Vòng Quay Sống Chết Hiểm Nguy. Ma Trận Bát Tà Trùng Trùng. Trí Tế Nhị Tối Thượng
Vòng Quay Sống Chết Hiểm Nguy!
Ma Trận Bát Tà Trùng Trùng!
Trí Tế Nhị Tối Thượng!
Thích Minh Thành
Ngày 12 tháng 11 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự nguy hiểm của luân hồi PAGEREF _Toc125099384 \h 1
II. Trí tế nhị PAGEREF _Toc125099385 \h 7
III. Trình pháp PAGEREF _Toc125099386 \h 12
I. Sự nguy hiểm của luân hồi
Minh Thành kính thỉnh quý ni sư, quý sư cô trong chúng để tâm giúp đỡ … 10:35 vào mỗi sáng, thời chín giờ rưỡi, thời hai giờ rưỡi, cho quý vị học được lý thuyết và định nghĩa ngũ uẩn, thực tập nhận diện và làm bài tập. Tiếp theo là nhận diện ba cảm thọ tham, sân, si, lý thuyết và thực hành song song. Nếu có thời gian nữa thì giúp cho các vị mới tập nhận diện được tham, vô minh và bản ngã để khi quý vị xuống núi có được hàn trang quan trọng trong pháp hành.
Vừa rồi có một vị trình pháp, nhờ có pháp Nikāya mới thấy được sự nguy hiểm trong vòng luân hồi này. Bằng một cảm thọ xúc động, thật sự là như vậy. Ngày Minh Thành chia sẻ thiền quán trong bệnh viện có một số vị mới nên Minh Thành chưa nói sâu xa. Chúng ta tu thì chúng ta phải nhận thức thật sâu sắc về sự nguy hiểm trong vòng luân hồi này, phải thấm thía thấu đáo tận cùng sự oan nghiệt của vòng tròn sống chết này. Chúng ta thật sự phải thấm thía, phải thấm nhuần, thấm đẫm, thẩm thấu được chúng ta đang bị vây hãm, bao vây, vây kín ở trong ma trận, mê trận, vô minh trận, tà kiến trận. Chúng ta đang bị vây hãm bởi trận dục ái, tham lam, hơn thua, giành giựt, ganh tị, đấu đá.
Chúng ta đang bị vây hãm trong trận tà kiến, vô minh, dục ái, chấp thủ, ngu si, si ám, bị vây hãm, vây quanh, bao vây, vây kín. Chỉ có người mù không nhìn thấy, một khi mình được mở mắt pháp ra thì mình sẽ nhìn thấy, không có ai đau khổ hơn mình.
Như hôm qua chúng ta học bài kinh Nghĩa địa, không ai đau khổ hơn mình, ôi thật khổ sở cho chúng tôi khi phải ở chung hạng người như vậy. Thế Tôn nói hết sức chí tình chí lí. Ôi, thật là đau khổ cho chúng tôi khi chúng tôi phải ở chung với hạng người như vậy, những hạng người mà đầy rẫy những dục, ái, tham, đầy rẫy những mưu mô, mưu tính, mưu toan, mưu hại, ý kỷ. Những ganh tị, hơn thua, giành giật, ngay cả không chỉ người ở ngoài đời mà người đi tu, vào chùa rồi mà vẫn hơn thua nhau từng chút.
Những suy nghĩ là suy nghĩ của phàm phu, hạ liệt, thấp hèn, chúng ta đang bị vây hãm, chúng ta đang bị bao vây, vây kín ở trong một ma trận. Chúng ta bị bát tà đạo vây kín, tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà mạng bao vây mình, từ bên trong cho đến bên ngoài, tà tinh tấn bao vây mình, mình tưởng là mình siêng năng lắm, đang giỏi giang lắm, đang làm rất nhiều công việc, nhưng thật sự đó là tà tinh tấn, làm để khuếch trương bản ngã sở hữu cái tôi của tôi, làm để cho người ta biết mình hay, mình là giỏi, mình là hơn, càng ngày càng hoan hỷ với các hành, tạo dựng với các hành, hoan hỷ trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, trong những sắc tướng, sắc pháp này, sắc chất này, ưa thích trong đó, tạo dựng trong đó, để rồi mình sầu bi, khổ, ưu não trong đó nhưng đó là tà tinh tấn.
Sự tinh tấn thật sự trong đạo Phật, chế đoạn tu trì, siêng năng từng giây từng phút từng giờ từng khắc là chế ngự sáu căn, đoạn tận tham, sân, si, tu tập tứ niệm xứ và hộ trì tất cả các thiện pháp mà mình đã có được, đó là Chánh tinh tấn, Thánh tinh tấn, đó là sự siêng đúng của bậc Thánh, chế đoạn tu trì.
Khi mình không để tâm vào sự chế ngự các căn, mình cứ nghĩ hướng ra bên ngoài làm cái này cái kia, cái nọ hoài như vậy để rồi trong đó nuôi dưỡng các lòng tham, tăng trưởng những cảm thọ sân hận, phát huy những cái tôi càng ngày càng tinh tấn, vô minh vây hãm, vây kín, vây chặt, bao vây, mò mẫm trong bóng đêm.
Thế Tôn nói:
Mắt, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi...
Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Tất Cả – Bài kinh Mù lòa
Ý nói, con mắt này là mù lòa. Các sắc là mù lòa (cách hình tướng). Sự thấy (nhãn thức) này là mù lòa. Khi mắt tiếp xúc cũng mù lòa (nhãn xúc). Khi tiếp xúc, sanh khởi lên cảm giác gì, vui, thích hay khó chịu, hay là không vui thích không khó chịu cũng là mù lòa trong ba cảm thọ, không thấy, không biết, thọ do nhãn xúc sanh là mù lòa. Những dục, ái, tham, sân, vô minh, si ám, tùy miên trong đó cũng mù lòa.
Vậy nên Thế Tôn nói:
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Tất cả, này các Tỷ-kheo, là mù lòa.
Tương Ưng Bộ Kinh – Chương Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Tất Cả – Bài kinh Mù lòa
Tất cả là mù lòa, sống trong mù lòa, sống trong bóng đêm, si mê, hôn ám, vô minh. Bao nhiêu suy nghĩ của mình có suy nghĩ ra khỏi ngũ uẩn không? Hằng ngày mình xem lại xem, chính mình là người hiểu, biết về ngũ uẩn thì mình coi thử suy nghĩ của mình có ra khỏi ngũ uẩn không?
Hay là nó hoan hỷ trong sự vận hành của ngũ uẩn, hay là nó muốn tạo dựng thêm ngũ uẩn, để rồi nó hệ lụy, sầu bi, khổ, ưu não trong ngũ uẩn, rơi vào sâu vực thẳm ở trong những buồn đau. Tu như vậy nhưng thầy hay huynh đệ chỉ chút là sân si lên, khó chịu, tu mà bảo vệ bản ngã này, sống chết với nó, say mê, say đắm trong bản ngã này thì tu tới khi nào mới thể nhập được Thánh trí vô ngã. Tu không muốn ai nói tới mình, nói tới một chút là khó chịu, chỉ cho một chút là thấy không vui “Đừng ai đụng tới tôi!” thì tu như vậy làm sao tu? Tu vậy để bảo vệ bản ngã của mình, ẩn dương nương Phật, tỵ lại thâu an, lánh nặng tìm nhẹ. Tu như vậy là bỏ quên gánh nặng của thiện pháp.
Chúng ta thấy nhiều khi học ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn như vậy nhưng ngũ uẩn lừa mình không thấy gì cả. Vì mình ở trong ma trận nên mình không thấy. Tâm thức của mình là bao nhiêu ngày từ căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ. Mắt mù, các sắc bên ngoài mù, sự thấy của mình cũng mù, căn, trần, thức cũng mù nên khi tiếp xúc là tiếp xúc trong mù lòa, nhãn xúc. Nên có khởi lên cảm thọ gì thì cũng không thấy, không biết gì “Tôi thích, tôi ghét, tôi bằng lòng, tôi không bằng lòng!”
Như vậy thì nhập cuộc với ngũ uẩn thì không có gì để nhận diện ngũ uẩn, trí tuệ ngũ uẩn làm sao thành thục. Tai cũng vậy, âm thanh cũng mù lòa, nghe này cũng mù lòa, sự tiếp xúc trong khi nghe cũng mù lòa, tiếp xúc sanh khởi bao nhiêu cảm thọ cũng mù lòa trong nghe. Nghe không biết là đúng sai, mà ai góp ý là bực bội lên, ta đây, vì nghe trong mù lòa. Nghe mình không nhận diện ra Thánh pháp, không thấy căn, trần, thức, xúc, thọ, mà mình chỉ thấy một cái tôi ở đó, một bản ngã to tướng, cái ta đang hiện hữu ở đó.
Vậy nên học là học như vậy nhưng khi ra thực tế rồi thì sống trong vô minh, bản ngã, không nhớ pháp, không trú pháp, hành pháp, nhận diện các pháp.
Cứ như vậy bị khổ đau dài dài, hoài hoài, chết trong ma trận, tâm tập trung rất nhiều nhưng tập trung tà định, tập trung để làm cái này, làm cái kia, làm cái nọ thì pháp tự tập trung, hỏi tới pháp không biết gì. Đó là tà định, đặt tâm sai hướng trong sự tập trung tâm ý.
Nhớ thì rất nhiều nhưng toàn chuyện gì, nhớ người này người nọ người kia, chuyện tốt, chuyện xấu của người ta, không nhớ là mình chết, mình đang bị khổ đau, bị vây hãm, bị khốn cùng, không nhớ mình gặp tai họa, tai nạn, khổ ách, kiếp nạn, hoạn nạn, ách nạn, nguy nan… đều không nhớ. Mình nhớ lỗi của người này người kia, ngồi xuống nói chuyện người nọ người kia, trong khi bản thân mình thì đầy rẫy những cấu uế, cấu nhiễm, những nhân của khổ, quả của khổ, rồi mình đang tiếp tục tưới tẩm, phát triển, gieo trồng những hạt giống của khổ đau mà không thấy, không biết gì, mù lòa. Tu như vậy thì không biết đến khi nào mở mắt pháp ra được.
Vậy nên chúng ta phải thấy được nguy hiểm trong luân hồi, vòng sống chết, quay tròn oan nghiệt này. Phải thấm thía nó không bao giờ quên. Từng giờ từng phút mình cảm thấy ưu tư, khắc khoải trong lòng, mình lo lắng, bất an, không thấy có gì vui trong cuộc đời này. Cười nói đó mà trong nụ cười đó sâu thẳm bên trong là một sự lo sợ. Vui vẻ đó nhưng đằng sau vui vẻ đó là một sự khổ sầu, phải nhìn thấy được điều đó.
An ổn đó nhìn sâu vào bên trong là sự bất an, là tai họa. Chúng ta đang ngồi đây có an ổn gì đâu, từ hơi thở và bao nhiêu sự vận hành bên trong các cơ quan, tế bào của mình suy dần, suy giảm hết. Lão hóa, suy kiệt ở bên trong hết, bất cứ lúc nào nó đổ ra thì chưa kể những người sống chung với bệnh ung thư, những mầm móng của ung thư luôn nằm trong chúng ta, vì nó chưa trổ ra thôi.
