Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 14

2026-03-03 00:53:32
Tinh Hoa Nikāya

TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 14

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tóm Tắt Ngũ Uẩn giảng giải (tt) PAGEREF _Toc128461320 \h 1

1.Bài kinh“Anuruddha 1” : PAGEREF _Toc128461321 \h 1

2.Bài kinh “Không sợ hãi”: PAGEREF _Toc128461322 \h 2

3.Bài kinh “Đặc thù”: PAGEREF _Toc128461323 \h 3

4.Bài kinh “Abhaya” PAGEREF _Toc128461324 \h 5

II.Phương pháp Tám đúng PAGEREF _Toc128461325 \h 7

III.Tổng quát về phương pháp đối trị tham, sân, si PAGEREF _Toc128461326 \h 9

Tóm Tắt Ngũ Uẩn giảng giải (tt)

- Một nữ nhân không thể trở thành một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. (Không có một nữ nhân nào lại là một bậc Chánh Đẳng Giác).

- Một nữ nhân không thể trở thành một Vua trời Đế Thích (Sakka Thiên chủ). (Không có một nữ nhân nào là một vua trời Đế thích).

- Một nữ nhân không thể trở thành Ma Vương. (Không có một nữ nhân nào lại một vị Ma vương)

- Một nữ nhân không thể trở thành Phạm Thiên. (Không có một nữ nhân nào là một vị Phạm Thiên).

Đức Phật có nói về những sức mạnh của người phụ nữ trong nhiều bài kinh như sau:

Bài kinh“Anuruddha 1” :

1) Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuruddha bạch Thế Tôn:

Ở đây, bạch Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, con thấy phần lớn các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Do đầy đủ với bao nhiêu pháp, bạch Thế Tôn, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?

2) Do đầy đủ ba pháp, này Anuruddha, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là ba?

Ở đây, này Anuruddha:

Nữ nhân vào buổi sáng, sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh bởi cấu uế của xan lẫn;

Vào buổi trưa, sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh bởi cấu uế của tật đố.

Vào buổi chiều, sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh bởi cấu uế của dục tham.

Do đầy đủ ba pháp này, này Anuruddha, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

(Kinh Tăng Chi Bộ I, Chương Ba Pháp, XIII. Phẩm Kusinàra, bài kinh Anuruddha 1)

Minh Thành xin giải thích thêm, Anuruddha là Ngài A Na Luật – bậc thiên nhãn đệ nhất. Từ “xan lẫn” có nghĩa là xan tham, bỏn xẻn; “tật đố” có nghĩa là ganh ghét, đố kỵ, ganh tị, hơn thua với nhau. Nói ở đây, không có nghĩa là người nam không bị đoạ, mà đức Phật nói về nguyên nhân đoạ vào các khổ cảnh của người nữ nhiều hơn; còn người nam thì bản ngã lớn, ương ngạnh, cũng được thể hiện nhiều trong các bài kinh khác. Trong bài kinh trên, Đức Phật nói, buổi sáng người nữ bị ám ảnh bởi tâm xan lẫn (“xan” là xan tham, “lẫn” là lẫn tiết, nghĩa là bỏn xẻn); buổi trưa ám ảnh bởi tâm tật đố, ganh tị, đố kỵ, ganh ghét; buổi chiều là tâm tham dục.

Chúng ta cần đọc kỹ và như lý tác ý để hiểu rằng Đức Phật rất thương chúng ta. Ngài nhìn thấy được bệnh và đưa thuốc để chỉ cho chúng ta cách trị bệnh. Còn nếu nghĩ, Ngài nghiêng lệch để nói phụ nữ thì đó là phi như lý tác ý, tâm chống đối, không chấp nhận học pháp, sẽ đưa ta xuống địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Cho nên, học nhận diện ngũ uẩn sẽ giúp chúng ta thấy được nhiều vấn đề từ thô đến tế.

Bài kinh “Không sợ hãi”:

Sau đây là bài kinh đề cập đến năm sức mạnh của người đàn bà, và năm đau khổ riêng biệt của người đàn bàn.

