Xả Vô Lượng Tâm 7
TINH HOA NIKĀYA
GIẢNG GIẢI BÀI THIỀN QUÁN
XẢ VÔ LƯỢNG TÂM 7
–Thích Minh Thành–
Không biết cẩn thận, không biết phòng hộ, không thấy hiểm họa, nguy hiểm trong đời sống này, trong tất cả cảnh giới sắc; thanh; hương; vị; xúc đó, nhưng có thấy sự nguy hiểm cũng không dừng được vì cái dục thúc giục muốn đi ra chợ, muốn tranh giành mua đồ, hễ nghe chuẩn bị phong tỏa là chuẩn bị muu đồ, dù trong nhà còn đồ ăn nhưng vẫn chen chúc đi mua làm tăng nguy cơ lây nhiễm, nếu không phòng hộ, bảo vệ, không nhiếp phục, chế ngự thì đau khổ lâu dài.
Khóc than rồi than khóc
Than khóc rồi khóc than
Thương thay trò than khóc,
Của vô thường, tái sanh.
Tái sanh và tái tử
Đau khổ đã nát nhừ,
Lại còn ác nghiệp cũ,
Chờ thời để ra tay.
Chữ "nát nhừ" này rất mạnh, khổ đến mức độ nát nhừ như tương nhưng vẫn chưa thấy khổ, đó là do vô minh. Dù cho cảnh tượng bây giờ đang như vậy nhưng hỏi đến vẫn nói bình thường, chúng sanh tâm thì mê, mắt thì mù lòa, bên ngoài là bóng đêm, chính vì vậy hết khóc than rồi than khóc, hết than khóc lại đến khóc than. Tại sao lại vô thường, tại sao lại tái sanh sống chết liên tục vậy, tại sao lại khổ khóc than hoài vậy? Là do không biết phòng hộ, không biết bảo vệ, không biết canh chừng, không biết hiểm họa của luân hồi, không biết tai nạn của sanh tử, không biết sự nguy nan của các hành trong ngũ uẩn, chỉ toàn nhìn thấy vị ngọt vì thế sự tu của chúng ta hay ở chỗ nhìn thấy được sự nguy hại trong các hành, đó là chỗ tuyệt diệu, bí kiếp nằm ngay đây. Phải luôn luôn nhìn thấy sự nguy hiểm và tác hại trong thế gian này, trong thế giới này, trong thân tâm này, mình thấy nó để sanh ra sự nhàm chán, từ từ mới ly tham, xả bỏ được, thấy được sự nguy hiểm và tác hại thì tự động nhân quả hệ của nó sẽ đưa đến cho mình sự nhàm chán, không tham nữa, nếu chưa thấy mà nói đừng tham, ráng kiềm chế rồi cũng tham lại, không thực sự thấy đó là lửa than mà thấy là cục vàng, hồng ngọc nên phải nhào vô, đó gọi là ảo tưởng, cho nên cứ "tái sanh rồi tái tử, đau khổ đã nát nhừ, lại còn ác nghiệp cũ, chờ thời để ra tay". Ác nghiệp cũ này vô cùng nguy hiểm, nghiệp cũ luôn rình rập chúng ta để chờ thời ra tay, mình gặp lại những chủ nợ cũ mà mình không biết họ là chủ nợ nên mình khẩu tranh, chiến tranh, cái nợ cũ chưa trả hết lại chồng thêm nợ mới, vì đó là chủ nợ đến đòi chẳng những mình không trả lại còn đấu tranh thì đương nhiên người ta không để yên cho mình, thế là nợ chồng nợ. Phải quán chiếu cho sâu sắc câu "lại còn ác nghiệp cũ, chờ thời để ra tay", tự nhiên họ cứ đến kiếm chuyện với mình từ vật chất đến tinh thần, một lần không được thì đến lần hai, lần ba, lần tư thì phải biết đó là ác nghiệp cũ, là chủ nợ của mình nên mình phải đem tâm trả nợ, đem tâm đáp đền, đem tâm thấy rõ được nhân quả ác nghiệp trong quá khứ, đem tâm từ nhẫn để đáp lại thì có khả năng giảm nợ cho đến hết nợ cũ. Nếu mình phản kháng, chống cự, chiến đấu thì nợ cũ chưa xong lại chồng thêm nợ mới, chúng ta bị như vậy thường xuyên, vợ chồng, anh em, thầy trò, huynh đệ, tỉ muội đều có duyên nợ với nhau chứ không phải tự nhiên gặp được nhau, nhưng nếu biết chuyển cái duyên đó thành thiện duyên, pháp đó thành thiện pháp thì tốt lành, nếu không biết chuyển thì duyên ác, bất thiện pháp sẽ tăng trưởng, nếu không có trí tuệ, không có sự thiền quán sâu sắc thì làm sao mình biết đối tượng đó là chủ nợ của mình? Gặp là phản ứng ngay "tôi có làm gì mấy người đâu, sao cứ kiếm chuyện với tôi hoài vậy?", đó là sự thất bại, có những người vô duyên vô cớ mới nhìn nhau đã không ưa, chưa nói chuyện mà chỉ mới thấy dáng vẻ đã ghét, đó là oan gia trái chủ, là cựu thù, tức là kẻ thù ngày xưa gặp lại, có người mới gặp lần đầu đã thấy thương mến thì đó cũng là người thương ngày xưa gặp lại. Những cái này nếu mình không có chánh niệm tỉnh giác, bình tĩnh sáng suốt, trí tuệ quán chiếu là dính bẫy, làm bậy rồi tạo thêm ác nghiệp, ác nghiệp này ra tay rất nặng. Mỗi ngày trên báo chí đều có tin tức đâm nhau, chém nhau, giết nhau, một cô gái quen người yêu nhưng chia tay quen người khác, hai người vào khách sạn thì người cũ nhào vô đâm chết người đàn ông mới, đâm luôn cả cô người yêu cũ 38 nhát dao, đó là minh chứng cho câu "lại còn ác nghiệp cũ, chờ thời để ra tay", trước đó hai người này là người yêu thương mà giờ thành kẻ thù, nhất là thời đại này ác nghiệp lại càng kinh hoàng cho nên phải hết sức cẩn thận và chánh niệm với nghiệp quả. Có những cái chết vô cùng lãng xẹt không thể tưởng tượng được, có nhiều chuyện lạ kinh khủng chứ không phải chuyện lạ tốt lành, phải có tâm an tịnh, lắng dịu, trí tuệ bình tĩnh, sáng suốt để nhìn thấy đâu là chủ nợ, tất cả đều phải dùng tâm từ vì thế tâm hiền, tâm từ tuyệt đối quan trọng, chỉ có hai tâm này mới hóa giải nghiệp chướng, hóa giải oan gia trái chủ, tháo gỡ các nghiệp cũ và ngăn chặn các nghiệp mới. Nếu không có tâm hiền rồi sân hận người ta, cự cãi vài câu có thể xảy ra chuyện đại sự.
Vì ngu si chẳng rõ,
Nghiệp quá, hiện, vị lai,
Nên khi oan trái đến,
Ta chống đối thẳng tay.
Cái tâm u mê, ngu si không thấy rõ nghiệp có quá khứ, hiện tại, vị lai, mình chỉ thấy được hiện tại, "tại sao lại kiếm chuyện với tôi", "tại sao cứ la mắng tôi", "tại sao lại sỉ vả, xầm xì, chỉ trích tôi", đó là do không biết đó là những chủ nợ cũ nên khi oan trái đến, mình chống đối thẳng tay. Mình thì chống đối thẳng tay trong khi nghiệp lại chờ thời ra tay, cái nào cũng muốn xuất chiêu, cùng nhau ra tay là cùng nhau hành hạ, đấu đá, đánh đấm, đâm chém rồi cùng nhau vào tù, cùng nhau đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thật là lo sợ! Ta không biết đó là nợ cũ, là ác nghiệp quá khứ của ta.
Ta dại khờ trả đũa
Khi nghiệp cũ đến ta
Nên tạo thêm nghiệp mới
Tạo thêm nhiều oan gia.
