Vô Minh 7 - Thu Nhiếp Sáu Căn - Không Buông Lung Phóng Dật
Kinh Nikāya Giảng Giải
Vô Minh 7 - Thu Nhiếp Sáu Căn
Không Buông Lung Phóng Dật
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nỗ lực nhận thấy khổ PAGEREF _Toc181295212 \h 1
II. Cảm thọ là khổ PAGEREF _Toc181295213 \h 3
III. Vô Minh PAGEREF _Toc181295214 \h 6
IV. Tinh cần – thu thúc lục căn PAGEREF _Toc181295215 \h 8
I. Nỗ lực nhận thấy khổ
Khi con mắt nhìn thì mình có thiền không? Khi lỗ tai nghe tiếng mình có thiền không? Những cảm xúc của mình khi tiếp xúc sanh ra cảm thọ mình có thiền không? chúng ta nhìn trong vô minh, cầm trong vô minh, đặt để trong vô minh, học trong vô minh, tu trong vô minh nên kết quả cả đời tu là được cái đại vô minh. Thật là đau xót cho chúng ta!
Thương thay tâm mờ tối
Chúng sanh đáng thương thay.
Thấy, nghe, nói, làm việc, suy nghĩ như vậy nhưng đều ở trong vô minh, không biết mình đang làm gì, không biết làm cái đó để được cái gì mà làm như một cái xác không hồn, như một thây ma cho nên người nào không biết lo lắng là người đó không thể tu được, người nào không biết sợ hãi người đó tu không được, người nào không biết đề phòng, canh chừng người đó không tu được, người nào không có ưu tư, trăn trở, không có thao thức người đó không tu được.
Người tu thật sự phải giống như đang đưa đám ma mẹ mình, giống như một người nhận tin báo bác sĩ bị ung thư giai đoạn cuối, nếu là một người chân tu thì phải ở trong tâm thái đó, người biết tu là người nhìn thấy đại khổ uẩn này là một đống khổ to lớn, vĩ đại đang bao quanh chúng ta, nếu quên đi cái khổ này thì không thể tu được mà chỉ sống trong sự thả lỏng các căn, buông lung phóng dật, mình sống trong sự vô cảm đối với các sự thật mà bậc Thánh truyền trao.
Được nghe về Khổ Thánh Đế nhưng cứ trơ ra vì không thấy khổ nên không có cảm xúc, sở dĩ chúng ta nghe được, chúng ta cảm xúc chấn động được là vì chúng ta biết nhận diện ngũ uẩn, biết thiền quán, còn cái học bây giờ ngồi nghe giảng Tứ Thánh Đế mà cười tươi, không thấy khổ ở đâu cả nên làm sao khóc, đó là cái tâm bị bao phủ trong bóng đêm, tâm rừng rậm, tâm hoang vu, tâm chưa được khai phá. Mình làm gì cũng không biết, nói gì cũng không biết thì huống hồ gì mình nghĩ, những cái pháp thô còn không thấy được thì những cái pháp vi tế, thâm sâu trong sự ngấm ngầm hoạt động của các cảm thọ dục, ái, sân, si làm sao thấy được.
Đó là lý do Đức Phật không muốn thuyết pháp, chúng sanh sống trong vô minh, tham ái, bản ngã mà Đức Phật nói về diệt dục phá ngã thì làm sao họ chịu, họ sẽ chống đối không muốn nghe vì thế khi chúng ta không thấy lo lắng, không thấy sợ hãi, không biết khổ đau thì không thể tu được. Ngồi cho thấy hình thức là đầu tròn áo vuông có màu sắc cho vui nhưng không phải là bậc Thánh đệ tử, người chân tu là người rất ưu tư, trăn trở, rất lo lắng, sợ hãi, sợ hãi dòng luân hồi này, sợ hãi những tai họa, bất an đang rình rập khắp mọi nơi.
Thưa các bậc hiền trí, lúc nào bước lên xe con cũng nghĩ không thể đến nơi cần đến được, lúc nào lên máy bay cũng nghĩ sẽ không đến chỗ được cho đến khi nào đến nơi bước vào cửa thì lúc đó biết là đã đến, biết rằng có được một chút an ổn trong chặng đường lần này. Trong một tháng nay có sáu chục ngàn ca nhiễm sốt xuất huyết và bây giờ trở thành dịch sốt xuất huyết rất nguy hiểm, tăng 97% so với năm trước, còn ở Hà Nội nhiệt độ ngoài mặt đường giữa trưa lên đến 60 độ, còn nhiệt độ trung bình là 38 độ, bên Pháp nhiệt độ hơn 40 độ, còn Ấn Độ và Bangladesh bị lũ lụt cướp đi hàng triệu căn nhà và biết bao sinh mạng đã chết, bên Trung Quốc cũng bị bão lụt cuốn trôi nhà cửa, xe cộ, ngoài ra những biến thể Covid 19 lại bắt đầu xuất hiện. Thật sự chỉ có người mù, người vô tri vô cảm mới sống một cách dễ vui, sống buông thả, sống vô tri, còn người có mắt rất lo sợ, bất an và họ nghĩ rằng không kịp nữa, tu còn chưa kịp chứ đừng nói gì không tu.
