thị phi phàm tình.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, có một hồ nước bề dài năm mươi do tuần, bề rộng năm mươi do tuần, bề sâu năm mươi do tuần, đầy nước tràn trên bờ để con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ nước ấy, có người lấy lên một ít nước trên đầu ngọn cỏ kusa.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít nước lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa, hay là nước trong hồ nước?
-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong hồ nước. Còn ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa. Chúng không có thể ước tính, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở hồ nước với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn. Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: 'Ðây là Khổ'.. đã rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiện Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), VI. Phẩm chứng đạt, II. Ao Hồ)
Đức Thế Tôn hỏi nước trên đầu ngọn cỏ nhiều hay nước trong hồ nước lớn là nhiều thì các vị Tỳ-kheo đáp lại nước trong hồ nhiều hơn nước trên đầu ngọn cỏ. Thế Tôn nói tiếp, với người đã thành tựu chánh kiến thì cái khổ được diệt trừ nhiều như nước trong hồ nước lớn, cái khổ còn lại ít như nước trên đầu ngọn cỏ. Đây thật sự là tối thượng thuyết, không ai có thể nói pháp được như vậy ngoài Thế Tôn, không những về văn, về ngữ, về lời mà còn về nghĩa đều viên mãn, nhưng về sự thật chứng ngộ của ngài mới là điều tối thượng. Từ Bồ-đề đạo tràng khi ngài thành Chánh Giác cho đến Tala song thọ khi nhập Niết-bàn thì tất cả những gì ngài tuyên bố đều đúng như vậy, không có sự sai khác, cái đó gọi là khéo thuyết.
"Này Cunda, trong thời gian giữa đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác và đêm Như Lai nhập Vô dư y Niết-bàn giới, trong thời gian ấy, những gì Như Lai nói trong khi thuyết giảng, nói chuyện hay trình bày, tất cả là như vậy, chớ không gì khác. Do vậy mới gọi là Như Lai.
-Này Cunda, ở đây vị đạo sư xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên bố và được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết". (Trường Bộ Kinh, 29. Kinh Thanh tịnh)
Những gì Đức Thế Tôn nói là sự thật, là chân thật, đó là tối thượng thuyết, là bậc thiện thuyết bậc nhất, những gì ngài nói đều liên hệ đến mục đích, có thể dập tắt đau khổ cho chúng sanh, tẩy sạch tham, sân, si, vô minh và bản ngã, làm cho chúng sanh có cảm giác khinh an, nhẹ nhàng, mát mẻ, tuyệt vời, cảm giác ly tham, ly dục, xả bỏ, thoát ra, không có người nào thuyết pháp ngang bằng chứ đừng nói gì vượt hơn Thế Tôn, có nhân có quả ở chỗ mấy chục ngàn bài kinh sau 2600 năm vẫn được học thuộc lòng.
"Thế Tôn nói như sau:
- Đầy đủ bốn đức tánh, này các Tỳ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo :
Nói lời thiện thuyết, không nói lời ác thuyết,
Nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp,
Nói lời ái ngữ, không nói lời ác ngữ,
Nói lời chơn ngữ, không nói lời phi chơn.
Đầy đủ bốn đức tính này, này các Tỳ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích.
Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ, Đạo Sư lại nói thêm:
Bậc Thiện Nhơn dạy rằng:
Thứ nhất là thiện thuyết,
Thứ hai nói đúng pháp,
Chớ nói lời phi pháp,
Thứ ba nói ái ngữ,
Chớ nói lời ác ngữ,
Thứ tư, nói chơn thực,
Chớ nói lời phi chơn.
Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
- Thế Tôn, hãy soi sáng cho con! Thiện Thệ, hãy soi sáng cho con!
Thế Tôn nói:
- Này Vangìsa, mong rằng Ông được soi sáng.
Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán thích đáng:
Ai nói lên lời gì,
Lời ấy không khổ mình,
Lại không làm hại người,
Lời ấy là thiện thuyết.
Ai nói lời ái ngữ,
Lời nói khiến hoan hỉ,
Lời nói không ác độc,
Lời ấy là ái ngữ.
Các lời nói chơn thật,
Là lời nói bất tử,
Như vậy là thường pháp,
Từ thuở thật ngàn xưa.
Bậc Thiện Nhân được xem,
An trú trên chơn thực,
Trên nghĩa và trên pháp,
Lời đồn là như vậy.
