Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Hãy Thừa Kế & Tiếp Nối Chánh Pháp ! 2 - Bát Chánh Đạo - Kinh Trung Bộ

2026-03-03 00:53:31
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

HÃY THỪA KẾ & TIẾP NỐI CHÁNH PHÁP! 2

BÁT CHÁNH ĐẠO (KINH THỪA TỰ PHÁP)

– Thích Minh Thành–

Kính thưa tất cả chư Tăng Ni và đại chúng, hôm nay chúng ta tiếp tục chia sẻ về lời dạy của Đức Thế Tôn trong bài kinh Thừa tự pháp. Vừa rồi chúng ta đã nghe những lời nhắn nhủ rất chân thành, tha thiết, từ ái của Đức Thế Tôn trong lời nhắn các đệ tử hãy kế thừa và tiếp nối chánh pháp, đừng kế thừa tài sản vật chất. Nếu hàng đệ tử chỉ biết thừa kế tài sản vật chất thì người ta sẽ chê cười cả thầy lẫn trò chỉ là những người thừa kế tài sản vật chất. Ngài nhấn mạnh ở chỗ "ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn", khi có hai vị Tỳ-kheo đi đường xa đến rất mệt và đói lả, đồ ăn của Thế Tôn còn nên một vị đã dùng, còn một vị không dùng. Đức Thế Tôn kết luận rằng ngài tán thán, khen ngợi vị không dùng, đó là người có giữ gìn giới đáng kính nể, đáng được khen ngợi hơn "vì như vậy sẽ đưa đến cho Tỳ-kheo ấy, trong một thời gian lâu ngày, ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn", những từ này là khẩu quyết, là chủ đề, là đề mục. Đời sống của người xuất gia là đời sống ít muốn biết đủ (thiểu dục tri túc), nếu không có đặc tính này thì không còn là người xuất gia nữa, dù cho có mang hình thức là tu sĩ, là khất sĩ nhưng không thực hành hạnh ít dục biết đủ, thành ra chất của người tu nằm ở bốn chữ ít muốn biết đủ. Ít muốn là ít muốn năm dục trưởng dưỡng, khi con mắt thấy sắc đẹp, sắc đáng yêu, sắc vừa lòng, thích ý, hấp dẫn, liên hệ đến dục nhưng mình có sự phòng hộ, hộ trì, chế ngự, nhiếp phục, không để cho tâm buông thả, phóng túng dù là người hay vật, thậm chí là cảnh vật, khi con mắt thấy sắc sẽ có thọ do nhãn xúc sanh, tức là cảm thọ ưa thích, khoan khoái sanh khởi ra từ sự tiếp xúc của con mắt đối với sắc đẹp đó cho nên phải có sự giữ gìn con mắt, phải chế ngự, phòng hộ con mắt, muốn như vậy thì chúng ta phải giữ tâm theo chiều ít muốn biết đủ đối với năm dục trưởng dưỡng, giữ tai tránh xa những tiếng du dương trầm bổng, giữ lỗ mũi khỏi những mùi thơm, hương thơm, khi tiếp xúc phải có sự nhìn lại cảm thọ. Tu tập như vậy gọi là "vô thượng căn tu tập", nghĩa là khi sáu căn tiếp xúc sáu trần mà có sự phòng hộ, chế ngự, bảo vệ, không thả lỏng, buông lung, có sự quản lý, nhiếp phục đối với tâm khỉ vượn, tâm ngựa hoang, gọi là tâm viên ý mã. Dục ở đây gồm hai phần, phần thứ nhất là năm đối tượng ở bên ngoài bao gồm sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon và những sự tiếp xúc đụng chạm, đó là năm thứ nuôi lớn lòng dục mà Thế Tôn gọi là năm dục trưởng dưỡng, phần thứ hai là những cái dục sâu sắc bên trong chính là những tư duy tham ái, là lòng dục của con người, những suy nghĩ ưa thích, mong muốn, tìm kiếm, chúng ta phải nhìn thấy những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác đó và phải có sự tác ý không cho những thứ đó tác oai tác quái, không để nó dẫn dắt, sai khiến mình, để không làm nô lệ cho nó thì chúng ta phải tập cuộc sống khổ hạnh, dễ nuôi, tinh cần, tinh tấn. Khổ hạnh không có nghĩa là giống những vị tu khổ hạnh ở Ấn Độ ngày xưa hay bây giờ mà khổ hạnh ở đây mang ý nghĩa chịu khó với cảnh an bần lạc đạo, yên trong phận nghèo và vui đối với đạo. Trong bài kinh Sau khi an cư, chín pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất có một pháp quán an trú tâm như một người ăn xin "tay cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn, với một tâm trạng hạ liệt", ngài Xá-lợi-phất đặt mình vào vị trí của một người ăn xin và tất nhiên đã ăn xin thì không thể đòi hỏi, không thể đèo bồng cũng không dám lên mặt với bất kì ai, không vênh váo, hống hách, kiêu căng, ngài an trú tâm mình của một người thấp kém, hèn hạ, chìa bát ăn xin từ ngã tư này qua ngã tư khác, từ đầu đường này qua đầu đường khác, như vậy trong chỗ ăn, ngủ, y phục không có đòi hỏi, không so đo phòng này phòng kia, chùa này chùa kìa, thất này với thất kia, lúc nào cũng an tâm trong cái ít muốn biết đủ, an bần lạc đạo, đây là bản chất của người tu, đặc chất của người xuất gia. Các bậc tôn đức ngày xưa của Việt Nam được gọi là "Thánh mùi tương chao", người ở trong chùa phải có mùi tương chao mà mùi tương chao nghĩa là ít muốn biết đủ, là chịu khó, là dễ nuôi, không đòi hỏi, không hơn thua, huynh đệ với nhau nhưng người kia được đồ ăn ngon hơn, nhiều hơn, còn mình ít hơn lại dở hơn nhưng mình không so đo, còn nếu thắc mắc tại sao của mình ít hơn, người kia nhiều hơn thì đó là phàm phu, là người thế gian, mình phải biết đây là cơ hội để nhiếp phục tâm, đây là cơ hội để nhiếp phục dục và nhịn sắc, đây là cơ hội để xem lại lòng tham của mình, là cơ hội để rèn luyện cảm thọ, đó là khổ hạnh chứ không phải khổ hạnh theo cách đi một chân ra nhìn mặt trời hoặc là tắm suốt ngày dưới sông, nhịn ăn, khổ hạnh ở đây nghĩa là sự chịu khó. Ngồi thiền đau chân, nhức mỏi, mệt, nghe pháp thì buồn ngủ nhưng mình phải vẫn chiến đấu, nhiếp phục các cảm thọ trong tâm, mình có sự tinh cần, tinh tấn đối với các thiện pháp cho nên chỉ riêng chữ "dễ nuôi" thôi là cả một công phu tu tập, mỗi một từ như vậy là một chủ đề thiền quán, có những chỗ Đức Phật nói là dễ nghe, dễ bảo, "ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn" là sáu đề mục tu tập hằng ngày của người xuất gia chúng ta, đây là sáu đặc chất của người tu. Mình phải tự xem lại trong thân tâm có sáu yếu tố này không, nếu ít thì phải làm cho lớn mạnh, nếu có thì phải làm cho tăng trưởng phát triển đi đến viên mãn.