Tại sao người ta thích nghe giảng chọc cười? Vì người ta đi làm cả ngày căng thẳng, mệt mỏi nên đến chùa nghe cái gì vui cười cho giải trí, còn đạo tràng mình ngồi lại là khổ đau, khóc lóc, Đức Thế Tôn nói rằng ngài và các vị Tỳ-kheo luân hồi lâu dài nhiều năm, nhiều kiếp, nhiều đời là do không thấy được Khổ Thánh Đế, cái thấy Khổ Thánh Đế này không phải chỉ trong lúc đọc kinh, không phải lúc thấy người chết, bị tai nạn mà khi gặp người đẹp đẽ, thành đạt, người có tiếng tăm, cho đến lúc nào nhìn vào đám cưới, đi chung với minh tinh điện ảnh mà nhìn vào mắt họ, nhìn vào tâm họ vẫn thấy một đống khổ đau, không thấy thật sự có cái gì vui trên thế giới này thì đó mới là Khổ Thánh Trí.
Nếu còn thấy vui, thích một cái gì thì mình còn ham muốn, còn thèm khát, còn mong chờ, truy tìm, tâm mình không thể an tịnh, lắng dịu được, không thể hoàn toàn tịch tịnh được. Phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần thì tất cả các sắc cũng phải được nhìn kĩ, nhìn sâu, nhìn thấu đáo, nhìn tận tường nó là pháp biến hoại, vô thường, tan rã, hủy hoại, hoại diệt, nó là pháp bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, nó là hang ổ của bệnh tật, sầu đau, nó là kẻ giết người, tất cả các hình sắc, bao gồm thân hình này là ổ chứa nhóm bệnh tật, là căn cứ của tất cả mối lo, là nền tảng của hiểm họa và tai ương, là cơ sở của sự bất an, bất trắc. Trí huệ này chúng ta thẩm thấu được bao nhiêu? Một ngày mình nhớ được bao nhiêu? Khi ngồi thiền mình quán được bao nhiêu hay chỉ nghe qua một chút là quên? Chúng ta thẩm thấu được sắc uẩn này là khổ đau, là bệnh tật, là tai nạn được bao nhiêu phần?
II. Cảm thọ là khổ
Phàm có thọ gì, bây giờ hay trước kia, vi tế hay thô phù, vui sướng hay khổ đau thì tất cả cảm giác đó phải quán chiếu nó là ung nhọt, bệnh tật, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, là hố than hừng, phải quán chiếu nó là ngọn lửa bốc cháy thiêu đốt tự thân, thiêu đốt tha nhân, thiêu đốt hữu tình, thiêu đốt chúng sanh. Phàm tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Phải nhàm chán đối với tất cả cảm thọ, không cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Trí huệ này chúng ta thâm nhập được bao nhiêu? Mỗi ngày mình nhìn ra được các cảm thọ trong mấy tiếng hay buông ra là nhập cuộc chung với nó? Mình có tách mình ra khỏi cảm thọ không? Mình có quán thọ trên các thọ không? Đau nhức một chút là chịu không nổi, lạnh quá hay nóng quá là khó chịu, tê chân, bệnh tật một chút là mất pháp, chỉ còn thấy cái đau bệnh thôi, đến khi tai nạn, đến khi đối đầu cái chết thì làm sao nhiếp phục, làm sao chế ngự các cảm thọ.
Chúng ta nhàm chán với những tư tưởng, hình bóng, suy tư trong tâm được bao nhiêu phần hay vẫn còn yêu thích, khoan khoái, nắm giữ, chấp thủ? Nhìn cảnh như vầy mình có ái không? Có nghĩ rằng chùa tôi là của tôi không? Có khoan khoái, thích thú không? Mình xem lại tịnh thất mình ở, căn nhà, cái gường chõng có tâm luyến ái trong đó không, nhiều hay ít và mình phá được bao nhiêu? Nếu không mình sẽ trở lại làm cháu nội, cháu ngoại, nếu có phước làm người sẽ quay lại nhà đó nữa, trở lại cái chùa đó nữa rồi tiếp tục tham, sân, si, tiếp tục sầu, bi, khổ, ưu, não. Dùng thước đo về sự ái thủ trong năm uẩn này, dùng thước đo bản ngã xem nó hạ xuống được bao nhiêu, có bẻ gãy nó được chưa, nó hạ gục nó được chưa. Ngày nào cũng phải ngó, giờ nào cũng phải nhìn lại, giây phút nào cũng soi rọi vào trong, nội quán để nhìn xem thân xác này đang vận hành như thế nào, những cái gì đang có mặt bên trong, đang sanh khởi, đó là Tứ Niệm Xứ.