Này các Tỷ-kheo, người đàn bà có năm sức mạnh này. Thế nào là năm?

Sức mạnh sắc đẹp.

Sức mạnh tài sản.

Sức mạnh bà con.

Sức mạnh con trai.

Sức mạnh giới hạnh.

Này các Tỷ-kheo, người đàn bà có đầy đủ năm sức mạnh này.

Ðầy đủ năm sức mạnh này, này các Tỷ-kheo, người đàn bà sống ở nhà không có sợ hãi.

(Kinh Tương Ưng Bộ IV, Chương III. Tương Ưng Nữ Nhân, Phần III. Phẩm Ba, bài kinh Không Sợ Hãi)

Đây là năm sức mạnh của người phụ nữ: sắc đẹp, tài sản, bà con, con trai, giới hạnh; khi đủ năm sức mạnh này, người đàn bà sống ở nhà không có sợ hãi. Tương tự bài kinh này nhưng trong bài kinh “Ức chế” khác ở đoạn kết luận: "Ðầy đủ năm sức mạnh này, này các Tỷ-kheo, người đàn bà sống ở nhà, ức chế người chồng”, tức là khi có đủ năm sức mạnh này, người phụ nữ sẽ nắm quyền trong gia đình.

Bài kinh “Đặc thù”:

Đức Phật cũng nói đến năm đau khổ riêng biệt của người đàn bà trong bài kinh “Đặc thù”, tức là chỉ có người phụ nữ mới chịu đựng năm khổ này.

Này các Tỷ-kheo, có năm đau khổ riêng biệt mà người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người đàn bà lúc trẻ tuổi đi đến nhà chồng, không có bà con. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ nhất, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu điều đó khác biệt với đàn ông. Tức là người phụ nữ một thân, một mình đi về nhà chồng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà có kinh nguyệt. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ hai, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải mang thai. Ðây là sự đau khổ riêng biệt thứ ba, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.

Đức Phật thấy biết hết tất cả mọi góc độ, khía cạnh nên trí tuệ, tâm từ bi của Ngài là vô cùng tận. Chúng ta thấy được từ tâm, tình thương của đức Phật rất rộng lớn, vì không có gì Ngài không thấy, không biết. Ngài là bậc thế gian giải, thông giải pháp thế gian, thông giải tâm nhân thế, thông giải tất cả pháp trên cuộc đời này.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà phải sanh con. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ tư, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.

Một lần sanh con là thập tử nhất sinh, đau đớn quoằn quoại, thậm chí là mất mạng. Có những ca sanh non, sanh khó phải mổ để lấy đứa trẻ ra. Các vị đi tu là bớt được bao nhiêu nỗi khổ của thế gian rồi, nhưng nếu tu không khéo vẫn bị khổ như thường.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà hầu hạ đàn ông. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ năm, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.

Này các Tỷ-kheo, đây là năm đau khổ riêng biệt, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.

(Kinh Tương Ưng Bộ IV, Chương III. Tương Ưng Nữ Nhân, Phần I. Phẩm Trung Lược, bài kinh Đặc thù)

Trên đây là năm đau khổ riêng biệt mà người đàn bà phải gánh chịu: một thân một mình đi về nhà chồng, kinh nguyệt, mang thai, sanh con, hầu hạ đàn ông. Các sư cô phải nghiên cứu vấn đề này thật kỹ và viết luận văn; để ghi nhớ và cống hiến cho xã hội. Trong phân loại Nikāya cũng đã gom sẵn các tư liệu về đề mục “Nữ Nhân”, chúng ta tìm đọc, nghiên cứu thêm.

Thánh trí tuệ của đức Phật là vi diệu, không có điều gì thiếu sót, sai khác được. Từ cội Bồ Đề Đạo Tràng đến Sala song thọ, ở khoảng giữa đó, tất cả những gì Như Lai nói không thể khác được. Chúng ta phải tin tuyệt đối vào năm bộ kinh Nikāya thì mới tu chứng được. Nếu ta có nghi ngờ, sẽ rơi vào năm triền cái, tâm sẽ bị che đậy, tâm bị mờ tối; Đức Phật nói như vậy là tác thành không mắt, tác thành mù loà, tâm bị yếu ớt, không có trí huệ, tâm bị che đậy bởi năm triền cái, nghi ngờ, phân vân.