Mình trả đũa là mình dại khờ, ngu muội chứ không phải trả đũa là hay. Đây là cả một chủ đề quán chiếu về nghiệp cho nên Minh Thành mới nói đây là tinh hoa của Nikāya, có rất nhiều khía cạnh, trí tuệ trong đây, và đây là trí huệ về nghiệp. Mỗi một pháp như vậy mình phải học, phải hiểu, phải biết, phải thành tựu trí huệ về pháp đó thì khi pháp đó xuất hiện, mình rơi vào tình trạng đó mình mới biết hướng xử lí, còn mình không có trí tuệ đó, mình ngu si, mờ tối, ngu muội, vô tri, không hiểu, không thấy thì mình sẽ làm hư chuyện, tạo thêm nhiều oan gia, đã là oan gia rồi mình còn nhân thêm oan gia nữa, đã ghét rồi mình còn nâng lên thành thù, đã là thù mình còn nâng lên thành hận thì có thông minh, trí tuệ không? Đó là dại khờ, ngu muội, si mê. Mình quán chiếu biết đó là chủ nợ, là nghiệp cũ của mình vì cứ nhắm vào mình kiếm chuyện, gây sự, cự cãi nên cần dùng tâm hiền, tâm từ, dùng sự từ nhẫn, nhẫn nhịn, từ tâm để hóa giải ân oán này, hóa giải oan trái, oan gia này. Nếu biết được điều này, thực hành được thì đời sống sẽ rất bình an, có nghiệp nặng cũng biến thành nghiệp nhẹ, nghiệp nhẹ trở thành hết nghiệp. Ngược lại không biết nhân quả, không biết quán chiếu về nghiệp thì ôi thôi, không có đời kiếp nào dừng lại vì nghiệp cũ chồng thêm nghiệp mới thì làm sao hết, nghiệp cũ lại đòi thì chống trả thế là nhân lên nghiệp mới, cứ làm hoài như vậy đến khi nào dừng lại trong khi oan gia của mình đâu phải chỉ có một người, biết bao nhiêu người làm sao mình biết hết được, nhiều khi oan gia lại chính là mẹ con, cha mẹ, vợ chồng với nhau, thế nân dân gian có câu "con là nợ, vợ là oan gia, cửa nhà là nghiệp chướng", gần chết cũng còn tranh giành nhà cửa, tài sản nhưng nói câu này với mấy người đang yêu không tin đâu, chỉ đến khi lớn tuổi từng trải sự đời mới thấy quá đúng. Vì thế đừng nghĩ đơn giản mình tu chỉ có một cái mà phải có nhiều trí tuệ trong nhiều góc độ của đời sống này, ngũ uẩn này, thân tâm này, phải thành tựu nhiều khía cạnh về trí tuệ thì đến khi có việc xảy ra với mình thì mình mới bình tĩnh nhìn sâu sắc mới thấy được, từ đó mới tìm ra nút thắt chỗ nào để mở, còn không cứ nắm hai đầu trong khi cái nút thắt ở giữa chỉ càng siết chặt hơn. Mình mong muốn có đời sống bình an, cởi mở nhưng mình lại đang hành động ngược lại, chỉ toàn nắm hai đầu dây mà kéo trong khi cái nút ở giữa, đó là cái nút của hận thù, sân hận, si mê, ác nghiệp, như vậy nắm hay đầu dây mà kéo thì trong vô lượng vô biên kiếp cũng không mở được, chỉ có nắm ngay nút thắt mới tháo ra được. Đệ tử Minh Thành được ở nơi núi rừng này an ổn tu hành trong 16 năm là do ứng dụng cái này rất nhiều, những người mình giúp đỡ không ít mà bây giờ lại quay lại muốn đốt chùa, mình quán chiếu biết đây chính là ác nghiệp cũ nên phải dùng tâm từ mới được bình an cho đến ngày hôm nay. Nếu mình không đủ trí tuệ thì mình sẽ không biết nghiệp quá khứ của mình như thế nào, rồi đến nghiệp hiện tại và nghiệp vị lai, không khéo sẽ gây thù chuốc oán rất nhiều, mình thi ân bố đức nhưng vẫn bị oán hận là chuyện lạ nên phải quán chiếu để biết đó là nghiệp cũ, là chủ nợ cũ của mình. Mình luôn dùng tâm từ, dùng sự bố thí thì mình mới an ổn tu học được, mới gặp được chánh pháp, nếu không ý thức được nghiệp cũ thì có lẽ giờ này đã không còn ngồi đây. Tự mỗi ngày làm đề tài thiền quán để quán chiếu lại những gì mình từng gặp, từng thấy, từng trải, phải cẩn thận vì nghiệp lúc nào cũng chờ thời để ra tay chứ không phải nó bỏ qua cho mình, đã gây ra nghiệp thì phải trả chứ không thể nào thoát được nó, đại dịch chính là nghiệp cũ của chúng sanh, bão lụt, hạn hán, mất mùa, sạt lở, ngập mặn… ngoài ra còn yếu tố con người và tâm thức.
Nghiệp như hình với bóng,
Theo đuổi sát gót ta,
Công bằng và chính xác,
Chẳng vị nể, buông tha.
Nghiệp theo ta sát gót, mình đi tới đâu là nó theo tới đó, dù cho có vào rừng nghiệp cũng không mất đi, dù chạy lên núi, trốn dưới biển thì nghiệp vẫn ở bên cạnh. Kinh Nhân Quả có câu:
"Giả sử bá thiên kiếp,
Sở tác nghiệp bất vong,
Nhân duyên hội ngộ thời
Quả báo hoàn tự thọ".
Dịch nghĩa:"Giả sử trăm ngàn kiếp,
Nghiệp đã tạo không mất,
Khi đã đủ nhân duyên,
Quả báo tự mình chịu".
Nghĩa là, dù trải qua trăm ngàn kiếp, chỗ tạo nghiệp của mình không có mất, khi nhân duyên đến rồi, quả báo phải chịu trả mà thôi. Quả đó là trái độc hay quả ngọt là do người gieo hột giống, những người làm nghề đồ tề, giết mổ khi gần chết phải để con dao ngay đầu gường, vì trong thọ; tưởng; hành của họ đang diễn ra những việc họ đã làm cho nên Đức Phật mới nói tác ý là nghiệp.
"Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sanh khởi? Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Những việc mình đã nghe, đã thấy, đã thực hành, tiếp xúc, có cảm thọ, cảm giác, đã có hình bóng cất giữ trong tâm thì lúc trước khi chết nó sẽ hiện ra lại ám ảnh trong tâm. Đối với thù hận cũng giống vậy, những người nào hận thù lâu năm, thậm chí sống để dạ chết mang theo thì khi sắp chết những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ được cất giữ trong tâm sẽ hiện lên. Đối với tham ái cũng vậy, thương yêu một người nào đó thì dù có đi đến đâu chăng nữa cảm giác, hình bóng, suy nghĩ về người đó vẫn không mất đi, đó là nó theo mình như hình với bóng cho nên mới đau khổ. Dù ở trong nhung gấm, lụa là, dù ngồi trên ngai vàng nhưng trong tâm là những ác nghiệp, khi ngồi lại đối diện tâm thức thì những ác nghiệp đó sống dậy áp đảo, xâm chiếm làm đau khổ tâm. Đó là lý do tại sao phải sống lành, nói lời lành, nghĩ điều lành, làm việc lành, làm được như vậy thì trong tâm lúc nào cũng hoan hỉ, nhìn lại trong tâm thấy chỉ toàn thiện pháp sẽ được an lành, bình an khi sống, khi chết cũng an tường ra đi. Nếu chất chứa trong tâm những suy nghĩ ác, những lời nói ác, hành động ác nghiệp thì khi chết chỉ toàn thấy bất an, hoảng loạn, sợ hãi. Phạm tội giết người thì có trốn chân trời góc bể nào tòa án lương tâm vẫn không buông tha, những hành động, suy nghĩ, cảm giác cứ hiện khởi trở lại, cuối cùng chịu không nổi phải ra đầu thú. Một người lúc nào cũng đi cứu người, làm từ thiện, giúp đỡ mọi người thì ở đâu cũng được an lạc, những hình bóng đó hiện ra, những cảm giác, suy nghĩ tốt lành, nhìn lại mình không làm sai. Qua đây chúng ta mới hiểu được từ trạo hối trong năm triền cái, khi làm những việc xấu ác thì khi ngồi một mình sẽ hối hận, tâm ray rứt, bứt rứt, đó là ý nghiệp, những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác cứ hiện ra trước mắt. Vì thế nếu trong ba nghiệp còn ác bất thiện pháp thì làm sao đi vào định được? Người ta nghĩ rằng khổ mới chứng ngộ nhưng trong kinh Nikāya nói chỉ có hỷ lạc mới vào được thiền định, cái tâm hỷ lạc mới đi vào định được.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn Thiền này. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Làm tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm.
Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.
Ðoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Những pháp này, này các Tỳ-kheo, là bốn Thiền.
Ví như, này các Tỳ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông; cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập bốn Thiền, làm cho sung mãn bốn Thiền, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Và này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập bốn Thiền như thế nào... xuôi về Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm tịnh chỉ tầm và tứ... nội tĩnh, nhất tâm... Thiền thứ ba... Thiền thứ tư. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập bốn Thiền, làm cho sung mãn bốn Thiền, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IX. Tương Ưng Thiền, I. Phẩm Sông Hằng Rộng Thuyết, I. Thanh Tịnh Thứ Nhất)
Tại sao tâm được hỷ lạc? Vì không thấy ác bất thiện pháp bên trong, cho nên giới làm cho thân, miệng trong sạch, từ đó tâm được trong sạch, khi tâm trong sạch thì hỷ lạc mới vào thiền định được, đây là chỗ sâu sắc trong kinh Nikāya, từ hỷ lạc mới vào định chứ không phải từ khổ mới vào định được. Khổ thì tâm không định được vì ngồi lại chỉ thấy những việc ác đã làm, mắng người này chửi người kia, hại người nọ, lợi dụng, mưu tính người khác, tâm ray rứt, hối hận là chướng ngại của thiền định, đó gọi là trạo cử, sự ray rứt, hối hận trong tâm. Hiện nay mình tu không nhập định, không thành tựu định, không thành tựu Thánh trí huệ vì không thành tựu giới trọn vẹn, cho nên khi ngồi lại là những ác bất thiện pháp sanh khởi lên, khi sanh khởi lên như vậy thì tâm mình lại hối hận, ray rứt, nó làm chướng ngại thiền định.
