Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

NGHE PHÁP - LỢI ÍCH KHÔNG LƯỜNG 1

2026-03-03 00:52:09
NGHE PHÁP – LỢI ÍCH KHÔNG LƯỜNG 1

-Thích Minh Thành-

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhiệt tâm tu học PAGEREF _Toc72418751 \h 1

II.Bài kinh “Tôn giả Nandaka” PAGEREF _Toc72418752 \h 2

1.Việc cần làm của người tu PAGEREF _Toc72418753 \h 2

2.Năm lợi ích khi nghe pháp, nói pháp đúng thời PAGEREF _Toc72418754 \h 6

III.Bài kinh “Phagguna” PAGEREF _Toc72418755 \h 11

1.Trân quý sự tu PAGEREF _Toc72418756 \h 13

2.Sáu lợi ích khi nghe pháp đúng thời PAGEREF _Toc72418757 \h 15

Nhiệt tâm tu học

Đức Phật dạy chúng ta có một pháp bao trùm hết tất cả công đức đưa đến Niết-bàn đó là “không phóng dật”. Như nhà nóc nhọn, tất cả ruôi mè, đòn tay đều hướng về góc nhọn, quy tụ về góc nhọn đó, cũng giống vậy, pháp không buông lung phóng dật là chỗ quy tụ của tất cả các thiện pháp, tất cả phước báu công đức trí huệ đều do các pháp không buông lung phóng dật mà được thành tựu.

Cho nên, pháp không buông lung phóng dật quyết định sự thành công và thất bại trong tu hành. Vì vậy, trong tất cả chúng ta, dù là người tu sĩ, cư sĩ hãy thật chú ý điều này. Bởi vì sự buông lung phóng dật là một thứ kiết sử đã trói buộc trong tâm ta từ lâu, chỉ cần không để ý nó là nó bung ra ngay, đối với người xuất gia thì càng cẩn thận hơn tại vì nó giống như là máu trong người mình. Nếu mà mình không chánh niệm, không nhiếp tâm thì sẽ trở lại đời thường. Chính do thả lỏng các căn, không nhiếp niệm, không kiểm soát mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình nên nó sẽ đưa mình vào trong thống khổ, khổ đau, trong sự trôi lăn. Cho nên cơ hội để trở về chùa tu học rất quý hiếm, hãy tận dụng hết thời gian ở đây để tu học, hãy trân quý điều này.

Minh Thành thường nhắc ở nhà là khác, ở chùa là khác, nhất là ở Thiền Đường, là nơi vào để ngồi thiền, chỉ có những người thật sự tu đặc biệt mới cho vào đây còn tất cả du khách đều không được vào. Cho nên tất cả quý Phật tử hay ngay cả người xuất gia cũng phải ý thức điều này thật là sâu sắc: “Đây là nhà thiền!” Như vậy mình được trọn vẹn phước báu, công đức, phước báu và thiện pháp khi mình về núi tu còn nếu không là tiếc lắm. Thấy điều này là bình thường nhưng mình quên là mất đi thiện pháp.

Minh Thành nhắc nhở, nhất là trong đại chúng xuất gia, với kinh nghiệm bản thân của Minh Thành trong chùa nhiều năm, coi chừng từ từ rồi mình sẽ xem thường pháp, xem thường thầy, xem thường thiền định, đó là pháp thối đọa của người xuất gia. Như vậy là mình đang lùi lại và rơi xuống rồi, đây không phải là chuyện đơn giản. Chỉ cần một phút giây, một ý niệm bất kính đối với Phật, Pháp, Tăng, đối với thầy, đối với thiền định, đối với sự tu học là nó sẽ đưa mình đến thối đọa. Tuy là những điều nhỏ, giống như bờ đê, nhưng chỉ cần bị thủng lỗ một chút thôi sẽ bị rịn nước, bị rỉ nước. Như một chiếc thuyền chở năm trăm người mà nó chỉ cần lủng lỗ một chút thôi thì nó sẽ bị chìm đắm. Hoặc như một bờ đê dài nhiều cây số nhưng chỉ cần thấm nước chút thôi sẽ bị sụp đổ xuống hết.

Chính vì vậy, đại chúng đừng tưởng mình được ở gần thầy, được ở trong Chánh Pháp, trong sự tu học đều đều mà mình xem thường, những ý niệm đó từ từ mỗi ngày một chút sẽ đưa mình đi đến chỗ thối đọa đối với Thiện Pháp, chứ đừng nói chi là có chân đứng trong pháp và luật này, đừng nói chi là Thánh đạo, Thánh quả còn rất xa.

Bài kinh “Tôn giả Nandaka”

Chúng ta sẽ được học một bài kinh rất đặc biệt, là một sự bất ngờ, không ngờ rằng Đức Như Lai, bậc pháp chủ, pháp nhãn, là bậc lãnh đạo của pháp, tất cả pháp từ nơi Như Lai mà có nhưng Như Lai vô cùng cung kính pháp. Hôm nay chúng ta sẽ nghe bài kinh “Tôn giả Nandaka”, về lợi ích của nghe pháp và sự đàm luận pháp đúng thời.

Việc cần làm của người tu

“Một thời Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nandaka đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo trong hội trường, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, đứng ngoài cửa hội trường, chờ đợi cho cuộc giảng chấm dứt. Biết được bài giảng đã chấm dứt, Thế Tôn đằng hắng và gõ then cửa. Các Tỷ-kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bước vào hội trường và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn bảo Tôn giả Nandaka:

- Dài thay, này Nandaka là pháp môn này, Thầy đã giảng cho các Tỷ-kheo! Lưng Ta đã mỏi khi đứng ở ngoài cửa, chờ cho buổi thuyết giảng chấm dứt.

