Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa Nikaya - Phá Chấp Thọ Thủ Uẩn

2026-03-03 00:53:31
Tinh Hoa Nikāya

Phá Chấp Thọ Thủ Uẩn

Thích Minh Thành

Ngày 11 tháng 05 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc140656859 \h 1

II. Cảm thọ là khổ PAGEREF _Toc140656860 \h 8

III. Trình Pháp PAGEREF _Toc140656861 \h 14

I. Huấn luyện cảm thọ

Hôm nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm phá thủ uẩn, phá cái tâm nắm giữ vào trong các cái cảnh, phá vỡ tâm nắm giữ vào sắc. Phá vỡ cái tâm nắm giữ vào những dòng suy tư, suy ngẫm. Phá vỡ cái tâm nắm giữ vào cái rõ biết này, cái thức này. Sắc uẩn, sắc pháp, sắc tướng, sắc chất này có hình tướng, mình cầm, nắm, sờ mó, thấy được. Cho nên để mình quán chiếu nó còn dễ hơn là thọ, tưởng, hành. Thọ, tưởng, hành, thức nó không có một hình tướng cụ thể. Nó chỉ là những cảm giác, hình bóng lờ mờ trong tâm, những lời nói, suy nghĩ âm thầm. Cho nên nó rất là vi tế, rất là thâm sâu. Vì vậy Đức Thế Tôn đưa lên cho chúng ta thấy, sự chứng ngộ của Ngài đã thành tựu 35 loại trí tuệ. Bảy trí về sắc, bảy trí về thọ, bảy trí về tưởng, bảy trí về hành, bảy trí về thức.

Cho nên các vị lên núi tu học, nhất là các vị xuất gia đó là mình phải trả bài, phải học thuộc lòng mới có thể quán chiếu được. Thân xác này là do các căn tập khởi, sắc tập khởi, cho nên các căn đoạn diệt, sắc đoạn diệt. Vì vô mình, tham ái cho nên sắc này mới sanh khởi. Không thấy, không biết về năm uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, cho nên mình mới yêu thích. Tưởng đâu nó là bà ngoại, vui, đẹp, nó là mình, của mình, tự ngã của mình, Cho nên mình nắm giữ, nắm chặt, nắm chắc, bám chắc vào trong cái đống sắc uẩn này. Trong sắc uẩn này có cảm thọ, do nhân duyên nó tiếp xúc, khi xúc nó sanh ra thọ, tưởng, hành. Mắt nhìn thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân tiếp xúc, xúc chạm.

Trí bên trong mình rõ biết hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, do xúc nó sanh thọ, do thọ nó sanh ra ái. Từ ái đó sanh ra sự nắm giữ, ái sanh ra thủ, sự nắm giữ đó mới có sự hiện hữu. Khi nó hiện hữu rồi sẽ có sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Sắp tới chúng ta sẽ học sự chứng ngộ của 7 Chánh đẳng giác, 7 bậc Chánh đẳng giác đều là chứng ngộ trí tuệ này. Cho nên khi có 6 căn rồi, thì nó có sự tiếp xúc với 6 trần. Trong cái xúc đó mình đâu có được học cái Thánh trí, mình không có quán chiếu theeo Thánh trí. Cho nên cái thọ nó sanh khởi mình không có biết, nó sanh khởi bao nhiêu là mình dính mắc bấy nhiêu, mình nắm giữ bấy nhiêu. Cho nên gọi là thọ thủ uẩn, là cái tâm nắm giữ đối với cái đống cảm xúc, cảm giác, cảm thọ này.

Uẩn ở đây là tích tập, tập hợp, nhóm hợp. Cái tâm mình là nó nắm vô hết, cái thọ nào sanh khởi lên, cảm giác nào sanh khởi lên nó cũng nói là nó. Nó không có thành tựu trí tuệ để nó biết rằng, cái thọ này là do duyên xúc. Cho nên có thầy Tỳ-kheo hỏi Đức Phật là: “Ai xúc?” Đức Phật trả lời: “Ta không có nói là ai xúc, ai ái, cái xúc, cái ái này là do duyên sanh. Nếu ông hỏi từ đâu có xúc, từ đâu có ái thì được”. Thành ra chỗ này là chỗ mà hôm qua con nói rồi đó, chúng ta phải có nhiều thời gian để mà ngồi tịnh tọa, thiền định, để mà nhận diện các sắc. Cảm thọ nó sanh khởi lên liên tục, trong cái cảm thọ đó nó có những cảm thọ thiện và bất thiện. Có những cảm thọ đen, cảm thọ trắng, cảm thọ trong, cảm thọ đục, cảm thọ hiền, cảm thọ dữ.