"Vô thỉ, này các Tỳ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỳ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, IV. Phẩm Rừng Simsapà, V. Một Trăm Cây Thương)
Ngày xưa các vị giữ gìn giới hạnh trọn vẹn nên ba nghiệp trong sạch, thân miệng trong sạch nên khi ngồi lại thì ý thanh tịnh, mà thanh tịnh sanh hỷ lạc, tác ý thêm nữa là ly dục hỷ lạc sẽ vào được các tầng thiền định. Tại sao người ta được hỷ lạc? Vì người ta nhìn lại tâm họ không có ác bất thiện pháp, tâm an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng, an lạc, hỷ lạc khi nhìn lại không có lỗi lầm, vì thế mình thường xuyên thiền quán bài "Hiện tại lạc trú".
Hiện tại không ái dục
Hiện tại không giận sân
Hiện tại không hôn ám
Hiện tại không lỗi lầm
Hiện tại không nghi vấn
Hiện tại thật bình an...
Hiện tại không lầm lỗi tức là không có ba ác hành, không nghĩ ác, không làm ác, không nói ác thì lúc đó thân tâm lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, từ chỗ đó hỷ lạc dâng trào mới đi vào các tầng thiền. Còn mình ngồi lại là trong tâm hiện lên rất nhiều chuyện, từ dục ái, sân hận cho đến những cái xấu ác khác trong tâm làm không ngồi thiền được, muốn ngồi được phải sám hối nghiệp chướng, phát lồ lạy sám hối để tẩy rửa những chuyện xấu ác đó rồi mới bắt đầu tu được. Ai cũng có ác nghiệp chứ không một ai là không có nhưng có người thành tựu, có người không là do sám hối, phát lồ, do sự tẩy rửa những cảm thọ đó từ từ cho đến khi trong sạch. Mức độ trong sạch mình sẽ biết rõ, chỉ cần kiên trì, bền chí, vì thế chỗ thâm sâu tận cùng chính là thọ; tưởng; hành; thức trong tâm, khi đối diện lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bên trong chính là tòa án lương tâm của mình, người nào làm chuyện xấu ác nhiều ngủ thường gặp ác mộng. Thọ; tưởng; hành của ông vua với thọ; tưởng; hành của người ăn xin giống hay khác nhau? Cảm giác, suy nghĩ, hình bóng không hề khác nhau, làm ác thì thọ; tưởng; là ác, làm thiện thì thọ; tưởng; hành là thiện, người ăn xin cũng giống y như vậy, chỉ khác nhau ở vai vế, địa vị xã hội thôi còn tâm thức đều giống nhau, ngũ uẩn không khác nhau, như vậy mới gọi là "công bằng và chính xác, chẳng vị nể, buông tha". Trong các bài Sám thường ghi:
Đài gương nghiệp cảnh sáng lòa
Soi đường thiện ác, chối qua được nào
Người nhân đức cho vào cửa phước
Kẻ hung hoang giải trước hình ty.
Người ta nói rằng sau khi chết xuống âm phủ sẽ có một cái đài rất lớn và to tròn, gọi là đài gương nghiệp cảnh. Khi Diêm Vương hỏi tội mà chối thì người đó phải nhìn vào gương, những gì người đó làm trong quá khứ sẽ hiện ra trong gương nên không còn đường nào chối tội được, cái đài gương đó chính là thọ; tưởng; hành, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm được hiện khởi trở lại, chính là đài gương nghiệp cảnh. Mình làm việc tốt thì ngồi lại những hình bóng đó hiện ra nên thấy vui vẻ, làm chuyện xấu ngồi lại hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hiện lại làm mình bất an, lo lắng. Không phải được làm vua có quyền lực rồi làm ác là những hình bóng trong tâm toàn là thiện, làm ác thì hình bóng trong tâm là ác, đó gọi là công bằng và chính xác. Ở ngoài cũng tương ứng với trong tâm, sau này hoặc trong những đời kiếp sau mình sẽ chịu đựng những cảm thọ tương ứng với nghiệp quả mình đã gây ra, chính những cái đó sẽ dẫn dắt mình đi, cái nghiệp này là một trong tứ bất tư nghị, một trong bốn cái không thể tưởng tượng được, Đức Phật nói nếu tưởng tượng mình sẽ điên loạn cho đến chết.
"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.
Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.
Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII) Không Thể Nghĩ Ðược).
Một người giàu có, danh tiếng, nổi danh khắp một vùng mà cuối cùng bò lê bò lếch, không có áo mặc, không có cơm ăn phải đi ăn xin ngoài đường, đó là nghiệp quả không thể tưởng tượng được cho nên phải cẩn thận với nghiệp quả, cẩn thận với những suy nghĩ, lời nói và hành động, phải dè chừng, kiểm soát từng chút một những cái đó. Nghiệp không hề vị nể, buông tha bất kì ai.
Nay ta được thấu hiểu,
Nhân quả rất kinh hoàng,
Nay ta được thấu hiểu,
Chấp ngã là khổ đau.
Nay ta được thấu hiểu
Nguy hiểm của luân hồi
Nay ta được thấu hiểu
Đau khổ của tái sanh.
Nay ta đã hiểu nhân quả rất kinh hoàng, kinh hãi, đáng sợ, vì thế mình phải cực kì sợ hãi nhân quả. Trước khi làm việc gì cũng phải nghĩ đến hậu quả của nó, đừng để mình sống trong si ám, ngu mê, vô minh, mê muội, dại khờ, trong bóng đêm. Trong Tương Ưng Lakkana ghi lại, mới ngày trước là đệ nhất phu nhân của kinh thành vậy mà hôm sau trở thành quỷ đói chứ không phải như trong phim ảnh chết rồi về báo mộng vẫn có hình tướng giống như còn sống.
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)
Chết rồi là đổi qua một thế giới khác, chẳng qua là mình thấy họ như lúc họ còn sống là do thọ; tưởng; hành của mình hoặc người ta hiện hình hài như vậy để mình biết chứ thật ra họ đã biến dạng, sáng sớm làm tướng nhưng trưa có khi lại ở dưới địa ngục, nhân quả kinh hoàng đến như vậy đó cho nên khi nhìn một người danh tiếng lẫy lừng lúc còn sống nhưng đến khi nhắm mắt không biết họ trở thành gì, đừng thấy hào quanh xung quanh họ mà ham vì chỉ là hư ảo mà thôi. Còn nhìn một người nghèo khổ đơn sơ, không có gì đáng giá bên người nhưng chỉ cần nhắm mắt có thể trở thành vua trời Phạm thiên, vì thế tâm tu tập, đức hạnh bên trong mới quý nhưng không ai thấy được, cái này mới quyết định đời sau, tất cả những hình tướng, hình dạng, cảnh giới cũng chỉ là khói mây, chỉ cần một ý niệm xấu trong thọ; tưởng; hành thôi cũng làm rơi xuống vực sâu, không có gì là chắc chắn ở đây cả vì khi quán chiếu thọ; tưởng; hành; thức chúng ta thấy nó biến đổi, sanh diệt liên tục, khi chúng ta chưa Nhập Lưu thì chúng ta còn trôi dạt hết đời sống này đến đời sống khác, vẫn còn nổi loạn, còn trong phạm trù bất an, không có gì bền vững và bảo đảm trong ngũ uẩn này.
"Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh".
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 278)
Các hành là khổ đau nghĩa là sự vận hành của ngũ uẩn đều là khổ, sắc; thọ; tưởng; hành; thức gì cũng vô thường, trống rỗng, khổ đau, vô ngã. "Với tuệ quán thấy vậy, đau khổ được nhàm chán" tức là từ chỗ khổ đau mình nhàm chán, không tham muốn gì nữa, đó là con đường thanh tịnh.
"Tất cả pháp vô ngã,
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh".
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 279)
Trong sự vận hành của ngũ uẩn này dù có là hình thái gì đi nữa cũng tan nát, hủy hoại, hoại diệt thành khói mây. Thấy được như vậy, quán được như vậy, suy tư, tác ý, nghiền ngẫm được như vậy thì mình sẽ nhàm chán đối với tất cả năm uẩn, đó là con đường thanh tịnh đưa mình đến an lạc thật sự. Đừng bao giờ nghĩ rằng bây giờ mình khổ thì mai đây sẽ được vui, không bao giờ được có được điều đó.
"Xưa, có một ông già bán kẹo, đề trên thùng xe như thế này: 'Ngày mai ăn khỏi trả tiền'. Trẻ con xem thấy thích lắm, rủ nhau mua kẹo và định bụng rằng: 'Ngày mai mình sẽ ăn kẹo đã thèm. Vì ông bán kẹo đã nói vậy mà'.