Khi được nói vậy, Tôn giả Nandaka lấy làm bối rối bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, chúng con không biết Thế Tôn đứng ở ngoài cửa. Nếu chúng con biết Thế Tôn đứng ở ngoài cửa, thời chúng con đã không nói dài như vậy. Thế Tôn sau khi biết tâm trạng bối rối của Tôn giả Nandaka liền nói với Tôn giả Nandaka:

- Lành thay, lành thay, này Nandaka! Thật là xứng đáng cho các thiện nam tử các Thầy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Thầy ngồi lại với nhau để nghe pháp.

Này Nandaka, khi các Thầy hội họp với nhau, này Nandaka, có hai việc cần phải làm: nói pháp hay giữ yên lặng của bậc Thánh.”(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 9. Chương Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, bài kinh Tôn Giả Nandaka)

Hai điều này người xuất gia phải khắc cốt ghi tâm, chỗ này Minh Thành muốn nhấn mạnh tuy là Đức Thế Tôn đứng chờ lâu, mỏi lưng, mệt, nhưng Ngài khen ngợi nói pháp như vậy là tốt lắm. Cho nên tại sao mà các chú, các huynh đệ ở đây ngày nào cũng phải nghe pháp, nói pháp, đó là mình đang làm theo lời dạy của Đức Phật: “có hai việc cần phải làm: nói pháp hay giữ yên lặng của bậc Thánh”. Yên lặng của bậc Thánh là thiền định, ngồi thiền, sự nội quán, sự yên lặng để quán chiếu, quán sát thân và tâm hoặc là nói pháp, chỉ hai điều đó thôi khi tụ họp lại với nhau.

Mỗi lần Minh Thành ra ngồi nói với các huynh đệ cũng chỉ là nói pháp, không dám dùng suy nghĩ, cái tưởng của mình để nói mà phải căn cứ vào Thánh ngôn, Thánh điển thì mới có công năng đưa mình xuất ly, mới liên hệ đến mục đích. Cho nên hai điều này phải tuyệt đối phụng trì, thọ trì, hành trì pháp. Một là ngồi lại với nhau nói pháp. Hai là yên lặng của bậc Thánh. Đó là nói với người xuất gia nhưng người cư sĩ cũng phải thực tập, điều này hết sức quan trọng vì mình dao động quen, lăng xăng quen rồi, đừng nói chi người cư sĩ mà người xuất gia cũng bị, đó là phiền não, một trong ngũ cái (năm sự trói buộc tâm). Nếu mình không tập, không nhiếp phục thì sẽ không tiến bộ trong sự tu hành.

Cho nên, Minh Thành mới không kêu gọi ai tới tu học, không quảng cáo, không rủ thêm ai hết tại vì ở đây không giống chỗ khác để cho đông vui mà phải thực tu, phải thực sự tu. Minh Thành muốn đem lại thật sự lợi ích của Đức Phật đến cho xuất gia và tại gia. Đời sống của chúng ta ngắn ngủi, bấp bênh, bất định, nếu chúng ta không ý thức sâu sắc điều đó mà lãng phí thì sau này hối hận không kịp. Chúng ta không cho phép bản thân phung phí, lãng phí bất cứ thời gian nào trong sự thực tập Chánh Pháp, cố gắng hành trì thì mới tự cứu được mình, không ai cứu được mình hết. Cho nên, chúng ta phải thực tập hai pháp nói năng đúng như Chánh Pháp và im lặng của bậc. Phải làm con ngoan của Đức Phật, phải làm người học trò hiền, tâm phải thật nhu nhuyến, chịu lắng nghe và chấp nhận học pháp, phải luôn luôn hướng thượng, tiến lên, đừng hài lòng với những cái thiện pháp cỏn con mà mình đang có.

Đức Thế Tôn là ai mà vì đệ tử đang nói pháp nên Ngài đứng ở cửa chờ cho đến mỏi lưng dù tuổi đã già? Đó là bậc pháp chủ, pháp nhãn, pháp bổn, con mắt của pháp, cội gốc của pháp, bậc chứng đẳng pháp và tuyên pháp đó cho tất cả chúng sanh nhưng do một đệ tử đang nói pháp nên Ngài không dám làm gián đoạn. Còn mình thì ngồi bên dưới ngủ gục, lờ đờ, trong tâm còn có những suy nghĩ không tôn kính pháp, có những thái độ xem thường thì làm sao có thể chứng đạt được pháp? Cứ nghĩ giờ không nghe được thì mai mốt lên mạng nghe lại, giờ nghe không được thì chiều nghe, nay nghe không được thì mai nghe, như vậy là sai, vì pháp chỉ diễn ra lúc đó thôi, chiều đã khác, mai cũng khác, không giống như vậy nữa.

Đức Phật là tấm gương vĩ đại, đọc tới đoạn đó Minh Thành không cầm được nước mắt. Câu chuyện này có trong quyển sách Nhặt lá bồ đề, Hòa thượng Trúc Lâm đặt tựa là Đức Phật đáng kính, nhưng chúng ta nhìn thêm vấn đề ở đây là Đức Thế Tôn xem pháp mà Ngài đã chứng ngộ là thầy của Ngài. Ta đã học bài Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Năm Thánh Trí, Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo – đó là thầy của Như Lai, từ các pháp đó mà bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện, Đức Phật, Bồ Tát chứng ngộ pháp và tuyên thuyết pháp đó.