Cái bước đầu tiên là chúng ta phải nhận diện được cảm thọ nó thô, tháo, đen, đục, dữ, ác, mình nhiếp phục cái cảm thọ đó trước. Chúng ta làm việc từ từ mà, chúng ta đâu có đi vào mỗi cảm thọ liền được. Cái pháp Đức Phậ dạy chúng ta, đầu tiên là sau khi mình biết được cái duyên sanh của thọ. Đầu tiên mà mình biết được cái cảm thọ trước đã, biết được cảm thọ là cảm thọ, cảm thọ không phải là mình, của mình, tự ngã của mình. Đó là 1 cái bước, bước này rất quan trọng, là bước nhận diện cảm xúc. Cho nên cái lúc ngồi thiền: “Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập thiền tịnh”. Thiền định hay thiền tịnh cũng vậy, là sự thanh tịnh để mà quán sát tâm. An tịnh, lắng dịu của thân tâm để mà quán sát sự sanh khởi, an trú, biến diệt, vận hành của các cảm xúc.

Thứ nhất mình nhìn cái cảm thọ là cảm thọ, cảm thọ không phải là mình. Mà mình không có thiền, không có tịnh, không có an tịnh, lắng dịu, thì mình đồng hóa cới cái cảm thọ này. Cái cảm thọ nó khởi lên cái gì, thì mình cũng nói nó là tôi: “Tôi đang vui, tôi đang giận, tôi đang buồn, tôi đang bình thường”. Bao nhiêu đó là đã sống trong vô minh rồi, mà đối với kẻ phàm phu thì chuyện đó rất là bình thường. Nói chuyện tôi buồn, tôi giận, tôi vui là rất bình thường, nhưng người tu mình mà mình nhìn như vậy, tức là mù, người mù ở trong pháp là luật. Nhiều khi mình nghĩ rằng: “Ờ mình nói vậy thôi chứ ở trong tâm mình không thấy thọ là mình”, cái đó là nói lý suôn thôi.

Cho nên đầu tiên là mình phải dùng cái ngôn ngữ cho nó chính xác trước, cái ngôn ngữ đó là từ khẩu hành của mình. Mà khẩu là phát xuất từ cái ý hành của mình, thì mình phải biết cảm thọ là cảm thọ. Thí dụ như: “Con đang có 1 cái cảm thọ là khó chịu, con biết rằng cái cảm thọ đó không phải là con. Hình như là con đang có 1 cái cảm thọ khó chịu, nó đang sanh khởi, vì nó tiếp xúc với cái gì đó”. Thì mình phải tập nhận diện như vậy, chứ mình không có nói là: “Tôi đang giận”, à, nhớ kỹ cái này nha, nhớ kỹ cái này không? “Con đang có 1 cảm thọ khó chịu, do duyên xúc cảm thọ này sanh khởi đang có ở trong con. Con đang xử lý cái cảm thọ này”. Khi mình nói chuyện, mình nhận diện, mình phải trình phải như vậy.

Nói: “Giờ tôi đang bực quá à, quạo quá à, tôi đang khó chịu lắm, sân lắm”. Thì như vậy là không có tu hành, không có khác gì với kẻ vô văn phàm phu không được nghe Thánh pháp, không được học Thánh pháp, không được tu Thánh pháp. “Con đang có 1 cảm thọ dễ chịu, lạc thọ, do con tiếp xúc với cảm đó đẹp, cảm thọ này đang sanh khởi trong con. Nhưng cảm thọ này không phải là con, không phải của con, không phải tự ngã của con. Cảm thọ này chỉ là do nhân duyên tiếp xúc”. Chúng ta thấy mình nói như vậy, ngay chỗ đó là mình có sự quán chiếu không? Cho nên cần phải nói đúng, từ cái nghĩ đúng nó mới có cái nói đúng, từ cái nói đúng mới có cái hành động đúng, làm đúng.

Chẳng hạn như con không có để ý, con rút cái áo hậu con mặc ở trên người. tới chừng ra đây con chia sẻ pháp, con thấy kiến trong áo đầy hết trơn, mấy con kiến gì đó đen đen nhỏ nhỏ. Con là nhiếp cái tâm mình an trú trong pháp, không có để ý mấy con kiến. Cái cảm thọ mình đang biết mình có cảm thọ khó chịu nó sanh khởi, mình vẫn an trú vào trong pháp. Không thôi mình ngồi mà mình dòm hoài, mấy con kiến nó cắn mình, rồi suy nghĩ này nọ kia, thọ, tưởng, hành. Thì như vậy, mình đâu có an trú vào trong pháp được. Thành ra nhìn cho nó rõ về cái thọ này, đầu tiên là mình xử lý về cái cảm thọ đen, cảm thọ dơ, cảm thọ đục, cảm thọ ác, cảm thọ bất thiện, cảm thọ thô thiển, ta phải xử lý cái này trước.