Độ dày vô minh của chúng ta vô cùng khủng khiếp, có khi học nhưng vẫn không biết vô minh là gì. Nó nằm trong cái thấy nghe, ngửi nếm, cảm thọ, sự tiếp xúc của mình, nó dày đặc trong đó, phải tập nhận diện vô minh trong suy nghĩ, vô minh trong cảm thọ, vô minh ở trong tưởng, nhận diện vô minh trong thức, nhận diện vô minh trong cả năm uẩn. Nếu cứ sống trong vô minh không có chánh niệm sẽ dễ rơi vào ba đường ác nếu không có thiện nghiệp vì bình thường còn không tỉnh táo nhận thức được cái thấy, nghe, nhận thức của mình, khi nghiệp quả đến là cận tử nghiệp thì vô minh còn hơn nữa, khi đó nó dẫn đi đâu mình cũng không biết.
Khi phóng sanh người ta thường đọc câu "do vô minh không tu chánh niệm cho nên rơi vào loài súc sanh làm thân lông lá, đội sừng", thành ra cái đầu tiên trong Bát Chánh Đạo là chánh kiến mà chánh kiến là phá vô minh thì mới đi ra khỏi ba đường ác. Từ những cái nhỏ nhìn ra những cái lớn, lúc mình đang tức giận, sân si là lúc đó vô minh đang điều khiển, sân điều khiển, bản ngã vô minh nhưng đầu tiên là vô minh vì đó là cái xúc trong vô minh, mà hễ xúc trong vô minh là có bản ngã, có sân hận, hơn thua, còn xúc trong trí tuệ thì không có bản ngã, không có hơn thua, không có sân si cho nên tu được chánh kiến thường xuyên là có khả năng chặn được những cái vô minh, tham ái, sân si, chấp thủ và bản ngã. Nhưng muốn nhìn bằng chánh kiến thì phải có mức độ trầm tĩnh nhất định, có rất nhiều pháp trong đó chứ không đơn giản chỉ học hiểu là có chánh kiến, học hiểu là ngay lúc đó nhưng khi trở ra mà không giữ cái thấy đó, không hộ trì các căn, tâm không bình tĩnh thì chỉ cần nghe hoặc thấy cái gì là sanh ra thọ, hành, không chỉ có ý hành mà có cả thân hành, khẩu hành đều tiếp xúc trong vô minh.
Bây giờ Minh Thành tu nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục các cảm thọ thì khác, tiếp xúc nhưng có phần thấy biết trong đó, ngày xưa chưa nhận diện ngũ uẩn thì thấy là la rầy trong vô minh, trong sân si, bản ngã nhưng bây giờ la rầy trong cái thấy biết, đưa cái pháp vào. Mình phải tập nhận diện cái xúc vì khi cái xúc tập khởi là thọ; tưởng; hành tập khởi nhưng nếu xúc chạm trong vô minh sẽ đi theo tham, sân, si, dục ái, bản ngã còn xúc trong trí tuệ sẽ đi theo hiểu và thương, từ bi hỷ xả. Cái thấy cái nghe, cái cảm giác, nhận thức này cần phải tu tập, phải có sự trầm tĩnh, sự an tịnh lắng dịu, phải có sự chánh niệm và tỉnh giác trong khi thấy nghe, ngửi nếm, xúc, biết.
Ăn trong vô minh sẽ rất khác với chánh quán thọ thực, thậm chí bắt ăn chánh quán thọ thực thấy khó chịu vì đã quen với cái ăn dục, tham, thích thú nhưng nếu chịu khó thì sẽ thành dễ chịu, hoan hỉ trong thiện pháp đó. Bước đi cũng vậy, ánh nhìn cũng vậy, suy nghĩ cũng vậy, lời nói cũng vậy, phải tập trầm tĩnh, tập có sự chánh niệm, tập kiểm soát trong cái thấy, nghe, nói năng, suy nghĩ, tập phòng hộ các căn vì chỉ khi phòng hộ các căn mới đưa mình đến ít lỗi lầm và không có lỗi lầm, cái phòng hộ đó cũng là một sự cẩn thận và thận trọng.
Có rất nhiều pháp trong đó, trong nhận diện ngũ uẩn không chỉ đơn giản là nhận diện ngũ uẩn không mà trí mình sẽ thành tựu trong cái nhận diện ngũ uẩn đó, thiện pháp và bất thiện pháp sẽ sáng tỏ, lộ trình tâm sẽ được thanh tịnh, trong sáng, mình sẽ thấy biết các pháp khi nó sanh khởi. Phải cảm thấy sợ khi sống trong vô minh, phải tập nhận diện ngũ uẩn nhìn ra được vô minh trong năm uẩn, có khi nào đang nhận diện ngũ uẩn mà mình thấy ra mình đang suy nghĩ trong vô minh không? Lúc đó đang chống đối Chánh Pháp, chống đối với những lời góp ý tốt lành.