Sau khi Thế Tôn vào thất thì ngài Xá-lợi-phất giải thích cho chúng Tỳ-kheo có ba điều đáng bị quở trách và ba điều đáng được khen ngợi. Ba điều đáng bị quở trách của Tỳ-kheo thượng tọa, hạ tọa và trung tọa là thầy sống viễn ly nhưng đệ tử lại không học theo hạnh viễn ly đó, thứ hai là vị thầy dạy những thứ nên từ bỏ nhưng đệ tử không chịu từ bỏ, thứ ba là sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi viễn ly. Sống đầy đủ là đi ngược lại tinh thần ít muốn biết đủ, lười biếng là đi ngược với tinh cần, tinh tấn, đọa lạc là rơi xuống, trong kinh Nikāya thường gặp từ "thối đọa" nghĩa là lùi lại và rơi xuống, đọa xứ là chỗ tăm tối, khổ cảnh là nơi cư trú của những quả báo ác nghiệp. Từ chỗ sống lười biếng, buông lung phóng dật, phóng túng trong sự tu học, hành trì sẽ bị đọa lạc, thối đọa và đọa xứ, đó là ba từ thường gặp trong kinh tạng Nikāya. Ba trường hợp đáng được khen là đệ tử thực hành theo hạnh viễn ly của bậc đạo sư, thứ hai là từ bỏ những gì mà vị thầy dạy mình nên từ bỏ, giới luật nói từ bỏ là mình phải từ bỏ, cái sau cùng là không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly, vị này sống tinh cần tinh tấn, sống ít muốn biết đủ. Viễn ly ở đây gồm thân viễn ly và tâm viễn ly, thân viễn ly là sống ở chỗ xa vắng, ít năm dục trưởng dưỡng thì gọi là sống viễn ly, không có nhiều sắc đẹp, không có âm thanh ngọt ngào, mùi thơm, vị ngon, không có những thứ để mình xúc chạm, trong kinh Nikāya dùng từ độc cư thiền tịnh. Những khi chúng ta nhập thất, về chùa ở nơi yên tĩnh một mình, ít tiếp xúc hoặc là những đi lên núi thì gọi là thân viễn ly, trong thân viễn ly đã tốt nhưng vẫn chưa đầy đủ pháp viễn ly vì còn đòi hỏi tâm phải viễn ly. Tâm viễn ly là tâm phải hướng đến sự rời xa dục, ái, tham, sân, si, nếu thân viễn ly mà tâm không viễn ly thì vẫn không thành tựu pháp viễn ly, tức là thân rời xa nhưng tâm không rời được, phải là thân tâm đều rời xa hết thì mới thành tựu pháp viễn ly, đều hướng đến sự nhàm chán, ly tham đối với năm dục trưởng dưỡng, nói đơn giản là hướng đến sự rời xa những suy nghĩ về tham dục, tức giận, rời xa suy nghĩ về vô minh, si mê, bản ngã thì cái đó gọi là tâm viễn ly. Đây là đặc chất tiếp theo của một người xuất gia, nếu người xuất gia mà thân tâm đều không viễn ly thì chỉ có hình thức bề ngoài chứ không có bản chất thật sự của một người xuất gia. Người xuất gia phải sống một mình, phải sống nơi xa vắng, phải ưa thích chỗ xa vắng, yêu thích chỗ xa vắng, thường độc cư thiền định chứ không phải chỗ nào đông vui náo nhiệt đều có mặt, như vậy vị nào có được ba pháp này đáng được khen ngợi, đáng được tán thán. Sau khi chúng ta có sự thực tập nhận diện ngũ uẩn, sau khi đã có hoàn cảnh yên tĩnh, tự mình đối diện với mình, sống viễn ly thì chúng ta mới soi rọi lại thân tâm chúng ta, nhìn lại bản thân đang có suy nghĩ gì, đang cảm giác, hình bóng gì trong tâm thì cái nhìn lại đó rất quan trọng trong sự tu, chính cái nhìn lại này sẽ thấy sự thật bất ngờ vì phát hiện trong tâm có nhiều rác bẩn, cấu uế, đây là bước quan trọng trong sự tu. Người tu cứ nghĩ tu tiến là ngồi lại là yên tịnh nhưng trong Nikāya không phải vậy, tu càng tiến bộ, càng sâu sắc chừng nào thì càng thấy rõ thân tâm chừng đó, thấy rõ thân tâm là thấy rõ tham, sân, si, dục, ái, bản ngã, đây là điều quan trọng. Bây giờ mặt mình dính bùn mà con mắt nhìn ra ngoài thấy cảnh vật đẹp xấu, người này người kia đen ốm chứ không nhìn thấy gương mặt bị dơ bẩn thì làm sao thấy mặt dính cái gì, chỉ thấy được khi có tấm gương phản chiếu. Cũng vậy, phải có sự hướng nội, có sự nhìn nhận lại những cảm giác, nghĩ tưởng trong nội tâm thì mới thấy được những cái ác bất thiện pháp, những tham ái, sân si, vô minh, chấp thủ, cho nên một người chịu soi gương nhìn kĩ lại gương mặt thì trong kinh Nikāya dùng từ nhãn sanh, quang sanh, minh sanh, tức là mắt sáng lên, trí huệ tỏ rạng, ánh sáng chiếu rọi, càng thấy được nhiều lỗi của mình chừng nào thì người này càng tu tiến bộ, đây là điều đặc biệt, còn tu mà chỉ thấy lỗi của người khác thì cái tu đó bị lui sụt cho nên càng thấy tâm cấu nhiễm của mình nhiều chừng nào thì người đó càng thành tựu trí huệ sâu sắc chừng đó. Tu mà không thấy dục, tham, ái của bản thân sanh khởi ra sao, hoạt động thế nào, xâm chiếm, áp đảo ra sao thì tu uổng công vì tâm chỉ có hướng ngoại, tu mà không thấy cảm thọ sanh khởi, bộc phát ra sao, áp đảo, thiêu đốt thế nào thì sự tu đó là mờ mịt, tu mà không thấy bản ngã hoạt động ra sao, không thấy sự so đo, ta đây, hơn thua thế nào lại đi nói bản thân rất an lạc, không thấy tham, sân, si gì cả thì cái tu đó vẫn còn mờ tối, chưa có tấm gương và cũng chưa biết cách soi gương. Phần tiếp theo trong bài kinh này ngài Xá-lợi-phất sẽ vạch trần tâm cấu nhiễm cho chúng ta thấy, phơi này những cái tâm bị che kín lâu nay cho chúng ta thấy, vén bức màn của tâm linh để chúng ta thấy, đem ánh sáng vào bóng tối để chúng ta nhìn thấy.