Nhưng ngày mai, ngày mai… ngày mai rồi ngày mai, ông bán kẹo vẫn bắt bọn trẻ phải đưa tiền mới trao kẹo cho. Vì ngày mai là một ngày không bao giờ có". (Sưu tầm)
"Ngày mai ăn khỏi trả tiền" chỉ là một lối nói gạt trẻ con, vì ngày mai sẽ không bao giờ đến, có thật là chính cái khoảng khắc ngắn ngủi hiện tại này. Nếu mình nói "sau cơn mưa trời lại sáng", "qua cơn bĩ cực, đến hồi thái lai", nghĩa là sau khi quá cực khổ rồi mình sẽ được vui sướng, điều này là ảo tưởng. Mình đừng nghĩ ráng qua hết dịch bệnh mình sẽ khỏe lại, không phải như vậy mà sẽ tới những cái khổ khác vì cứ ở trong năm uẩn là khổ, chừng nào xuất ly khỏi năm uẩn thì chừng đó mới thật sự hết khổ. Phải thấy được sâu sắc như vậy thì mình mới có tâm viễn ly, nhàm chán, xuất ly, giải thoát, mới lập được chí cầu giải thoát, còn không chỉ là ảo tưởng, mơ mộng, hễ còn có "tôi" là còn có khổ.
Nay ta được thấu hiểu
Những tội lỗi ta làm
Ta chân thành sám hối
Những lỗi lầm ngày qua.
Ở trên là kể tội, hạch tội, luận tội, bày ra hết tất cả tội lỗi, đến nay là thấu hiểu. Có ý thức được những tội lỗi mình làm thì lúc đó mới chân thành sám hối thì việc sám hối đó mới có ý nghĩa, còn việc sám hối trên hình thức tụng cho hết, lạy cho xong thì không có giá trị. Thật sự thấy biết sâu sắc, lo lắng, sợ hãi, xấu hổ, hổ thẹn những tội lỗi mới có sự ray rứt, lo sợ nhân quả kinh hoàng rồi lạy xuống những cái lạy chân thành thì sự sám hối đó mới đúng pháp, mới có khả năng giúp cho mình tháo gỡ, cởi mở, tẩy sạch những cấu nhiễm của tâm.
Ai vì ta oán hận,
Ai vì ta khổ đau,
Ai vì ta tức tưởi,
Ai vì ta mạng chung.
Nay ta xin sám hối,
Xin lỗi các hữu tình,
Vì ngu si, thiếu trí,
Ta làm khổ hữu tình.
Có biết bao người oán hận vì mình, có biết bao nhiêu người đau khổ vì mình, những tiếng kêu tức tưởi của những con gà vịt bị cắt cổ, những tiếng kêu thảm thiết khi thọc huyết con heo, những tiếng kêu nhói lòng của những con trâu bò, tôm tép mình không nghe nhưng vẫn kêu lên kinh hoàng, đó là những gì mình có thể thấy, có thể cảm nhận được, còn những chúng sanh trong loài cô hồn, ngạ quỷ họ đau khổ, oán hận vì mình. Những người bị dựa, bị nhập, bị nhát là những chúng sanh đau khổ, tức tưởi, mạng chung mà mình không biết vì mình ngu si, thiếu trí, có những người oán hận, thù ghét mà mình cũng không hề hay biết do mình vô tình hoặc vô minh
Vì ngu si, thiếu trí
Ta tạo nên lỗi này
Nay ta xin sám hối
Lỗi này xin thứ tha.
Xin hữu tình thứ lỗi
Xin hữu tình thứ tha
Ta chân thành sám hối
Xin hữu tình thứ tha.
Những đoạn này có thể đưa vào nghi thức lạy sám hối, bây giờ đang học thì nhớ nhưng trở ra lại quên mất mình là kẻ tội lỗi. Phải nhớ mình là kẻ tội lỗi, không được quên điều này thì mới trú được trong tàm quý, không dám vênh váo, ngông nghênh, lên mặt với ai hết. Mình là kẻ tội lỗi thì mình hống hách, ta đây với ai? Mình là kẻ tội lỗi rồi mình kiêu căng với ai, ngạo mạn với ai? Trong Thiếu Lâm Tự có câu "lão Tăng là kẻ tội lỗi… tội lỗi… tội lỗi" đó là nhằm nhắc nhở bản thân để không được quên, khi gặp chuyện tốt lành thì "thiện tai… thiện tai… thiện tai", nghĩa là "lành thay… lành thay", đó là nhằm trách móc tội lỗi và tán dương thiện pháp. Vì thế khi có ai làm điều gì tốt thì hãy lập nói "lành thay… lành thay" cho quen, còn khi thấy cái xấu thì "tội lỗi… tội lỗi", những pháp nhỏ này nhằm tác thành sự tu tập chứ câu nói đó không phải để cho vui chơi. Mình thấy huynh đệ vừa đi vừa nói chuyện không để ý dẫm chết con vật dưới chân thì mình nói "tội lỗi… tội lỗi" để nhắc nhở họ đi phải có chánh niệm và cũng nhằm nhắc nhở cả bản thân mình. Mình đang khiêng đồ nặng nhọc không xuể mà có người tự vào giúp thì mình nói "lành thay… lành thay". Trong kinh Đức Phật cũng thường xuyên dùng từ "lành thay":
"-- Bạch Thế Tôn, chúng con nghe bài kệ do Tỳ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên như sau:
Hãy đứng dậy, lên đường,
Hãy dấn thân Phật giáo.
Hãy đánh bại Ma quân,
Như voi phá chòi lá.
Ai trong pháp luật này,
Ai trú không phóng dật,
Ðoạn tận vòng sống chết,
Sẽ chấm dứt khổ đau.
Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe bài kệ do Tỳ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên.
'-- Lành thay, lành thay, này các Tỳ-kheo. Lành thay, này các Tỳ-kheo! Các Ông đã được nghe bài kệ do Tỳ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới, đã nói lên'.
Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy". (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Hai IV. Arunavàti)
Nay ta kinh sợ quá
Những tội lỗi ta làm
Nay ta kinh sợ quá
Những lỗi lầm của ta.
Khi nãy là ăn năn sám hối, còn bây giờ thấy sợ đối với tội lỗi. Những pháp chúng ta học trong kinh Nikāya được truyền tải trong bài này hết, trong Tương Ưng Kasspa, ngài đại Ca-diếp nói nếu không có sự nhiệt tình, sợ hãi thì không thể chứng đắc Niết-bàn.
"Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
-- Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Như thế nào, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách?
I
-- Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm.
Như vậy, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm.
II
Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Cho nên học rồi phải nhớ, nhớ rồi phải đem ra ứng dụng, thực tập thì mới có hiệu quả.
Nay ta kinh sợ quá
Bản ngã hư danh này
Cái mang đầy tai họa
Cái gây nhiều khổ đau.
Bản ngã này chỉ có cái tên rỗng thôi nhưng lại mang đầy tai họa, hiểm họa. Thật sự kinh sợ bản ngã ngu si đã gây ra nhiều khổ đau, cái bản ngã hư danh này làm không biết bao tai họa, bao khổ đau
Nay ta mau cố gắng
Tránh những lỗi lầm này
Để ta không tạo nữa
Những khổ người, khổ ta.
Khi đã biết sợ thì phải nhắc nhở bản thân phải phát nguyện cố gắng tránh những lỗi này, không tạo ra nữa. Không phải sợ rồi là thôi mà phải phát nguyện, cố gắng tránh né không gây ra những cái khổ người, khổ ta. Đừng vì bản ngã hư danh này mà tạo ra đau khổ, tai họa cho mình và cho những người xung quanh mình. Đừng vì một tiếng nói, một hành động mà gây bất hòa, tranh cãi, ghét bỏ nhau trong đạo tràng, điều đó thật dại khờ, ấu trĩ, ngu si.
Nay ta mau từ bỏ
Bản ngã hư danh này
Cái đầy trò ác độc,
Đầy chướng nghiệp, oan gia.
Nay con mau từ bỏ tên tuổi rỗng tuếch này, từ bỏ cái chấp ngã hư ảo, cái bày trò ác độc, đầy nghiệp chướng oan gia này. Tất cả những trò ác độc trên đời này cũng từ thứ này này, những trò bày mưu, mưu mô xảo quyệt cũng từ bản ngã hư danh đó, mưu sâu kế độc là nó, thâm độc, hiểm độc là bản ngã đó. Tất cả những nghiệp chướng, oan gia trái chủ, cựu thù, chấp đối, hận thù cũng từ cái bản ngã ác độc này.
Nay tâm ta từ bỏ
Từ bỏ bản ngã này
Từ bỏ kiêu mạn này
Ta từ bỏ khổ đau.
Nay ta từ bỏ bản ngã, chấp ngã, từ bỏ khổ đau. Xin mời đại chúng trải rộng tâm xả.
Tâm xả này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
Kính chúc quý thầy, quý cô và quý Phật tử có một ngày an lành, an trú trong tâm an tịnh, lắng dịu, tâm buông xả.