Hàng triệu người, nhiều triệu người đang sống chung với ung thư, trong chúng ta đang ngồi đây thì nhiều người, chúng ta không nhớ. Không thấy, không biết những cái đó thì Đức Phật gọi là vô minh, mù lòa. Không thấy, không biết những đau khổ của tự thân mình, những nguyên nhân, tai họa, tìm ẩn, tìm tàng, như vậy thì Đức Phật sống trong lãng quên, sống trong thất niệm mà thường thấy, thường biết, thường nhớ, thường lo, thường nghĩ, thường quán, đó là tứ niệm xứ. Tứ niệm xứ không có gì là xa xôi, nhìn lại thân thể mình xem có bệnh hoạn ra sao, trạng thái của nó giờ như thế nào, có thâu nhiếp hay là đang buông thả, có cẩn trọng hay cẩu thả. Nhìn lại cảm thọ của mình xem cảm thọ này có an tịnh, lắng dịu không? Có cảm thọ ngọt ngào của từ ái, bao dung, tha thứ, độ lượng.
Nhìn lại nội tâm xem trong tâm đang có gì, có thiện pháp hay bất thiện pháp? Đó là tu trong chế đoạn tu trì, một chữ tu trong tứ chánh cần, tứ niệm xứ, siêng năng, tu tập tứ niệm xứ, nhìn lại nội tâm mình xem có còn thích không, còn ham muốn, hiện hữu trong cuộc đời này không? Còn hoan hỷ đối với tự thân này không? Nếu còn là mình lo lắng, lo sợ, khắc khoải, mình thấy mầm móng này, sự yêu thích, các hiện hữu này là còn yêu thích khổ đau, luân hồi, oan nghiệt, còn yêu thích những dòng nước mắt tận cùng của sầu bi.
Nó còn hoan hỷ trong các hành này, còn yêu thích những cảm giác, nghĩ tưởng này, còn nắm giữ, chấp thủ, còn cho là tôi, của tôi, là còn tai họa, là mầm móng của ác độc, hiểm nguy, oan nghiệt còn trong này, mình lo lắng, khổ sở, mình buồn đau. Cho đến khi nào mình nhìn lại các sắc, thọ, tưởng, hành, thức này thì mình thấy nhiều nhàm chán, mệt mỏi, bất an, tai họa, nhiều tâm muốn rời xa, viễn ly, xuất ly, xả ly, đoạn ly, lúc đó thì mình mới hoan hỷ. Vì mình biết còn ưa thích những thứ này là còn yêu thích đau khổ, là còn yêu thích tai họa, là còn ưa thích vi trùng, vi rút, vi khuẩn, là còn ưa thích nước mắt, máu, ưa thích hòm, bệnh viện, nhà hoàng, lò thiêu. Là còn ưa thích giành giựt, đấu đá, chém nhau, giết nhau, đâm nhau, đốt nhau, tạt a-xít với nhau. Là còn ưa thích những cảnh đó. Những cảnh giành giựt, cướp bóc, giết hại, đầu độc, nhảy sông, nhảy lầu, thắt cổ… là còn những cảnh đó của mình, không phải của người ta.
Mình đã vô lượng lần, vô lượng kiếp, vô số, vô biên là những lần mình sống vậy. Mình thấy dòng luân hồi này thật ác độc, thật tai họa, nguy hiểm. Mình quán tới đây là ngao ngán, ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê, mà tâm thoát ly của mình càng ngày càng lớn mạnh, càng tăng trưởng, càng phát triển. Cho đến độ mình nhìn được thấy được tất cả vẻ đẹp trên cuộc đời này không còn làm cho mình có một cảm thọ khoan khoái, rạo rực, thích thú nữa vì mình nhìn thấy một đống khổ, không có gì hấp dẫn được mình nữa. Tâm mình nghiêng về viễn ly, xuôi về viễn ly, nhập vào viễn ly, tâm mình nghiêng về, xuôi về, đi vào sự xa lìa sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Tâm mình hướng tới sự từ bỏ, sự thoát ra, mình vui thích với tâm đó, mình hân hoan, hoan hỷ với tâm đó, mình thấy mình sung sướng, hạnh phúc tuyệt vời với tâm đó, tâm như vậy là tâm của Đức Phật và các bậc hiền thánh, là tâm của các bậc hiền trí, các bậc tu hành, là tâm của bốn đôi tám chúng hiền thánh.
Ngao ngán Bát tà đạo, những đời sống bất an, tai họa từ trong tới ngoài, từ ngoài tới trong. Không ưa, không thích, không muốn nữa, chấm dứt từ đây buộc tái sanh. Khi mình nhìn thâm sâu vào rồi mình mới thấy lúc xưa mình chưa tu dòng pháp này thì chưa hiểu sanh là khổ. Còn bây giờ mình mới thấy được chữ này là chúa tể của các khổ khác. Sanh là khổ, tái sanh sự thật là đầy khổ đau.
Sự tái sanh này mới có già, bệnh chết, có tham, sân, si, dục ái, bản ngã, chiếm hữu, hơn thua, vì nó có sự sanh này, sự sanh này từ vô minh và tham ái, đối với năm thủ uẩn này. Vô minh thì không thấy, không biết ngũ uẩn vì nghĩ là nó bền, chắc, tốt, thật, nó là mình thì mới yêu thích, tham đắm trong đó.
Từ yêu thích, tham đắm thì nên mới nắm giữ, từ nắm giữ đó rồi tạo nhiệp, nên chịu quả báo của khổ, đó là quy trình vận hành của pháp, không thấy, không biết, tưởng đâu là thật, là mình, là ngon, là vui. Giờ mình yêu thích thì mình nắm giữ, thì mình phải làm thế nào để cho mình giữ nó được, thì mình tạo ra nghiệp ác, từ khi mình to ra nghiệp ác thì có quả báo dị thục của nghiệp. Sầu bi, khổ, ưu não, những dòng nước mắt tận cùng thương đau tiếp diễn.
Nên mình nhìn ra được trí tuệ này rồi thì mình nhìn ra được quả cầu lửa, Trái đất này chỉ là quả cầu lửa, không có gì cả, chỉ là bóng đêm, những chúng sanh nheo nhóc ở trong này, giành giựt, đau khổ ở trong này vì không thấy ngũ uẩn, không thấy được bản chất vô thường, trống rỗng, bất an, tai họa của nó.
II. Trí tế nhị
Vậy nên Thế Tôn từng nói:
Nhưng này Hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt.
Kinh Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Bốn Pháp - Phẩm Rohitassa - Bài kinh Rohitassa 1
Thế giới tức là thân ngũ uẩn này, ngũ uẩn trong này và ngũ uẩn ngoài kia, không có gì cả, tất cả chỉ là ngũ uẩn, không có ai, tất cả chỉ là những đống sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chỉ là những đống đầy rẫy dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, tất cả chỉ là những đống lửa, đụng vào là cháy, phựt, tất cả chỉ là những khổ đau, tất cả chỉ là khổ đau của bất toại nguyện, chưa thỏa mãn, những đòi hỏi, những thúc giục, những khát ái, những thèm khát.
Tất cả những đống ngũ uẩn này chỉ là những ảo tưởng về tự ngã, cho mình là ngon, là hay, là ta đây, sống trong ảo tưởng, ảo vọng, ảo quyển, ảo quán, sống trong điên đảo, mộng tưởng, không có gì đâu. Cả thế giới này không có gì hết, không có con người nào, toàn là những sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vô minh, tham ái, chấp thủ, si mê, điên đảo, giành giựt, đấu đá, cắn xé, giết hại. Nó không đáng để cho mình phải chạy đuổi, tìm kiếm, không đáng để cho mình đem hết lau tâm, khổ tướng.
Đó là những thứ đáng từ bỏ mà tất cả những bậc Thánh quăng xuống, khạc, nhổ ra, liệng ra, ói ra, mửa ra, bỏ ra. Đó là ung nhọt, tai họa, là đống lửa, là đầy rẫy sự bất an, sự khốn đốn và hoạn nạn khi mình phải mang một thân xác với những cảm giác, tư tưởng, nhận thức này. Vì vô minh, tham ái, chấp thủ nên không thấy không biết, suốt ngày chỉ quanh quẩn với những suy nghĩ, cảm giác, những tư tưởng, nhận thức đều ở trong ngũ uẩn, không đi ra ngoài được. Học thì học nhận diện ngũ uẩn nhưng sống thì lại dính chùm trong ngũ uẩn. Đừng tưởng suy nghĩ của mình, chấp nhận cảm thọ của mình, không thấy nó là ngũ uẩn, nên kinh Trí tế nhị trong Tăng Chi Bộ kinh tập một nói về bốn trí tế nhị đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức:
- Này các Tỷ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Ý nói, Đức Thế Tôn nói Tỳ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc mà không thấy có bất cứ một trí tuệ nào tối thượng, thù thắng, vi diệu hơn trí tuệ đó nữa. Vị ấy không mong muốn là đạt tới một trí huệ nào khác hơn, tối thượng hơn, vi diêu hơn, thù thắng hơn nữa. Vị ấy chỉ mong muốn thành tựu trí tuệ tế nhị đối với sắc, trí tuệ đó là tối tôn, tối thượng, tối cao, là Thánh trí huệ.
Chúng ta đang học trí tuệ về sắc là trí tuệ về gì? Như Minh Thành đã chia sẻ rất nhiều bài trí huệ về sắc thân, tức là thân, hành, niệm, là niệm thân, sáu phương diện, khía cạnh niệm thân, đó là trí tuệ về sắc. Là thấy được thân này trong hơi thở, thấy được thân này là bốn yếu tố kết thành, thấy được những thứ tụ tập lại để tạo thành hình hài này, là ba mươi hai thể trượt, thấy được sự chấm dứt của nó qua chín giai đoạn, tan rã, hủy diệt của một thây chết. Đó là trí tuệ tế nhị, tối tôn, tối thượng, tối cao, tối thắng của bậc Thánh, không còn một trí huệ nào về sắc hơn cái đó nữa. Người tu cũng không mong muốn tìm trí huệ nào khác hơn.
Đây là Tăng Chi Bộ kinh tập một, kinh Trí tế nhị. Chúng ta nhớ bài kinh chúng ta tụng trong Căn bản trí, Thế Tôn nói sau khi nhập diệt, Tỳ-kheo nào thực hành Tứ niệm xứ trong hàng đệ tử của ta là Tỳ-kheo tối thượng nếu chịu khó học hỏi, thiết tha học hỏi. Đó là tối thượng, là trí tế nhị.
Để thành tựu trí tế nhị đối với thọ, đối với những cảm giác này, để thấy rõ ba cảm giác lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Để thấy rõ tham, sân, si, vô minh, tùy miên ở trong ba cảm thọ. Vị ấy nhìn ra được tất cả phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ.