"Ở đây, này chư Hiền, tham là ác pháp, và sân cũng là ác pháp, có một con đường Trung đạo diệt trừ tham và diệt trừ sân, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền con đường Trung đạo ấy là gì - (con đường) khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn". (Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)

Tham dục, tham vọng, tham ái, tham đắm, tham chấp… là những ác pháp. Tức giận, sân hận, nóng bức, nhiệt não… cũng là ác pháp. Có một con đường trung đạo diệt trừ tham lam, sân hận khiến cho con mắt được sáng tỏ, trí tuệ được phát sanh, đưa đến một nội tâm hoàn toàn vắng lặng và đó là trí huệ thù thắng, có khả năng dập tắt tất cả tham, sân, si, cứu cánh Niết-bàn. Con đường đó là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng. Hôm nay chúng ta giới thiệu tổng quát về tám cái đúng này, chúng ta quen nói chánh kiến, chánh ngữ, chánh nghiệp… nhưng hôm nay chúng ta sẽ nói tiếng việt cho gần gũi, rõ ràng, đơn giản và dễ nhớ.

- Chánh tri kiến – Thấy biết đúng – Thấy đúng

- Chánh tư duy – Suy nghĩ đúng – Nghĩ đúng

- Chánh ngữ – Nói lời đúng – Nói đúng

- Chánh nghiệp – Hành động đúng – Làm đúng

- Chánh mạng – Nuôi mạng đúng – Sống đúng

- Chánh tinh tấn – Siêng đúng việc – Siêng đúng

- Chánh niệm – Quán đúng chỗ – Quán đúng

- Chánh định – Định đúng cách – Định đúng

Đầu tiên nói cho đầy đủ phải là Thánh tri kiến, là cái thấy biết của bậc Thánh, nói đơn giản nhất là thấy đúng nhưng đây không phải là cái thấy đúng bình thường của ngoài đời mà đây là thấy đúng của bậc Thánh. Đây là tám cái đúng của bậc Thánh chứ không phải tám cái đúng bình thường.