Thì những cái này chính là những cái giới trọng của mình, hay là 8 giới của người cư sĩ. Chẳng hạn như bây giờ sát sanh đi, thì cảm thọ đó ác không? Trộm cắp, thì cái cảm thọ đó bất thiện không? Tà dâm, ngoại tình… Chúng ta thấy không? Đức Phật chặn rất là nhiều lớp. Về giới là lớp ở ngoài thân, định là lớp để đi vào trong cảm thọ để an tịnh, lắng dịu các cảm xúc. Trí tuệ là từ cái an tịnh đó mình nhìn sâu vào bên trong, để mình khóa cái tâm nắm giữ, nắm chặt, ghì chắc, nắm vào trong cái cảm thọ đó. Cho nên các vị Thánh tăng thời xưa, các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật thì chỉ có đi khất thực, rồi về thiền định thôi, không có làm chuyện gì khác hết. Vậy đó mới nghe Thánh pháp, mới đi trên Thánh đạo, mới thể nhập Thánh trí và mới chứng đắc các Thánh quả.

Mình bây giờ có những trường hợp, là không phải mình vô mình ngồi thiền luôn được, thì mình phải có 1 sự công quả, để cho nó bào mòn bớt cái nghiệp chướng. Mà mình nhớ cái làm này là để mà tu, thì lần lần cái tâm mình hướng đến sự tu. Thì đến một lúc nào đó hữu duyên được, thì buông cái ở bên ngoài để mình đi vào bên trong. Cho đến khi mình tăng thượng giới, định, tuệ, thành tựu sự đoạn tận các lậu hoặc mới thấy rõ điều đó. Còn đa số phần nhiều khi mà chúng ta đi làm rồi, chúng ta bị dính vô cái việc làm. Tâm mình bị bủa vây, bao phủ, phong tỏa, quên tu. Cho nên là chúng ta nhớ 7 trí bậc dự lưu không? Đức Phật ví dụ như con bò mẹ nó ăn cỏ, nhưng mà cũng dòm dòm dòm mấy con nghé con. Đức Phật nói: “Một trong bảy đặc tính của bậc dự lưu là vị này thấy bạn đồng tu, các bậc đồng Phạm hạnh có cần gì là vị này rất nhiệt tâm, nhiệt tình giúp đỡ từ việc lớn đến việc nhỏ. Nhưng vị này không có quên tăng thượng giới đức, thiền định, trí tuệ”. Đó là 1 trong 7 đặc tính của bậc dự lưu, bậc thành tựu Chánh kiến, bậc minh kiến. Tuy là làm công việc nhưng không có quên tăng thượng Thánh giới uẩn, Thánh định uẩn và Thánh tuệ uẩn. Nói thêm 1 uẩn nữa là Thánh giải thoát uẩn, vị này luôn luôn hướng đến sự thoát ra, thoát xa đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đối với những thứ vô thường, hư ảo, mộng ảo, những danh lợi thấp kém, nhơ nhớp, hạ liệt của thế gian này.

Chúng ta trở lại vấn đề phá thọ uẩn, đầu tiên chúng ta phả phá được những cái thô, cái đục, cái dơ, những cái xấu, ác. Đó chính là tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Thì đó là công năng của giới, cái giới lớn, giới căn bản. Xong rồi Đức Phật dạy cho mình những cái giới nhỏ, những cái oai nghi, là bắt đâu đi vào những cái cảm thọ tế. Chúng ta có để ý không? Cho nên người mà an trú trong thiền định, trong tuệ quán, trong sự tu cảm thọ thì giữ giới rất dễ, không có khó. Còn người không có đi vào trong cái thiền tập, an tịnh, lắng dịu, không có quán chiếu các cảm thọ thì giữ giới rất khó. Còn người tu tập giới định với nhau, hỗ trợ cộng với tuệ đồng tu, thì người này rất hạnh phúc vì được giữ giới thanh tịnh.