III. Vô Minh
Vô minh là thức ăn cho hữu ái, chỉ có chánh giải thoát mới đâm thủng được vô minh uẩn, vô minh là cấu nhiễm lớn nhất và thuốc độc chính là vô minh. Vô minh tháp tùng trong cả ba hành, tức là thân hành, khẩu hành và ý hành.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
Ở đây, Thế Tôn nói như sau:
-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một ngôi nhà có nóc nhọn cao, phàm có những cây kèo xa nào, tất cả chúng đều đi đến góc nhọn, đều quy tựa vào góc nhọn, đều châu đầu vào góc nhọn, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm có những bất thiện pháp nào, tất cả chúng đều lấy vô minh làm cội rễ, đều lấy vô minh làm điểm tựa, đều châu đầu vào vô minh, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng ta hãy sống không phóng dật'". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương XI. Tương Ưng Thí Dụ, I. Chóp Mái)
Đức Phật ví dụ một ngôi nhà cao có nóc nhọn thì những cây kèo, xà, cột đều quy tựa vào góc nhọn, cũng giống vậy, có những pháp ác, bất thiện, những sai lầm, tội lỗi ấy đều lấy vô minh làm điểm tựa. Buông lung phóng dật là thả lỏng các căn, nhìn vào người buông lung là biết ngay, một người có chánh niệm và tỉnh giác, một người có thu nhiếp sáu căn thì cái đi, đứng, ngồi, nằm sẽ thể hiện ra điều đó, một người thả lỏng các căn, buông lung phóng dật nhìn vào cũng biết ngay.
Điều này phải chiến đấu kiên cường, nhiều khi đến chết cũng không nhiếp phục được các căn vì thói quen cái hấp tấp, vội vàng, lăng xăng, tất bật, quen ăn to nói lớn, cái đó không tu được thì đừng mong tu được những pháp sâu sắc vì đây là nền tảng căn bản, thu thúc lục căn thanh tịnh giới, công phu của người tu là lấy cái này làm thước đo vỏ ngoài của phạm hạnh. Vỏ ngoài của phạm hạnh tức là thu thúc lục căn, thu thúc là đối ngược với thả lỏng, buông lung phóng dật, phải làm sao để thu thúc được trong bước đi, lời nói, cử chỉ, phải chiến thắng được sự thúc giục bên trong, vì không nhận diện sâu sắc ngũ uẩn nên không biết lúc đó dục đang hoạt động.
Tại sao mình lại đi nhanh? Tại sao mình lại nói huyên thuyên, người ta yêu cầu dừng nhưng vẫn nói? Đó là dục đang hoạt động nhưng cũng không biết, đó là vô minh rồi bản ngã sanh, sân si sanh ra nên cứ nói rồi cự cãi cho nên vô minh là cái góc nhọn mà tất cả pháp bất thiện đều châu đầu vào đó, nhiều khi câu chuyện đã qua rồi nhưng vẫn nhắc lại, điều này trong giới luật có nhắc đến, đó là phạm giới.
Nếu mình nghĩ tánh tình như vậy đã quen rồi làm sao sửa được thì cái suy nghĩ đó sẽ giết chết đời tu của mình. Tu là hiện pháp, tức là mình bắt đầu ngay lúc nhận thức được pháp, lúc đó là lúc bắt đầu ra tay hạ thủ công phu, còn nghĩ rằng đi nhanh quen rồi, ăn to nói lớn quen rồi không sửa được thì như vậy đừng tu, suy nghĩ đó là một ý nghĩ chấp thủ, ác và bất thiện pháp. Tu là sửa đổi mà giờ mình không chịu sửa thì làm sao tu?
Mình nói rằng "tôi là vậy đó, chịu hay không chịu thì tôi về" vậy là khỏi tu, có khi miệng không nói ra nhưng trong bụng lại nghĩ như vậy, đó là mình đã chấp nhận ác ma, chấp nhận làm phàm phu chứ không trở thành bậc Thánh đệ tử, một ý hành đó thôi sẽ giết chết đời tu, sự nghiệp tu hành, tương lai phạm hạnh của mình hoàn toàn là con số 0 vì thế vô ngã trong suy nghĩ là cực kì quan trọng, cung kính pháp trong suy nghĩ là tuyệt đối quan trọng vì pháp Đức Phật nói như vậy, mình làm theo được thì mình thành tựu, ngược lại mình nói rằng mình không thể theo được là mình không tu theo pháp, chống đối với pháp nên không thể thành tựu pháp, thế là quy y pháp bất thành chỉ trong một suy nghĩ.
Mình cho rằng bản thân xưa giờ nóng tánh quen rồi nên giờ tu tâm từ không được, vậy là thất bại. Thứ nhất là mình bất kính với pháp, chống đối pháp, không chấp nhận học pháp thì làm sao tu, như vậy tâm đó không quy y pháp, không thành tựu pháp quy y, không thành tựu pháp quy giới nên không thể thành Thánh đệ tử, chính vì vậy quy y tam bảo vô cùng sâu sắc, nếu thành tựu viên mãn pháp quy y sẽ trở thành các bậc Thánh, còn mới quy y trên hình thức ban đầu là để cho mình thực tập.