"Ở đây, này chư Hiền, phẫn nộ là ác pháp và hiềm hận cũng là ác pháp, giả dối là ác pháp và não hại cũng là ác pháp, tật đố là ác pháp và xan lẫn cũng là ác pháp, man trá là ác pháp và phản bội cũng là ác pháp, ngoan cố là ác pháp và bồng bột nông nổi cũng là ác pháp, mạn là ác pháp và tăng thượng mạn cũng là ác pháp, kiêu là ác pháp và phóng dật cũng là ác pháp. Có một con đường Trung đạo diệt trừ kiêu và diệt trừ phóng dật, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền, con đường Trung đạo ấy là gì - (con đường) khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời giảng của Tôn giả Sariputta". (Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)

Man trá là lừa dối, Bát Chánh Đạo của Nikāya rất thâm sâu, bao trùm và rộng lớn vô cùng. Sau đây là phần giải thích về Bát Chánh Đạo.

- Chánh kiến: Trí về 5 thủ uẩn, Trí về Vô minh, Trí về Đoạn diệt vô minh, Trí về Tám Chánh đạo (trí về khổ, trí về Khổ tập, trí về Khổ diệt, trí về Khổ diệt đạo)

- Chánh tư duy: Tư duy về ly dục, Tư duy về ly sân, tư duy về bất hại.

- Chánh ngữ: Từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm.

- Chánh nghiệp: Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục.

- Chánh mạng: Từ bỏ nghề bán vũ khí, bán rượu, bán thịt, bán người, bán thuốc độc (đối với cư sĩ).

- Chánh tinh tấn: Chế ngự sáu căn, đoạn tận tham sân, tu tập Tứ niệm xứ, hộ trì các thiện pháp đã có.

- Chánh niệm: Niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp.

- Chánh định: Định tâm theo Tứ thiền.

Chánh kiến không đơn thuần chỉ là thấy cái này đúng, cái kia là phải, đó là cái thấy của phàm phu. Thấy đúng của bậc Thánh là phải thấy tất cả đều là tứ đại, là đất, nước, gió, lửa, là sắc uẩn, sắc pháp, khi nhìn bên ngoài sắc tướng, hình thức sẽ có sự phân biệt xấu đẹp, lớn nhỏ, ngon dở, còn nhìn bằng tứ đại thì những cái ngon dở, xấu đẹp sẽ bị phá dỡ, chỉ có thấy đúng mới đưa đến ly tham, mới giảm bớt sự sân si, so đo, nếu nhìn thấy có sự ngon dở, xấu già sẽ có tham, sân, si, có tôi và của tôi. Tất cả những gì chúng ta học và thực hành không đi ra khỏi năm uẩn, trong trời đất, vũ trụ này không có cái nào đi ra khỏi năm uẩn cho nên đầu tiên phải thấy được năm uẩn và thấy được sự nắm chặt vào trong năm uẩn này là phiền não và khổ đau, sự nắm giữ vào những tài sản vật chất này là phiền não và khổ đau, sự nắm giữ vào những cảm xúc, cảm thọ này là buồn đau, khổ sầu, sự nắm giữ và những hình bóng trong tâm là đau khổ, bất an, sự nắm giữ vào những suy nghĩ lầm thầm trong tâm cho nó là tôi, là của tôi thì đó là nguyên nhân đưa đến đúng sai, hơn thua, tranh đấu, sự nắm giữ vào nhận thức, rõ biết hình sắc, âm thanh, rõ biết mùi vị, rõ biết những sự xúc chạm, rõ biết những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm, rõ biết sáu sự xúc chạm đó là phiền não, khổ sầu, bất an, đau khổ, như vậy là cái thấy đúng của bậc Thánh, gọi là chánh tri kiến, là cái thấy biết chân chánh. Khi nào không nhìn thấy sắc là sắc, là tứ đại thì lúc đó chúng ta bị vô minh đối với sắc, khi nào không thấy cảm giác chỉ là cảm giác, đó là pháp duyên sanh, do tiếp xúc mới sanh khởi ra cảm giác (thọ), do tiếp xúc mới sanh ra hình bóng (tưởng), do tiếp xúc mới sanh ra suy nghĩ (hành), như vậy đó là pháp duyên sanh nên những thứ này là vô thường, nó là một pháp chứ không phải là mình, không phải của mình thì lúc đó mình vô minh đối với cảm thọ. Khi giận lên là cảm giác thiêu đốt hoàn toàn chế ngự, xâm chiếm, áp đảo thân tâm, lúc đó mình chỉ nghĩ, nói và làm theo cảm xúc nóng bức, nhiệt não đó, gọi là vô minh đối với cảm thọ, từ cái vô minh đó tạo ra thân hành, khẩu hành, ý hành, tạo ra những suy nghĩ theo cái sân đó, nói những lời theo chiều giận, làm những hành động đánh nhau, quơ tay múa chân cho nên vô minh sanh ra hành nghiệp, đã có nghiệp thì nhất định có quả báo khổ. Nếu lúc đó nhận diện ra đó chỉ là một cảm thọ sân hận đang thiêu đốt, lập tức nhiếp phục, giải phá cảm thọ này, dùng tâm thương yêu, cảm thông, từ bi, dùng trí huệ về khổ đau của đời sống này để tha thứ, làm cho cảm thọ nóng bức này lắng dịu xuống, an tịnh xuống thì lúc đó sẽ phá được vô minh, phá được những hành động trong vô minh nên sẽ không thể hiện ra suy nghĩ, lời nói, hành động nữa thì hành chấm dứt, nghiệp quả không có nên bình an, ngài Xá-lợi-phất nói con đường trung đạo này làm cho con mắt tỏa sáng, trí huệ tỏ rạng và đi đến nội tâm tịch tịnh, cái pháp rất sáng tỏ, thiết thực, hiện tại. Như vậy không thấy cảm thọ, không biết đó là cảm thọ gì cũng không biết có tham, sân, si trong cảm thọ thì đó là vô minh đối với cảm thọ. Bây giờ mình thấy được nó, nhiếp phục nó, làm cho nó an tịnh, lắng dịu, giải phá cảm thọ đó, thay thế sự nóng bực, tức giận, nhiệt não bằng cảm thọ từ bi, tình thương chan hòa, thấm đượm thì tâm sẽ dễ chịu, hướng đến tịch tịnh. Niết-bàn là trạng thái dập tắt hết tham, sân, si, pháp rất thiết thực, cụ thể, rõ ràng, ngay bây giờ chứ không có viễn vong, xa vời, không có hứa hẹn ngày mai, tháng sau hay chết rồi mới có kết quả, chánh pháp không phải vậy mà là ngay trong cảm thọ đó được giải phá, trở nên an tịnh, lắng dịu thì ngay đó là Niết-bàn. Đối với tưởng, hành là những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ lầm thầm trong tâm mà mình không thấy không biết đó chỉ là hành uẩn, là tưởng uẩn, nó chỉ là pháp duyên sanh, là vô thường, mình nhập cuộc vào nó rồi sanh khởi ra hình bóng ái, hình bóng dục, nó dẫn dắt, lôi kéo mình, từ cái vô minh sanh ra thân hành, khẩu hành, ý hành, từ suy nghĩ phải nói ra những lời dục ái, tham muốn, chiếm hữu đó, làm tất cả hành động để đạt được mục đích chấp thủ, nắm giữ đối với con người đó, món đồ vật đó, cảnh vật đó rồi tạo ra nghiệp đi theo quả báo khổ, nói gọn theo danh từ chúng ta thường học là hoặc nghiệp và khổ, hoặc là lậu hoặc, vô minh. Từ mê lầm mới sanh ra thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp rồi tạo nghiệp sẽ có quả báo khổ, như vậy là không biết không thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà đi nhập cuộc chung với năm uẩn rồi cho rằng tôi nghĩ, tôi nói, tôi làm, tôi thấy, tôi biết, những cảm thọ này là tôi, vậy là chúng ta chìm đắm trong vô minh đối với năm thủ uẩn, đây là cánh cửa thứ nhất nếu chúng ta vượt qua được là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, đó là nhìn đúng về thân tâm, nhìn đúng về tham, sân, si, dục, ái, nhìn đúng về lậu hoặc, về những sự mê lầm của chúng ta, người nào cứ nhìn hoài như vậy sẽ thấy biết được Thánh trí về ngũ uẩn, đó chính là chánh kiến.