Còn mình tu không thành công là vì mình xem thường pháp, trong khi Đức Thế Tôn lên hàng bảy mươi tuổi nhưng vẫn đứng mấy tiếng đồng hồ ngoài cửa chờ tới mỏi lưng, không dám làm gián đoạn buổi thuyết pháp. Các vị tính đi Đà Lạt mà ở lại để nghe pháp không uổng đâu, bài hôm nay là quý vị sẽ “hốt” được hột xoàn, kim cương nên chút nữa rồi sẽ thấy. Cho nên khi các vị xin ở lại để được nghe pháp thì Minh Thành cười và thấy: “Đúng nhân duyên rồi!” vì bài pháp này có liên hệ giống như trường hợp của mình.

Có một vị bệnh sắp chết, sau khi được Thế Tôn giảng pháp, người đó chứng quả Bất Lai, Thánh quả thứ ba và sau đó vị này qua đời. Lúc ấy Ngài Ananda hỏi sao lúc vị này qua đời mặt tươi tắn, dung sắc rất đẹp, thì Đức Thế Tôn nói làm sao không đẹp, không tươi tắn được vì sau khi nghe Ngài nói pháp thì vị này đoạn năm kiết sử, chứng Thánh quả thứ ba, Bất Lai, đó là lợi ích của nghe pháp đúng thời.

“Này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin nhưng không có giới, như vậy vị ấy không đầy đủ về chi phần ấy. Do vậy, cần phải làm cho đầy đủ chi phần ấy: "Làm thế nào ta có lòng tin và cả giới nữa?”

Và khi nào, này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin và có giới, như vậy vị ấy đầy đủ về chi phần ấy. Và này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin và có giới, nhưng nội tâm không được tịnh chỉ; như vậy vị ấy không đầy đủ về chi phần ấy. Do vậy, cần phải làm cho đầy đủ về chi phần ấy: "Làm thế nào ta có lòng tin và cả giới và có nội tâm tịnh chỉ?"

Và khi nào, này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin và có giới và có được tâm tịnh chỉ; như vậy vị ấy đầy đủ về chi phần ấy. Và này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, có nội tâm được tịnh chỉ, nhưng không được tăng thượng tuệ pháp quán, như vậy, vị ấy không đầy đủ về chi phần ấy. Do vậy, cần phải làm cho đầy đủ về chi phần ấy. Do vậy, cần phải làm cho đầy đủ về chi phần ấy: "Làm thế nào ta có lòng tin, có giới, có được nội tâm tịnh chỉ, và có được tăng thượng tuệ pháp quán?"

Và khi nào, này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, có được nội tâm tịnh chỉ, và có được tăng thượng tuệ pháp quán, như vậy vị ấy đầy đủ về chi phần ấy.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 9. Chương Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, bài kinh Tôn Giả Nandaka)

Ở đây Minh Thành chỉ nói ý, không đọc từng câu, nếu đọc từng câu thì quý vị sẽ khó hiểu. Ví dụ như một người xuất gia mới có lòng tin thôi nhưng chưa có đầy đủ giới thì người này phải phấn đấu, nỗ lực, suy nghĩ và làm mọi cách làm sao để cho mình đầy đủ các giới nữa, không phải chỉ có được lòng tin thôi là đủ. Còn đối với các vị đã có lòng tin và các giới nhưng nội tâm không được tịnh chỉ, tức nội tâm không định, thì vị này phải biết được mình chưa có được pháp định đó và phải suy nghĩ làm sao để ta có được cái định đó, vừa có lòng tin vừa có giới mà nội tâm cũng tịnh chỉ. Sau khi tu tập có được nội tâm tịnh chỉ, nội tâm an tịnh, được định và khi đã có được định nhưng không được tăng thượng tuệ pháp quán, tức là có định mà chưa có tuệ thì các vị này phải nỗ lực phấn đấu để làm sao đạt được tăng thượng tuệ pháp quán. Tuệ quán là mình làm tăng lên thêm, khi đầy đủ được tuệ quán đó thì vị này mới gọi là đầy đủ chi phần: kính, giới, nội tâm tịnh chỉ (định), tuệ – có lòng tin, có giới, có tâm an tịnh và có trí tuệ.

“Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nói như vậy xong, Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy, bước vào tinh xá”.

Năm lợi ích khi nghe pháp, nói pháp đúng thời

Rồi Tôn giả Nandaka khi Thế Tôn đi không bao lâu gọi các Tỷ-kheo:

- Này chư Hiền, Thế Tôn với bốn câu, sau khi thuyết trình Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá. "Này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin... như vậy, vị ấy được đầy đủ với chi phần ấy". Này chư Hiền, có năm lợi ích này, do nghe pháp đúng thời và luận đàm về pháp đúng thời. Thế nào là năm?

Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Này chư Hiền, nhiều như thế nào, như thế nào, vị Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện... đầy đủ trong sạch, nhiều như vậy, như vậy, vị ấy ái mộ bậc Đạo Sư, thích ý, kính trọng và noi gương theo. Thưa chư Hiền, đây là lợi ích thứ nhất, do đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 9. Chương Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, bài kinh Tôn Giả Nandaka)

Khi Tỳ-kheo thuyết pháp cho những vị khác thì ban đầu, chặng giữa và sau đều tốt lành, có nghĩa có văn, trình bày phạm hạnh một các hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Khi mình nghe được điều đó thì mình có tâm aí mộ bậc Đạo sư, sẽ kính Phật hơn, sẽ quý mến Phật hơn nữa, còn mình sẽ kính thầy hơn, quý mến thầy hơn nữa, tâm mình vui thích và noi gương học theo Phật Pháp Tăng, đó là lợi ích thứ nhất, làm cho mình tăng trưởng sự ái mộ, vui thích, cung kính, noi theo bậc Đạo sư.

“Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn... được trong sạch. Này chư Hiền, nhiều như thế nào, như thế nào, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện... đầy đủ trong sạch, nhiều như vậy, như vậy, vị ấy thọ trì về nghĩa, thọ trì về pháp. Thưa chư Hiền, đây là lợi ích thứ hai, do đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 9. Chương Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, bài kinh Tôn Giả Nandaka)

Tức là không phải vui thích rồi kính trọng mà mình chỉ nói ngoài miệng thôi, ngay tại đó thôi mà khi mình trở về thọ trì nghĩa và pháp: những lời nói trong đó có ý nghĩa gì và trong đó pháp của nó là gì, mình về tiếp nhận, thọ nhận, thọ trì, tức là giữ, không để mất. Giờ thầy đưa cho một chén trà thì mình phải cầm chén trà cho chắc rồi mình uống chén trà đó thì mình mới thưởng thức, mới giải khát được, chứ giờ đưa mà tay cầm còn không chắc được thì bể thì xong, cũng vậy, nên phải thọ trì pháp, mình phải tiếp nhận và giữ chặt nó rồi sau đó mình uống, chứ không phải cầm trong tay rồi giờ gặp ai cũng đọc bài kinh đó lên là tôi thuộc vậy đó nhưng mà không uống. Như vậy là không thực tập, nghe biết hiểu rồi để đó hoặc là bỏ quên hết, học xong nói đã rồi hỏi lại hỏi là bài gì thì không biết. Đó là Đức Phật gọi là trí tuệ bắt vế, tức là người đó ngồi, họ để bánh để kẹo, để đồ trên đầu gối thì khi đứng lên bị rớt xuống hết. Nên hai chữ thọ trì này rất quan trọng, phải nhận và giữ gìn

“Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, sơ thiện... đầy đủ trong sạch. Này chư Hiền, nhiều như thế nào, như thế nào, vị ấy thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện... đầy đủ trong sạch, này chư Hiền, nhiều như vậy, như vậy, vị ấy, sau khi thể nhập nghĩa cú thâm sâu trong pháp ấy, vị ấy thấy. Này chư Hiền, đây là lợi ích thứ ba, do nghe pháp đúng thời và đàm luận về pháp đúng thời.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 9. Chương Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, bài kinh Tôn Giả Nandaka)

Như vậy là thọ trì nghĩa, thọ trì pháp và thể nhập những nghĩa lý thâm sâu trong pháp đó. Thể nhập giống như khi mình uống nước trà. Trao cho mình chén trà, mình nhận chứ có người được trao nhưng nói không uống tức là người này không thọ, không nhận pháp đó, tức là khi nói khi giảng mà lại nói trong bụng: “Cái này không làm được đâu!”, tức là mình không thọ. Nên hôm qua có câu hỏi “Nóng giận khó quá, làm sao mình chuyển hóa được”. Một ý nghĩ là pháp này khó quá, tu không được, là lúc đó mình không thọ. Khi mình không thọ, không nhận thì pháp không đi vào trong tâm của mình. Những việc này rất tế nhị, phải nhận diện năm uẩn một cách kĩ lưỡng mình mới thấy. Ví dụ nói quán ngũ uẩn vô thường, người cư sĩ nói đó là pháp của người xuất gia, khó lắm, mình tu không được đâu tức là mình không thọ. Giống như bưng chung trà rồi nói “Không, tôi không uống!” mà chén đó không phải là chén trà bình thường, mà đó là chén trà bất tử của bậc Chánh Đẳng Giác, mình lại nói “Không, tôi không thọ, tôi không nhận!” là mất cơ hội một tỉ, một vạn tỉ năm mình sẽ không gặp được nữa.

Hoặc mình thọ, nhận chén trà mà cầm một tay hay cầm không chắc thì nhiều trường hợp xảy ra, như đổ nửa chén hoặc một phần ba chén thì mình không lấy trọn được chén trà đó, cũng vậy pháp không được viên mãn, rồi thọ pháp cũng không được viên mãn. Tại vì người này cầm một cách không trân trọng, không cung kính, tôn trọng, quý trọng nên chén trà bị đổ một ít, có khi đổ nửa chén, có khi rơi vỡ. Đừng tưởng khi ngồi đây, học mấy ngày là chắc hết rồi nhưng bất cứ lúc nào cũng đổ, có đổ một ít rồi, có thể vỡ chén đó khi mình chưa Nhập Lưu. Điều này thâm sâu lắm, bản ngã bên trong, những cái dục, tham, ái, sân của mình sẽ ngăn chặn, chống phá sự thể nhập Thánh trí, làm đủ trò trong đó, như vậy thì sẽ đổ một ít, hay đổ nhiều và vỡ luôn cái chén. Còn đối với người trân trọng thì đưa hai tay cầm một cách nâng niu, cung kính, trân quý thì người này sẽ giữ được, sẽ uống hết được chén trà bất tử của Linh Quy.