Người này rất hạnh phúc, hoan hỉ, hỷ lạc, người yêu thích, tôn kính, tôn thờ, cung kính thiền định, cung kính giới, cung kính định, cung kính tuệ, cung kính bậc đạo sư, cung kính cái pháp cung kính, cung kính cái pháp hòa kính. Thành ra là tiếp tục nhiếp phục các cảm thọ tế, cái đi, đứng, nằm, ngồi, nói, cái nín, cái im lặng, ngủ, tất cả đều phải cảnh giác. Chúng ta nhớ thân hành niệm là bắt đầu nhiếp phục cái cảm thọ tế, sau khi cảm thọ thô được nhìn thấy, nhiếp phục, chế ngự. Bắt đầu phát giác, phát hiện và để tâm vào cảm thọ tế. Khi các cảm thọ tế được nhìn thấy, được nhiếp phục, chế ngự, an tịnh, lắng dịu, là đi vào trong các tầng thiền định.

Khi đi vào các tầng thiền định rồi các vị này mới triển khai thiền quán, nhìn sâu vào nhân duyên sanh diệt của các cảm thọ, phá luôn cái thọ. Tức là phá sự chấp thủ vào trong cái cảm thọ, mà cho cảm thọ đó là mình. Không có ưa thích cảm thọ vui, không có chán ghét cảm thọ khổ, không có chống đối với cảm thọ khổ. Và cũng không cho cảm thọ không vui không khổ, trơ trơ đó là mình. Bằng Thánh trí mà Đức Phật truyền trao, vị này tách mình ra khỏi các cảm thọ. Nhìn cảm thọ là đối tượng, là cái pháp để cho mình quán. Nhìn sâu vào trong đó, thì cái gì phàm là cảm thọ đều nằm trong đau khổ.

Cho nên mới quán từ bỏ, nhàm chán thân. Có yêu thích thân là vì có 1 sự kiêu căng, ngã mạn, hóng hách, kênh kiệu, cao ngạo. Cảm thọ này từ thân mà nó có ra, mà cái thân này lại là thứ vô thường, thì làm sao cảm thọ thường được, đây là lời Đức Phật trong kinh Tương Ưng Bộ. Thọ là do duyên có thân, mà cái thân là do tứ đại vô thường, cha mẹ sanh, cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan biến, hủy hoại, hoại diệt. Đó là thứ hủy hoại, hoại diệt, vô thường thì nó mới làm ra được cái cảm thọ. Mà cái cảm thọ mà từ cái thứ vô thường làm ra được, thì làm sao mà thường được. Cho nên sau vào bên trong để thấy được bản chất của tứ đại, hủy hoại, hoại diệt, khổ đau.

Nhìn kỹ coi có cái cảm thọ nào là hạnh phúc thật sự, bây giờ cho mình ăn ngon thật là ngon rồi xong mình nhớ, thèm, muốn kiếm cái đó ăn, mình bị trói buộc rồi. Giống như mình tiếp xúc cái người thật là đẹp, rồi xong người ta đi về rồi mình nhớ, mong, muốn gặp, muốn tiếp xúc nữa. Như vậy rồi ái luyến, thậm chí là thèm khát, khao khát, khổ đau, người đời nói bị tương tư đó. Cái đó là nói món ngon, người đẹp, chứ chưa có nói là ăn những thứ dở, hay người bệnh tật, già nua, liệt giường, liệt chiếu, đó là nói các cảm thọ vui. Đức Thế Tôn nói: “Kẻ vô văn phàm phu tiếp xúc với cảm thọ vui, người này như bị trói buộc. Tiếp xúc với cảm thọ khổ, người này cũng như bị trói buộc.”

Một cái là tham, 1 cái là sân, 1 cái là thích, 1 cái là ghét, tâm đều dao động, đều bất an. Một cái là không thích, không ghét, không sân thì nó si. Lúc đó có 1 tự ngã, thọ đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Thì như vậy trong 3 cái cảm thọ, thì không khổ không vui này Đức Phật nói tâm kẻ phàm phu bị trói buộc. Làm sao để không bị trói buộc? Biết cảm thọ này là cảm thọ, cảm thọ này vô thường, biến hoại, tan biến, hủy hoại, hoại diệt. Cho nên khi mình ở bình thường, mình không có chấp nhận cái cảm thọ bình thường này. Cảm thọ bình thường này nó sẽ vô thường, bất thường. Chính vì vậy mà mình cũng không bị trói buộc trong cảm thọ thường thường này, an an ổn ổn này. Thành ra mình đều gỡ hết 3 sự trói buộc trong 3 cảm thọ, thành ra ở trong “Tương Ưng Thọ” rất thâm sâu.

Cái này mà không có thiền định, không có trí tuệ, không có đa văn ở trong Nikāya, thì làm sao mà học, làm sao mà quán chiếu. Không biết cảm thọ là cái gì, không biết 3 cảm thọ, càng không biết nhân duyên sanh diệt cảm thọ làm sao mà quán chiếu. Bài kệ đầu tiên ở trong “Tương Ưng Thọ”, Phẩm Có Kệ, kinh “Thiền Định”.

“Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðây, này các Tỷ-kheo, là ba thọ.

Vị đệ tử đức Phật,

Ðịnh, tỉnh giác, chánh niệm,

Hiểu rõ ràng các thọ,

Và xuất ly các thọ.

Chỗ này, chúng đoạn diệt,

Con đường đến đoạn diệt,

Tỷ-kheo đoạn các thọ,

Không khát ái, tịch tịnh.”

(Tương Ưng Bộ kinh IV- bài kinh Thiền Định)

Đệ tử Đức Phật là định, tỉnh giác, chánh niệm, hiểu rõ ràng các thọ, xuất ly các thọ, thoát ra khỏi các thọ. “Chỗ này, chúng đoạn diệt, con đường đến đoạn diệt, Tỷ-kheo đoạn các thọ, không khát ái, tịch tịnh”. Khi hiểu được các thoát rồi thoát ra khỏi các thọ, thì các thọ này sẽ đoạn diệt. Đi đến con đường đoạn diệt thọ, trong 7 trí về thọ thì thế nào thọ đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, cho nên thọ đoạn diệt. Xúc tập khởi là thọ tập khởi, vô minh và khát ái đoạn diệt thì đoạn diệt. Mà muốn vô minh, khát ái đoạn diệt thì đi bằng con đường tám đúng của bậc Thánh, phải thấy biết cảm thọ chính xác, nhiều gốc độ, phương diện, khía cạnh, trí tuệ về cảm thọ.

Sau đó mới tư duy, tác ý, nổ lực, nghĩ đúng, nói đúng, siêng đúng, làm đúng, quán đúng, định đúng về cảm thọ. Cho nên nãy giờ nói, là cho chúng ta thấy biết đúng về cảm thọ. Thấy biết đúng nó, thì mình mới nhàm chán nó. Nhàm chán nó thì mình mới từ bỏ, đi đến đoạn diệt, xuất ly thoát khỏi nó. Không có thấy đúng nó, kẻ vô văn phàm phu người ta ưa cảm thọ, khoái cái cảm thọ, muốn cảm thọ, thích cảm thọ, khao khát cảm thọ, đau khổ vì không được cái cảm thọ đó. Chúng ta thấy những người trẻ tuổi nhay cầu, nhảy lầu, thắt cổ tự dẫn. Họ muốn cảm xúc, cảm giác, cảm thọ đó mà không được, mình bị 3 cái cảm thọ sai khiến mình. “Không khát ái, tịch tịnh”, không khao khát với các cảm thọ, không còn yêu thích với các cảm thọ. Tâm mình lặng lẽ, vắng lặng, an tịnh, lắng dịu hoàn toàn.

II. Cảm thọ là khổ

Bài kinh “Cần Phải Quán Kiến”

“Này các Tỳ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường.

Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.”

(Tương Ưng Bộ IV – kinh Cần Phải Quán Kiến)

Đức Phật định nghĩa Chánh kiến là như vậy, để chúng ta biết chúng ta không có Chánh kiến là gì. Chánh kiến đối với cảm thọ, những cảm giác vui này là nó đem đến khổ đau. Cảm giác khổ giống như mũi tên đâm vô trong người, khó chịu. Thấy cảm thọ không vui không khổ này nó tan hoại, hoại diệt. Cũng như Pháp Yến, đang yên yên, ổn ổn, bình bình. Khiêng đồ 1 cái rồi cụp xương sống, đi chống cây gậy, nằm 1 chỗ đi không được, còn trẻ đó. Ai có tưởng tượng được không? Đó là quả dị thục của nghiệp bất khả tư nghì. Không ai tưởng tượng được mình hai mươi mấy, ba chục tuổi hơn mà nằm 1 chỗ đi không được. Muốn đi phải chống cây gậy, mà còng cái lưng như ông già 70 tuổi chỉ trong tích tắc thôi.

Thì đó là sự vô thường, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt. Lúc bình thường mình không có thấy, đợi lúc có chuyện mình mới thấy. Cho nên không có yêu thích cảm thọ bình thường này, không khổ không vui này. Phải biết nó là vô thường, hãy nhìn tất cả cái bình thường này là vô thường. Hãy thấy cái vô thường đó là cái mũi tên, để cho mình mau mau thoát ra cái vô thường, khổ đau, bất an, tai họa, khốn đốn, hoạn nạn. Đầy dẫy những sự lo lắng, bệnh tật, chiến tranh, dịch bệnh, sân hận, đấu đá, giành giật, tranh giành. Chính là 1 vũng máu, biển lửa, 1 sự bao vây, vây hãm, bủa vây chúng ta, không có gì là vui hết.