Bốn Thánh Trí Về Ngũ Uẩn:

- Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ (Trí về Ngũ uẩn).

- Ngũ uẩn sanh khởi do vô minh và tham ái (Trí về Ngũ uẩn tập).

- Ngũ uẩn diệt tận khi hết vô minh và hết tham ái (Trí về Ngũ uẩn diệt).

- Phương Pháp Tám Đúng là phương pháp chân chánh đưa đến tẩy sạch vô minh, tẩy sạch tham ái đối với ngũ uẩn (Trí về Ngũ uẩn diệt đạo).

Khi thành tựu bốn trí về ngũ uẩn này là thành tựu sự thấy biết của bậc Thánh, gọi là chánh tri kiến, bước được vào cánh cửa này là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất cho nên cần cố gắng, nỗ lực rất nhiều vì chỗ đau xót của chúng ta là sắc nào cũng cho mà tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Từ quê lên thành phố học được cho vào ở một phòng thế là cho rằng cái phòng đó của tôi, vừa được cúng dường tấm y là cho rằng tấm y đó của mình, bất cứ cái nào đến gần là gắn thêm hai chữ "của tôi" vào đó, thế là khổ. Cảm giác nào sanh khởi lên cũng cho đó là tôi, "tôi thấy dễ chịu", "tôi thấy thoải mái", thế là dính mắc với cảm giác. Năm uẩn này chính là năm cái bẫy, sắc là một cái bẫy to lớn, cảm giác là một cái bẫy to lớn, hình bóng trong tâm là một cái bẫy to lớn, những suy nghĩ lầm thầm là một cái bẫy to lớn, những sự nhận thức rõ biết này là một cái bẫy to lớn, chúng ta bị sập năm cái bẫy trong vô lượng vô biên kiếp không đi ra được vì không biết đó là bẫy mà lại ưa thích, nước mắt đầy mặt, khổ cực nhưng vẫn không có ý muốn thoát ra vì bị vô minh và tham ái. Vô minh là không thấy, không biết, không hiểu, tham ái là yêu thích, khoan khoái, thích thú, say mê cho nên trí về năm thủ uẩn là sự thấy đúng, trí về vô minh là thấy đúng, trí về đoạn diệt vô minh là thấy đúng.