Bài kinh “Abhaya”

Trong Tiểu Bộ Kinh III, có bài kinh nói về vị xuất gia bị dục khởi khi gần nữ nhân như sau:

Trong thời đức Phật hiện tại, Ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình Bà-la-môn, được đặt tên là Abhaya. Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, Ngài xuất gia. Một hôm, Ngài đi khất thực ở trong làng, thấy một nữ nhân ăn mặc rất đẹp đẽ, tâm tư Ngài bị dao động, khi trở về tịnh xá, Ngài suy nghĩ: 'Thấy một sắc pháp, tâm ta sanh cấu uế, ta đã phạm lỗi lầm'. Từ bỏ tâm tư ấy, Ngài phát triển thiền quán và chứng A-la-hán. Rồi Ngài nói lên sự sai lầm và sự thức tỉnh của Ngài ngang qua bài kệ:

Khi nhãn căn tiếp xúc với sáu trần, sanh khởi nhãn thức, sự hội tụ của ba pháp này là nhãn xúc. Do duyên có nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư. Hình bóng của cô gái đẹp ám ảnh trong tâm, cảm giác dễ chịu, suy nghĩ ưu thích xâm chiếm, ám ảnh. Khi trở về tịnh xá Ngài thấy được “tâm ta sanh cấu uế khi thấy một sắc pháp, ta đã phạm một sai lầm” nên Ngài từ bỏ tâm tư ấy và phát triển thiền quán tứ đại, chín giai đoạn một tử thi, quán về ba mươi hai thể trược: dạ dày, lá lách, tim, gan, tỳ, phế, thận… bẩn thỉu, nhơ nhớp. Nhờ quán thâm sâu, Ngài đoạn tận hết tất cả các lậu hoặc, thành tựu A-la-hán quả. Ngài nói về sự sai lầm và thức tỉnh qua bài kệ sau:

Thấy sắc, mất chánh niệm,

Tác ý tưởng luyến ái,

Tâm cảm thọ say mê,

Đắm trước tưởng an trú,

Các lậu hoặc tăng trưởng,

Đưa đến gốc sanh hữu.

(Tiểu Bộ Kinh, Tập III. Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I. Một Kệ, Phẩm 10, bài kinh Abhaya)

Ngài Abhaya nói sau khi gặp sắc đẹp, Ngài bị mất chánh niệm. Trong tâm yêu thích hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó, gọi là tác ý tưởng luyến ái. Tâm của Ngài bị xâm chiếm, yêu thích ở trong cảm giác, suy nghĩ, hình bóng về cô gái. Tâm cảm thọ say mê, đắm trước tưởng an trú, tức là những cái tưởng mình say đắm, dính mắc ở trong đó. Tâm bị dính, bị đặt để ở trong cảm giác; các hình bóng ám ảnh trong tâm; các lậu hoặc tăng trưởng. Và nếu cứ để các lậu hoặc tiếp tục tăng trưởng sẽ đưa đến gốc sanh hữu, luân hồi, khổ đau. Đó là bài kệ chứng ngộ của Ngài Abhaya.

Đây là chúng ta liên hệ với một vài bài kinh để thấy sự phong phú của trong kinh tạng Nikāya, thấy được trí tuệ về nhiều phương diện, khía cạnh chứng ngộ của đức Phật.

- Một thân hành, khẩu hành, ý hành ác thì không thể sanh ra quả báo hiền thiện, tốt lành.

- Một thân hành, khẩu hành, ý hành hiền thiện thì không thể sanh ra quả báo bất thiện, xấu ác được.

Người thành tựu chánh kiến sẽ biết rõ, những điều trên là những điều không có, không xảy ra ở trong cuộc sống.