Cho đến lúc nào tâm của mình hoàn toàn tùy thuận Thánh pháp, không chống đối bất cứ một pháp nào của Đức Phật đưa ra thì thành tựu quy y pháp cũng là lúc Nhập Lưu, cũng là lúc chính thức tham dự vào dòng chảy của Thánh tuệ. Điều căn bản là trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, biết ơn, tôn trọng là những thứ thu thúc lục căn, đó là một cách nói khác, nếu không thu thúc thì làm sao trang nghiêm, không thu thúc thì làm sao thanh tịnh, nếu không biết ơn, nhớ ơn thì làm sao tôn kính, thành ra trong đó có thu thúc lục căn thanh tịnh và cái pháp của bậc chân nhân.
IV. Tinh cần – thu thúc lục căn
Lúc đó con chưa đi vào kinh tạng Nikāya mà con đã nhìn ra được những nền tảng cốt lõi để thành tựu một người tu cho nên thu thúc lục căn rất quan trọng, Đức Phật đã nói trong rất nhiều bài kinh rằng chớ có buông lung phóng dật, nếu ai cũng biết tu phòng hộ, bảo hộ, thu nhiếp sáu căn thì đó là đạo tràng tối thượng, đó là đạo tràng tinh ba chứ không phải đạo tràng cặn bã vì sẽ không có bất cứ điều gì làm bất hòa được, dù có bất hòa cũng rất nhẹ nhàng chứ không có đấu khẩu vì ai cũng thu nhiếp sáu căn, không có ai thả lỏng buông lung lời nói "sư tỷ không đồng ý thì cho muội xin sám hối", vậy là xong, do có thu thúc lời nói, có nhiếp phục, chế ngự lời nói thì đó là đạo tràng tối thượng.
Muốn phá vô minh thì điều đầu tiên là không được buông lung, tại sao lại như vậy vì thường sẽ dùng trí tuệ để phá vô minh nhưng ở đây lại không được buông lung phóng dật để trị vô minh? Muốn có trí tuệ thì phải có định tĩnh, muốn có định tĩnh thì phải có giới, muốn có giới thì phải thu thúc sáu căn, đó là trình tự của pháp, gọi là pháp nhĩ như thị tức là nó vận hành như vậy, trình tự như vậy, hệ nhân quả của nó như vậy.
Cho nên thu thúc lục căn cũng là giới, mình đừng nghĩ những giới lớn mới là giới, còn cái nhỏ không phải nên xem thường, chính cái xem thường sẽ từ từ làm mất giới vì thế nhất là người xuất gia, kế đó là những vị về tu và sau cùng là những vị trong đạo tràng Nikāya phải tập cho được thu nhiếp lục căn, phải phòng hộ, giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý.
Nếu chưa chế ngự được ý thì ít nhất cũng phải chế ngự được thân vì ý quá vi tế, quá nhanh, quá nhỏ nhiệm nhưng cái thân là có hình tướng, là cái thô phù bên ngoài nên mình phải chế ngự được, đó là bước thành tựu thứ nhất, là vỏ ngoài của phạm hạnh, nếu suy nghĩ "mình làm không được" thì suy nghĩ đó giết chết mình, suy nghĩ đó không tu được, suy nghĩ đó là ác ma, suy nghĩ đó là chống đối Thánh pháp, là bất kính với tam bảo. Giả sử mình nói "tập khí con nặng nề quá, đã quen từ nhỏ đến giờ nên con sẽ cố gắng sửa từ từ" thì còn được, đó là ý nghĩ hiền thiện từ từ khắc phục, còn ý nghĩ ban đầu là không được cho nên trong ý nghĩ quyết định sự tu hành của mình.
Khi Minh Thành bước vào thiền đường, Ni xá hoặc gặp đại chúng an tịnh lắng dịu là Minh Thành rất vui, còn nghe ồn ào là không thấy vui, không hoan hỉ. Chúng ta ồn ào, lăng xăng vì chuyện không đáng nên con không thấy vui trong lòng, những bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác là những bậc an tịnh trầm lặng và mình phải học theo sự an tịnh trầm lặng đó.
Có một hôm các thầy Tỳ-kheo đang pháp đàm ồn ào, Thế Tôn đi đến nhưng các thầy Tỳ-kheo không nhận ra vì ngài đi rất nhẹ nhàng an tịnh, đến khi gần kết thúc cuộc nói chuyện thì Thế Tôn nói tằng hắng nên các thầy Tỳ-kheo mới biết rồi mời Thế Tôn vào ngồi. Sau đó Thế Tôn nói các thầy Tỳ-kheo nói pháp dài ta nghe đến mỏi lưng, các thầy Tỳ-kheo hỏi rằng sao Thế Tôn không lên tiếng thì ngài trả lời ngài tôn kính pháp, không muốn làm gián đoạn buổi pháp đàm của các vị Tỳ-kheo.
Chúng ta hãy lấy câu chuyện này làm đề mục quán chiếu, Thế Tôn là pháp nhãn, là pháp chủ, là con mắt của pháp, là gốc rễ của pháp, là nơi pháp được thuyết ra mà ngài nói "Ta tôn kính pháp", ngài sợ làm gián đoạn buổi pháp đàm. Qua đây chúng ta thấy sự an tịnh và trầm lặng của ngài đến mức nào, còn chúng ta bây giờ đi đến đâu là trống kèn đến đó, vì thế trong các buổi giảng của con không có người thỉnh khánh, chuông, lò trầm hay khay lễ gì cả mà chỉ im lặng bước vào vì con học theo sự trầm lặng của Đức Phật. Đức Thế Tôn đứng chờ như vậy trong im lặng, còn mình đi đâu cũng đăng hình đăng ảnh lên, làm như vậy để làm gì, đó là bản ngã khoe khoang phô trương.