Vị ấy nhàm chán đối với các cảm thọ, không ưa thích, không hoan hỷ đối với các cảm thọ. Vị ấy muốn xa lánh các cảm thọ, không nắm giữ các cảm thọ, không cho cảm thọ đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, vị ấy thấy tất cả cảm thọ này nằm trong đau khổ, không chấp nhận cảm thọ đó là tôi, không thấy được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái trong các cảm thọ, nhàm chán nó, hướng đến sự rời xa, từ bỏ nó, thoát ra khỏi nó. Như vậy là trí tuệ tế nhị về thọ tối tôn, tối thượng, tối cao, tối thắng, vi diệu, cùng tột, không có bất cứ một trí huệ tế nhị đối với thọ nào có thể so sánh được. Không còn một loại trí huệ nào đối với cảm thọ cao hơn đó nữa để không có mong muốn đi tìm trí huệ nào khác.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Bốn Pháp - Phẩm Hành – Bài kinh Trí tế nhị
Đức Thế Tôn đã trao cho chúng ta Thánh trí huệ như vậy, tối tôn, tối thượng, tối cao như vậy mà chúng ta học xong rồi để đó. Không đem hết tất cả tấm lòng chân thành, bằng tất cả trái tim, sinh mạng của mình, để mình nhìn, quán chiếu, giữ gìn thọ trì. Học xong biết rồi chỉ để đó, có làm là khi nào lên thiền đường mới làm. Còn bình thường cứ để cho cảm thọ thoải mái, buông lơi, buông trôi, buông thả, buông lung.
Nên làm sao mình thấy được trí huệ này là trí huệ tế nhị, tối tôn, tối thượng, tối thắng, làm sao mình thấy được, mình có cảm nhận được đâu, mình có thực hành, cảm nhận được? Tại sao các bậc Thánh hy sinh cả thân mạng vô lượng, vô số, vô biên kiếp để được Thánh trí về ngũ uẩn này trao cho mình thì giống như học bài. Biết rồi, hay, gật đầu, vỗ tay rồi để đó.
Tâm mình chưa chấp nhận học pháp một cách trọn vẹn, học và tu như vậy nhưng sâu thẳm bên trong mình chưa ý thức được một cách hết được giá trị vĩ đại của Thánh trí về năm uẩn, về Tứ niệm xứ này, của Chánh kiến của bậc Thánh này. Mình chưa thọ được nhiều, chưa thấy được công năng, tác dụng thần thánh, linh thiêng, cao thượng, tối thắng, vi diệu tột cùng của Thánh trí huệ, của bậc Chánh đẳng Chánh giác truyền trao, nếu mình thấy rồi thì mình chết chẳng là gì đối với sự tu học trí huệ này.
Đối với một người thấy pháp, tất cả cuộc đời này là vô nghĩa, không có giá trị gì, chỉ có pháp mới là sinh mạng của hành giả Nikāya, chừng nào mình thấy được như vậy lúc đó mình mới tới gần pháp. Mình phải tu tập làm sao tăng thượng ngày đêm trong suy nghĩ của mình, không dừng lại, mình mới tu học được chút ít là đã thỏa mãn, bằng lòng, hài lòng, không có tâm hướng thượng. Pháp có khả năng hướng thượng, tại sao tâm mình không hướng thượng? Mình cứ dậm chân tại chỗ mãi, không có tâm khắc khoải, không có một trái tim nóng bỏng, rực cháy, nhiệt tâm. Chấp nhận với những thiện pháp nhỏ bé thì làm sao mình đi đến cứu cánh cùng tột của phạm hạnh, của Thánh trí, hằng ngày mình phải tác ý, phải nghe kinh. Khi đi làm công việc, đi sinh hoạt ở trong chúng đều không quên pháp, nhắc tâm của mình hoài. Đó gọi là Chánh niệm.
Tức là nhớ đúng, quán đúng, suy nghĩ đúng. Với một người suốt ngày nghĩ mình đang bị vây hãm, đang bị mê trận bát tà đạo này vây kín mình, tự mình nhớ như vậy là người này sẽ thu nhiếp, chế ngự, tu trì. Chế đoạn tu trì, chế ngự sáu căn, đoạn tận tham, sân, si, tu tập Tứ niệm xứ, hộ trì tất cả các thiện pháp, chỉ có một Chánh tinh tấn có bốn pháp đó.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng …
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn trí tế nhị.
Biết trí tế nhị sắc
Biết hiện hữu các thọ
Từ đâu tưởng sanh khởi
Tại đâu tưởng chấm dứt
Biết các hành biến khác
Là không, không là ngã
Nếu Tỷ-kheo thấy chánh
Tịch tịnh, ưa tịch tịnh
Thọ trì thân tối hậu
Thắng Ma và Ma quân.
Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Bốn Pháp - Phẩm Hành – Bài kinh Trí tế nhị
Trí biết tế nhị về sắc, biết hiện hữu các thọ, biết được tham, sân, si, vô minh, tùy miên, biết được sự vận hành của các cảm thọ, dục, ái, tham, vô minh, bản ngã, biết được những cảm thọ nào là buông lung phóng dật, những cảm thọ si, đơ, những cảm thọ ngu muội, tâm không tập trung. Biết được các cảm thọ đó và biết được mọi, phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ, biết hiện hữu các thọ như vậy đó là trí tế nhị về thọ tối tôn, tối thượng, tối cao, tối thắng, thù diệu, vô thượng, là trí huệ của chư thiên và loài người, của tất cả các hiền thánh, không có một trí huệ nào có thể so sánh được trí tuệ này.
Chúng ta hãy tìm thử một trí huệ nào có thể so sánh với trí huệ về ngũ uẩn này không? Nó phá tung, phá sập, phá vỡ, phá nát, phá tan, phá hoại hoàn toàn tâm vô minh, khát ái, chấp thủ trong đời sống, thân tâm này, cảnh giới này. Còn có một loại trí huệ nào khác có thể so sánh được? Nên mới gọi là trí huệ tế nhị thù diệu tối thượng thù thắng của bậc Chánh đẳng Chánh giác chứng ngộ, không một ai có thể tìm được trí huệ này, không một ai, trừ bậc Thánh, đệ tử của Như Lai hoặc là người nghe đệ tử Như Lai nói lại. Bất cứ, không có người thứ hai nào có thể truyền cho mình trí huệ này.
Đệ tử Như Lai là đệ tử của Bốn đôi tám chúng hiền thánh, không phải đệ tử Như Lai là cạo tóc, đắp y lên, chỉ là trên hình thức, đệ tử Như Lai chánh thống là bốn đôi, tám chúng, là những vị tối thiểu hướng dự lưu, là tâm hướng tới sự lìa xa, nhàm chán đối với ngũ uẩn, mới được gọi là chính thức đệ tử của Phật.
Tâm còn khao khát, ưa thích đam mê, còn hoan hỷ, tạo dựng trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chưa thấy được ngũ uẩn thì chưa phải đệ tử thật sự của Đức Phật, dù cho có hình thức xuất gia.
Nên từ đâu tưởng sanh khởi, từ đâu tưởng chấm dứt, đây là trí tuệ sanh diệt về ngũ uẩn. Vậy từ đâu tưởng sanh khởi?
III. Trình pháp
Phật tử số 1 trình pháp:
Con kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin trình bày bảy trí về tưởng.
Có sáu tưởng thân này, sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi, do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Và con đường đưa đến tưởng đoạn diệt là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Vị ngọt của tưởng do duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì? Lạc hỷ ấy là vị ngọt của tưởng. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại đó là sự nguy hiểm của tưởng, sự xuất ly của tưởng, sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với tưởng. Đó là sự xuất ly bởi tưởng.
Sư phụ giảng giải:
Rất tốt. Tất cả trong chúng của chúng ta phải thuộc lòng những Thánh trí huệ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức để biết được nhân duyên sanh diệt của nó để mình quán chiếu, nhận diện. Quán chiếu mình nhận diện là quán chiếu theo trí tuệ của bậc Chánh đẳng Chánh giác, không phải theo tâm phàm của mình, muốn tưởng sau thì tưởng, mình nghĩ sao thì nghĩ, không phải vậy.
Nên điều đặc biệt trong đạo tràng Nikāya của mình là lý thuyết và thực hành song song, mà lý thuyết đó là bậc Chánh đẳng giác hướng dẫn chứng ngộ và thực hành theo lý thuyết đó, thấy đúng như trong kinh đó. Nên chúng ta mới gọi là nguyên chất của Chánh pháp là vậy. Không qua mặt những người khác, chúng ta thực hành trực tiếp vào trong tận nguồn, ngay góc rễ, lời dạy nguyên gốc, nguyên chất, nguyên thủy của Đức Thế Tôn.
Vậy nên đòi hỏi là chúng ta phải thuộc, từ thuộc thì chúng ta phải hiểu, sau khi hiểu thì chúng ta mới thực tập, từ thực tập đó chúng ta mới bắt đầu thẩm thấu và chúng ta thành tựu được những trí tuệ trong thực tập đó. Văn, tư, tu, ba giai đoạn hành trì.
Thuộc chúng ta còn không thuộc, nghe chúng ta chưa từng nghe thì sao chúng ta thành tựu được trí. Vậy nên Đức Thế Tôn nói từ đâu tưởng sanh khởi, từ đâu tưởng chấm dứt.
Biết các hành đổi khác, hành là những suy nghĩ, đổi thay liên tục, là không, không là ngã, là trống rỗng, không có ta. Nếu Tỳ-kheo thấy đúng như vậy là tịch tịnh, ưa tịch tịnh. Thành tựu được trí về ngũ uẩn, thành tựu được bốn trí tế nhị, thì vị Tỳ-kheo này thấy đúng, thấy đúng thì thân tâm của vị ấy tịch tịnh, lặng lẽ trong mọi lúc mọi nơi. Vị này ưa lặng lẽ, ưa thích tịch tịnh, ưa sự lặng lẽ của sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Lặng lẽ không phải là không làm gì, việc cần làm thì ta làm rất sắc bén, rất nhiệt tình nhưng trong tâm luôn hướng đến sự lặng lẽ đối với tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, đối với dục ái, sân si, vô minh, bản ngã. Là một sự dập tắt hoàn toàn, đó là định nghĩa của chữ Niết-bàn, Niết-bàn nghĩa là dập tắt, dập tắt những khao khát, thèm muốn, dập tắt những sự thiêu đốt, nóng bức.
Dập tắt những bóng tối của vô minh, dập tắt những thúc giục, ham thích, tôi ta tìm kiếm trên cuộc đời này, dập tắt hoàn toàn thọ trì thân tối hậu. Ý nói thân này là thân cuối cùng, không còn khổ tái sanh luân hồi, không còn chịu sự nguy hiểm, oan nghiệt trong dòng sống chết này nữa.
Là không, không là ngã
Nếu Tỷ-kheo thấy chánh
Tịch tịnh, ưa tịch tịnh
Thọ trì thân tối hậu
Thắng Ma và Ma quân.
Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Bốn Pháp - Phẩm Hành – Bài kinh Trí tế nhị
Lặng lẽ và ưa lặng lẽ, thân này là thân cuối cùng, thân này là thân rốt sau, thân này là thân tối hậu, chấm dứt thân này rồi, không còn sống chết, sầu bi, khổ, ưu não nữa, không còn tiếp tục trong vòng tái sanh đầy lo lắng, bất an, sợ hãi, khổ sầu này nữa. Chấm dứt thân này rồi, thể nhập và chỗ tịch tịnh, đại viên mãn, không có tham, sân, si, không thèm muốn, khao khát gì nữa, không trông chờ, hy vọng bất cứ cái gì trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa. Tâm hoàn toàn bất động.