./.
GIẢNG GIẢI BÀI THIỀN QUÁN
XẢ VÔ LƯỢNG TÂM 7
–Thích Minh Thành–
Không biết cẩn thận, không biết phòng hộ, không thấy hiểm họa, nguy hiểm trong đời sống này, trong tất cả cảnh giới sắc; thanh; hương; vị; xúc đó, nhưng có thấy sự nguy hiểm cũng không dừng được vì cái dục thúc giục muốn đi ra chợ, muốn tranh giành mua đồ, hễ nghe chuẩn bị phong tỏa là chuẩn bị muu đồ, dù trong nhà còn đồ ăn nhưng vẫn chen chúc đi mua làm tăng nguy cơ lây nhiễm, nếu không phòng hộ, bảo vệ, không nhiếp phục, chế ngự thì đau khổ lâu dài.
Khóc than rồi than khóc
Than khóc rồi khóc than
Thương thay trò than khóc,
Của vô thường, tái sanh.
Tái sanh và tái tử
Đau khổ đã nát nhừ,
Lại còn ác nghiệp cũ,
Chờ thời để ra tay.
Chữ "nát nhừ" này rất mạnh, khổ đến mức độ nát nhừ như tương nhưng vẫn chưa thấy khổ, đó là do vô minh. Dù cho cảnh tượng bây giờ đang như vậy nhưng hỏi đến vẫn nói bình thường, chúng sanh tâm thì mê, mắt thì mù lòa, bên ngoài là bóng đêm, chính vì vậy hết khóc than rồi than khóc, hết than khóc lại đến khóc than. Tại sao lại vô thường, tại sao lại tái sanh sống chết liên tục vậy, tại sao lại khổ khóc than hoài vậy? Là do không biết phòng hộ, không biết bảo vệ, không biết canh chừng, không biết hiểm họa của luân hồi, không biết tai nạn của sanh tử, không biết sự nguy nan của các hành trong ngũ uẩn, chỉ toàn nhìn thấy vị ngọt vì thế sự tu của chúng ta hay ở chỗ nhìn thấy được sự nguy hại trong các hành, đó là chỗ tuyệt diệu, bí kiếp nằm ngay đây. Phải luôn luôn nhìn thấy sự nguy hiểm và tác hại trong thế gian này, trong thế giới này, trong thân tâm này, mình thấy nó để sanh ra sự nhàm chán, từ từ mới ly tham, xả bỏ được, thấy được sự nguy hiểm và tác hại thì tự động nhân quả hệ của nó sẽ đưa đến cho mình sự nhàm chán, không tham nữa, nếu chưa thấy mà nói đừng tham, ráng kiềm chế rồi cũng tham lại, không thực sự thấy đó là lửa than mà thấy là cục vàng, hồng ngọc nên phải nhào vô, đó gọi là ảo tưởng, cho nên cứ "tái sanh rồi tái tử, đau khổ đã nát nhừ, lại còn ác nghiệp cũ, chờ thời để ra tay". Ác nghiệp cũ này vô cùng nguy hiểm, nghiệp cũ luôn rình rập chúng ta để chờ thời ra tay, mình gặp lại những chủ nợ cũ mà mình không biết họ là chủ nợ nên mình khẩu tranh, chiến tranh, cái nợ cũ chưa trả hết lại chồng thêm nợ mới, vì đó là chủ nợ đến đòi chẳng những mình không trả lại còn đấu tranh thì đương nhiên người ta không để yên cho mình, thế là nợ chồng nợ. Phải quán chiếu cho sâu sắc câu "lại còn ác nghiệp cũ, chờ thời để ra tay", tự nhiên họ cứ đến kiếm chuyện với mình từ vật chất đến tinh thần, một lần không được thì đến lần hai, lần ba, lần tư thì phải biết đó là ác nghiệp cũ, là chủ nợ của mình nên mình phải đem tâm trả nợ, đem tâm đáp đền, đem tâm thấy rõ được nhân quả ác nghiệp trong quá khứ, đem tâm từ nhẫn để đáp lại thì có khả năng giảm nợ cho đến hết nợ cũ. Nếu mình phản kháng, chống cự, chiến đấu thì nợ cũ chưa xong lại chồng thêm nợ mới, chúng ta bị như vậy thường xuyên, vợ chồng, anh em, thầy trò, huynh đệ, tỉ muội đều có duyên nợ với nhau chứ không phải tự nhiên gặp được nhau, nhưng nếu biết chuyển cái duyên đó thành thiện duyên, pháp đó thành thiện pháp thì tốt lành, nếu không biết chuyển thì duyên ác, bất thiện pháp sẽ tăng trưởng, nếu không có trí tuệ, không có sự thiền quán sâu sắc thì làm sao mình biết đối tượng đó là chủ nợ của mình? Gặp là phản ứng ngay "tôi có làm gì mấy người đâu, sao cứ kiếm chuyện với tôi hoài vậy?", đó là sự thất bại, có những người vô duyên vô cớ mới nhìn nhau đã không ưa, chưa nói chuyện mà chỉ mới thấy dáng vẻ đã ghét, đó là oan gia trái chủ, là cựu thù, tức là kẻ thù ngày xưa gặp lại, có người mới gặp lần đầu đã thấy thương mến thì đó cũng là người thương ngày xưa gặp lại. Những cái này nếu mình không có chánh niệm tỉnh giác, bình tĩnh sáng suốt, trí tuệ quán chiếu là dính bẫy, làm bậy rồi tạo thêm ác nghiệp, ác nghiệp này ra tay rất nặng. Mỗi ngày trên báo chí đều có tin tức đâm nhau, chém nhau, giết nhau, một cô gái quen người yêu nhưng chia tay quen người khác, hai người vào khách sạn thì người cũ nhào vô đâm chết người đàn ông mới, đâm luôn cả cô người yêu cũ 38 nhát dao, đó là minh chứng cho câu "lại còn ác nghiệp cũ, chờ thời để ra tay", trước đó hai người này là người yêu thương mà giờ thành kẻ thù, nhất là thời đại này ác nghiệp lại càng kinh hoàng cho nên phải hết sức cẩn thận và chánh niệm với nghiệp quả. Có những cái chết vô cùng lãng xẹt không thể tưởng tượng được, có nhiều chuyện lạ kinh khủng chứ không phải chuyện lạ tốt lành, phải có tâm an tịnh, lắng dịu, trí tuệ bình tĩnh, sáng suốt để nhìn thấy đâu là chủ nợ, tất cả đều phải dùng tâm từ vì thế tâm hiền, tâm từ tuyệt đối quan trọng, chỉ có hai tâm này mới hóa giải nghiệp chướng, hóa giải oan gia trái chủ, tháo gỡ các nghiệp cũ và ngăn chặn các nghiệp mới. Nếu không có tâm hiền rồi sân hận người ta, cự cãi vài câu có thể xảy ra chuyện đại sự.
Vì ngu si chẳng rõ,
Nghiệp quá, hiện, vị lai,
Nên khi oan trái đến,
Ta chống đối thẳng tay.
Cái tâm u mê, ngu si không thấy rõ nghiệp có quá khứ, hiện tại, vị lai, mình chỉ thấy được hiện tại, "tại sao lại kiếm chuyện với tôi", "tại sao cứ la mắng tôi", "tại sao lại sỉ vả, xầm xì, chỉ trích tôi", đó là do không biết đó là những chủ nợ cũ nên khi oan trái đến, mình chống đối thẳng tay. Mình thì chống đối thẳng tay trong khi nghiệp lại chờ thời ra tay, cái nào cũng muốn xuất chiêu, cùng nhau ra tay là cùng nhau hành hạ, đấu đá, đánh đấm, đâm chém rồi cùng nhau vào tù, cùng nhau đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thật là lo sợ! Ta không biết đó là nợ cũ, là ác nghiệp quá khứ của ta.
Ta dại khờ trả đũa
Khi nghiệp cũ đến ta
Nên tạo thêm nghiệp mới
Tạo thêm nhiều oan gia.