Lời đức Phật nói lên,
Đạt an ổn Niết-bàn,
Chấm dứt mọi khổ đau,
Thật lời nói tối thượng". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, V. Khéo Nói)
Thế Tôn khéo thuyết về tứ đại, khéo thuyết về thập nhị xứ, về thập bát giới, Thế Tôn khéo thuyết về ngũ uẩn, về Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, ngũ căn, ngũ lực, thất Bồ-đề Phần, về Bát Thánh Đạo,… Tất cả những cái đó là khéo thuyết, là tối thượng thuyết. Đức Phật đã nói trong kinh rằng pháp do ngài chứng ngộ, khéo thuyết nên các Tỳ-kheo phải lưu giữ, truyền bá, lưu bố rộng rãi.
"- Này các Tỳ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người ? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần.
Này các Tỳ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng của đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người". (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Chúng ta chỉ cần ngồi tụng và quán chiếu từng lời kinh cũng cảm thấy hạnh phúc dạt dào, hoan hỉ với Thánh pháp cho nên chỉ cần trú vào pháp là những cảm giác lo lắng, bất an, sợ hãi đều bị dập tắt, phải biết nếm hương vị của pháp, hương vị của giải thoát, hương vị của mục đích, đừng tụng cho xong, đừng đọc cho có, phải làm cái lưỡi trong tô canh chứ đừng làm cái muỗng trong tô canh vì cái muỗng thì làm sao biết được hương vị của tô canh, phải là cái lưỡi mới nếm được hương vị của canh. Vì vậy đọc kinh mà đọc lướt qua thì chẳng có gì cả nhưng khi nếm được hương vị của pháp mới thấy từng lời, từng câu trong kinh rất vi diệu. Một vị Bà-la-môn đến nói rằng pháp do Thế Tôn thuyết rất thiết thực ngay trong hiện tại, thì như thế nào gọi là thiết thực, hiện tại. Đức Phật hỏi lại nội tâm ông có tham thì ông có biết không, vị ngoại đạo nói biết, Thế Tôn hỏi tham lam làm ông đau khổ ông có biết không, vị ngoại đạo nói biết. Thế Tôn nói tiếp nội tâm ông có sân thì ông có biết không, vị ngoại đạo trả lời là biết có sân, Thế Tôn nói cái sân này làm khổ mình, khổ người, khổ cả hai phải không thì vị đó nói đúng như vậy, Thế Tôn lại hỏi nếu nội tâm không có tham, sân, si, bản ngã, không làm khổ mình, khổ người mà làm an vui mọi người thì ông có biết không, vị ngoại đạo nói đúng là vậy. Cuối cùng ngài nói như vậy gọi là thiết thực, hiện tại.
"Pháp là thiết thực hiện tại, pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu?
- Vậy này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời; Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham ái'? Hay nội tâm không có tham ái. Ông có biết: "Nội tâm ta không có tham ái"?
- Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham ái'. Hay nội tâm không có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham ái. 'Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm ta có si'? Hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si'?
-Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si'. Hay nội tâm không có si, Ông có biết: "Nội tâm ta không có si". Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại...Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có thân uế..., hay nội tâm có khẩu uế...hay nội tâm có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta có ý uế'? Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có ý uế...'?
- Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta có ý uế'. Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có ý uế'. Như vậy này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (VI). Cho Ðời Này (2))
Nghe Phật nói xong thì vị Bà-la-môn tán thán Đức Thế Tôn, mong muốn được làm đệ tử của ngài, một là trở thành Thánh Tăng, hai là trở thành cư sĩ tham dự vào hàng bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật. Đó được gọi là khéo thuyết, thiết thực, hiện tại, không có trải qua thời gian, đến để mà thấy có hiệu quả tức thời, được người trí tự mình giác hiểu. Còn giờ nếu tâm mình thấy sợ hãi, bất an, hoảng loạn thì hãy đọc lên bài đảnh lễ trí đức Như Lai.
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc nói, nín, đứng, đi
Tâm không động theo cảnh,
Tâm không chạy theo trần.
Chánh giác rõ thế giới,
Thấy biết rõ cuộc đời.
Nói gì thì làm vậy,
Làm gì thì nói vậy,
Nói làm không sai khác,
Không mâu thuẫn trước sau.
Từ khi Ngài Chánh Giác
Đến khi Ngài Niết-bàn
Điều gì Ngài tuyên bố
Không thể có đổi thay.