Người thành tựu chánh kiến, người thấy biết rõ bốn sự thật của cuộc sống được gọi là người có trí tuệ, thể nhập trí tuệ, thể nhập trí mà các bậc Thánh đã tuyên thuyết nên cũng được gọi là thể nhập Thánh trí. Khi thể nhập vào trí tuệ thấy biết rõ bốn sự thật về thân tâm ngũ uẩn này, thì vị này quyết chắc sẽ đi đến sự thoát khỏi những chi phối, những ràng buộc của ngũ uẩn.

Sự thấy biết bốn sự thật về ngũ uẩn do các bậc Thánh tuyên thuyết, được gọi là bốn Thánh trí. Bốn Thánh trí là trí thấy biết bốn sự thật mà bậc Thánh đã chứng ngộ và tuyên bố. Người đi theo Đức Phật để tu tập thấy biết bốn sự thật này, đó gọi là Phật tử. Phật tử là người con của Đức Phật, là người tu học và thực hành theo sự hướng dẫn của Đức Phật, để thấy biết bốn sự thật mà Ngài đã chứng ngộ và tuyên thuyết.

Như vậy, ngày hôm nay, chúng ta học về Bốn Sự Thật, Bốn Thánh Trí về Ngũ Uẩn. Đây là cốt lõi, là trái tim của đại tạng kinh Nikāya.

Phương pháp Tám đúng

Chúng ta cùng nhau tìm hiểu thật sâu sắc câu cuối cùng trong Bốn Thánh Trí: “Bát chánh đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn”.

Muốn diệt vô minh, trừ khát ái thì phải thực hành theo phương pháp Tám đúng của bậc Thánh. Tám phương pháp đó là: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tin Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định; tức là thấy biết đúng, suy nghĩ đúng, nói lời đúng, hành động đúng, nuôi mạng đúng, siêng đúng việc, quán đúng chỗ, định đúng cách; nói gọn hơn là, thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng.

Thấy đúng là thấy năm uẩn, nhận diện được ngũ uẩn thấy vô minh; thấy vô minh đoạn diệt; thấy Bát Chánh Đạo. Lúc nào chúng ta nhận diện được năm uẩn là ta có chánh kiến, còn nếu không thấy năm uẩn mà chỉ thấy có cái tôi là tà kiến. Khi thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì ta biết được các trạng thái của tâm, lúc nào có ham muốn, tức giận, tâm si mê… ta đều có thể phát giác.

Sau khi nhìn thấy rác bẩn, ta suy nghĩ phải từ bỏ chúng, đó là suy nghĩ đúng. Suy nghĩ việc lìa dục, lìa sân, không hại mình và người khác; hay còn gọ là ly dục tư duy, ly sân tu duy, bất hại tư duy, đó là nghĩ đúng. Nuôi dưỡng tâm bực bội, thù hận người khác là chúng ta đang hại mình và hại người. Những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác đó chất chứa, đến một lúc nào đó bộc phát thành lời, biểu hiện ra hành động và khi có nghiệp thì ắt sẽ có quả. Khi có quả thì chính mình phải nhận lãnh quả ấy, đó gọi là hại mình và hại người. Vì vậy, cần có một trí tuệ toàn diện, bằng không chúng ta chỉ nghĩ có một chiều, nghĩ trong vô minh, trong một tâm nhỏ hẹp, không thấy được hệ nhân quả, nhân duyên, thiện ác, đúng sai, tội phước. Khi chúng ta thấy đúng thì sẽ có suy nghĩ đúng để lìa những ham muốn nóng giận, hại mình hại người.

Nói đúng là từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Trong khẩu nghiệp, nói lời phù phiếm là điều mà chúng ta dễ phạm nhất, điều này chỉ có trong kinh Nikāya mới nói đến. Lời phù phiếm là nói huyên thuyên, lời nói không có ý nghĩa, không liên hệ đến mục đích, không từ bỏ được tham, sân, si, bản ngã. Lời nói liên hệ đến mục đích là những lời nói giúp chúng ta, từ bỏ và diệt tận được tham, sân, si.