Mình trả đũa là mình dại khờ, ngu muội chứ không phải trả đũa là hay. Đây là cả một chủ đề quán chiếu về nghiệp cho nên Minh Thành mới nói đây là tinh hoa của Nikāya, có rất nhiều khía cạnh, trí tuệ trong đây, và đây là trí huệ về nghiệp. Mỗi một pháp như vậy mình phải học, phải hiểu, phải biết, phải thành tựu trí huệ về pháp đó thì khi pháp đó xuất hiện, mình rơi vào tình trạng đó mình mới biết hướng xử lí, còn mình không có trí tuệ đó, mình ngu si, mờ tối, ngu muội, vô tri, không hiểu, không thấy thì mình sẽ làm hư chuyện, tạo thêm nhiều oan gia, đã là oan gia rồi mình còn nhân thêm oan gia nữa, đã ghét rồi mình còn nâng lên thành thù, đã là thù mình còn nâng lên thành hận thì có thông minh, trí tuệ không? Đó là dại khờ, ngu muội, si mê. Mình quán chiếu biết đó là chủ nợ, là nghiệp cũ của mình vì cứ nhắm vào mình kiếm chuyện, gây sự, cự cãi nên cần dùng tâm hiền, tâm từ, dùng sự từ nhẫn, nhẫn nhịn, từ tâm để hóa giải ân oán này, hóa giải oan trái, oan gia này. Nếu biết được điều này, thực hành được thì đời sống sẽ rất bình an, có nghiệp nặng cũng biến thành nghiệp nhẹ, nghiệp nhẹ trở thành hết nghiệp. Ngược lại không biết nhân quả, không biết quán chiếu về nghiệp thì ôi thôi, không có đời kiếp nào dừng lại vì nghiệp cũ chồng thêm nghiệp mới thì làm sao hết, nghiệp cũ lại đòi thì chống trả thế là nhân lên nghiệp mới, cứ làm hoài như vậy đến khi nào dừng lại trong khi oan gia của mình đâu phải chỉ có một người, biết bao nhiêu người làm sao mình biết hết được, nhiều khi oan gia lại chính là mẹ con, cha mẹ, vợ chồng với nhau, thế nân dân gian có câu "con là nợ, vợ là oan gia, cửa nhà là nghiệp chướng", gần chết cũng còn tranh giành nhà cửa, tài sản nhưng nói câu này với mấy người đang yêu không tin đâu, chỉ đến khi lớn tuổi từng trải sự đời mới thấy quá đúng. Vì thế đừng nghĩ đơn giản mình tu chỉ có một cái mà phải có nhiều trí tuệ trong nhiều góc độ của đời sống này, ngũ uẩn này, thân tâm này, phải thành tựu nhiều khía cạnh về trí tuệ thì đến khi có việc xảy ra với mình thì mình mới bình tĩnh nhìn sâu sắc mới thấy được, từ đó mới tìm ra nút thắt chỗ nào để mở, còn không cứ nắm hai đầu trong khi cái nút thắt ở giữa chỉ càng siết chặt hơn. Mình mong muốn có đời sống bình an, cởi mở nhưng mình lại đang hành động ngược lại, chỉ toàn nắm hai đầu dây mà kéo trong khi cái nút ở giữa, đó là cái nút của hận thù, sân hận, si mê, ác nghiệp, như vậy nắm hay đầu dây mà kéo thì trong vô lượng vô biên kiếp cũng không mở được, chỉ có nắm ngay nút thắt mới tháo ra được. Đệ tử Minh Thành được ở nơi núi rừng này an ổn tu hành trong 16 năm là do ứng dụng cái này rất nhiều, những người mình giúp đỡ không ít mà bây giờ lại quay lại muốn đốt chùa, mình quán chiếu biết đây chính là ác nghiệp cũ nên phải dùng tâm từ mới được bình an cho đến ngày hôm nay. Nếu mình không đủ trí tuệ thì mình sẽ không biết nghiệp quá khứ của mình như thế nào, rồi đến nghiệp hiện tại và nghiệp vị lai, không khéo sẽ gây thù chuốc oán rất nhiều, mình thi ân bố đức nhưng vẫn bị oán hận là chuyện lạ nên phải quán chiếu để biết đó là nghiệp cũ, là chủ nợ cũ của mình. Mình luôn dùng tâm từ, dùng sự bố thí thì mình mới an ổn tu học được, mới gặp được chánh pháp, nếu không ý thức được nghiệp cũ thì có lẽ giờ này đã không còn ngồi đây. Tự mỗi ngày làm đề tài thiền quán để quán chiếu lại những gì mình từng gặp, từng thấy, từng trải, phải cẩn thận vì nghiệp lúc nào cũng chờ thời để ra tay chứ không phải nó bỏ qua cho mình, đã gây ra nghiệp thì phải trả chứ không thể nào thoát được nó, đại dịch chính là nghiệp cũ của chúng sanh, bão lụt, hạn hán, mất mùa, sạt lở, ngập mặn… ngoài ra còn yếu tố con người và tâm thức.
Nghiệp như hình với bóng,
Theo đuổi sát gót ta,
Công bằng và chính xác,
Chẳng vị nể, buông tha.
Nghiệp theo ta sát gót, mình đi tới đâu là nó theo tới đó, dù cho có vào rừng nghiệp cũng không mất đi, dù chạy lên núi, trốn dưới biển thì nghiệp vẫn ở bên cạnh. Kinh Nhân Quả có câu:
"Giả sử bá thiên kiếp,
Sở tác nghiệp bất vong,
Nhân duyên hội ngộ thời
Quả báo hoàn tự thọ".
Dịch nghĩa:"Giả sử trăm ngàn kiếp,
Nghiệp đã tạo không mất,
Khi đã đủ nhân duyên,
Quả báo tự mình chịu".
Nghĩa là, dù trải qua trăm ngàn kiếp, chỗ tạo nghiệp của mình không có mất, khi nhân duyên đến rồi, quả báo phải chịu trả mà thôi. Quả đó là trái độc hay quả ngọt là do người gieo hột giống, những người làm nghề đồ tề, giết mổ khi gần chết phải để con dao ngay đầu gường, vì trong thọ; tưởng; hành của họ đang diễn ra những việc họ đã làm cho nên Đức Phật mới nói tác ý là nghiệp.
"Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sanh khởi? Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Những việc mình đã nghe, đã thấy, đã thực hành, tiếp xúc, có cảm thọ, cảm giác, đã có hình bóng cất giữ trong tâm thì lúc trước khi chết nó sẽ hiện ra lại ám ảnh trong tâm. Đối với thù hận cũng giống vậy, những người nào hận thù lâu năm, thậm chí sống để dạ chết mang theo thì khi sắp chết những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ được cất giữ trong tâm sẽ hiện lên. Đối với tham ái cũng vậy, thương yêu một người nào đó thì dù có đi đến đâu chăng nữa cảm giác, hình bóng, suy nghĩ về người đó vẫn không mất đi, đó là nó theo mình như hình với bóng cho nên mới đau khổ. Dù ở trong nhung gấm, lụa là, dù ngồi trên ngai vàng nhưng trong tâm là những ác nghiệp, khi ngồi lại đối diện tâm thức thì những ác nghiệp đó sống dậy áp đảo, xâm chiếm làm đau khổ tâm. Đó là lý do tại sao phải sống lành, nói lời lành, nghĩ điều lành, làm việc lành, làm được như vậy thì trong tâm lúc nào cũng hoan hỉ, nhìn lại trong tâm thấy chỉ toàn thiện pháp sẽ được an lành, bình an khi sống, khi chết cũng an tường ra đi. Nếu chất chứa trong tâm những suy nghĩ ác, những lời nói ác, hành động ác nghiệp thì khi chết chỉ toàn thấy bất an, hoảng loạn, sợ hãi. Phạm tội giết người thì có trốn chân trời góc bể nào tòa án lương tâm vẫn không buông tha, những hành động, suy nghĩ, cảm giác cứ hiện khởi trở lại, cuối cùng chịu không nổi phải ra đầu thú. Một người lúc nào cũng đi cứu người, làm từ thiện, giúp đỡ mọi người thì ở đâu cũng được an lạc, những hình bóng đó hiện ra, những cảm giác, suy nghĩ tốt lành, nhìn lại mình không làm sai. Qua đây chúng ta mới hiểu được từ trạo hối trong năm triền cái, khi làm những việc xấu ác thì khi ngồi một mình sẽ hối hận, tâm ray rứt, bứt rứt, đó là ý nghiệp, những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác cứ hiện ra trước mắt. Vì thế nếu trong ba nghiệp còn ác bất thiện pháp thì làm sao đi vào định được? Người ta nghĩ rằng khổ mới chứng ngộ nhưng trong kinh Nikāya nói chỉ có hỷ lạc mới vào được thiền định, cái tâm hỷ lạc mới đi vào định được.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn Thiền này. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Làm tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm.
Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.
Ðoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Những pháp này, này các Tỳ-kheo, là bốn Thiền.
Ví như, này các Tỳ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông; cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập bốn Thiền, làm cho sung mãn bốn Thiền, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Và này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập bốn Thiền như thế nào... xuôi về Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm tịnh chỉ tầm và tứ... nội tĩnh, nhất tâm... Thiền thứ ba... Thiền thứ tư. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập bốn Thiền, làm cho sung mãn bốn Thiền, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IX. Tương Ưng Thiền, I. Phẩm Sông Hằng Rộng Thuyết, I. Thanh Tịnh Thứ Nhất)
Tại sao tâm được hỷ lạc? Vì không thấy ác bất thiện pháp bên trong, cho nên giới làm cho thân, miệng trong sạch, từ đó tâm được trong sạch, khi tâm trong sạch thì hỷ lạc mới vào thiền định được, đây là chỗ sâu sắc trong kinh Nikāya, từ hỷ lạc mới vào định chứ không phải từ khổ mới vào định được. Khổ thì tâm không định được vì ngồi lại chỉ thấy những việc ác đã làm, mắng người này chửi người kia, hại người nọ, lợi dụng, mưu tính người khác, tâm ray rứt, hối hận là chướng ngại của thiền định, đó gọi là trạo cử, sự ray rứt, hối hận trong tâm. Hiện nay mình tu không nhập định, không thành tựu định, không thành tựu Thánh trí huệ vì không thành tựu giới trọn vẹn, cho nên khi ngồi lại là những ác bất thiện pháp sanh khởi lên, khi sanh khởi lên như vậy thì tâm mình lại hối hận, ray rứt, nó làm chướng ngại thiền định.