Tâm giải thoát, tuệ giải thoát, khi diệt tận dục ái thì tâm được thoát ra, khi còn dục, còn ái trong ngũ uẩn thì tâm bị buộc, bị trói cột trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi cắt đứt được dục, tham, ái trong năm uẩn thì tâm thoát ra, như chim sổ lồng, giống như bọt tan, hòa nhập vào đại hải, đại dương, biển cả.
Tuệ giải thoát là khi vô minh chấm dứt, khi những sự si ám, hôn mê, tối tăm chấm dứt thì ánh sáng bừng lên gọi là tuệ giải thoát. Giống như mặt trời bị mây đen che, tuy là giữa trưa nhưng trời tối, một đám mây đen che dày đặc như vậy, ánh sáng bị che. Giờ mây đen tan hết, thì ánh sáng của mặt trời tỏa chiếu cùng khắp, trực thăng chuyển chuyến, ánh sáng chiếu soi cùng khắp tất cả ngõ ngách.
Xong xuôi muốn nhập đại điện thì lúc đó gọi là tuệ giải thoát, trí tuệ không còn bị phong tỏa nữa. Trí huệ trước nay bị vô minh phong tỏa, bị hắc ám che đậy, bị ngu si, đóng kín, giữ chặt, giờ nó vỡ ra, dạt ra hết, tan ra hết thì lúc đó tuệ giải thoát, vậy nên vô minh và khát ái đoạn tận thì tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không còn tái tạo ở thân ngũ uẩn đầy tham, sân, si, dục ái, bản ngã, khổ đau này nữa.
Tâm bất động, thênh thang bất động, tự do, giải thoát hoàn toàn, không còn bất cứ một cái gì làm cho mình khổ đau nữa, đại thành công, đại chiến thắng, đại oai hùng, đại giải thoát, đại tự tại, không còn bất cứ một sắc, thọ, tưởng, hành, thức, quá khứ, hiện tại, vị lai, nội ngoại thô tế thắng liệt xa gần nào có thể làm cho mình khổ đau nữa, hoàn toàn thoát ra khỏi ngũ uẩn, vĩnh biệt luân hồi. Không phải là tạm biệt mà là vĩnh biệt.
Chúng ta nên nỗ lực, quyết liệt lên, mạnh mẽ lên, chiến đấu, chiến thắng, hát khúc Khải hoàn ca.
Minh Thành mời quý vị chia sẻ cảm thọ của mình sau buổi thiền quán hiểm họa về luân hồi và bốn trí tuệ tế nhị tối thượng, thù diệu, linh thiêng.
Phật tử số 2 trình pháp:
Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể hành giả. Trước khi con nhận diện bài ngũ uẩn sáng nay, cho con có lời tri ân sâu sắc đến thầy Thiện Huệ đã nhắc nhở tâm giải đãi. Mỗi sáng, nhiều lúc con bận công việc thì suy nghĩ của con cũng không được tinh tấn, giải đãi. Và một lời nói tri ân thầy Pháp Nghĩa, ngày hôm qua, hôm kia con có gặp thầy, mỗi sáng con nghe pháp nhưng con muốn trình pháp mà sự sanh khởi trong con thì nó sợ nên con không tác ý ra khỏi và con cũng không mạnh dạn trình pháp trước sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn bộ đại chúng.
Sáng nay con muốn tác ý là con may mắn được sanh ra làm người có tay chân, thân thể và trí tuệ và được gặp Chánh pháp, được tu tập, gặp được thầy dắt độ và dẫn dắt cho chúng con gặp đúng Chánh pháp, được gặp những bạn hiền để tạo thành đoàn thể yêu thương cùng tương trợ và thực tập tu tập. Con được may mắn là vị thầy lúc đó là sư phụ của mình, mà tại sao ý hành của con cứ nói tại sao mà không được mạnh dạn phát biểu, có gì sai sót nên mong sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng chỉ dạy cho con được hiểu biết nhiều hơn.
Sắc thân tứ đại của con là đang ngồi, về thọ thân, cảm thọ mà con nghe sư phụ giảng, đi đến đâu thì sự sanh khởi trong con rất tàm quý, xấu hổ. Vì tưởng của con cứ nhớ tới hình ảnh và quá khứ. Hành của con thấy rất ghê sợ và tự nhủ cố gắng tu tập và bám sát theo các thiền giả đã chỉ bày cho con.
Thọ, tưởng, hành và tứ giang hải, tư tưởng trong năm uẩn mà giả danh ảo tưởng tự thân thì con thấy những dục tham và xâm chiếm những suy nghĩ và hành động của con bấy lâu nay do con vô minh, không hiểu biết nên cứ chạy theo những dòng si mê nên sau khi sư phụ và các thầy nhắc là những suy nghĩ tà kiến tà ngữ, tà mạng và tà tinh tấn. Nhờ những dòng pháp mỗi sáng sư phụ đã rót vào trong thân tứ đại ngũ uẩn này, mỗi ngày một sáng tỏ, mỗi ghi nhận để con cố gắng tinh tấn và tu tập, để được hiền thiện hơn.
Phật tử số 3 trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, chư tôn đức tăng ni và các bạn đại chúng.
Bài thiền quán hôm nay sư phụ dạy cho con, con thấy sự nguy hại của cuộc sống này, thấy bản thân mình luôn chạy theo những dục, ham muốn của thân xác, vì cái tôi, bản ngã, cứ chạy theo năm uẩn này cứ phục vụ cho nó biết bao nhiêu là nguy hại.
Mặc dù nhìn thấy ngũ uẩn nhưng chúng con vẫn chạy theo ngũ uẩn si mê này, không thấy được sự nguy hại của nó, không sắc bén, dùng Thánh trí của Phật để diệt nó. Nên chúng con cũng đau khổ, cũng bị nó sai sử.
Bản ngã càng ngày càng cao, cái tôi càng ngày càng lớn, mở mắt ra là tạo nghiệp. Chính bản thân con trong sáng hôm nay khi lên tụng pháp bảo, bản ngã sắc bén, mặc dù con cũng có chánh niệm nhưng con vẫn sau nó. Khi tụng pháp bảo, con có một ý hành: Tụng để chỉ trích người không tu hành. Con cũng kịp nhìn ra bản ngã nó đã sai khiến con trong một tích tắc nữa thì con thấy bạn đồng tu tụng pháp bảo, rồi ý hành con cũng thấy dục của bạn ấy, nó sai khiến, con quay lại, con la rầy bản ngã của con: “Mày đã dẫn dắt ta bao nhiêu kiếp rồi. Giờ ta đã nhìn thấy được mày, mày còn len lỏi dẫn dắt ta tạo nghiệp nữa. Vì mày mà ta khổ, vì mày mà ta phải luân hồi, nay ta thấy mày rồi, mày còn dẫn dắt nữa.”
Con thấy rất sợ hãi trong mỗi ý hành nó dẫn dắt mình trong tích tắc, nếu mình không nhìn thấy thì mình vẫn luân hồi. Sư phụ dạy bốn sự sắc bén của bậc Thánh, bốn trí để mình tu hành. Ý là mình phải sắc bén để nhìn thấy được tưởng, hành, thọ này để mình thoát ra sanh sử.
Con xin tri ân bài pháp hôm nay của sư phụ và con hứa sẽ cố gắng khắc phục để nhìn lại thân tâm mình trong từng ngày từng giờ, con phải cố gắng tu tập để không phụ lòng từ bi, lòng thương bao la vì hành hậu học chúng con của sư phụ, sư phụ không quản ngại khó nhọc, thời gian. Ngày nào sư phụ cũng cho chúng con tắm trong dòng pháp này. Con xin tri ân trên sư phụ.
Sư phụ giảng giải:
Rất tốt. Mình đang tụng kinh mà thấy được bản ngã đang sanh khởi, vận hành như vậy là tốt, mình tác ý rất tốt, nên tiếp tục như vậy để quán xét thân tâm của mình.
Phật tử số 4 trình pháp:
Chúng con là những người ni cô ở ngoại viện Thường Chiếu. Chúng con đều trên sáu mươi tuổi nên một trong những ngũ uẩn mà tụi con đối diện là bệnh tật làm cho tụi con rất khó chịu, đau khổ. Gần như tụi con chỉ vuốt đuôi nó, không nhận diện được rõ ràng nên con lên đây để thầy có những kinh nghiệm dạy cho chúng con để nhận diện rõ ràng hơn, để chúng con tu tập đến những ngày ra đi được thanh thản tâm hồn.
Sư phụ giảng giải:
Quý ni sư, quý sư cô sẽ hướng dẫn cho quý vị.
Phật tử số 5 trình pháp:
Kính bạch thầy, quý tăng, ni, ni sư và đại chúng.
Sau khi con nghe thầy giảng một bài pháp về thiền quán thì bản thân con hôm nay có nhận được một điều. Con xin trình bày để mong thầy hướng dẫn con thêm.
Khi con nghe gần cuối, thầy nói thân này là thân thối thì con soi lại ruột, gan, phèo, phổi, máu, mủ thì con thấy rõ rằng nó quá dơ bẩn. Sau đó thì thức của con bắt đầu nhàm chán, thân của con rùng mình, thức của con muốn rời thân, là nó nhàm chán, thấy dơ bẩn quá, khoảng hai, ba phút thì chấm dứt.
Con soi như vậy có đúng không xin thầy chỉ dạy cho con thêm.
Sư phụ giảng giải:
Như vậy rất tốt, đó là cảm thọ của mình nhàm chán, có biểu hiện trên thân. Là mình có thọ được pháp, là mình có cảm nhận được pháp, cảm ngộ được pháp. Có sự tác động thân tâm của mình, chứng tỏ mình nghe, hiểu, cảm xúc được, cảm động được pháp. Đó là tín hiệu rất tốt, nên phát huy và tiếp tục an trú, nuôi dưỡng nó, làm cho nó lớn mạnh lên thêm.
Đó là những cảm thọ của hiền thánh, của những bậc Thánh đệ tử. Nếu mình không tu trong dòng pháp này thì rất hiếm có những cảm thọ đó, có lẽ suốt đời mình đi tu cũng không có được những cảm thọ đó. Vậy nên những cảm thọ đó rất hy hữu, quý báu, mình nên an trú, giữ gìn, tưới tẩm, nuôi dưỡng, phát huy, tăng trưởng, làm cho nó lớn mạnh. Mình xem nó như báu vật, đó là chữ trì sau cùng của chế đoạn tu trì, trì là giữ các cảm thọ, trí tuệ. Giữ gìn nó, thọ trì nó, tức là sau khi mình cảm nhận thì mình phải giữ những cảm thọ đó, những trí tuệ, thấy biết đó, không cho nó mất và mình còn làm cho nó tăng trưởng nữa, đó là Chánh tinh tấn, là sự siêng năng của bậc Thánh.
Vậy nên khi mình học trong kinh Nikāya thì mình sẽ thấy Chánh tinh tấn trong kinh Nikāya rất đặc biệt, tuyệt diệu, sâu sắc. Không phải như mình nghĩ Chánh tinh tấn trước nay.
Chúng ta cố gắng giữ gìn dòng cảm thọ này, hoan hỷ và tu tập, tăng thượng trong pháp.