Ví dụ, khi gặp nhau, thay vì hỏi thăm những câu không liên hệ đến mục đích như: “Chị khoẻ không, bữa giờ chị đi đâu, nhìn mặt chị bơ phờ quá” thì chúng ta hãy hỏi thăm bằng những lời nói liên hệ đến mục đích như: “Dạo này sư huynh, sư tỉ tu tập tâm hiền, tâm từ có tăng trưởng lên nhiều không? Có nhiếp phục được tham sân si không? Bản ngã có hạ xuống nhiều không? Có phá được thân kiến không?”. Những lời nói không liên hệ đến mục đích là lời nói vô ích, tà ngữ, người tu chúng ta cần phải hết sức chánh niệm tỉnh giác, nếu không sẽ bị cuốn đi lúc nào mà không hay.

Chúng ta như những chú nai ngây thơ; đối với pháp, chúng ta hiểu biết ít và còn rất quê mùa; còn đối với đời, chúng ta điêu luyện, sắc bén. Cho nên chư Tổ, người xưa mới nói “đạo niệm nhược, đồng tình niệm, thành Phật dĩ đa thời”; tức là đạo niệm đồng với tình niệm thì mình đã giác ngộ từ lâu. Phải loại bỏ những lời nói phù phiếm, không liên hệ đến mục đích. Một người chân tu, thật học khi nói ra điều gì cũng tha thiết diệt trừ những tham, sân, si. Bất cứ điều gì cũng nói về pháp, nói về sự tu học của mình. Đó mới là chánh ngữ, lời nói đúng.

Làm đúng là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục.

Sống đúng, hay còn gọi là chánh mạng, nuôi mạng đúng; đối với người cư sĩ là từ bỏ các nghề bán thịt, bán rượu, buôn bán người, bán vũ khí, bán thuốc độc. Bán vũ khí là gián tiếp làm xảy ra chiến tranh, sự chết chóc. Bán rượu là làm cho người khác say mê, điên đảo làm ra các điều tội lỗi. Bán thịt là gián tiếp làm cho người khác sát sanh. Buôn bán người là cả một cuộc đời của con người trở thành công cụ; hiện nay có rất nhiều vụ án thương tâm, liên quan đến vấn nạn này. Bán thuốc độc là tiếp tay hại người; ví dụ vụ án con gái mua thuốc độc về hại cha ruột, nếu không có thuốc độc thì đã đỡ hơn rất nhiều.

Siêng đúng là chế ngự sáu căn, đoạn tận tham, sân, si; tu tập Tứ Niệm Xứ và hộ trì các thiện pháp đã có.

Quán đúng là quán tâm, quán thọ, quán tâm, quán pháp.

Định đúng là định tâm theo bốn thiền.

Đây là Minh Thành giới thiệu sơ qua để chúng ta tập làm quen dần dần. Còn Bát Chánh Đạo là cả một lộ trình tu học.

Tổng quát về phương pháp đối trị tham, sân, si

Bốn Thánh trí về Ngũ Uẩn này là trí tuệ vô cùng quan trọng. Tu học theo trí ngũ uẩn, chúng ta phải trả lời được những câu hỏi sau: Ngũ uẩn là gì? Tham, sân, si ở đâu? Làm sao để chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si?

Sư thầy:

Bạch Thầy! Để đối trị được tham, sân, si thì phải nhận diện, biết nó nằm ở đâu thì chúng ta mới đối trị được; và tham sân si nằm ở trong cảm thọ. Trong cảm giác dễ chịu có tham; cảm giác khó chịu có sân; cảm giác không dễ chịu, không khó chịu có si.