Cho nên điểm này hết sức sâu sắc khi thọ trì nghĩa và thọ trì pháp, ví dụ như câu chuyện vừa nãy, ý nghĩa trong sự việc đó là gì? Khi Đức Thế Tôn đứng ở ngoài chờ là tôn kính pháp, là muốn cho tất cả hàng đệ tử được lợi ích, không mất, không làm gián đoạn pháp nghĩa. Đó là sự tôn kính pháp, pháp cao quý, pháp bảo tối thượng. Pháp trong đó là pháp im lặng của bậc Thánh và nói về Chánh Pháp khi gặp gỡ nhau. Như vậy, khi mình thọ trì pháp đó, nghĩa đó thì mình phải thực tập, không phải một ngày, một tuần, một tháng mà suốt cuộc đời tu của mình. Phải thọ trì hai pháp đó và thực tập, như vậy mới gọi là thọ trì nghĩa, thọ trì pháp. Thể nhập nghĩa cú thâm sâu trong pháp đó tức là mình nói pháp, chia sẻ từ đó rồi mình thấm thấm từ từ rồi mình hiểu tới sự thâm sâu của pháp.

Thể nhập sự yên lặng của bậc Thánh là ngồi thiền, quán chiếu, nhìn sâu trong năm uẩn phát hiện ra những chỗ tinh vi, vi tế, nhỏ nhiệm, vi diệu bởi Thánh trí bên trong, như vậy gọi là sự thể nhập. Sau khi thể nhập thì vị đó thấy. Chữ “thấy” này ghê gớm lắm, chữ thấy này là đến để thấy, thấy đó là tuệ tri, là Thánh Tri Kiến, Thánh Thể Nhập, Chánh Tri Kiến, là đắc pháp nhãn tịnh, là trí sanh, quang sanh, minh sanh, tuệ sanh, thấy của bậc trí huệ. Thấy được năm uẩn sanh khởi, tập khởi và năm uẩn hoại diệt, thấy được năm uẩn vận hành, thấy được thế nào là lậu hoặc thế nào là sự mê hoặc trong nội tâm của mình, thế nào và từ đâu mê hoặc này sanh khởi? Và phương pháp của con đường làm cho chấm dứt tất cả các sự mê hoặc trong nội tâm của mình, đó gọi là thấy. Thấy cái khổ ở trong năm uẩn, thấy cái khổ của những cảm giác đòi hỏi, những suy nghĩ tưởng và bản ngã vô minh, tham dục, sân hận, si mê, lười biếng, trì trệ, hôn trầm, do dự, hoài nghi. Thấy những thứ đó là khổ, thấy được nguyên nhân từ đâu nó sanh ra những thứ đó và thấy được con đường đi ra khỏi đó, chấm dứt tất cả cái đó, đó gọi là thấy pháp, còn gọi là kiến đế bậc Tu-đà-hoàn. Kiến đế là thấy được chân lý chứ không phải nghe hiểu để suy tưởng. Cho nên “sau khi thể nhập nghĩa cú thâm sâu trong pháp ấy, vị ấy thấy. Này chư Hiền, đây là lợi ích thứ ba, do nghe pháp đúng thời và đàm luận về pháp đúng thời.”

Lợi ích thứ tư là:

“Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện... đầy đủ trong sạch. Này chư Hiền, nhiều như thế nào, như thế nào, vị ấy thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện... đầy đủ trong sạch, nhiều như vậy, như vậy, các vị đồng Phạm hạnh tôn trọng noi gương thêm nữa, nghĩ rằng: "Vị ấy đã chứng hay sẽ chứng". Này chư Hiền, đây là lợi ích thứ tư, do nghe pháp đúng thời và đàm luận về pháp đúng thời. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 9. Chương Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, bài kinh Tôn Giả Nandaka)

Khi một vị đã thấy thì những người bạn cùng tu sẽ tôn trọng, noi gương theo người thấy đó và những người xung quanh sẽ nghĩ rằng: “Vị ấy sẽ chứng hay đã chứng”. Đó là lợi ích của sự nghe pháp, đàm luận pháp đúng thời. Cho nên các huynh đệ, các vị tu hành khác sẽ tôn trọng, noi gương theo vị này và nghĩ rằng vị này sẽ chứng hoặc đã chứng ngộ rồi. Đối với vị thâm nhập sâu vào pháp nghĩa, vị đó thấy được bốn Thánh Trí ngũ uẩn và bốn Thánh Trí về lầu hoặc thì thật tuyệt vời. Thấy được sắc, cảm giác, các tưởng, suy nghĩ, thức như thế nào, thấy một cách rõ ràng, rành mạch, không còn mờ mịt nữa. Từ trong đó có thể thấy được những cấu nhiễm bên trong đó vận hành, hoạt động, quậy phá, xâm chiếm, chế ngự, áp đảo bên trong đó, thấy nó và biết phương pháp diệt tận nó, đó gọi là thấy, đó gọi là: “sau khi thể nhập nghĩa cú thâm sâu trong pháp ấy, vị ấy thấy.” Chữ thấy đó đồng nghĩa với Hướng Dự Lưu và Nhập Lưu Thánh Quả.