"Vô thỉ, này các Tỳ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỳ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, IV. Phẩm Rừng Simsapà, V. Một Trăm Cây Thương)
Ngày xưa các vị giữ gìn giới hạnh trọn vẹn nên ba nghiệp trong sạch, thân miệng trong sạch nên khi ngồi lại thì ý thanh tịnh, mà thanh tịnh sanh hỷ lạc, tác ý thêm nữa là ly dục hỷ lạc sẽ vào được các tầng thiền định. Tại sao người ta được hỷ lạc? Vì người ta nhìn lại tâm họ không có ác bất thiện pháp, tâm an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng, an lạc, hỷ lạc khi nhìn lại không có lỗi lầm, vì thế mình thường xuyên thiền quán bài "Hiện tại lạc trú".
Hiện tại không ái dục
Hiện tại không giận sân
Hiện tại không hôn ám
Hiện tại không lỗi lầm
Hiện tại không nghi vấn
Hiện tại thật bình an...
Hiện tại không lầm lỗi tức là không có ba ác hành, không nghĩ ác, không làm ác, không nói ác thì lúc đó thân tâm lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, từ chỗ đó hỷ lạc dâng trào mới đi vào các tầng thiền. Còn mình ngồi lại là trong tâm hiện lên rất nhiều chuyện, từ dục ái, sân hận cho đến những cái xấu ác khác trong tâm làm không ngồi thiền được, muốn ngồi được phải sám hối nghiệp chướng, phát lồ lạy sám hối để tẩy rửa những chuyện xấu ác đó rồi mới bắt đầu tu được. Ai cũng có ác nghiệp chứ không một ai là không có nhưng có người thành tựu, có người không là do sám hối, phát lồ, do sự tẩy rửa những cảm thọ đó từ từ cho đến khi trong sạch. Mức độ trong sạch mình sẽ biết rõ, chỉ cần kiên trì, bền chí, vì thế chỗ thâm sâu tận cùng chính là thọ; tưởng; hành; thức trong tâm, khi đối diện lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bên trong chính là tòa án lương tâm của mình, người nào làm chuyện xấu ác nhiều ngủ thường gặp ác mộng. Thọ; tưởng; hành của ông vua với thọ; tưởng; hành của người ăn xin giống hay khác nhau? Cảm giác, suy nghĩ, hình bóng không hề khác nhau, làm ác thì thọ; tưởng; là ác, làm thiện thì thọ; tưởng; hành là thiện, người ăn xin cũng giống y như vậy, chỉ khác nhau ở vai vế, địa vị xã hội thôi còn tâm thức đều giống nhau, ngũ uẩn không khác nhau, như vậy mới gọi là "công bằng và chính xác, chẳng vị nể, buông tha". Trong các bài Sám thường ghi:
Đài gương nghiệp cảnh sáng lòa
Soi đường thiện ác, chối qua được nào
Người nhân đức cho vào cửa phước
Kẻ hung hoang giải trước hình ty.
Người ta nói rằng sau khi chết xuống âm phủ sẽ có một cái đài rất lớn và to tròn, gọi là đài gương nghiệp cảnh. Khi Diêm Vương hỏi tội mà chối thì người đó phải nhìn vào gương, những gì người đó làm trong quá khứ sẽ hiện ra trong gương nên không còn đường nào chối tội được, cái đài gương đó chính là thọ; tưởng; hành, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm được hiện khởi trở lại, chính là đài gương nghiệp cảnh. Mình làm việc tốt thì ngồi lại những hình bóng đó hiện ra nên thấy vui vẻ, làm chuyện xấu ngồi lại hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hiện lại làm mình bất an, lo lắng. Không phải được làm vua có quyền lực rồi làm ác là những hình bóng trong tâm toàn là thiện, làm ác thì hình bóng trong tâm là ác, đó gọi là công bằng và chính xác. Ở ngoài cũng tương ứng với trong tâm, sau này hoặc trong những đời kiếp sau mình sẽ chịu đựng những cảm thọ tương ứng với nghiệp quả mình đã gây ra, chính những cái đó sẽ dẫn dắt mình đi, cái nghiệp này là một trong tứ bất tư nghị, một trong bốn cái không thể tưởng tượng được, Đức Phật nói nếu tưởng tượng mình sẽ điên loạn cho đến chết.
"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.
Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.
Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII) Không Thể Nghĩ Ðược).
Một người giàu có, danh tiếng, nổi danh khắp một vùng mà cuối cùng bò lê bò lếch, không có áo mặc, không có cơm ăn phải đi ăn xin ngoài đường, đó là nghiệp quả không thể tưởng tượng được cho nên phải cẩn thận với nghiệp quả, cẩn thận với những suy nghĩ, lời nói và hành động, phải dè chừng, kiểm soát từng chút một những cái đó. Nghiệp không hề vị nể, buông tha bất kì ai.
Nay ta được thấu hiểu,
Nhân quả rất kinh hoàng,
Nay ta được thấu hiểu,
Chấp ngã là khổ đau.
Nay ta được thấu hiểu
Nguy hiểm của luân hồi
Nay ta được thấu hiểu
Đau khổ của tái sanh.
Nay ta đã hiểu nhân quả rất kinh hoàng, kinh hãi, đáng sợ, vì thế mình phải cực kì sợ hãi nhân quả. Trước khi làm việc gì cũng phải nghĩ đến hậu quả của nó, đừng để mình sống trong si ám, ngu mê, vô minh, mê muội, dại khờ, trong bóng đêm. Trong Tương Ưng Lakkana ghi lại, mới ngày trước là đệ nhất phu nhân của kinh thành vậy mà hôm sau trở thành quỷ đói chứ không phải như trong phim ảnh chết rồi về báo mộng vẫn có hình tướng giống như còn sống.
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)
Chết rồi là đổi qua một thế giới khác, chẳng qua là mình thấy họ như lúc họ còn sống là do thọ; tưởng; hành của mình hoặc người ta hiện hình hài như vậy để mình biết chứ thật ra họ đã biến dạng, sáng sớm làm tướng nhưng trưa có khi lại ở dưới địa ngục, nhân quả kinh hoàng đến như vậy đó cho nên khi nhìn một người danh tiếng lẫy lừng lúc còn sống nhưng đến khi nhắm mắt không biết họ trở thành gì, đừng thấy hào quanh xung quanh họ mà ham vì chỉ là hư ảo mà thôi. Còn nhìn một người nghèo khổ đơn sơ, không có gì đáng giá bên người nhưng chỉ cần nhắm mắt có thể trở thành vua trời Phạm thiên, vì thế tâm tu tập, đức hạnh bên trong mới quý nhưng không ai thấy được, cái này mới quyết định đời sau, tất cả những hình tướng, hình dạng, cảnh giới cũng chỉ là khói mây, chỉ cần một ý niệm xấu trong thọ; tưởng; hành thôi cũng làm rơi xuống vực sâu, không có gì là chắc chắn ở đây cả vì khi quán chiếu thọ; tưởng; hành; thức chúng ta thấy nó biến đổi, sanh diệt liên tục, khi chúng ta chưa Nhập Lưu thì chúng ta còn trôi dạt hết đời sống này đến đời sống khác, vẫn còn nổi loạn, còn trong phạm trù bất an, không có gì bền vững và bảo đảm trong ngũ uẩn này.
"Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh".
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 278)
Các hành là khổ đau nghĩa là sự vận hành của ngũ uẩn đều là khổ, sắc; thọ; tưởng; hành; thức gì cũng vô thường, trống rỗng, khổ đau, vô ngã. "Với tuệ quán thấy vậy, đau khổ được nhàm chán" tức là từ chỗ khổ đau mình nhàm chán, không tham muốn gì nữa, đó là con đường thanh tịnh.
"Tất cả pháp vô ngã,
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh".
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 279)
Trong sự vận hành của ngũ uẩn này dù có là hình thái gì đi nữa cũng tan nát, hủy hoại, hoại diệt thành khói mây. Thấy được như vậy, quán được như vậy, suy tư, tác ý, nghiền ngẫm được như vậy thì mình sẽ nhàm chán đối với tất cả năm uẩn, đó là con đường thanh tịnh đưa mình đến an lạc thật sự. Đừng bao giờ nghĩ rằng bây giờ mình khổ thì mai đây sẽ được vui, không bao giờ được có được điều đó.
"Xưa, có một ông già bán kẹo, đề trên thùng xe như thế này: 'Ngày mai ăn khỏi trả tiền'. Trẻ con xem thấy thích lắm, rủ nhau mua kẹo và định bụng rằng: 'Ngày mai mình sẽ ăn kẹo đã thèm. Vì ông bán kẹo đã nói vậy mà'.