Trước sau Tâm - Tuệ Ngài
Thanh tịnh và nhất như.
Vì vậy, Ngài được gọi
Danh xưng 'Đức Như Lai'
Bậc Tâm – Tuệ Viên thành,
Nhất như, không đổi khác.
Con thật kính phục Ngài,
Con thật kính ngưỡng Ngài
Con xin quy phục Ngài,
Con xin đảnh lễ Ngài.
(Nghi thức tu học Nikāya – Đảnh lễ trí đức Như Lai)
Đọc lên như vậy là tâm lập tức bình an, an ổn, ấm áp, tâm lập tức có chỗ nương dựa vững chắc tối thượng, đó là thiết thực, hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng làm cho mình hướng thượng. Khi không đọc pháp mà đọc tin tức, thời sự là tâm hướng hạ, còn khi đọc pháp, tụng pháp, niệm pháp là khi đó tâm hướng thượng. Mình đọc pháp và ghi nhớ pháp thì mình sẽ buông bỏ những thứ hạ liệt, thấp hèn, những thứ vô minh, tham ái, tham ái để hướng thượng lên cao.
"Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Ðáng được tán thán, này các Tỳ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ". (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực).
Qua đây chúng ta thấy rằng khi đã có lòng tịnh tín đối với tam bảo thì người đó sẽ không có hoảng hốt, không sợ sệt về cái chết và về đời sau. Khi đã biết được sự thật của nhân sinh thế giời này thì tâm sẽ có sự bình an, lắng dịu, dễ chịu, an trú, không lay động mà tâm hướng về quang minh, về ánh sáng trí tuệ, hướng về tâm rộng mở, đó cũng là lý do phải tu tập tứ vô lượng tâm, cho nên khi đã có chỗ dựa tối thượng thì dù có đối diện với bệnh khổ, đối diện với chết chóc vẫn thấy bình an, đó là pháp bảo, là Thánh pháp. Một người có cả gia tài, kho báu thì làm sao đi lang thang ăn xin được, cũng vậy, với người đã tin vào pháp thì tâm không còn lang thang lo lắng những việc vu vơ, có bất kì chuyện gì xảy ra cũng trú vào pháp, lấy đó làm chỗ dựa tinh thần. Đang đi ngoài đường gặp mưa bão, sấm sét, gió thổi mạnh thì tất nhiên phải tìm chỗ trú, ở ngoài biến động thì phải trú vào ngôi nhà, đó là ngôi nhà tâm linh của mình, còn để tâm lang thang bên ngoài mới bị mưa ướt, giá lạnh, khổ sầu. Người không quy y pháp, không nương tựa pháp, không thành tựu trong bốn Dự Lưu phần giống như một người đang lang thang giữa trời mưa to gió lớn, sấm chớp giật liên hồi, chịu cảnh đói lạnh, còn người nào trú trong pháp, quy y pháp, học pháp thì người đó giống như đang trú trong tòa lâu đài vĩ đại của tâm linh, có chỗ nương tựa, an trú, vững chắc trong nội tâm. Các Phật tử muốn tâm mình lang thang không nơi nương tựa hay tâm mình có chỗ trú trong tòa lâu dài? Muốn trú trong tòa lâu đài thì phải để tâm vào pháp, phải học pháp, nghe pháp, suy tư về pháp, có Phật tử tâm sự rằng khi bệnh thì mở pháp lên nghe suốt ngày, tâm an trú trong pháp nên bớt lo lắng, thấy nhẹ nhàng trở lại, đó là đang tu tập bốn Dự Lưu phần, bốn phần tin Phật, tin Tăng, tin pháp, tin giới sẽ giúp mình tham dự vào dòng luân lưu của trí tuệ, bốn pháp này đưa mình vào dòng chảy của trí huệ đó, một khi đã vào được dòng trí tuệ đó thì tự động mình sẽ hướng thượng vì pháp này có công năng đưa người về phía trước. Từ phàm phu lên Dự Lưu sẽ rất gian khổ, khó khăn nhưng một khi vào được Dự Lưu là chắc chắn không thối chuyển nữa, cho nên mình cần nỗ lực, cố gắng trong giai đoạn đầu để vào được Dự Lưu, chúng ta phải chịu khổ ban đầu để sau này không còn khổ nữa, chịu khó thời gian đầu để sau này không còn khó nữa, đừng sợ hãi gì cả. Những gì mình đang làm bây giờ, ăn chay rát ruột