Tiếp theo là chánh tư duy, có nhiều người tu là muốn yên bình, không muốn suy nghĩ gì cả, như vậy vô minh không được phá, tham ái sẽ không được thấy biết. Cho nên sau khi thấy đúng thì phải nghĩ đúng, nghĩa là phải thường xuyên tác động tâm ý, khởi lên suy nghĩ làm thế nào để rời xa dục, sự tu của chúng ta đa số là tác động tâm ý để ly dục, rời xa năm dục trưởng dưỡng. Khi người ta đem vải đến cúng, huynh đệ được vải đẹp, mịn, còn mình chỉ được vải tám, vải đồ tang, ngay đó nếu suy nghĩ theo lối thông thường của tà tư duy là mình sẽ so sánh ngay "tại sao lại cúng tôi kì vậy?", "sao cúng không bình đẳng gì hết vậy?", sau đó mình so sánh cái kia tốt mình là dở, cái kia đẹp mình xấu, cái kia mắc mình là rẻ, đó là suy nghĩ theo vô minh, theo nghiệp, suy nghĩ theo phàm phu thấp hèn. Suy nghĩ đúng đắn là "những thứ này chỉ là đất, nước, gió, lửa, vô thường, tan hoại, ham thích rồi khổ thêm thôi. Phải cảm ơn khúc vải tang này để thấy được tâm mình vẫn còn tham, còn chấp, còn so đo", sau đó mình nhắc nhở, dạy dỗ tâm "tâm ơi là tâm, mi tham hoài không biết chán hay sao? Suốt ngày chỉ biết so đo, hơn thua, được ít, đẹp xấu, hay dở để làm cái gì? Đi tu để tìm vải đẹp, ăn ngon, ở sang hay sao?", mình tác ý như vậy để cái tâm so đo tan biến hoàn toàn để trở về tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, chỗ đó gọi là chánh tư duy, dùng suy nghĩ thiện để đuổi suy nghĩ bất thiện, dùng suy nghĩ ly tham để đánh sập suy nghĩ tham ái cho nên sự tu này quan trọng ở chỗ phải suy nghĩ cách từ bỏ dục, hại, sân. Muốn có được suy nghĩ đúng này thì phải thường xuyên tác động tâm ý chứ không phải ngồi thụ động im lặng, khi nào có chuyện mới nghĩ là sẽ không làm được. Ly dục tư duy là phải thường tác ý về tứ đại, về ba mươi hai thể trược, quán tưởng về bộ xương, về dịch bệnh, chiến tranh, suy nghĩ về những cảnh tan thương đau khổ trên cuộc đời này "người ta ngoài kia đang giành giật từng hơi thở trong khi mình đang thở thoải mái lại không biết lo tu hành, đi so đo mấy khúc vải với trái cây. Tu như vậy xấu hổ quá, thấp hèn, kém cỏi quá, mở rộng tâm ra để nhìn thấy nỗi khổ của chúng sanh, nhìn nỗi khổ của toàn thế giới", tác ý như vậy là chánh tư duy, nghĩ cách từ bỏ dục, hại, sân. Người đó nói lời nói hoặc có hành động xúc phạm đến tự ngã của mình thế là mình khởi suy nghĩ muốn người đó bị cái này, bị cái kia, thì suy nghĩ đó là hại, là ác ý, đừng vội nói rằng mình tu là không còn những suy nghĩ này, phải có thì Phật mới nói nhưng vì mình không thấy, nó nằm im trong tâm nhưng khi đụng chuyện nó sẽ sanh khởi ra, nó bộc phát dữ dội, hung hăng, dữ tợn. Muốn diệt tâm hại này phải tu tập tâm bi, quý thầy và quý cô nghe thêm bài thiền quán bi vô lượng tâm, dùng tâm xót thương để diệt tâm hại người khác, đầu tiên là phải thương mình, thương tâm hại đã hại mình vì chỉ cần sanh khởi lên ác ý là cái ác ý đó đã làm mình khổ, những hình bóng, suy nghĩ ác, những cảm thọ của sự sân hận, ác hại đã là ác bất thiện pháp làm tâm mình cấu nhiễm, dơ bẩn rồi cho nên nó đã hại mình trước. Giống như khi ngược gió tung bụi, hốt lấy nắm cát trước khi ném người ta thì bàn tay mình đã bị dơ trước rồi, cũng vậy khi tâm sanh khởi lên sự ác ý muốn hại người ta thì ngay đó tâm ác, thọ ác, tưởng ác, hành ác. Lúc đó mình phải thương tâm này, tội nghiệp cho cái tâm này, tội nghiệp cho những ý nghĩ này, cảm giác này, hình bóng này, đây là một ác ý, một suy nghĩ ác hại, đây là thuốc độc, là tai họa, là nguyên nhân của sầu bi, đau khổ trong hiện tại và tương lai. Mình thấy được sự ác ý này, thấy được tâm hại này là nhờ nhận diện ngũ uẩn thường xuyên, nếu không nhận diện ngũ uẩn là không thể thấy được, khi thấy sự nguy hiểm và tác hại của tâm này sẽ đưa đến hậu quả như thế nào, đưa đến nghiệp quả như thế nào trong tương lai thì mình sẽ có sự lo lắng và sợ hãi. Trong phim thường có những cảnh tượng ma giới ở trong bóng đêm mờ ảo, đó chính là đọa xứ nhưng đó là phim ảnh còn đọa xứ thật sự là một màn đêm trường dạ không thấy gì cả, những con chuột, gián, rắn phải chui vào hốc kẹt làm hang làm ổ, thấy con người là trốn chui trốn nhủi, những tâm ác ý, tâm hại này đọa vào những tấm thân như vậy. Khi quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của tâm sân hận, dục vọng này sẽ thấy lo lắng, bất an, hướng đến sự nhàm chán, từ bỏ, thoát ra, xuất ly, xả ly, đó gọi là nghĩ đúng cho nên trong sự tu tác ý rất quan trọng.