Nếu học theo sự an tịnh trầm lặng của Thế Tôn thì ai trong đạo tràng Linh Quy cũng đẹp, tất cả Phật tử trong nước hay ngoài nước đều muốn về cùng nhau tu học, người ta thấy những buổi tu học của mình xúc động quá nhưng nếu trở về sống chung thấy không đẹp là người ta bỏ chạy, thấy trên hình đẹp quá mà trở về thấy không có ai sống an tịnh trầm lặng gì cả.
Nếu mình giữ được sự an tịnh trầm lặng đó cũng là một sự hoằng pháp lợi sanh, cũng đã đóng góp vào việc chuyển pháp luân, mình cứ nghĩ lợi tha là phải đi khắp nơi hoằng pháp nhưng không phải vậy mà có khi im lặng cũng đã là độ mình độ người, trong từng oai nghi, cử chỉ của mình vừa là sự thành công cho mình vừa tác thành cho người cho nên sự thu nhiếp sáu căn, không thả lỏng các căn, không buông lung phóng dật là vô cùng quan trọng trong đạo tràng chúng ta, cái đó mới có thể làm cho đại chúng trở nên hiền thiện, tinh ba chứ không phải là đại chúng cặn bã, đại chúng thù thắng chứ không phải đại chúng hạ liệt, thấp hèn.
Con xuất gia đến nay đã 30 năm mà đến nay mỗi bước chân đi đều phải để ý, lúc nào thấy đi vội vàng là thấy xấu hổ, mặc bộ đồ phải phù hợp với người tu, dáng ngồi cũng phải phù hợp, đó là niệm oai nghi trong Tứ Niệm Xứ, đó chính là gia vụ việc nhà của mình, làm được những cái này là điều đương nhiên chứ không phải làm được là tài giỏi, còn không làm được là xấu hổ, hổ thẹn vì Thân Hành Niệm là món ruột của người xuất gia, là công vụ của người xuất gia cho nên những khi làm việc hay có khóa tu là mình phải cẩn thận, tu trong lúc động. Bình thường mình tu trong lúc tĩnh lặng đã quen nên trong lúc động là những lúc làm bài tập và thi, lúc đó tu được, giữ được thì mới tiến bộ, còn tu quen trong khóa tu thôi còn khi hữu sự thì mình bị mất công lực. Cũng như cao thủ võ lâm lúc bình thường đánh võ giỏi nhưng đến khi ra trận thật lại đánh không được, như vậy làm sao được gọi là cao thủ, người ta chỉ công nhận là cao thủ lúc xung trận chứ không phải lúc bình thường ngồi nói chuyện.
Những lúc ăn cơm mỗi người ôm bình bát đi trong sự nhẹ nhàng thật là đẹp, chúng ta là khất sĩ và những vị cư sĩ cũng phải tập làm khất sĩ ít nhất là trong thời gian ở đây. Lúc nào cũng phải tập an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng để chất hiền từ, bình yên, tỉnh giác chánh niệm ngấm vào cả con người rồi mình mang chất liệu của chánh niệm, của sự bình yên này đi về nhà để nuôi dưỡng cho mình và nuôi dưỡng cho những người thân thương nhất trong gia đình mình.
Phải làm sao sau khi tu học trên núi về thì trong người mình lan tỏa ra những cảm giác bình yên, ấm áp, những oai nghi cao đẹp của người tu, chồng mình, con mình, cha mẹ, anh chị em mình có thể cảm nhận được, Minh Thành thường nói có các cảm: cảm nhận, cảm động và sau cùng là cảm hóa. Mình kêu gọi mọi người tu kinh Nikāya nhưng người ta không thấy có cái gì hay thì làm sao người ta tu?
Trước hết trong con người mình phải thành tựu đôi phần thì nói ra người ta mới tin, thậm chí chưa nói người ta đã cảm nhận được, còn nếu mình không có cái gì trong con người mình, tu vài năm cũng y như trước khi tu thì làm sao nói người ta nghe cho nên vỏ ngoài của phạm hạnh rất quan trọng, kế đó mới đến bên trong, giác cây rồi mới đến lõi cây. Lõi cây bên trong là vô chấp thủ, giải thoát nhưng đó là mục đích cuối cùng, đầu tiên phải được ở bên ngoài, còn mới bước vào đã đòi phá hết chấp thủ còn những cái khác không cần tu là không được, đó là phàm phu không theo trình tự của pháp, muốn vượt qua bậc đạo sư. Mọi người từ khắp nơi lên núi tu học, cùng chung sống dưới một mái nhà.
Mỗi người mỗi nước mỗi non,
Bước vào cửa Phật là con một nhà.