Và lợi ích cuối cùng là:

“Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Này chư Hiền, nhiều như thế nào, như thế nào, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Ở đây, ở đây các Tỷ-kheo nào là hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, họ được nghe pháp ấy, khởi lên tinh tấn để chứng đạt được những gì chưa được chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa được chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa được chứng ngộ. Còn các Tỷ-kheo nào ở đây là các bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Những vị ấy sau khi nghe pháp, sống chú tâm vào hiện tại lạc trú. Này chư Hiền, đây là lợi ích thứ năm, do nghe pháp đúng thời và do đàm luận về pháp đúng thời.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 9. Chương Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, bài kinh Tôn Giả Nandaka)

Lợi ích thứ năm này nói về điều gì? Những Tỳ-kheo nào còn ở bậc hữu học, còn lậu hoặc, còn phiền não, chưa thành tựu thì vị ấy đang sống cần cầu để chứng ngộ vô thường an ổn, khỏi các khổ ách mà họ được nghe pháp này họ sẽ khởi lên tâm tinh tấn, mạnh mẽ, nỗ lực để chứng đạt, chứng ngộ, chứng đắc. Khi họ nghe pháp họ sẽ khởi tâm tinh tấn, mạnh mẽ, nỗ lực, phấn đấu, siêng năng, rắn rỏi, hướng thượng lên, đó là lợi ích. Còn những bậc A-la-hán đã thành tựu rồi mà nghe pháp này thì họ sẽ sống trú tâm vào hiện tại lạc trú, đó là các bậc Thánh tăng A-la-hán. Dù đã xong việc hết rồi nhưng khi nghe pháp vẫn được lợi ích hiện tại lạc trú. Đây là lời dạy của bậc Thiện Thệ, Chánh Biến Tri, Vô Thượng Sĩ. Bậc A-la-hán còn lợi ích đừng nói chi là bậc hữu học, phàm phu như mình.

Đó là năm lợi ích, “Này chư Hiền, đó là năm lợi ích do nghe pháp đúng thời, và do đàm luận về pháp đúng thời.”

Bài kinh “Phagguna”

Chúng ta sẽ học tiếp một bài kinh đặc biệt trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, kinh “Phagguna”. Đây cũng là lợi ích nghe pháp và đàm luận pháp đúng thời.

“Lúc bấy giờ, Tôn giả Phagguna bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn đi đến Tôn giả Phagguna, vì lòng từ mẫn.
Thế Tôn im lặng nhận lời.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Phagguna.”

Bài kinh nào cũng giống vậy hết, Thế Tôn mỗi chiều đều ngồi thiền, vậy mà mình thì buổi chiều lại bỏ ngồi thiền, dọn lên sẵn chỉ cần bước lên ngồi thôi, rảnh rang mà không chịu ngồi, uổng không? Đây là những việc nhỏ mình nên học, Thế Tôn là ai, Như Lai là ai, Đức Chánh Đẳng Giác là ai mà bài kinh nào cũng vậy, buổi chiều từ chỗ thiền tịnh Thế Tôn đứng dậy. Giờ mình bình thường không làm đến khi ngồi thiền lại có công việc, cho nên học những câu này mình mới thấy xấu hổ.

“Tôn giả Phagguna thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy, muốn rời khỏi giường. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Phagguna:

- Thôi được rồi, Phagguna! Thầy chớ có rời khỏi giường. Đã có những chỗ ngồi đã soạn từ trước, Ta sẽ ngồi tại các chỗ ấy. Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Phagguna:

- Này Phagguna, mong rằng Thầy có thể kham nhẫn! Mong rằng Thầy có thể chịu đựng! Mong rằng các khổ thọ được giảm thiểu, không tăng trưởng! Mong rằng triệu chứng giảm thiểu được thấy rõ, không tăng trưởng!

- Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn. Con không có thể chịu đựng. Khổ thọ của con tăng trưởng, không có giảm thiểu. Triệu chứng tăng trưởng được thấy rõ, không có giảm thiểu!

- Bạch Thế Tôn, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, bạch Thế Tôn, những ngọn gió kinh khủng thổi lên, đau nhói trong đầu con. Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu.

- Bạch Thế Tôn, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi siết chặt; cũng vậy, bạch Thế Tôn, con cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng, khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu. Triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu.

- Bạch Thế Tôn, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, bạch Thế Tôn, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm
thiểu.

- Bạch Thế Tôn, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân của con. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu.

Rồi Thế Tôn, với pháp thoại, nói lên cho Tôn giả Phagguna biết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ, từ chỗ ngồi, đứng dậy và ra đi.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp , III. Phẩm Trên Tất Cả , VI. Đại Phẩm, bài kinh Phagguna)

Trân quý sự tu

Ở chỗ này, thật sự Minh Thành khuyên các vị lớn tuổi hôm nay nán lại không đi Đà Lạt để nghe pháp là đáng lắm, xứng đáng lắm. Mình không biết lúc đối đầu với cái chết nó kinh khủng như thế nào, mình hoàn toàn không biết. Đừng tưởng giống như bây giờ mình cứ đi chơi như hiện tại, đó là lầm. Hãy lo đi, hãy biết chuẩn bị, biết thương mình, kinh khủng lắm, đừng nghĩ rằng già mới chết. Tất cả mọi người ở đây, ngay cả bản thân Minh Thành, mỗi ngày đều là ngày để chuẩn bị vì giây phút đó là giây phút quan trọng nhất và không biết mình sẽ đi đâu. Sau khi nhắm mắt mình đi đâu? Ai biết chắc xác quyết được một trăm phần trăm không? Mình hoàn toàn không biết vậy mà không lo không sợ, không chuẩn bị và tối ngày cứ lo, lo ăn lo ngủ lo chơi, lo buồn giận đúng sai, đặt tâm sai hướng.