Để trị cái dục chúng ta cần quán bất tịnh, trong quán bất tịnh gồm có quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán cửu tưởng hoặc quán cốt tưởng (chín giai đoạn của một tử thi hoặc là bộ xương), quán cát bụi. Đây là phương pháp của bậc Chánh Đẳng Giác và mình làm đúng theo sẽ có kết quả nhưng không phải đợi đến khi dục, sân sanh khởi mới tác ý vì lúc đó sẽ làm không kịp, không phải đợi đến khi hận thù, tức giận sanh khởi lên mới quán là không kịp cho nên những khi bình thường phải thực tập quán chiếu những phép quán đã nói ở trên. Khi thực tập quán chiếu những phép quán đó trở nên quen thuộc, thuần thục, có sức mạnh thì khi dục, hại, sân sanh khởi mới có khả năng nhiếp phục. Nghĩa là quán bất tịnh, quán diệt dục trước khi dục sanh khởi, trong khi dục sanh khởi và sau khi dục đã sanh khởi.

Để trị tâm sân thì phải quán tâm từ, gọi là từ tâm giải thoát và cũng phải nhớ không phải đợi đến khi giận mới quán vì lúc đó sẽ không kịp. Khi cảm thọ nóng bức, nhiệt não sanh khởi xâm chiếm cả ngũ uẩn thì thân bị bức xúc, cảm thọ khó chịu, hình bóng trong tâm hiện lên đối tượng sân hận, suy nghĩ muốn triệt hạ người kia, cái thức chỉ biết có bao nhiêu đó cho nên lúc đó mình không thể quán nổi hoặc có quán thì sự tác ý đó cũng yếu ớt, không đủ sức mạnh, vì thế trước khi sân cần tác ý, trong khi sân cũng tác ý và sau khi sân cũng phải tác ý tâm từ. Ngày nào cũng phải trải tâm từ vì thương lúc bình thường chứ đang giận thì làm sao thương được, trước khi giận là trải tâm thương, trong khi giận trải tâm thương, sau khi giận cũng trải tâm thương. Tâm thương này rất ngọt ngào, mát mẻ, dào dạt, trải tâm thương, tâm hiểu này cho ngấm từ đỉnh đầu đến gót chân, ngấm vào trong từng cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng đều thấm đượm từ vô lượng tâm nên sân sẽ bị nhiếp phục và diệt tận. Chúng ta cần nhớ từ tâm giải thoát này cần phải được nuôi dưỡng trong mỗi suy nghĩ, triệt để phá suy nghĩ sân, nếu không dụng công, không nỗ lực, không để tâm là không làm được, khi có suy nghĩ sân sanh khởi là phải đánh đuổi, diệt trừ nó lập tức, làm như vậy lâu ngày thì cái sân sẽ bị khuất phục, cho nên người xuất gia là chiến sĩ tâm linh, cuộc chiến đấu vĩ đại bên trong nội tâm. Sau khi thấy đúng thì nghĩ đúng được phát huy hết công lực mới từ từ thể nhập những cái còn lại trong Bát Chánh Đạo.

"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật)

Phải có tác ý pháp mới sanh khởi, không tác ý là pháp không sanh khởi. Lúc này các thầy các cô không nghe pháp thì các thầy các cô có được cảm giác như bây giờ không? Có suy nghĩ như bây giờ không? Không thể nào có được nếu không nghe pháp, còn bây giờ do những lời nói của Minh Thành tác động và mình tiếp xúc những lời nói này rồi bên trong nội tâm sanh ra những cảm giác, nghĩ tưởng làm tăng thượng trong pháp, cho nên tất cả các pháp lấy sự tác động tâm ý làm sự sanh khởi. Người ta tu tiên, tu thần thông đều là nhờ sự tác ý suy nghĩ, người ta muốn thân nhẹ để bay lên thì người ta có cách ăn, cách thiền, cách thở tương ứng, sau đó là tâm quán tưởng tác ý thường xuyên và liên tục thì cũng có ngày làm được. Đó là họ tác ý để đi trong tham, sân, si, trong ngũ uẩn chứ không tác ý để ly tham, không tác ý thoát ra khỏi ngũ uẩn nên đó là phàm phu pháp, còn cái pháp thấu triệt được năm uẩn, xuất ly khỏi năm uẩn thì đó là thượng nhân pháp, tối thượng pháp, vô thượng pháp luân.