Chúc tất cả đại chúng có được trí tuệ, thấy được vòng oan nghiệt của sống chết này, tâm viễn ly mạnh mẽ, hỷ lạc trong pháp.
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
Ma Trận Bát Tà Trùng Trùng!
Trí Tế Nhị Tối Thượng!
Thích Minh Thành
Ngày 12 tháng 11 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự nguy hiểm của luân hồi PAGEREF _Toc125099384 \h 1
II. Trí tế nhị PAGEREF _Toc125099385 \h 7
III. Trình pháp PAGEREF _Toc125099386 \h 12
I. Sự nguy hiểm của luân hồi
Minh Thành kính thỉnh quý ni sư, quý sư cô trong chúng để tâm giúp đỡ … 10:35 vào mỗi sáng, thời chín giờ rưỡi, thời hai giờ rưỡi, cho quý vị học được lý thuyết và định nghĩa ngũ uẩn, thực tập nhận diện và làm bài tập. Tiếp theo là nhận diện ba cảm thọ tham, sân, si, lý thuyết và thực hành song song. Nếu có thời gian nữa thì giúp cho các vị mới tập nhận diện được tham, vô minh và bản ngã để khi quý vị xuống núi có được hàn trang quan trọng trong pháp hành.
Vừa rồi có một vị trình pháp, nhờ có pháp Nikāya mới thấy được sự nguy hiểm trong vòng luân hồi này. Bằng một cảm thọ xúc động, thật sự là như vậy. Ngày Minh Thành chia sẻ thiền quán trong bệnh viện có một số vị mới nên Minh Thành chưa nói sâu xa. Chúng ta tu thì chúng ta phải nhận thức thật sâu sắc về sự nguy hiểm trong vòng luân hồi này, phải thấm thía thấu đáo tận cùng sự oan nghiệt của vòng tròn sống chết này. Chúng ta thật sự phải thấm thía, phải thấm nhuần, thấm đẫm, thẩm thấu được chúng ta đang bị vây hãm, bao vây, vây kín ở trong ma trận, mê trận, vô minh trận, tà kiến trận. Chúng ta đang bị vây hãm bởi trận dục ái, tham lam, hơn thua, giành giựt, ganh tị, đấu đá.
Chúng ta đang bị vây hãm trong trận tà kiến, vô minh, dục ái, chấp thủ, ngu si, si ám, bị vây hãm, vây quanh, bao vây, vây kín. Chỉ có người mù không nhìn thấy, một khi mình được mở mắt pháp ra thì mình sẽ nhìn thấy, không có ai đau khổ hơn mình.
Như hôm qua chúng ta học bài kinh Nghĩa địa, không ai đau khổ hơn mình, ôi thật khổ sở cho chúng tôi khi phải ở chung hạng người như vậy. Thế Tôn nói hết sức chí tình chí lí. Ôi, thật là đau khổ cho chúng tôi khi chúng tôi phải ở chung với hạng người như vậy, những hạng người mà đầy rẫy những dục, ái, tham, đầy rẫy những mưu mô, mưu tính, mưu toan, mưu hại, ý kỷ. Những ganh tị, hơn thua, giành giật, ngay cả không chỉ người ở ngoài đời mà người đi tu, vào chùa rồi mà vẫn hơn thua nhau từng chút.
Những suy nghĩ là suy nghĩ của phàm phu, hạ liệt, thấp hèn, chúng ta đang bị vây hãm, chúng ta đang bị bao vây, vây kín ở trong một ma trận. Chúng ta bị bát tà đạo vây kín, tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà mạng bao vây mình, từ bên trong cho đến bên ngoài, tà tinh tấn bao vây mình, mình tưởng là mình siêng năng lắm, đang giỏi giang lắm, đang làm rất nhiều công việc, nhưng thật sự đó là tà tinh tấn, làm để khuếch trương bản ngã sở hữu cái tôi của tôi, làm để cho người ta biết mình hay, mình là giỏi, mình là hơn, càng ngày càng hoan hỷ với các hành, tạo dựng với các hành, hoan hỷ trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, trong những sắc tướng, sắc pháp này, sắc chất này, ưa thích trong đó, tạo dựng trong đó, để rồi mình sầu bi, khổ, ưu não trong đó nhưng đó là tà tinh tấn.
Sự tinh tấn thật sự trong đạo Phật, chế đoạn tu trì, siêng năng từng giây từng phút từng giờ từng khắc là chế ngự sáu căn, đoạn tận tham, sân, si, tu tập tứ niệm xứ và hộ trì tất cả các thiện pháp mà mình đã có được, đó là Chánh tinh tấn, Thánh tinh tấn, đó là sự siêng đúng của bậc Thánh, chế đoạn tu trì.
Khi mình không để tâm vào sự chế ngự các căn, mình cứ nghĩ hướng ra bên ngoài làm cái này cái kia, cái nọ hoài như vậy để rồi trong đó nuôi dưỡng các lòng tham, tăng trưởng những cảm thọ sân hận, phát huy những cái tôi càng ngày càng tinh tấn, vô minh vây hãm, vây kín, vây chặt, bao vây, mò mẫm trong bóng đêm.
Thế Tôn nói:
Mắt, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi...
Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Tất Cả – Bài kinh Mù lòa
Ý nói, con mắt này là mù lòa. Các sắc là mù lòa (cách hình tướng). Sự thấy (nhãn thức) này là mù lòa. Khi mắt tiếp xúc cũng mù lòa (nhãn xúc). Khi tiếp xúc, sanh khởi lên cảm giác gì, vui, thích hay khó chịu, hay là không vui thích không khó chịu cũng là mù lòa trong ba cảm thọ, không thấy, không biết, thọ do nhãn xúc sanh là mù lòa. Những dục, ái, tham, sân, vô minh, si ám, tùy miên trong đó cũng mù lòa.
Vậy nên Thế Tôn nói:
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Tất cả, này các Tỷ-kheo, là mù lòa.
Tương Ưng Bộ Kinh – Chương Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Tất Cả – Bài kinh Mù lòa
Tất cả là mù lòa, sống trong mù lòa, sống trong bóng đêm, si mê, hôn ám, vô minh. Bao nhiêu suy nghĩ của mình có suy nghĩ ra khỏi ngũ uẩn không? Hằng ngày mình xem lại xem, chính mình là người hiểu, biết về ngũ uẩn thì mình coi thử suy nghĩ của mình có ra khỏi ngũ uẩn không?
Hay là nó hoan hỷ trong sự vận hành của ngũ uẩn, hay là nó muốn tạo dựng thêm ngũ uẩn, để rồi nó hệ lụy, sầu bi, khổ, ưu não trong ngũ uẩn, rơi vào sâu vực thẳm ở trong những buồn đau. Tu như vậy nhưng thầy hay huynh đệ chỉ chút là sân si lên, khó chịu, tu mà bảo vệ bản ngã này, sống chết với nó, say mê, say đắm trong bản ngã này thì tu tới khi nào mới thể nhập được Thánh trí vô ngã. Tu không muốn ai nói tới mình, nói tới một chút là khó chịu, chỉ cho một chút là thấy không vui “Đừng ai đụng tới tôi!” thì tu như vậy làm sao tu? Tu vậy để bảo vệ bản ngã của mình, ẩn dương nương Phật, tỵ lại thâu an, lánh nặng tìm nhẹ. Tu như vậy là bỏ quên gánh nặng của thiện pháp.
Chúng ta thấy nhiều khi học ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn như vậy nhưng ngũ uẩn lừa mình không thấy gì cả. Vì mình ở trong ma trận nên mình không thấy. Tâm thức của mình là bao nhiêu ngày từ căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ. Mắt mù, các sắc bên ngoài mù, sự thấy của mình cũng mù, căn, trần, thức cũng mù nên khi tiếp xúc là tiếp xúc trong mù lòa, nhãn xúc. Nên có khởi lên cảm thọ gì thì cũng không thấy, không biết gì “Tôi thích, tôi ghét, tôi bằng lòng, tôi không bằng lòng!”
Như vậy thì nhập cuộc với ngũ uẩn thì không có gì để nhận diện ngũ uẩn, trí tuệ ngũ uẩn làm sao thành thục. Tai cũng vậy, âm thanh cũng mù lòa, nghe này cũng mù lòa, sự tiếp xúc trong khi nghe cũng mù lòa, tiếp xúc sanh khởi bao nhiêu cảm thọ cũng mù lòa trong nghe. Nghe không biết là đúng sai, mà ai góp ý là bực bội lên, ta đây, vì nghe trong mù lòa. Nghe mình không nhận diện ra Thánh pháp, không thấy căn, trần, thức, xúc, thọ, mà mình chỉ thấy một cái tôi ở đó, một bản ngã to tướng, cái ta đang hiện hữu ở đó.
Vậy nên học là học như vậy nhưng khi ra thực tế rồi thì sống trong vô minh, bản ngã, không nhớ pháp, không trú pháp, hành pháp, nhận diện các pháp.
Cứ như vậy bị khổ đau dài dài, hoài hoài, chết trong ma trận, tâm tập trung rất nhiều nhưng tập trung tà định, tập trung để làm cái này, làm cái kia, làm cái nọ thì pháp tự tập trung, hỏi tới pháp không biết gì. Đó là tà định, đặt tâm sai hướng trong sự tập trung tâm ý.
Nhớ thì rất nhiều nhưng toàn chuyện gì, nhớ người này người nọ người kia, chuyện tốt, chuyện xấu của người ta, không nhớ là mình chết, mình đang bị khổ đau, bị vây hãm, bị khốn cùng, không nhớ mình gặp tai họa, tai nạn, khổ ách, kiếp nạn, hoạn nạn, ách nạn, nguy nan… đều không nhớ. Mình nhớ lỗi của người này người kia, ngồi xuống nói chuyện người nọ người kia, trong khi bản thân mình thì đầy rẫy những cấu uế, cấu nhiễm, những nhân của khổ, quả của khổ, rồi mình đang tiếp tục tưới tẩm, phát triển, gieo trồng những hạt giống của khổ đau mà không thấy, không biết gì, mù lòa. Tu như vậy thì không biết đến khi nào mở mắt pháp ra được.
Vậy nên chúng ta phải thấy được nguy hiểm trong luân hồi, vòng sống chết, quay tròn oan nghiệt này. Phải thấm thía nó không bao giờ quên. Từng giờ từng phút mình cảm thấy ưu tư, khắc khoải trong lòng, mình lo lắng, bất an, không thấy có gì vui trong cuộc đời này. Cười nói đó mà trong nụ cười đó sâu thẳm bên trong là một sự lo sợ. Vui vẻ đó nhưng đằng sau vui vẻ đó là một sự khổ sầu, phải nhìn thấy được điều đó.
An ổn đó nhìn sâu vào bên trong là sự bất an, là tai họa. Chúng ta đang ngồi đây có an ổn gì đâu, từ hơi thở và bao nhiêu sự vận hành bên trong các cơ quan, tế bào của mình suy dần, suy giảm hết. Lão hóa, suy kiệt ở bên trong hết, bất cứ lúc nào nó đổ ra thì chưa kể những người sống chung với bệnh ung thư, những mầm móng của ung thư luôn nằm trong chúng ta, vì nó chưa trổ ra thôi.