Đừng nói chi người cư sĩ, ngay cả những người xuất gia vào chùa mà tối ngày chỉ lo nhìn đúng sai hay dở, hơn thua tốt xấu, so sánh chùa này chùa nọ thầy này cô kia. Mình không biết sợ, mình “điếc mà không sợ súng”, “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”. Thật sự là lo lắng lắm quý vị, hãy sợ hãi cái tử vong này, sợ hãi không phải để mình than van, rên rỉ mà sợ để mình lo, lo học lo tu, chuẩn bị để khi đến đó mình sẽ bình an, chánh niệm, sẽ ra đi một cách thanh thản nhẹ nhàng, trong ánh sáng của minh, trong sự giải thoát. Phải thương mình, phải làm người trí, làm người thật thông minh.

Quý vị về đây tu cũng đã có thông minh, cũng là người trí rồi nhưng Minh Thành muốn hơn nữa, chứ không phải dừng lại ở đây. Nhất là các tuổi lớn rồi, tuổi xế chiều, không lơ là, không lãng phí, không phung phí thời gian mà phải đêm hết thời gian vào sự tu học, hành trì giáo pháp, nghe pháp và thực hành pháp, đó là mình thương mình. Đây là một vị tu hành suốt cuộc đời xuất gia, ở kế cạnh bên Đức Chánh Đẳng Chánh Giác, không phải phàm phu mê muội, tham, sân, si, bản ngã đầy đầu như mình, mà vị này còn than thở, thống khổ, đau khổ, quằn quại như vậy. Ngàn người, vạn người, tỉ người trên thế giới đều như vậy hết, chừng nào chết thì hay, đừng nhắc tới, đừng nói tới hay đề cập tới, đó là sự mê lầm, đó là sự sống trong lãng quên, trong vô minh, sống trong sự đau khổ, tăm tối và mù lòa.

Có những tai nạn bất thình lình, đang ngủ trong nhà rồi xe tông vô chết thì những người đó đi đâu? Hay bất thình lình nghe qua là ung thư thời kỳ cuối rồi lúc đó làm sao? Vậy mà không biết lo, không biết sợ, không chịu tu hành mà mê ăn, mê chơi, mê cười, mê buông lung phóng dật tới lúc bất thình lình thì cái chết tới, bệnh hoạn, khốn khổ, ách nạn, hiểm nạn. tai nạn, hoạn nạn đến thì lúc đó hết sức là khủng khiếp. Vậy mà không ai biết lo hết, quý vị nhìn xem tối ngày mình lo làm gì, ngay cả vào chùa rồi cũng lo làm những việc khác?

Hãy biết thương mình quý vị ơi, thương mình đi, mình đáng thương lắm, mình thật sự đáng thương, vô cùng đáng thương. Thương cho cái tấm thân chồng chất như núi cao trong vong luân hồi, thương cho dục, tham, ái thúc đẩy hoài, cứ chạy theo các thú vui phù du, hư ảo, tạm bợ, mong manh và vô thường. Cả một cuộc đời đi tìm kiếm nhọc nhằn mà không thỏa mãn dục, vẫn là trống rỗng, là giấc mộng, là trống không, là kẻ lừa gạt mình, tìm tới già đầu đến khi chết thì cũng cũng không thể thoả mãn rồi đời sau sinh ra cũng tiếp tục đi tìm nữa, cứ như vậy mà cứ đi tìm hoài hoài. Cho nên phải sợ hãi cái tử vong này để lo lắng.

Trước kia lúc quý vị chưa gặp Tam Bảo, chưa gặp quý thầy, chưa gặp pháp, so với bây giờ quý vị gặp được rồi nên khác nhau rất nhiều. Nếu trong thời gian này mình không gặp Chánh Pháp thì vẫn giống như lúc trước, cũng còn hí ha hí hửng, vẫn còn tung tăng và hoàn toàn không biết gì hết, không biết hiểm nguy đang ập tới, như sóng thần, động đất, lũ lụt, hỏa hoạn.

Vị Tỳ-kheo trong bài kinh phước báu rất nhiều, đâu phải chuyện dễ mà đích thân Bậc Chánh Đẳng Giác đến trong lúc bệnh nặng như vậy. Bao nhiêu tỉ người mới gặp được một người như vậy, Đức Thế Tôn thấy vậy, nghe nói vậy nên Ngài nói pháp cho tôn giả Phagguna, khích lệ cho tôn giả này hoan hỉ, phấn khởi.

Sáu lợi ích khi nghe pháp đúng thời

“Rồi Tôn giả Phagguna, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, liền mệnh chung. Trong khi Tôn giả lâm chung, các căn được sáng chói. Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, đã mệnh chung. Trong khi Tôn giả mệnh chung, các căn được sáng chói.

- Này Ànanda, tại sao các căn của Tôn giả Phagguna lại không sáng chói chứ? Này Ànanda, với Tỷ-kheo Phagguna, tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Sau khi nghe pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Có sáu lợi ích này, này Ànanda, nếu nghe pháp đúng thời, và thẩm sát ý nghĩa đúng thời.”

Vậy năm hạ phần kiết sử là dục tham, sân, thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Tức là sau khi được nghe pháp xong thì năm kiết sử, hay năm thứ phiền não tan hết, chứng quả Bất lai, Thánh quả thứ ba sau khi nghe xong thời pháp đó.

“Thế nào là sáu?

Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mạng chung, được thấy Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử.”

Đây là lợi ích thứ nhất, này Ànanda, khi được nghe pháp đúng thời.