Thấy như vậy là chánh quán, thấy như vậy là chánh niệm, thấy như vậy là có trí tuệ. Đừng có thấy là: “Bây giờ tôi đang an an, ổn ổn, bình bình, đều đều. Ngày tôi tu như vậy có gì đâu mà khổ”, thấy như vậy tức là si mê, vô minh. Cho nên Thế Tôn nói: “Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau”. Bây giờ thấy các cảm thọ đều đau khổ hết trơn, thì ái sẽ đoạn tận thôi, đâu còn thích gì nữa. Đối với cảm giác sướng mà vị này còn thấy nó là khổ, thì vị này còn thích gì nữa.

Cho nên ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại, những sự trói cột trong tâm được cắt đứt, tháo gỡ hết. Kiết sử năm hạ phần: Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân. Những sợi dây này được tháo, được mở, được cởi ra. Đối với một người có Chánh kiến, ái được đọa tận, kiết sử được hủy hoại. Nãy giờ chúng ta học là Chánh kiến về cảm thọ thôi, “với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau”. Minh kiến chơn chánh là sự thấy biết 1 cách rõ ràng, đúng sự thật về bản ngã, ngã mạn này. Diệt tận hoàn toàn bản ngã này, vị ấy chấm dứt, dứt hết khổ đau.

“Ai thấy vui là khổ, khổ là mũi tên, với không khổ không vui, thấy thọ là vô thường. Tỳ-kheo ấy Chánh kiến, liễu tri các cảm thọ” thấy biết trọn vẹn về các cảm thọ.

“Vị ấy liễu tri thọ,

Ngay hiện tại, vô lậu,

Mạng chung, bậc Pháp trú,

Ðại trí, vượt ước lường.”

“Ai thấy vui là khổ, khổ là mũi tên, với không khổ không vui, thấy thọ là vô thường”, thì người ấy là Chánh kiến, là thấy đúng. Người nào mà thấu suốt hết tất cả mọi góc độ, phương diện, khía cạnh về các cảm thọ, thì hiện tại không còn lậu hoặc, không còn mê lầm. Đến khi nhắm mắt thì là bậc pháp trú, an trú trong pháp. Đến khi mạng chung, ra đi, kết thúc cuộc đời này là bậc ạ trú trong Thánh pháp. “Ðại trí, vượt ước lường”, đó là bậc đại trí huệ vượt ra khỏi tất cả mọi sự suy lường của phàm phu. Cho nên cái Tương Ưng Thọ này thâm sâu lắm, tối thượng. Bậc.

“1) Bậc Trí tuệ Ða văn,

Lạc khổ không chi phối,

Giữa kẻ trí, phàm phu,

Thiện sai biệt rất lớn.

2) Bậc Ða văn, Tầm pháp,

Thấy đời này, đời sau,

Ái pháp không phá tâm,

Không ái, không sân hận.

3) Tùy thuận hay đối nghịch,

Tiêu tán, diệt, không còn,

Vị ấy biết con đường,

Ðường không cấu, không sầu,

Chánh trí, đoạn tái sanh,

Ðến được bờ giác ngộ.”

(Tương Ưng Bộ IV – trích kinh Với Mũi Tên”

“1) Giống như giữa hư không,

Gió nhiều loại thổi lên,

Từ phương Ðông, phương Tây,

Từ phương Bắc, phương Nam.

2) Gió có bụi, không bụi,

Có gió lạnh, gió nóng,

Có gió lớn, gió nhỏ,

Gió nhiều loại, thổi lên.

3) Cũng vậy, trong thân này,

Khởi lên nhiều cảm thọ,

Lạc thọ và khổ thọ,

Bất khổ bất lạc thọ.

4) Khi Tỷ-kheo nhiệt tâm,

Tỉnh giác, không sanh y,

Do vậy, bậc Hiền giả,

Liễu tri tất cả thọ.

5) Vị ấy liễu tri thọ,

Ngay hiện tại, vô lậu,

Mạng chung, bậc Pháp trú,

Ðại trí, vượt ước lường.”

(Tương Ưng Bộ IV – kinh Hư Không)

Đức phật ví dụ nhiều cái ví dụ, hôm nay chúng ta sẽ điểm qua 1 vài cái ví dụ, trong Tương Ưng Thọ rồi mình phải học kỹ. Bây giờ Đức Phật ví dụ cho cái nhà khách.