Hàng triệu người, nhiều triệu người đang sống chung với ung thư, trong chúng ta đang ngồi đây thì nhiều người, chúng ta không nhớ. Không thấy, không biết những cái đó thì Đức Phật gọi là vô minh, mù lòa. Không thấy, không biết những đau khổ của tự thân mình, những nguyên nhân, tai họa, tìm ẩn, tìm tàng, như vậy thì Đức Phật sống trong lãng quên, sống trong thất niệm mà thường thấy, thường biết, thường nhớ, thường lo, thường nghĩ, thường quán, đó là tứ niệm xứ. Tứ niệm xứ không có gì là xa xôi, nhìn lại thân thể mình xem có bệnh hoạn ra sao, trạng thái của nó giờ như thế nào, có thâu nhiếp hay là đang buông thả, có cẩn trọng hay cẩu thả. Nhìn lại cảm thọ của mình xem cảm thọ này có an tịnh, lắng dịu không? Có cảm thọ ngọt ngào của từ ái, bao dung, tha thứ, độ lượng.
Nhìn lại nội tâm xem trong tâm đang có gì, có thiện pháp hay bất thiện pháp? Đó là tu trong chế đoạn tu trì, một chữ tu trong tứ chánh cần, tứ niệm xứ, siêng năng, tu tập tứ niệm xứ, nhìn lại nội tâm mình xem có còn thích không, còn ham muốn, hiện hữu trong cuộc đời này không? Còn hoan hỷ đối với tự thân này không? Nếu còn là mình lo lắng, lo sợ, khắc khoải, mình thấy mầm móng này, sự yêu thích, các hiện hữu này là còn yêu thích khổ đau, luân hồi, oan nghiệt, còn yêu thích những dòng nước mắt tận cùng của sầu bi.
Nó còn hoan hỷ trong các hành này, còn yêu thích những cảm giác, nghĩ tưởng này, còn nắm giữ, chấp thủ, còn cho là tôi, của tôi, là còn tai họa, là mầm móng của ác độc, hiểm nguy, oan nghiệt còn trong này, mình lo lắng, khổ sở, mình buồn đau. Cho đến khi nào mình nhìn lại các sắc, thọ, tưởng, hành, thức này thì mình thấy nhiều nhàm chán, mệt mỏi, bất an, tai họa, nhiều tâm muốn rời xa, viễn ly, xuất ly, xả ly, đoạn ly, lúc đó thì mình mới hoan hỷ. Vì mình biết còn ưa thích những thứ này là còn yêu thích đau khổ, là còn yêu thích tai họa, là còn ưa thích vi trùng, vi rút, vi khuẩn, là còn ưa thích nước mắt, máu, ưa thích hòm, bệnh viện, nhà hoàng, lò thiêu. Là còn ưa thích giành giựt, đấu đá, chém nhau, giết nhau, đâm nhau, đốt nhau, tạt a-xít với nhau. Là còn ưa thích những cảnh đó. Những cảnh giành giựt, cướp bóc, giết hại, đầu độc, nhảy sông, nhảy lầu, thắt cổ… là còn những cảnh đó của mình, không phải của người ta.
Mình đã vô lượng lần, vô lượng kiếp, vô số, vô biên là những lần mình sống vậy. Mình thấy dòng luân hồi này thật ác độc, thật tai họa, nguy hiểm. Mình quán tới đây là ngao ngán, ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê, mà tâm thoát ly của mình càng ngày càng lớn mạnh, càng tăng trưởng, càng phát triển. Cho đến độ mình nhìn được thấy được tất cả vẻ đẹp trên cuộc đời này không còn làm cho mình có một cảm thọ khoan khoái, rạo rực, thích thú nữa vì mình nhìn thấy một đống khổ, không có gì hấp dẫn được mình nữa. Tâm mình nghiêng về viễn ly, xuôi về viễn ly, nhập vào viễn ly, tâm mình nghiêng về, xuôi về, đi vào sự xa lìa sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Tâm mình hướng tới sự từ bỏ, sự thoát ra, mình vui thích với tâm đó, mình hân hoan, hoan hỷ với tâm đó, mình thấy mình sung sướng, hạnh phúc tuyệt vời với tâm đó, tâm như vậy là tâm của Đức Phật và các bậc hiền thánh, là tâm của các bậc hiền trí, các bậc tu hành, là tâm của bốn đôi tám chúng hiền thánh.
Ngao ngán Bát tà đạo, những đời sống bất an, tai họa từ trong tới ngoài, từ ngoài tới trong. Không ưa, không thích, không muốn nữa, chấm dứt từ đây buộc tái sanh. Khi mình nhìn thâm sâu vào rồi mình mới thấy lúc xưa mình chưa tu dòng pháp này thì chưa hiểu sanh là khổ. Còn bây giờ mình mới thấy được chữ này là chúa tể của các khổ khác. Sanh là khổ, tái sanh sự thật là đầy khổ đau.
Sự tái sanh này mới có già, bệnh chết, có tham, sân, si, dục ái, bản ngã, chiếm hữu, hơn thua, vì nó có sự sanh này, sự sanh này từ vô minh và tham ái, đối với năm thủ uẩn này. Vô minh thì không thấy, không biết ngũ uẩn vì nghĩ là nó bền, chắc, tốt, thật, nó là mình thì mới yêu thích, tham đắm trong đó.
Từ yêu thích, tham đắm thì nên mới nắm giữ, từ nắm giữ đó rồi tạo nhiệp, nên chịu quả báo của khổ, đó là quy trình vận hành của pháp, không thấy, không biết, tưởng đâu là thật, là mình, là ngon, là vui. Giờ mình yêu thích thì mình nắm giữ, thì mình phải làm thế nào để cho mình giữ nó được, thì mình tạo ra nghiệp ác, từ khi mình to ra nghiệp ác thì có quả báo dị thục của nghiệp. Sầu bi, khổ, ưu não, những dòng nước mắt tận cùng thương đau tiếp diễn.
Nên mình nhìn ra được trí tuệ này rồi thì mình nhìn ra được quả cầu lửa, Trái đất này chỉ là quả cầu lửa, không có gì cả, chỉ là bóng đêm, những chúng sanh nheo nhóc ở trong này, giành giựt, đau khổ ở trong này vì không thấy ngũ uẩn, không thấy được bản chất vô thường, trống rỗng, bất an, tai họa của nó.
II. Trí tế nhị
Vậy nên Thế Tôn từng nói:
Nhưng này Hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt.
Kinh Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Bốn Pháp - Phẩm Rohitassa - Bài kinh Rohitassa 1
Thế giới tức là thân ngũ uẩn này, ngũ uẩn trong này và ngũ uẩn ngoài kia, không có gì cả, tất cả chỉ là ngũ uẩn, không có ai, tất cả chỉ là những đống sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chỉ là những đống đầy rẫy dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, tất cả chỉ là những đống lửa, đụng vào là cháy, phựt, tất cả chỉ là những khổ đau, tất cả chỉ là khổ đau của bất toại nguyện, chưa thỏa mãn, những đòi hỏi, những thúc giục, những khát ái, những thèm khát.
Tất cả những đống ngũ uẩn này chỉ là những ảo tưởng về tự ngã, cho mình là ngon, là hay, là ta đây, sống trong ảo tưởng, ảo vọng, ảo quyển, ảo quán, sống trong điên đảo, mộng tưởng, không có gì đâu. Cả thế giới này không có gì hết, không có con người nào, toàn là những sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vô minh, tham ái, chấp thủ, si mê, điên đảo, giành giựt, đấu đá, cắn xé, giết hại. Nó không đáng để cho mình phải chạy đuổi, tìm kiếm, không đáng để cho mình đem hết lau tâm, khổ tướng.
Đó là những thứ đáng từ bỏ mà tất cả những bậc Thánh quăng xuống, khạc, nhổ ra, liệng ra, ói ra, mửa ra, bỏ ra. Đó là ung nhọt, tai họa, là đống lửa, là đầy rẫy sự bất an, sự khốn đốn và hoạn nạn khi mình phải mang một thân xác với những cảm giác, tư tưởng, nhận thức này. Vì vô minh, tham ái, chấp thủ nên không thấy không biết, suốt ngày chỉ quanh quẩn với những suy nghĩ, cảm giác, những tư tưởng, nhận thức đều ở trong ngũ uẩn, không đi ra ngoài được. Học thì học nhận diện ngũ uẩn nhưng sống thì lại dính chùm trong ngũ uẩn. Đừng tưởng suy nghĩ của mình, chấp nhận cảm thọ của mình, không thấy nó là ngũ uẩn, nên kinh Trí tế nhị trong Tăng Chi Bộ kinh tập một nói về bốn trí tế nhị đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức:
- Này các Tỷ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Ý nói, Đức Thế Tôn nói Tỳ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc mà không thấy có bất cứ một trí tuệ nào tối thượng, thù thắng, vi diệu hơn trí tuệ đó nữa. Vị ấy không mong muốn là đạt tới một trí huệ nào khác hơn, tối thượng hơn, vi diêu hơn, thù thắng hơn nữa. Vị ấy chỉ mong muốn thành tựu trí tuệ tế nhị đối với sắc, trí tuệ đó là tối tôn, tối thượng, tối cao, là Thánh trí huệ.
Chúng ta đang học trí tuệ về sắc là trí tuệ về gì? Như Minh Thành đã chia sẻ rất nhiều bài trí huệ về sắc thân, tức là thân, hành, niệm, là niệm thân, sáu phương diện, khía cạnh niệm thân, đó là trí tuệ về sắc. Là thấy được thân này trong hơi thở, thấy được thân này là bốn yếu tố kết thành, thấy được những thứ tụ tập lại để tạo thành hình hài này, là ba mươi hai thể trượt, thấy được sự chấm dứt của nó qua chín giai đoạn, tan rã, hủy diệt của một thây chết. Đó là trí tuệ tế nhị, tối tôn, tối thượng, tối cao, tối thắng của bậc Thánh, không còn một trí huệ nào về sắc hơn cái đó nữa. Người tu cũng không mong muốn tìm trí huệ nào khác hơn.
Đây là Tăng Chi Bộ kinh tập một, kinh Trí tế nhị. Chúng ta nhớ bài kinh chúng ta tụng trong Căn bản trí, Thế Tôn nói sau khi nhập diệt, Tỳ-kheo nào thực hành Tứ niệm xứ trong hàng đệ tử của ta là Tỳ-kheo tối thượng nếu chịu khó học hỏi, thiết tha học hỏi. Đó là tối thượng, là trí tế nhị.
Để thành tựu trí tế nhị đối với thọ, đối với những cảm giác này, để thấy rõ ba cảm giác lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Để thấy rõ tham, sân, si, vô minh, tùy miên ở trong ba cảm thọ. Vị ấy nhìn ra được tất cả phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ.