Để diệt trừ tâm hại thì cần quán bi vô lượng tâm, Đức Thế Tôn dạy chúng ta tu tập từ, tâm bi hoặc quán bất tịnh thành căn cứ địa, thành cỗ xe, kiên trú, vững chắc chứ không phải lâu lâu mới tu, nhớ thì tu không nhớ thì thôi, tu những tâm này giống như một ngày ăn cơm ba bữa, giống như việc uống nước, hít thở hằng ngày, hễ có thở là có tu thì mới thành tựu. Phải để tâm, để ý, đầu tư, nỗ lực mới thành công, ngày xưa Minh Thành học Bát Chánh Đạo rất đơn giản, chánh tư duy là suy nghĩ đúng đắn, chân chánh là hết nhưng lại không biết suy nghĩ đúng đắn là suy nghĩ cái gì, sau này mới biết suy nghĩ đúng đắn là ly sân tư duy, ly dục tư duy và bất hại tư duy, nói rộng ra là phải nhìn thấy phẫn nộ trong tâm là ác. Tức giận, hờn mác, hận thù, phẫn nộ có từng mức độ khác nhau, hờn mác rất nhẹ, giận là khác, hận là khác, thù là khác, những gì Đức Phật nói giống như định lý nhưng từ trong định lý mình phải hiểu rộng ra những nghĩa lý này rất thâm sâu. Khi nghe góp ý không có giận nhưng trong lòng hơi buồn man mác, đó là hờn, chỉ có nhận diện ngũ uẩn mới thấy được những trạng thái vận hành của các cảm thọ đó rồi mới tác ý. Phẫn nộ là biểu hiện ra bên ngoài dữ dội, hiềm hận không biểu lộ ra một cách mạnh mẽ mà nó sâu bên trong, nếu là hận thù thì giống như khắc vào đá nhưng hiềm hận thì nhẹ hơn. Giả dối là không chân thật, trong bụng rõ ràng muốn cái đó hoặc là thấy khó chịu nhưng hỏi đến lại nói không có, không phải là trực hạnh của bốn đôi tám chúng hiền Thánh, tâm không ngay thẳng, lươn lẹo nên không đi vào Thánh đạo được. Chúng ta không đi vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh được vì không có bốn đức, không đủ tiêu chuẩn.

"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua) 

Chúng ta không đủ những đức tính trên và cũng không biết để tu nên không thể đi vào hàng bốn đôi tám chúng hiền Thánh được. Có khi biết rồi nhưng lại không chịu chiến đấu với những thói quen của thường tình cho nên dù có biết pháp nhưng vẫn không thể nhập được pháp, sự ương ngạnh, cứng cỏi trong tâm chống đối lại. Trực hạnh này có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, đó là một cái tâm ngay thẳng chánh trực, có tham thì chấp nhận và biết mình đang có dục, có tham, có sân thì biết và chấp nhận mình đang có sân, có si thì chấp nhận bản thân đang si mê, có bản ngã thì chấp nhận đang có bản ngã, đằng này hỏi thì nói không có cho nên không có được trực hạnh vì thế giả dối chính là ác pháp. Não hại là suy nghĩ ác ý muốn hại người khác, người nào làm mình bực mình, khó chịu là mình muốn người đó gặp chuyện không may, có khi tu trong thời gian dài thấy tâm rất hiền thiện, nghĩ rằng mình không có tâm này nhưng khi đụng chuyện sẽ sanh khởi ra, muốn người làm khổ mình gặp tai họa. Chúng ta thường hay tụng "Hạnh tai lạc họa yểm tha năng", hạnh tai lạc họa là mình vui sướng, hạnh phúc khi thấy người ta gặp tai họa, vui sướng trên sự đau khổ của người khác, những người nào mình tức, mình ghét mà gặp tai nạn thì mình vui, yểm tha năng là chèn ép, đè ép những người có tài năng, không để họ phát huy tài năng. Trong lịch sử ghi lại biết bao chuyện như vậy, nói không hết, họ sợ người kia phát huy tài năng là hơn họ, thầy trò cũng vậy, sợ học trò giỏi hơn thầy nên không truyền hết mà giấu nghề để dành. "tật đố là ác pháp và xan lẫn cũng là ác pháp, man trá là ác pháp và phản bội cũng là ác pháp, ngoan cố là ác pháp và bồng bột nông nổi cũng là ác pháp, mạn là ác pháp và tăng thượng mạn cũng là ác pháp, kiêu là ác pháp và phóng dật cũng là ác pháp". Mạn là ngã mạn, tăng thượng mạn là mình chưa giỏi nhưng vẫn cho rằng mình giỏi, mình bằng người ta nhưng cứ nghĩ mình hơn người ta, chưa chứng thì cho rằng mình đã chứng, chưa đắc nhưng cho rằng mình đã đắc, đó là tăng thượng mạn. Ngài Xá-lợi-phất nói những điều này là ngài đang phơi bày tâm cấu uế, muốn nhìn thấy được tâm cấu uế này phải thường nhận diện năm uẩn tức là thường xuyên nhìn lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, khi thấy được là thành tựu trí tuệ. Mong rằng trong thời kì dịch bệnh này là thời kì quý báu để chúng ta nắm bắt cơ hội tu tập nhận diện thân tâm một cách sâu sắc, thành tựu trí tuệ về năm uẩn, nhất là chánh tri kiến. Kính chúc quý thầy quý cô có được con mắt pháp trong sáng, thành tựu cái thấy đúng chân chánh của Đức Thế Tôn truyền trao trong sự thừa kế chánh pháp này.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.