cạo đầu rát da, thức khuya dậy sớm, bỏ cha bỏ mẹ, bỏ gia đình, xóm làng, nghề nghiệp, bạn bè để lên núi chịu khổ, ngồi thiền đau chân…sẽ được trả cái quả rất xứng đáng. Chúng ta đừng sợ những cái này vì thành quả đem lại sẽ là Dự Lưu Thánh quả, điều tuyệt diệu phía trước đang chờ đón mình là dòng chảy của Thánh trí tuệ, chúng ta chỉ còn lo lắng khi trong thân tâm còn tham, sân, si, vô minh, bản ngã, còn những thứ bên ngoài chẳng có gì đáng lo nữa cả vì bản chất nó đã như vậy, ai rồi cũng phải chết chỉ khác nhau ở thời gian, người đi trước kẻ đi sau, không sớm thì muộn cũng gặp bệnh tật, bây giờ đừng mong cầu trèo cao vì sớm muộn mình cũng lên chỗ cao nhất là bàn thờ thôi, phải tác ý như vậy thì nghe pháp mới thấy tuyệt diệu, mới có cảm giác hạnh phúc, tuyệt diệu. Đừng sợ bệnh cũng đừng sợ chết, hãy sợ rằng khi cái chết cận kề mà vẫn chưa thành tựu pháp, chưa ngộ pháp, chưa chứng pháp, chưa đạt pháp. Những cái đáng sợ lại không biết sợ, những thứ không đáng sợ lại sợ. Đừng sợ chết, đừng sợ bệnh cũng đừng sợ già, chỉ sợ rằng ngay lúc gần chết vẫn chưa thành tựu lòng tịnh tín, vẫn chưa thấy được pháp, lúc đó chỉ lo đau bệnh, lo mất tài sản, mất chồng, mất con, mất vợ. Vì vậy khi đã thành tựu lòng tin với Phật, với pháp, với Tăng và giới thì tâm người này được bình an, an ổn, thanh lương.
"Lại nữa, này Gia chủ... lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở đời"... về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Mình tôn kính những bậc đáng kính, mình cúng dường những vị đáng cúng dường, mình tu học đạo lộ đúng theo Thánh đạo thì lúc gần chết nhìn lại tâm sẽ tự động hân hoan, vui thích. Mình chọn con đường sáng suốt, đẹp đẽ thì mình có quyền hoan hỉ, vì ngoài kia có biết bao người lầm đường lạc lối, không tìm thấy chánh pháp trong khi mình tôn thờ bậc tối tôn tối thượng, bậc thầy của trời và người chỉ cho mình đạo lộ diệt khổ rõ ràng thì phải hoan hi, vui cười, vì thế khi thành tựu lòng tin với Phật, pháp, Tăng và giới thì phải vui vẻ để tiếp tục tu tập nữa chứ không phải vui để thỏa mãn, tự mãn, nghĩa là vui để tiến tu chứ không phải vui để hài lòng, đứng lại. Năm điều kiện để đưa đến đời sống an lạc là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, ngoại tình, tà dâm, từ bỏ nói dối, nói lời hung ác, nói lời thiêu dệt, từ bỏ sử dụng những chất say sưa, nghiện ngập, mình từ bỏ những điều này vì làm vậy được bậc Thánh ái kính, chư thiên kính trọng vì người nào từ bỏ được những thứ đó thì người này phải có sự tu tập để nhiếp phục tham dục, tham ái ở đời, nếu không nhiếp phục tham ái, sân si thì không thể từ bỏ được những thứ đó. Ngoài năm giới ban đầu ra chúng ta có thêm không ngủ gường cao rộng lớn, không thoa hương phấn sáp vào người, không ăn chiều, đây là tám giới trong bát quan trai giới. Trong tám giới này thêm hai giới là giữ gìn tâm ý, không tham, không sân và không có tà kiến, tức là lìa tham, sân, tà kiến (si), ngoài ra còn giới của Sa-di và giới của Tỳ-kheo. Đối với những giới này phải luôn hướng đến sự tăng thượng phát triển thêm chứ không để cho bị bể vụn, phá hoại, ô nhiễm, dù chưa được trọn vẹn nhưng tâm phải luôn hoàn thiện các giới, cái đó gọi là tăng thượng giới học, không được hài lòng với những gì đang có mà phải luôn hướng thượng. Khi giữ được một giới nào đó thì mình sẽ thoát khỏi cái khổ trong cái đó, ví dụ nếu giữ được