Vị ấy nhàm chán đối với các cảm thọ, không ưa thích, không hoan hỷ đối với các cảm thọ. Vị ấy muốn xa lánh các cảm thọ, không nắm giữ các cảm thọ, không cho cảm thọ đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, vị ấy thấy tất cả cảm thọ này nằm trong đau khổ, không chấp nhận cảm thọ đó là tôi, không thấy được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái trong các cảm thọ, nhàm chán nó, hướng đến sự rời xa, từ bỏ nó, thoát ra khỏi nó. Như vậy là trí tuệ tế nhị về thọ tối tôn, tối thượng, tối cao, tối thắng, vi diệu, cùng tột, không có bất cứ một trí huệ tế nhị đối với thọ nào có thể so sánh được. Không còn một loại trí huệ nào đối với cảm thọ cao hơn đó nữa để không có mong muốn đi tìm trí huệ nào khác.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Bốn Pháp - Phẩm Hành – Bài kinh Trí tế nhị
Đức Thế Tôn đã trao cho chúng ta Thánh trí huệ như vậy, tối tôn, tối thượng, tối cao như vậy mà chúng ta học xong rồi để đó. Không đem hết tất cả tấm lòng chân thành, bằng tất cả trái tim, sinh mạng của mình, để mình nhìn, quán chiếu, giữ gìn thọ trì. Học xong biết rồi chỉ để đó, có làm là khi nào lên thiền đường mới làm. Còn bình thường cứ để cho cảm thọ thoải mái, buông lơi, buông trôi, buông thả, buông lung.
Nên làm sao mình thấy được trí huệ này là trí huệ tế nhị, tối tôn, tối thượng, tối thắng, làm sao mình thấy được, mình có cảm nhận được đâu, mình có thực hành, cảm nhận được? Tại sao các bậc Thánh hy sinh cả thân mạng vô lượng, vô số, vô biên kiếp để được Thánh trí về ngũ uẩn này trao cho mình thì giống như học bài. Biết rồi, hay, gật đầu, vỗ tay rồi để đó.
Tâm mình chưa chấp nhận học pháp một cách trọn vẹn, học và tu như vậy nhưng sâu thẳm bên trong mình chưa ý thức được một cách hết được giá trị vĩ đại của Thánh trí về năm uẩn, về Tứ niệm xứ này, của Chánh kiến của bậc Thánh này. Mình chưa thọ được nhiều, chưa thấy được công năng, tác dụng thần thánh, linh thiêng, cao thượng, tối thắng, vi diệu tột cùng của Thánh trí huệ, của bậc Chánh đẳng Chánh giác truyền trao, nếu mình thấy rồi thì mình chết chẳng là gì đối với sự tu học trí huệ này.
Đối với một người thấy pháp, tất cả cuộc đời này là vô nghĩa, không có giá trị gì, chỉ có pháp mới là sinh mạng của hành giả Nikāya, chừng nào mình thấy được như vậy lúc đó mình mới tới gần pháp. Mình phải tu tập làm sao tăng thượng ngày đêm trong suy nghĩ của mình, không dừng lại, mình mới tu học được chút ít là đã thỏa mãn, bằng lòng, hài lòng, không có tâm hướng thượng. Pháp có khả năng hướng thượng, tại sao tâm mình không hướng thượng? Mình cứ dậm chân tại chỗ mãi, không có tâm khắc khoải, không có một trái tim nóng bỏng, rực cháy, nhiệt tâm. Chấp nhận với những thiện pháp nhỏ bé thì làm sao mình đi đến cứu cánh cùng tột của phạm hạnh, của Thánh trí, hằng ngày mình phải tác ý, phải nghe kinh. Khi đi làm công việc, đi sinh hoạt ở trong chúng đều không quên pháp, nhắc tâm của mình hoài. Đó gọi là Chánh niệm.
Tức là nhớ đúng, quán đúng, suy nghĩ đúng. Với một người suốt ngày nghĩ mình đang bị vây hãm, đang bị mê trận bát tà đạo này vây kín mình, tự mình nhớ như vậy là người này sẽ thu nhiếp, chế ngự, tu trì. Chế đoạn tu trì, chế ngự sáu căn, đoạn tận tham, sân, si, tu tập Tứ niệm xứ, hộ trì tất cả các thiện pháp, chỉ có một Chánh tinh tấn có bốn pháp đó.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng …
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn trí tế nhị.
Biết trí tế nhị sắc
Biết hiện hữu các thọ
Từ đâu tưởng sanh khởi
Tại đâu tưởng chấm dứt
Biết các hành biến khác
Là không, không là ngã
Nếu Tỷ-kheo thấy chánh
Tịch tịnh, ưa tịch tịnh
Thọ trì thân tối hậu
Thắng Ma và Ma quân.
Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Bốn Pháp - Phẩm Hành – Bài kinh Trí tế nhị
Trí biết tế nhị về sắc, biết hiện hữu các thọ, biết được tham, sân, si, vô minh, tùy miên, biết được sự vận hành của các cảm thọ, dục, ái, tham, vô minh, bản ngã, biết được những cảm thọ nào là buông lung phóng dật, những cảm thọ si, đơ, những cảm thọ ngu muội, tâm không tập trung. Biết được các cảm thọ đó và biết được mọi, phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ, biết hiện hữu các thọ như vậy đó là trí tế nhị về thọ tối tôn, tối thượng, tối cao, tối thắng, thù diệu, vô thượng, là trí huệ của chư thiên và loài người, của tất cả các hiền thánh, không có một trí huệ nào có thể so sánh được trí tuệ này.
Chúng ta hãy tìm thử một trí huệ nào có thể so sánh với trí huệ về ngũ uẩn này không? Nó phá tung, phá sập, phá vỡ, phá nát, phá tan, phá hoại hoàn toàn tâm vô minh, khát ái, chấp thủ trong đời sống, thân tâm này, cảnh giới này. Còn có một loại trí huệ nào khác có thể so sánh được? Nên mới gọi là trí huệ tế nhị thù diệu tối thượng thù thắng của bậc Chánh đẳng Chánh giác chứng ngộ, không một ai có thể tìm được trí huệ này, không một ai, trừ bậc Thánh, đệ tử của Như Lai hoặc là người nghe đệ tử Như Lai nói lại. Bất cứ, không có người thứ hai nào có thể truyền cho mình trí huệ này.
Đệ tử Như Lai là đệ tử của Bốn đôi tám chúng hiền thánh, không phải đệ tử Như Lai là cạo tóc, đắp y lên, chỉ là trên hình thức, đệ tử Như Lai chánh thống là bốn đôi, tám chúng, là những vị tối thiểu hướng dự lưu, là tâm hướng tới sự lìa xa, nhàm chán đối với ngũ uẩn, mới được gọi là chính thức đệ tử của Phật.
Tâm còn khao khát, ưa thích đam mê, còn hoan hỷ, tạo dựng trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chưa thấy được ngũ uẩn thì chưa phải đệ tử thật sự của Đức Phật, dù cho có hình thức xuất gia.
Nên từ đâu tưởng sanh khởi, từ đâu tưởng chấm dứt, đây là trí tuệ sanh diệt về ngũ uẩn. Vậy từ đâu tưởng sanh khởi?
III. Trình pháp
Phật tử số 1 trình pháp:
Con kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin trình bày bảy trí về tưởng.
Có sáu tưởng thân này, sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi, do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Và con đường đưa đến tưởng đoạn diệt là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Vị ngọt của tưởng do duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì? Lạc hỷ ấy là vị ngọt của tưởng. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại đó là sự nguy hiểm của tưởng, sự xuất ly của tưởng, sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với tưởng. Đó là sự xuất ly bởi tưởng.
Sư phụ giảng giải:
Rất tốt. Tất cả trong chúng của chúng ta phải thuộc lòng những Thánh trí huệ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức để biết được nhân duyên sanh diệt của nó để mình quán chiếu, nhận diện. Quán chiếu mình nhận diện là quán chiếu theo trí tuệ của bậc Chánh đẳng Chánh giác, không phải theo tâm phàm của mình, muốn tưởng sau thì tưởng, mình nghĩ sao thì nghĩ, không phải vậy.
Nên điều đặc biệt trong đạo tràng Nikāya của mình là lý thuyết và thực hành song song, mà lý thuyết đó là bậc Chánh đẳng giác hướng dẫn chứng ngộ và thực hành theo lý thuyết đó, thấy đúng như trong kinh đó. Nên chúng ta mới gọi là nguyên chất của Chánh pháp là vậy. Không qua mặt những người khác, chúng ta thực hành trực tiếp vào trong tận nguồn, ngay góc rễ, lời dạy nguyên gốc, nguyên chất, nguyên thủy của Đức Thế Tôn.
Vậy nên đòi hỏi là chúng ta phải thuộc, từ thuộc thì chúng ta phải hiểu, sau khi hiểu thì chúng ta mới thực tập, từ thực tập đó chúng ta mới bắt đầu thẩm thấu và chúng ta thành tựu được những trí tuệ trong thực tập đó. Văn, tư, tu, ba giai đoạn hành trì.
Thuộc chúng ta còn không thuộc, nghe chúng ta chưa từng nghe thì sao chúng ta thành tựu được trí. Vậy nên Đức Thế Tôn nói từ đâu tưởng sanh khởi, từ đâu tưởng chấm dứt.
Biết các hành đổi khác, hành là những suy nghĩ, đổi thay liên tục, là không, không là ngã, là trống rỗng, không có ta. Nếu Tỳ-kheo thấy đúng như vậy là tịch tịnh, ưa tịch tịnh. Thành tựu được trí về ngũ uẩn, thành tựu được bốn trí tế nhị, thì vị Tỳ-kheo này thấy đúng, thấy đúng thì thân tâm của vị ấy tịch tịnh, lặng lẽ trong mọi lúc mọi nơi. Vị này ưa lặng lẽ, ưa thích tịch tịnh, ưa sự lặng lẽ của sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Lặng lẽ không phải là không làm gì, việc cần làm thì ta làm rất sắc bén, rất nhiệt tình nhưng trong tâm luôn hướng đến sự lặng lẽ đối với tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, đối với dục ái, sân si, vô minh, bản ngã. Là một sự dập tắt hoàn toàn, đó là định nghĩa của chữ Niết-bàn, Niết-bàn nghĩa là dập tắt, dập tắt những khao khát, thèm muốn, dập tắt những sự thiêu đốt, nóng bức.
Dập tắt những bóng tối của vô minh, dập tắt những thúc giục, ham thích, tôi ta tìm kiếm trên cuộc đời này, dập tắt hoàn toàn thọ trì thân tối hậu. Ý nói thân này là thân cuối cùng, không còn khổ tái sanh luân hồi, không còn chịu sự nguy hiểm, oan nghiệt trong dòng sống chết này nữa.
Là không, không là ngã
Nếu Tỷ-kheo thấy chánh
Tịch tịnh, ưa tịch tịnh
Thọ trì thân tối hậu
Thắng Ma và Ma quân.
Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Bốn Pháp - Phẩm Hành – Bài kinh Trí tế nhị
Lặng lẽ và ưa lặng lẽ, thân này là thân cuối cùng, thân này là thân rốt sau, thân này là thân tối hậu, chấm dứt thân này rồi, không còn sống chết, sầu bi, khổ, ưu não nữa, không còn tiếp tục trong vòng tái sanh đầy lo lắng, bất an, sợ hãi, khổ sầu này nữa. Chấm dứt thân này rồi, thể nhập và chỗ tịch tịnh, đại viên mãn, không có tham, sân, si, không thèm muốn, khao khát gì nữa, không trông chờ, hy vọng bất cứ cái gì trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa. Tâm hoàn toàn bất động.