Sư cô:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch Thầy giáo thọ sư và toàn thể đại chúng. Dạ bạch Thầy, tham, sân, si trú ngụ ở nơi cảm thọ, tham trú ở cảm giác dễ chịu, sân trú ở cảm thọ khó chịu, si trú ở cảm thọ không khó chịu, không dễ chịu. Để chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si, đầu tiên, ta phải nhận diện được ngũ uẩn, nhìn rõ sắc, thọ, tưởng, hành, thức uẩn. Tiếp theo, mỗi khi một cảm thọ khởi lên, chúng ta phân biệt đó là cảm thọ tham, sân hay si. Khi nhận diện được cảm thọ thì chúng ta phải biết, cảm thọ phát ra từ đâu. Đối với cảm thọ tham, biểu hiện ở nơi chỗ phát dục; cảm thọ sân biểu hiện ở nơi lồng ngực và di chuyển lên mặt, tai, mắt; cảm thọ si biểu hiện ở hai con mắt và dẫn lên đỉnh đầu. Khi biết rõ nơi trú ngụ của tham, sân, si; chúng ta đối trị bằng các pháp quán. Để đố trị tham, ta Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, quán, Chín Giai Đoạn Tử Thi, Quán Hơi Thở và dùng Như Lý Tác Ý để đánh đuổi cảm thọ tham. Đối với sân, ta dùng Tâm Từ Giải Thoát và dùng Như Lý Tác Ý. Đối với si, ta dùng ánh sáng trí tuệ và Như Lý Tác Ý.

Sư phụ:

Đối với câu hỏi ngũ uẩn là gì? Chúng ta phải thuộc nhuần nhuyễn định nghĩa số 1, số 2, và phải liên hệ được các ví dụ thực tế; ví dụ, khi ăn một món ngon, khi nghe một tiếng trách mắng, thì ngũ uẩn vận hành như thế nào.

Đối với câu hỏi về tham, sân, si. Chúng ta phải nói rõ, ở trong lạc thọ có tham tuỳ miên, tức là đi theo miên man ở trong cảm giác dễ chịu; khổ thọ có sân tuỳ miên, tuỳ là theo, miên là miên man. Trong cảm giác không dễ chịu, không khó chịu, trơ trơ, bất khổ, bất lạc thọ, có si tuỳ miên (vô minh tuỳ miên). Tham, sân, si luôn cư trú ở trong ba cảm thọ đó; chúng ta cần liên hệ thực tế cụ thể trong đời sống để chứng minh.

Để đối trị tham dục, chúng ta dùng Quán Bất Tịnh, Quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi. Khi chúng ta niệm, nhớ những hình ảnh, suy nghĩ, cảm giác đó thì dục vọng của ta sẽ lắng dịu xuống, ta cần căn cứ theo trong kinh Tứ Niệm Xứ.

Đối trị tâm sân, chúng ta phải Quán Tâm Từ. Tâm từ tức là phải thương mình, thương cơn giận mình trước, tại vì cơn giận làm mình khổ, luôn tác ý sao cứ giận hoài để làm khổ mình hoài vậy. Khi biết thương mình rồi thì ta mới trải tâm thương đến người làm ta giận; họ cũng đồng cảnh ngộ với ta, họ cũng là nạn nhân của cơn giận, ta cũng là nạn nhân của cơn giận. Tất cả chúng sanh hữu tình là nạn nhân của cơn giận, nên ta thương hết tất cả; như vậy, chúng ta mới trải được tâm thương, tâm từ rộng lớn. Bản thân chúng ta đang giận thì rất khó để thương người khác, nên ta phải thương chính mình, thương cơn giận đang hành hạ, làm khổ mình. Khi thương được mình rồi, chúng ta mới thương người kia cũng bị cơn giận làm khổ.

Đối với tâm si, chúng ta phải tu tinh cần, dùng trí tuệ quán chiếu, Quán Ánh Sáng, làm cho bản thân phấn chấn, mạnh mẽ, tinh tấn. Quán chiếu về trí tuệ để phá si mê, vô minh. Chúng ta đã được học, vô minh ở cấp độ thấp nhất là không thấy ngũ uẩn, hôn trầm; cấp độ thứ hai là không nhận diện được ngũ uẩn; sâu hơn là sự chấp thủ vào ngũ uẩn này. Chúng ta phải có trí tuệ mới nhìn thấy được cơn si, dễ thấy nhất là nằm trong cảm giác. Từ đó, chúng ta phá si mê, si ám bằng trí tuệ sáng suốt, giúp sáng tỏ các pháp

Như vậy, nói một cách đơn giản nhất, tham dục lấy quán bất tịnh để đối trị; sân hận lấy quán từ bi để đối trị; si mê, hôn trầm lấy trí tuệ, tin cần, tin tấn, dõng mãnh để đối trị.

./.