“Ví như, này các Tỷ-kheo, một nhà khách, ở đấy, từ phương Ðông có một người đến ở. Từ phương Tây, có người đến ở. Từ phương Bắc, có người đến ở. Từ phương Nam, có người đến ở. Những người Sát-đế-lỵ đến ở, những người Bà-la-môn đến ở, những người Phệ-xá (Vessa) đến ở, những người Thủ-đà (Suddà) đến ở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong cái thân này có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên, khổ thọ khởi lên, bất khổ bất lạc thọ khởi lên.

Có những lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên.”

(Tương Ưng Bộ IV – kinh Khách Xá)

Một nhà khách, người này đến, người kia đến rồi đi, cảm thọ đó như là khách. Cái trí tuệ mình nhận thấy được các cảm thọ, không có bị nó đồng hóa, thì cái trí tuệ đó mới là chủ, Thánh trí. Thì ở đây chúng ta điểm sơ, để chúng ta thấy được tất cả chúng sanh đắm chìm ở trong cái thọ, bị trói cột trong các cảm thọ. Sầu, bi, khổ, ưu, não trong các cảm thọ, sống chết, bị đốt cháy, bị nhận chìm, trói cột trong cảm thọ. Cho cảm thọ này là mình, là của mình, không biết cảm thọ này là cảm thọ, không biết cảm thọ này là duyên sanh. Không biết cảm thọ này là vô thường, khổ đau, mũi tên, không biết cái gì phàm được cảm thọ đều là khổ đau. Cho nên yêu thích, nắm giữ, muốn hiện hữu ở trong cái cảm thọ.

Từ đó có sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu. Bậc trí tuệ, bậc hiền trí, bậc Thánh đệ tử thấy biết cảm thọ, nhàm chán, giảm thiểu, rời xa, từ bỏ, thoát ra cảm thọ. Không còn muốn đi tìm cảm thọ, mà muốn từ bỏ, nhàm chán, rời xa, xuất ly khỏi cảm thọ. Đó là hôm nay chúng ta 1 lần nữa học, nghe, suy tư và quán chiếu về cảm thọ. Cái này nó rất quan trọng trong việc tu học, phải nắm thật vững, phải nhớ thật kỹ, phải quán sát thật sâu những cảm xúc. Mời trong đại chúng chia sẻ cảm thọ của mình.

III. Trình Pháp

Phật tử 1:

“Chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni.

Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Sáng hôm nay cũng như cả ngày hôm qua, trong con có một cảm thọ rất là sâu sắc. Có niềm hỷ lạc, bài pháp của sư phụ dạy cho con nhìn thấy 1 chuỗi duyên sanh của các pháp. Của căn, trần, thức, xúc, thọ, tưởng, tư, ái, thủ, sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Khi con nhận ra được chuỗi duyên sanh này, trong con có 1 niềm hạnh phúc hỷ lạc. Con đã có câu trả lời cho chính tự thân mình, sự hiện hữu của mình trong cuộc đời này, cũng như có được đáp án của bài toán cuộc đời này như thế nào. Bài quán của sự phụ sáng hôm nay nói về thọ thủ uẩn, sự chấp thủ trong cảm thọ, càng cho con thấy rõ được sự khổ đau của con người trong cuộc đời này như thế nào.

Vì sự chấp thủ trong các cảm thọ lạc, khổ, không lạc không khổ nên có sự khổ đau. Vấn đề là chính tại chỗ này, sau khi được Đức Phật chỉ rõ, được soi sáng con đường đi, được sư phụ giảng dạy tận tình, đầy đủ, rõ ràng. Con đã nhận ra được con đường đi của mình là như thế nào, với Thánh trí của ngũ uẩn, sự chấp thủ của ngũ uẩn là phiền não và khổ đau. Chính sự chấp thủ về cảm thọ đưa đến sự khổ đau của chính tự thân mình, của chúng sanh và của thế giới này. Con không còn có 1 sự nghi ngờ nào khác về trí ngũ uẩn nữa, vấn đề còn lại của con là sự thực hành. Thường xuyên nhìn nhận lại cảm thọ của mình, xem nó còn có chấp thủ hay không, đó là việc mà con cần phải làm. Để 1 ngày nào đó những cấu uế, tham, sân, si, vô minh và bản ngã không còn nữa. Có nghĩa là con đường giải thoát đã đến, có nghĩa là không còn sự tái sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não nữa. Thành kính tri ân sư phụ về bài giảng sáng hôm nay.

Bổn Sư Thích Ca Mâu ni Phật.”