Nhưng ngày mai, ngày mai… ngày mai rồi ngày mai, ông bán kẹo vẫn bắt bọn trẻ phải đưa tiền mới trao kẹo cho. Vì ngày mai là một ngày không bao giờ có". (Sưu tầm)
"Ngày mai ăn khỏi trả tiền" chỉ là một lối nói gạt trẻ con, vì ngày mai sẽ không bao giờ đến, có thật là chính cái khoảng khắc ngắn ngủi hiện tại này. Nếu mình nói "sau cơn mưa trời lại sáng", "qua cơn bĩ cực, đến hồi thái lai", nghĩa là sau khi quá cực khổ rồi mình sẽ được vui sướng, điều này là ảo tưởng. Mình đừng nghĩ ráng qua hết dịch bệnh mình sẽ khỏe lại, không phải như vậy mà sẽ tới những cái khổ khác vì cứ ở trong năm uẩn là khổ, chừng nào xuất ly khỏi năm uẩn thì chừng đó mới thật sự hết khổ. Phải thấy được sâu sắc như vậy thì mình mới có tâm viễn ly, nhàm chán, xuất ly, giải thoát, mới lập được chí cầu giải thoát, còn không chỉ là ảo tưởng, mơ mộng, hễ còn có "tôi" là còn có khổ.
Nay ta được thấu hiểu
Những tội lỗi ta làm
Ta chân thành sám hối
Những lỗi lầm ngày qua.
Ở trên là kể tội, hạch tội, luận tội, bày ra hết tất cả tội lỗi, đến nay là thấu hiểu. Có ý thức được những tội lỗi mình làm thì lúc đó mới chân thành sám hối thì việc sám hối đó mới có ý nghĩa, còn việc sám hối trên hình thức tụng cho hết, lạy cho xong thì không có giá trị. Thật sự thấy biết sâu sắc, lo lắng, sợ hãi, xấu hổ, hổ thẹn những tội lỗi mới có sự ray rứt, lo sợ nhân quả kinh hoàng rồi lạy xuống những cái lạy chân thành thì sự sám hối đó mới đúng pháp, mới có khả năng giúp cho mình tháo gỡ, cởi mở, tẩy sạch những cấu nhiễm của tâm.
Ai vì ta oán hận,
Ai vì ta khổ đau,
Ai vì ta tức tưởi,
Ai vì ta mạng chung.
Nay ta xin sám hối,
Xin lỗi các hữu tình,
Vì ngu si, thiếu trí,
Ta làm khổ hữu tình.
Có biết bao người oán hận vì mình, có biết bao nhiêu người đau khổ vì mình, những tiếng kêu tức tưởi của những con gà vịt bị cắt cổ, những tiếng kêu thảm thiết khi thọc huyết con heo, những tiếng kêu nhói lòng của những con trâu bò, tôm tép mình không nghe nhưng vẫn kêu lên kinh hoàng, đó là những gì mình có thể thấy, có thể cảm nhận được, còn những chúng sanh trong loài cô hồn, ngạ quỷ họ đau khổ, oán hận vì mình. Những người bị dựa, bị nhập, bị nhát là những chúng sanh đau khổ, tức tưởi, mạng chung mà mình không biết vì mình ngu si, thiếu trí, có những người oán hận, thù ghét mà mình cũng không hề hay biết do mình vô tình hoặc vô minh
Vì ngu si, thiếu trí
Ta tạo nên lỗi này
Nay ta xin sám hối
Lỗi này xin thứ tha.
Xin hữu tình thứ lỗi
Xin hữu tình thứ tha
Ta chân thành sám hối
Xin hữu tình thứ tha.
Những đoạn này có thể đưa vào nghi thức lạy sám hối, bây giờ đang học thì nhớ nhưng trở ra lại quên mất mình là kẻ tội lỗi. Phải nhớ mình là kẻ tội lỗi, không được quên điều này thì mới trú được trong tàm quý, không dám vênh váo, ngông nghênh, lên mặt với ai hết. Mình là kẻ tội lỗi thì mình hống hách, ta đây với ai? Mình là kẻ tội lỗi rồi mình kiêu căng với ai, ngạo mạn với ai? Trong Thiếu Lâm Tự có câu "lão Tăng là kẻ tội lỗi… tội lỗi… tội lỗi" đó là nhằm nhắc nhở bản thân để không được quên, khi gặp chuyện tốt lành thì "thiện tai… thiện tai… thiện tai", nghĩa là "lành thay… lành thay", đó là nhằm trách móc tội lỗi và tán dương thiện pháp. Vì thế khi có ai làm điều gì tốt thì hãy lập nói "lành thay… lành thay" cho quen, còn khi thấy cái xấu thì "tội lỗi… tội lỗi", những pháp nhỏ này nhằm tác thành sự tu tập chứ câu nói đó không phải để cho vui chơi. Mình thấy huynh đệ vừa đi vừa nói chuyện không để ý dẫm chết con vật dưới chân thì mình nói "tội lỗi… tội lỗi" để nhắc nhở họ đi phải có chánh niệm và cũng nhằm nhắc nhở cả bản thân mình. Mình đang khiêng đồ nặng nhọc không xuể mà có người tự vào giúp thì mình nói "lành thay… lành thay". Trong kinh Đức Phật cũng thường xuyên dùng từ "lành thay":
"-- Bạch Thế Tôn, chúng con nghe bài kệ do Tỳ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên như sau:
Hãy đứng dậy, lên đường,
Hãy dấn thân Phật giáo.
Hãy đánh bại Ma quân,
Như voi phá chòi lá.
Ai trong pháp luật này,
Ai trú không phóng dật,
Ðoạn tận vòng sống chết,
Sẽ chấm dứt khổ đau.
Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe bài kệ do Tỳ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên.
'-- Lành thay, lành thay, này các Tỳ-kheo. Lành thay, này các Tỳ-kheo! Các Ông đã được nghe bài kệ do Tỳ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới, đã nói lên'.
Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy". (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Hai IV. Arunavàti)
Nay ta kinh sợ quá
Những tội lỗi ta làm
Nay ta kinh sợ quá
Những lỗi lầm của ta.
Khi nãy là ăn năn sám hối, còn bây giờ thấy sợ đối với tội lỗi. Những pháp chúng ta học trong kinh Nikāya được truyền tải trong bài này hết, trong Tương Ưng Kasspa, ngài đại Ca-diếp nói nếu không có sự nhiệt tình, sợ hãi thì không thể chứng đắc Niết-bàn.
"Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
-- Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Như thế nào, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách?
I
-- Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm.
Như vậy, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm.
II
Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Cho nên học rồi phải nhớ, nhớ rồi phải đem ra ứng dụng, thực tập thì mới có hiệu quả.
Nay ta kinh sợ quá
Bản ngã hư danh này
Cái mang đầy tai họa
Cái gây nhiều khổ đau.
Bản ngã này chỉ có cái tên rỗng thôi nhưng lại mang đầy tai họa, hiểm họa. Thật sự kinh sợ bản ngã ngu si đã gây ra nhiều khổ đau, cái bản ngã hư danh này làm không biết bao tai họa, bao khổ đau
Nay ta mau cố gắng
Tránh những lỗi lầm này
Để ta không tạo nữa
Những khổ người, khổ ta.
Khi đã biết sợ thì phải nhắc nhở bản thân phải phát nguyện cố gắng tránh những lỗi này, không tạo ra nữa. Không phải sợ rồi là thôi mà phải phát nguyện, cố gắng tránh né không gây ra những cái khổ người, khổ ta. Đừng vì bản ngã hư danh này mà tạo ra đau khổ, tai họa cho mình và cho những người xung quanh mình. Đừng vì một tiếng nói, một hành động mà gây bất hòa, tranh cãi, ghét bỏ nhau trong đạo tràng, điều đó thật dại khờ, ấu trĩ, ngu si.
Nay ta mau từ bỏ
Bản ngã hư danh này
Cái đầy trò ác độc,
Đầy chướng nghiệp, oan gia.
Nay con mau từ bỏ tên tuổi rỗng tuếch này, từ bỏ cái chấp ngã hư ảo, cái bày trò ác độc, đầy nghiệp chướng oan gia này. Tất cả những trò ác độc trên đời này cũng từ thứ này này, những trò bày mưu, mưu mô xảo quyệt cũng từ bản ngã hư danh đó, mưu sâu kế độc là nó, thâm độc, hiểm độc là bản ngã đó. Tất cả những nghiệp chướng, oan gia trái chủ, cựu thù, chấp đối, hận thù cũng từ cái bản ngã ác độc này.
Nay tâm ta từ bỏ
Từ bỏ bản ngã này
Từ bỏ kiêu mạn này
Ta từ bỏ khổ đau.
Nay ta từ bỏ bản ngã, chấp ngã, từ bỏ khổ đau. Xin mời đại chúng trải rộng tâm xả.
Tâm xả này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
Kính chúc quý thầy, quý cô và quý Phật tử có một ngày an lành, an trú trong tâm an tịnh, lắng dịu, tâm buông xả.
./.