(Ca dao Phật giáo)
Tất cả trở về đều là những người hiền thiện, hiền trí, đó là nhờ chúng ta có sự giữ gìn với nhau. Mỗi người giữ gìn cho mình cũng là giữ gìn cho người khác, còn không giữ gìn cho mình là không giữ gìn cho người khác. Khi tu phải khéo léo trong hai phương diện là hỷ và ưu, lúc trước khi chưa đi vào dòng pháp Nikāya thì mình ở trong cảm thọ bất khổ bất lạc, cứ tụng kinh niệm Phật đều đều chứ không có nhiều sự ưu tư hay vui vẻ.
Khi mình tu vào dòng pháp Nikāya thì quan trọng nhất là sự nhận diện ngũ uẩn, đó là chìa khóa mở cánh cửa nội tâm, đây là bước ngoặc khác biệt lớn nhất trong tất cả mọi sự tu tập trước nay của mình. Lúc trước mình không đọc được thân tâm một cách chính xác đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ cho nên khi mở được cánh cửa nội tâm thì mình sẽ thấy sốc và hiện tại chúng ta đang sốc và cái này là một điều tốt.
Nhìn ra được những cấu uế, lậu hoặc, ô nhiễm của tâm đến nỗi chính mình cũng căng thẳng, cảm thấy sợ hãi là một điều tốt, cũng như căn nhà bỏ hoang mấy chục năm bây giờ mở cửa ra thấy chuột, kiến, gián… đó là điều tốt, đó là bắt đầu mở được con mắt pháp và ai tu trong dòng pháp này cũng đều như vậy, nếu không như vậy thì không đúng vì đó là trình tự của pháp.
Bản thân con cũng như vậy, trước khi vào dòng pháp này cũng nghĩ mình tu ngon lành lắm rồi, bản ngã cũng hạ thấp lắm rồi, tham, sân, si cũng mỏng lắm nhưng khi nhận diện ra thì thấy hỡi ơi, thấy bàng hoàng, lúc trước mình đi lang thang nhìn bên ngoài chứ không nhìn vào căn nhà nội tâm. Khi thấy rác bẩn, cấu uế trong tâm là tốt vì sau khi thấy sẽ bắt tay vào dọn dẹp, vệ sinh, lau chùi, sự vận hành của pháp phải như vậy, không thể khác hơn, nếu một người đã thấy sự dơ bẩn mà không quét dọn thì điều đó không thể xảy ra. Mình lấy ví dụ căn nhà không được lau chùi trong vài chục năm đã dơ đến thế thì rác bẩn trong tâm là vô thỉ kiếp đến nay thì còn dơ đến cỡ nào.
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Mình đã đi hoang trong dòng luân hồi lục đạo này vô lượng vô biên, vô số kiếp thì căn nhà nội tâm dơ đến cỡ nào? Phải quét trong bao lâu mới sạch hoàn toàn? Thật ra nếu chịu quét dọn thì không bao lâu, do mình đui mù không thấy thì lâu sạch, còn một khi con mắt đã mở ra thấy được thì không lâu sẽ sạch nếu siêng năng, nỗ lực. Cho nên sự xúc động, sự chấn động, sự hổ thẹn tàm quý cũng là sự vận hành của pháp, dòng chảy của tàm quý sẽ đưa mình đến sự gội rửa thân tâm, sự xấu hổ sợ hãi đó sẽ dẫn đến hệ quả của nó là tu sửa, điều chỉnh và đi đến chỗ sạch sẽ, thanh tịnh là không lâu nếu mình thực hành theo Tám Đúng.
Thêm một điều nữa mình phải khéo léo là phải biết tác ý hỷ lạc, một người đang ở trong hố than hừng nhưng được cứu thoát ra khỏi đó thì tất nhiên phải vui mừng, người bị rớt xuống đầm lầy nhưng có người kéo lên thì phải vui, người ở trong bóng đêm đen dài mà bây giờ có ánh sáng để thấy đường thì phải vui. Mình phải tác ý si, vô minh là bóng đêm, bây giờ mình có được ánh sáng nhưng đó không phải ánh sáng thường, đó là ánh sáng của Thánh tuệ nên mình phải vui, mình thấy được vô minh của chính mình, thấy được si ám của chính mình. Tham là đầm lầy của ngũ dục mà giờ mình bắt đầu có tâm từ bỏ, tâm thoát ra, mình được các bậc thiện tri thức, thầy lành bạn tốt kéo mình ra khỏi đầm lầy của tham dục thì phải thấy hạnh phúc.
Mình bị đốt cháy trong hố than hừng mà giờ được thoát ra thì phải thấy vui. Phải thường quán chiếu như vậy, mình thoát khỏi bóng đêm, thoát khỏi đầm lầy, thoát khỏi hố than hừng, thoát khỏi căn nhà lửa, nếu không biết tác ý sẽ thấy buồn chán, suốt ngày chỉ thấy lỗi lầm nhưng nếu giờ này mình ở dưới phố thị là mình đang đốt lửa, đang bị lún sâu trong đầm lầy, đang sinh hoạt trong bóng tối của vô minh. Lúc nào cũng tác ý liên tục ba hình ảnh đó, thoát khỏi đầm lầy, có được ánh sáng và thoát ra khỏi hố than hừng, căn nhà lửa nên được mát mẻ.