Lại nữa, này Ànanda, Tỷ-kheo với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mệnh chung, không được thấy Thế Tôn, nhưng chỉ được thấy đệ tử Như Lai. Đệ tử Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ànanda, đây là lợi ích thứ hai khi được nghe pháp đúng thời.

Lại nữa, này Ànanda, Tỷ-kheo với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mệnh chung, không được thấy Như Lai, cũng không được thấy đệ tử của Như Lai. Nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt; do vị ấy, với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt, nên tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ànanda, đây là lợi ích thứ ba khi thẩm sát ý nghĩa đúng thời.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp , III. Phẩm Trên Tất Cả , VI. Đại Phẩm, bài kinh Phagguna)

Tùy tầm, tùy tứ vị khách này suy tầm, bám sát các đề mục mà quán quán chiếu, quán các pháp. Ví dụ như mình đã học quán tử thi, quán ba mươi hai thể trược, quán dòi ăn, quán bộ xương, quán cảnh vô thường, quán cảnh chết… tâm lìa tham không còn ham muốn nữa do vị này hồi trước đã nghe, đã học, đã hiểu rồi nên bây giờ vận dụng nghe, học, hiểu để quán mạnh lên thì ngay lúc đó vị này thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, chứng quả Bất Lai, Thánh quả thứ ba. Cho nên bây giờ mình nghe, mình học không có mất đâu, để dành để tới lúc cần thiết thì khai triển thiền quán, đốt cháy hết tất cả tham, sân, si, phiền não, thể nhập Thánh trí.

“Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo với tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mệnh chung được thấy Như Lai. Và Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện... đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Sau khi được nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y. Này Ànanda, đây là lợi ích thứ tư khi được nghe pháp đúng thời.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp , III. Phẩm Trên Tất Cả , VI. Đại Phẩm, bài kinh Phagguna)

Bất Lai rồi nhưng khi mạng chung được gặp Như Lai rồi Như Lai thuyết pháp, vị này đoạn luôn phiền não cuối cùng để đi đến Thánh quả thứ tư gọi là vô thượng đoạn diệt sanh y. Sanh y là y cứ sanh tử luân hồi, tức là sắc ái, vô sắc ái, trạo cử, mạn và vô minh – năm thượng phần kiết sử. Dù đã Bất Lai rồi nhưng vẫn còn sự lợi lạc của nghe pháp và suy tư pháp, nên đừng nghĩ mình đã học tới cỡ nào thôi, giờ không cần nghe pháp nữa. Có nhiều người như vậy lắm, chỉ học một thời gian rồi thôi, không muốn nghe pháp nữa, vì ngán rồi. Đây là Thánh quả thứ ba. Giống như phần trên, vị này không gặp được Như Lai mà gặp đệ tử của Như Lai thì vị này cũng thành tựu Thánh quả tối cao, đoạn diệt cái gọi là vô thượng đoạn diệt sanh y. Những phần ái thâm sâu nhất, vi tế nhất để mình diệt tận để tới cứu cánh A-la-hán Thánh quả.

“Lại nữa, này Ànanda, Tỷ-kheo với tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mạng chung không được thấy Như Lai, chỉ được thấy đệ tử của Như Lai.
Đệ tử Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện... đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Sau khi được nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y. Này Ànanda, đây là lợi ích thứ năm khi được nghe pháp đúng thời.

Lại nữa, này Ànanda, Tỷ-kheo với tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mệnh chung không được thấy Như Lai, cũng không được thấy đệ tử Như Lai. Nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được học thông suốt, do vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thông suốt, nên tâm được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh này. Này Ànanda, đây là lợi ích thứ sáu khi được thẩm sát ý nghĩa đúng thời. Có sáu lợi ích này, này Ànanda, khi được nghe pháp đúng thời, và khi được thẩm sát ý nghĩa đúng thời.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp , III. Phẩm Trên Tất Cả , VI. Đại Phẩm, bài kinh Phagguna)

Quý vị có thể tưởng tượng nổi công năng của giáo pháp không? Đó là tới Thánh quả thứ tư, không lìa pháp, từ việc nghe pháp tới việc thẩm sát ý nghĩa, quán pháp. Đến bậc A-la-hán đã thành mãn mà khi nghe pháp các Ngài vẫn trú được hiện pháp lạc trú, an lạc trong khi nghe được pháp. Cho nên pháp này xuyên suốt. Minh Thành thường hay nhắc là cả cuộc đời của người tu chúng ta là cầu pháp, học pháp, hành pháp, đạt pháp, chứng pháp, đắc pháp và truyền pháp, không rời một chữ pháp, Chánh Pháp Tối Thượng. Người nào rời pháp thì người đó không có Thánh quả thứ nhất, Thánh quả thứ hai, Thánh quả thứ ba và Thánh quả thứ tư.

Lời kết:

Như vậy hôm nay chúng ta thấy được tổng cộng là mười một lợi ích của sự nghe pháp, đàm luận pháp và thẩm sát ý nghĩa của giáo pháp đúng thời. Điều này sẽ đưa mình từ vấn đề niềm tin căn bản đến thấy được và cuối cùng là chứng nhập, không rời pháp. Mong rằng tất cả chúng ta phải để tâm vào sự nghe pháp, nghiền ngẫm, tu tập và hành trì, đừng lơ là đối với pháp. Hãy đem hết tấm lòng của mình tôn kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, hoằng truyền, truyền bá Chánh Pháp này để lợi lạc chúng sanh, trong đó có lợi lạc cho chính mình./.