giới không sát sanh, không cắt cổ, mổ bụng mà mình ăn chay rau củ, quả, đậu vậy là mình được giải thoát khỏi nghiệp đó. Nếu trộm cắp sẽ có quả báo trong nghiệp trộm cắp, còn giờ mình không trộm cắp thì mình được giải thoát khỏi nghiệp quả của trộm cắp, đây gọi là biệt giải thoát giới, tức là giải thoát từng phần trong các giới, khi từ bỏ được những ác nghiệp thì mình sẽ thoát được quả báo khổ của ác nghiệp đó vậy là đưa đến giải thoát. Dính vào tà dâm, ngoại tình sẽ đau khổ, bất an cho tự thân mình, cho vợ/chồng mình, cho con cái mình, cho gia đình mình, bây giờ từ bỏ tà hạnh trong các dục đó sẽ thoát ra khỏi ác nghiệp của tà hạnh trong các dục đem lại quả báo khổ trong hiện tại và trong những đời sống về sau. Nếu giữ được giới nào thì mình thoát ra được ác nghiệp của giới đó đem lại, còn không giữ được giới sẽ bị trói cột trong quả báo ác nghiệp đem lại. Nhậu nhẹt làm say sưa, say mê điên đảo rồi về nhà đập phá đồ đạc, đánh vợ đánh con, quyết định sai kí vào là tán gia bại sản, làm tiêu tan tất cả sự nghiệp, uống rượu tưởng là chuyện đơn giản nhưng lại là nguyên nhân phạm vào những giới trước đó, uống say sưa nói qua nói lại vài câu là cự cãi hoặc đánh nhau, đâm chém, vậy là phạm vào giới sát sanh hoặc phạm vào tội tà dâm, những quán Bar mọc lên như nấm, vào đó uống rượu rồi sau đó là những chuyện xấu khác kéo theo, làm đổ vỡ hết tất cả cho nên từ bỏ rượu men, rượu nấu, từ bỏ những chất say sưa, nghiện ngập là thoát ra khỏi cái ác nghiệp của hành động đó sẽ đưa đến quả báo khổ trong hiện tại và tương lai. Đức Thế Tôn dạy phải từ bỏ tham lam, tán thán từ bỏ tham, khuyến khích từ bỏ tham chứ không được tùy thuận theo cái tham, không những mình tham còn khuyến khích người khác tham theo mình, đọc trong kinh thấy lạ vì tại sao lại khuyến khích tham nhưng ngoài đời có rất nhiều "lấy đi, không lấy thì uổng", chỉ cần không chánh niệm tỉnh giác là rơi vào bẫy ngay, từ bỏ tham lam, trộm cắp sẽ không bị quả báo khổ của hành động tham lam đưa lại, đối với sân giận, tức giận cũng vậy, tán thán việc từ bỏ sân giận, không tùy thuận theo cái sân đó, còn nếu thuận theo sân giận, khuyến khích người ta sân giận, vui với sân giận thì ác nghiệp cứ thế nhân lên, chồng chất lên nhau. Tu ngũ uẩn tuyệt vời ở chỗ cái sân vừa nhen nhóm là mình chặn lại rồi, cảm thọ sân vừa sanh khởi là mình đã diệt trừ chứ không cần đợi phát ra lời nói hay hành động, như vậy mới gọi là bậc trí, mỗi một giới như vậy giúp mình hoàn thiện nhân cách, đạo đức, giới hạnh của người tu. Khi mình tu tập được như vậy nhưng mình không chấp thủ vào việc mình đã làm, tu tập pháp vô ngã, trừ diệt cái tôi, có tàm quý hổ thẹn chứ không phải thấy mình làm được rồi cho mình giỏi, mình hay hơn người ta, còn nếu không sám hối diệt ngã mà mình làm được trong khi người ta không làm hoặc làm không được thì bản ngã tăng cao "tôi có tu người ta không tu" , "tôi giữ được giới người ta không giữ được", "tôi trong sạch còn người ta phạm giới", càng phát huy thêm bản ngã, như vậy gọi là giới bị chấp thủ, mà chấp thủ sẽ không đưa đến thiền định. Muốn thiền định thì tâm phải bình an, an tịnh, ăn cắp đồ người khác thì vào ngồi thiền làm sao tâm yên được hoặc là giết người thì làm sao yên ổn được. Tất cả những gì Đức Phật dạy là nằm chuẩn bị tư lương, hành trang cho mình bước vào dòng chảy của trí tuệ, nếu phạm giới thì tâm bất an, còn