Tâm giải thoát, tuệ giải thoát, khi diệt tận dục ái thì tâm được thoát ra, khi còn dục, còn ái trong ngũ uẩn thì tâm bị buộc, bị trói cột trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi cắt đứt được dục, tham, ái trong năm uẩn thì tâm thoát ra, như chim sổ lồng, giống như bọt tan, hòa nhập vào đại hải, đại dương, biển cả.
Tuệ giải thoát là khi vô minh chấm dứt, khi những sự si ám, hôn mê, tối tăm chấm dứt thì ánh sáng bừng lên gọi là tuệ giải thoát. Giống như mặt trời bị mây đen che, tuy là giữa trưa nhưng trời tối, một đám mây đen che dày đặc như vậy, ánh sáng bị che. Giờ mây đen tan hết, thì ánh sáng của mặt trời tỏa chiếu cùng khắp, trực thăng chuyển chuyến, ánh sáng chiếu soi cùng khắp tất cả ngõ ngách.
Xong xuôi muốn nhập đại điện thì lúc đó gọi là tuệ giải thoát, trí tuệ không còn bị phong tỏa nữa. Trí huệ trước nay bị vô minh phong tỏa, bị hắc ám che đậy, bị ngu si, đóng kín, giữ chặt, giờ nó vỡ ra, dạt ra hết, tan ra hết thì lúc đó tuệ giải thoát, vậy nên vô minh và khát ái đoạn tận thì tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không còn tái tạo ở thân ngũ uẩn đầy tham, sân, si, dục ái, bản ngã, khổ đau này nữa.
Tâm bất động, thênh thang bất động, tự do, giải thoát hoàn toàn, không còn bất cứ một cái gì làm cho mình khổ đau nữa, đại thành công, đại chiến thắng, đại oai hùng, đại giải thoát, đại tự tại, không còn bất cứ một sắc, thọ, tưởng, hành, thức, quá khứ, hiện tại, vị lai, nội ngoại thô tế thắng liệt xa gần nào có thể làm cho mình khổ đau nữa, hoàn toàn thoát ra khỏi ngũ uẩn, vĩnh biệt luân hồi. Không phải là tạm biệt mà là vĩnh biệt.
Chúng ta nên nỗ lực, quyết liệt lên, mạnh mẽ lên, chiến đấu, chiến thắng, hát khúc Khải hoàn ca.
Minh Thành mời quý vị chia sẻ cảm thọ của mình sau buổi thiền quán hiểm họa về luân hồi và bốn trí tuệ tế nhị tối thượng, thù diệu, linh thiêng.
Phật tử số 2 trình pháp:
Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể hành giả. Trước khi con nhận diện bài ngũ uẩn sáng nay, cho con có lời tri ân sâu sắc đến thầy Thiện Huệ đã nhắc nhở tâm giải đãi. Mỗi sáng, nhiều lúc con bận công việc thì suy nghĩ của con cũng không được tinh tấn, giải đãi. Và một lời nói tri ân thầy Pháp Nghĩa, ngày hôm qua, hôm kia con có gặp thầy, mỗi sáng con nghe pháp nhưng con muốn trình pháp mà sự sanh khởi trong con thì nó sợ nên con không tác ý ra khỏi và con cũng không mạnh dạn trình pháp trước sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn bộ đại chúng.
Sáng nay con muốn tác ý là con may mắn được sanh ra làm người có tay chân, thân thể và trí tuệ và được gặp Chánh pháp, được tu tập, gặp được thầy dắt độ và dẫn dắt cho chúng con gặp đúng Chánh pháp, được gặp những bạn hiền để tạo thành đoàn thể yêu thương cùng tương trợ và thực tập tu tập. Con được may mắn là vị thầy lúc đó là sư phụ của mình, mà tại sao ý hành của con cứ nói tại sao mà không được mạnh dạn phát biểu, có gì sai sót nên mong sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng chỉ dạy cho con được hiểu biết nhiều hơn.
Sắc thân tứ đại của con là đang ngồi, về thọ thân, cảm thọ mà con nghe sư phụ giảng, đi đến đâu thì sự sanh khởi trong con rất tàm quý, xấu hổ. Vì tưởng của con cứ nhớ tới hình ảnh và quá khứ. Hành của con thấy rất ghê sợ và tự nhủ cố gắng tu tập và bám sát theo các thiền giả đã chỉ bày cho con.
Thọ, tưởng, hành và tứ giang hải, tư tưởng trong năm uẩn mà giả danh ảo tưởng tự thân thì con thấy những dục tham và xâm chiếm những suy nghĩ và hành động của con bấy lâu nay do con vô minh, không hiểu biết nên cứ chạy theo những dòng si mê nên sau khi sư phụ và các thầy nhắc là những suy nghĩ tà kiến tà ngữ, tà mạng và tà tinh tấn. Nhờ những dòng pháp mỗi sáng sư phụ đã rót vào trong thân tứ đại ngũ uẩn này, mỗi ngày một sáng tỏ, mỗi ghi nhận để con cố gắng tinh tấn và tu tập, để được hiền thiện hơn.
Phật tử số 3 trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, chư tôn đức tăng ni và các bạn đại chúng.
Bài thiền quán hôm nay sư phụ dạy cho con, con thấy sự nguy hại của cuộc sống này, thấy bản thân mình luôn chạy theo những dục, ham muốn của thân xác, vì cái tôi, bản ngã, cứ chạy theo năm uẩn này cứ phục vụ cho nó biết bao nhiêu là nguy hại.
Mặc dù nhìn thấy ngũ uẩn nhưng chúng con vẫn chạy theo ngũ uẩn si mê này, không thấy được sự nguy hại của nó, không sắc bén, dùng Thánh trí của Phật để diệt nó. Nên chúng con cũng đau khổ, cũng bị nó sai sử.
Bản ngã càng ngày càng cao, cái tôi càng ngày càng lớn, mở mắt ra là tạo nghiệp. Chính bản thân con trong sáng hôm nay khi lên tụng pháp bảo, bản ngã sắc bén, mặc dù con cũng có chánh niệm nhưng con vẫn sau nó. Khi tụng pháp bảo, con có một ý hành: Tụng để chỉ trích người không tu hành. Con cũng kịp nhìn ra bản ngã nó đã sai khiến con trong một tích tắc nữa thì con thấy bạn đồng tu tụng pháp bảo, rồi ý hành con cũng thấy dục của bạn ấy, nó sai khiến, con quay lại, con la rầy bản ngã của con: “Mày đã dẫn dắt ta bao nhiêu kiếp rồi. Giờ ta đã nhìn thấy được mày, mày còn len lỏi dẫn dắt ta tạo nghiệp nữa. Vì mày mà ta khổ, vì mày mà ta phải luân hồi, nay ta thấy mày rồi, mày còn dẫn dắt nữa.”
Con thấy rất sợ hãi trong mỗi ý hành nó dẫn dắt mình trong tích tắc, nếu mình không nhìn thấy thì mình vẫn luân hồi. Sư phụ dạy bốn sự sắc bén của bậc Thánh, bốn trí để mình tu hành. Ý là mình phải sắc bén để nhìn thấy được tưởng, hành, thọ này để mình thoát ra sanh sử.
Con xin tri ân bài pháp hôm nay của sư phụ và con hứa sẽ cố gắng khắc phục để nhìn lại thân tâm mình trong từng ngày từng giờ, con phải cố gắng tu tập để không phụ lòng từ bi, lòng thương bao la vì hành hậu học chúng con của sư phụ, sư phụ không quản ngại khó nhọc, thời gian. Ngày nào sư phụ cũng cho chúng con tắm trong dòng pháp này. Con xin tri ân trên sư phụ.
Sư phụ giảng giải:
Rất tốt. Mình đang tụng kinh mà thấy được bản ngã đang sanh khởi, vận hành như vậy là tốt, mình tác ý rất tốt, nên tiếp tục như vậy để quán xét thân tâm của mình.
Phật tử số 4 trình pháp:
Chúng con là những người ni cô ở ngoại viện Thường Chiếu. Chúng con đều trên sáu mươi tuổi nên một trong những ngũ uẩn mà tụi con đối diện là bệnh tật làm cho tụi con rất khó chịu, đau khổ. Gần như tụi con chỉ vuốt đuôi nó, không nhận diện được rõ ràng nên con lên đây để thầy có những kinh nghiệm dạy cho chúng con để nhận diện rõ ràng hơn, để chúng con tu tập đến những ngày ra đi được thanh thản tâm hồn.
Sư phụ giảng giải:
Quý ni sư, quý sư cô sẽ hướng dẫn cho quý vị.
Phật tử số 5 trình pháp:
Kính bạch thầy, quý tăng, ni, ni sư và đại chúng.
Sau khi con nghe thầy giảng một bài pháp về thiền quán thì bản thân con hôm nay có nhận được một điều. Con xin trình bày để mong thầy hướng dẫn con thêm.
Khi con nghe gần cuối, thầy nói thân này là thân thối thì con soi lại ruột, gan, phèo, phổi, máu, mủ thì con thấy rõ rằng nó quá dơ bẩn. Sau đó thì thức của con bắt đầu nhàm chán, thân của con rùng mình, thức của con muốn rời thân, là nó nhàm chán, thấy dơ bẩn quá, khoảng hai, ba phút thì chấm dứt.
Con soi như vậy có đúng không xin thầy chỉ dạy cho con thêm.
Sư phụ giảng giải:
Như vậy rất tốt, đó là cảm thọ của mình nhàm chán, có biểu hiện trên thân. Là mình có thọ được pháp, là mình có cảm nhận được pháp, cảm ngộ được pháp. Có sự tác động thân tâm của mình, chứng tỏ mình nghe, hiểu, cảm xúc được, cảm động được pháp. Đó là tín hiệu rất tốt, nên phát huy và tiếp tục an trú, nuôi dưỡng nó, làm cho nó lớn mạnh lên thêm.
Đó là những cảm thọ của hiền thánh, của những bậc Thánh đệ tử. Nếu mình không tu trong dòng pháp này thì rất hiếm có những cảm thọ đó, có lẽ suốt đời mình đi tu cũng không có được những cảm thọ đó. Vậy nên những cảm thọ đó rất hy hữu, quý báu, mình nên an trú, giữ gìn, tưới tẩm, nuôi dưỡng, phát huy, tăng trưởng, làm cho nó lớn mạnh. Mình xem nó như báu vật, đó là chữ trì sau cùng của chế đoạn tu trì, trì là giữ các cảm thọ, trí tuệ. Giữ gìn nó, thọ trì nó, tức là sau khi mình cảm nhận thì mình phải giữ những cảm thọ đó, những trí tuệ, thấy biết đó, không cho nó mất và mình còn làm cho nó tăng trưởng nữa, đó là Chánh tinh tấn, là sự siêng năng của bậc Thánh.
Vậy nên khi mình học trong kinh Nikāya thì mình sẽ thấy Chánh tinh tấn trong kinh Nikāya rất đặc biệt, tuyệt diệu, sâu sắc. Không phải như mình nghĩ Chánh tinh tấn trước nay.
Chúng ta cố gắng giữ gìn dòng cảm thọ này, hoan hỷ và tu tập, tăng thượng trong pháp.
Chúc tất cả đại chúng có được trí tuệ, thấy được vòng oan nghiệt của sống chết này, tâm viễn ly mạnh mẽ, hỷ lạc trong pháp.
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.