Phật tử 2:

“Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, con chân thành đảnh lễ sư phụ quý Ni Sư cùng toàn thể đại chúng hiền thiện.

Con xin phép chia sẻ nhận diện ngũ uẩn vận hành trong con, trong thời gian con vô thất. Cảm thọ của con do duyên có bệnh nên con vô thất, thì lúc đó trong con có cản thọ bất ngờ, cảm thọ khổ vì đột ngột. Thì lúc đó ý hành trong con tác ý nghĩ rằng: “Mình hạnh phúc vì được tu với đại chúng, được khóa tu xuất gia gieo duyên 12 ngày và được vô thất, trong cái họa có cái phúc”. Con tác ý như vậy thì con có cảm thọ hỷ lạc, sống tùy pháp. Khi con vào thất được ngày thứ 2 thì con bị khó thở, cảm thọ khổ, bất an, tâm dao động và bấn loạn lên. Hơi thở của con nó yếu ớt, mong manh, bao nhiêu thọ, tưởng, hành sanh khởi, vận hạnh, đè nén lồng ngực của con, con không có thở được.

Cái hồi ức, hồi tưởng về ba của con lúc trước khi mất, hơi thở cũng như vậy trước khi ra đi hiện hữu về trong tâm con. Hình ảnh người bạn đồng tu của con khó thở, đang nằm trong cấp cứu nó cũng hiện về. Lúc đó con nhớ tất cả đều là chúng sanh, không ai là người thân của mình, chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả, đây là khổ, khổ là đây. Lúc đó con muốn thoát khỏi cảm thọ bất an, dao động. Con tác ý: “Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não, khổ đau, tất cả đều là duyên sanh, không có gì là mình, của mình để chấp thủ. Cái thân này là sự vay mượn của tứ đại, cơm cháo nuôi dưỡng, đâu có ai trong đó, rỗng không. Nếu mà không thở được thì hãy chết đi, trả lại cho tứ đại.

Trong cuộc đời này không có gì mà chắc chán hết, chỉ có cái chết là chắc chắn nhất”. Lúc đó con mới nhìn sâu trong cái cảm thọ của mình, sự hiện hữu của hữu lậu, vô minh lậu, dục âm thầm thúc giục. Tranh giành sự sống chết, không có muốn bằng lòng đều đó, nó cho là hãy thực hành 3 pháp đi. Lúc đó là cảm giác toàn thân của con trống rỗng, con mới an tịnh, hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng. Để cố gắng đưa hơi thở qua khỏi lồng ngực của mình, và thở ra chậm, sau lắng dịu. Thực hành thiền khoảng 1 tiếng sau thì khổ bớt, khoảng 1h sáng thì hơi thở con được điều hòa trở lại. Sự vận hành của thọ, tưởng, hành trong con cũng an tịnh, lắng dịu, không con dao động như lúc ban đầu.

Lúc đó con nằm, con mới quán về niệm chết: “Sự chết này sẽ đến với mình bất cứ lúc nào, mình không chết vì nghẹt thở, khó thở, thì cũng chết vì rắn độc cắn, hay thất này vô thường, nó sập xuống thì mình cũng bị chết”. Lúc đó con có nhìn thấy thân tâm, sự thật thân tâm là khổ đau, bản chất cuộc đời là khổ đau. Hiện hữu trong cuộc đời này dầu là người giàu sang, may mắn hay bất hạnh, cũng không thoát khỏi sự sanh, già, bệnh, chết. Và luôn bị sầu, bị, khổ, ưu não chi phối làm khổ đau. Lúc đó trong lòng của con tự nhủ mình phải nổ lực tu, sống chết gì cũng phải tu, tu cho chính mình. Mình được gặp Thánh đạo, Thánh pháp, bậc minh sư, các bạn hiền thiện. Mà mình không nổ lực tu thì nhục lắm biết không?

Đó là những điều con suy nghĩ trong thời gian qua, và sáng nay được nghe sư phụ giảng bài pháp quán chiếu thâm sâu về cảm thọ, Dạy cho chúng con sự vô thường của cảm thọ, đừng để 3 cảm thọ lạc, khổ, không lạc, không khổ trói buộc, cột chặt mình. Trong con có sự hỷ lạc, hoan hỉ, cũng tháo gỡ được những thắc mắc trong con những ngày qua. Con muốn khắc ghi lại những cảm thọ hỷ lạc sáng nay, trong thời gian cảm thọ khổ là mong manh, là sự sống. Để con lấy đó làm hành trang, làm chất liệu để cho con nổ lực tinh tấn tu, để con cũng muốn thoát khỏi thân kiến này. Con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng đã từ bi, hoan hỉ cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”