không phạm giới thì tâm yên định và quan trọng là tuy có thực hành giới nhưng tâm mình không chấp thủ vào đó, tâm không chấp thủ sẽ đưa đến thiền định, tất cả chỉ là ngũ uẩn thôi, không có ai ở đây mà so sánh hơn thua, cao thấp, mình giữ được hết giới nhưng không nhìn ngó, khinh khi người khác. Phải tu trong tinh thần vô ngã, nếu không hướng đến tinh thần vô ngã thì càng làm nhiều lại cư công càng cao, tức là cư trú vào công lao để tăng trưởng bản ngã, cái này xảy ra rất nhiều, làm nhiều rồi ta đây, học cao cũng ta đây, tu nhiều mà không khéo cũng ta đây, nếu không thực tập pháp phá trừ bản ngã là làm gì sẽ dính mắc cái đó, học được cái gì là chấp cái đó vì thế phải lạy sám hối diệt ngã thường xuyên để phá trừ bản ngã, làm gì, học cái gì cũng phải hướng đến việc nhiếp phục bản ngã, diệt tận, tẩy sạch bản ngã, như vậy mới đưa đến tâm bình an. Khi một người tự thấy mình thành tựu các giới, được các bậc Thánh thương mến thì tâm vị ấy bình an, không run sợ, đối diện các chết cũng không sợ, còn người nào không giữ giới, phạm giới khi chết sẽ sợ hãi, ác nghiệp nào cũng có mặt mình nên khi đó sẽ hoảng hốt.
"Thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, bậc Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Tâm vị ấy hoan hỉ, mát mẻ, dễ chịu với giới đã thành tựu. Phải cảm thấy vui sướng, hạnh phúc về những điều mình đã giữ gìn, khi đang đối diện nguy hiểm hay cái chết thì nhìn lại cả bốn Dự Lưu phần đều thành tựu sẽ thấy hạnh phúc. Khi còn trẻ, khỏe lại đi tạo nghiệp, châm chọc người này, cười chê người kia, bản ngã cao vút, đến khi đau bệnh thấy lại những việc đã làm rồi khổ đau, lo lắng, bất an. Còn nhìn lại thấy mình có lòng từ, bi, hỷ, xả, có lòng tin Phật, tin pháp, tin Tăng, có giữ gìn, làm việc thiện, bố thí, cúng dường thì mình hoan hỉ, cuối cùng vẫn phải quay lại nhìn những thiện nghiệp và ác nghiệp của mình, thiện nghiệp ở đây chính là bốn Dự Lưu phần, đó là lòng tin Phật, tin vào sự chứng ngộ của Đức Phật và giáo pháp, tin vào những vị tu hành chân chánh bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng, kiểm tra lại những giới mình đã hành trì và thực tập, lúc đó lòng mình sẽ bình an, nhẹ nhàng, an ổn.
"-- Thưa Tôn giả Ananda, con không sợ hãi. Sao con có thể sợ hãi? Con đã thành tựu lòng tịnh tín đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... thưa Tôn giả, phàm có những học giới hòa kính (sàmici) tại gia do Thế Tôn thuyết giảng, con thấy không có tự mình vi phạm một giới nào.
-- Lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ! Khéo lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ ! Gia chủ đã tuyên bố về Dự lưu quả rồi". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2))
Ông Cấp-cô-độc không còn sợ vì đã thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Thế Tôn, thành tựu lòng tin không dao động đối với sự chứng ngộ giáo pháp của Đức Phật, thành tựu lòng tin không dao động đối với chúng Tăng, ông không vi phạm một giới nào của người cư sĩ và ông được ngài Ananda tán thán thật là tốt lành, phước báo, ông được lợi ích to lớn, tự mình tuyên bố về Thánh quả Dự Lưu. Đó là một vị cư sĩ đang bệnh nặng gần chết nhưng tự mình tuyên bố dõng dạc, oai hùng tại sao lại phải sợ hãi khi thành tựu lòng tin vào tam bảo, hoàn toàn không phạm bất cứ một giới nào và tự mình tuyên bố tham dự vào dòng chảy trí huệ của bậc Thánh./.