Người nào nhiệt tâm nhiệt tình hay lo chuyện thiên hạ thì người này cũng hay để ý chuyện người ta thì đó là cái dở, song song với cái tốt là cái dở, mình phải biết chuyện nào là chuyện cần giúp mọi người và chuyện nào cần phải đóng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý lại, nếu cứ nhiệt tình lại thêm không hiểu biết thì ra phá hoại cho mình, phá hoại cho người, rất nhiệt tình nên thấy ai cũng muốn chỉ, thấy ai cũng muốn giúp rồi lãnh phiền não, sân si, khổ đau cho nên không phải ai mình cũng chỉ, ai mình cũng nói, không phải ai mình cũng nhìn, phải biết cái nào cần nhiệt tình, cái nào cần tu sửa cho chính mình, yên lặng cũng là chiến thắng mình và giúp đỡ cho người khác.
Bây giờ mình phải tác ý hỷ lạc "sống ở đây vui quá, không cần chạy đuổi như ngày xưa", "sống ở đây không cần sân hận, không tức giận như lúc trước", "sống ở đây vui quá không phải tất bật, dao động", "sống ở đây vui quá, được tỉnh giác chánh niệm chứ không sống trong si ám, vô minh", "sống ở đây vui quá không nghi ngờ đối với chánh pháp, ngũ uẩn đã được nhìn thấy một cách rõ ràng, minh bạch, niềm tin xác quyết bất động".
Thường xuyên ác ý hiện tại lạc trú, trong giai đoạn này tiếp tục tác ý thiền tâm hỷ, đó là sự thiện xảo khéo léo trong cách dụng tâm tùy vào thời điểm. Hãy để cho những cảm thọ hiền thiện, trí tuệ xúc chạm vào sự thật sanh khởi ra để tẩy rửa hết những cái vô minh, hắc ám, si mê, có chết cũng không sợ, ngoài kia người ta mất mạng vì đi du lịch, vì ăn chơi rất nhiều còn mình tu mà chết là tốt.
./.
Vô Minh 7 - Thu Nhiếp Sáu Căn
Không Buông Lung Phóng Dật
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nỗ lực nhận thấy khổ PAGEREF _Toc181295212 \h 1
II. Cảm thọ là khổ PAGEREF _Toc181295213 \h 3
III. Vô Minh PAGEREF _Toc181295214 \h 6
IV. Tinh cần – thu thúc lục căn PAGEREF _Toc181295215 \h 8
I. Nỗ lực nhận thấy khổ
Khi con mắt nhìn thì mình có thiền không? Khi lỗ tai nghe tiếng mình có thiền không? Những cảm xúc của mình khi tiếp xúc sanh ra cảm thọ mình có thiền không? chúng ta nhìn trong vô minh, cầm trong vô minh, đặt để trong vô minh, học trong vô minh, tu trong vô minh nên kết quả cả đời tu là được cái đại vô minh. Thật là đau xót cho chúng ta!
Thương thay tâm mờ tối
Chúng sanh đáng thương thay.
Thấy, nghe, nói, làm việc, suy nghĩ như vậy nhưng đều ở trong vô minh, không biết mình đang làm gì, không biết làm cái đó để được cái gì mà làm như một cái xác không hồn, như một thây ma cho nên người nào không biết lo lắng là người đó không thể tu được, người nào không biết sợ hãi người đó tu không được, người nào không biết đề phòng, canh chừng người đó không tu được, người nào không có ưu tư, trăn trở, không có thao thức người đó không tu được.
Người tu thật sự phải giống như đang đưa đám ma mẹ mình, giống như một người nhận tin báo bác sĩ bị ung thư giai đoạn cuối, nếu là một người chân tu thì phải ở trong tâm thái đó, người biết tu là người nhìn thấy đại khổ uẩn này là một đống khổ to lớn, vĩ đại đang bao quanh chúng ta, nếu quên đi cái khổ này thì không thể tu được mà chỉ sống trong sự thả lỏng các căn, buông lung phóng dật, mình sống trong sự vô cảm đối với các sự thật mà bậc Thánh truyền trao.
Được nghe về Khổ Thánh Đế nhưng cứ trơ ra vì không thấy khổ nên không có cảm xúc, sở dĩ chúng ta nghe được, chúng ta cảm xúc chấn động được là vì chúng ta biết nhận diện ngũ uẩn, biết thiền quán, còn cái học bây giờ ngồi nghe giảng Tứ Thánh Đế mà cười tươi, không thấy khổ ở đâu cả nên làm sao khóc, đó là cái tâm bị bao phủ trong bóng đêm, tâm rừng rậm, tâm hoang vu, tâm chưa được khai phá. Mình làm gì cũng không biết, nói gì cũng không biết thì huống hồ gì mình nghĩ, những cái pháp thô còn không thấy được thì những cái pháp vi tế, thâm sâu trong sự ngấm ngầm hoạt động của các cảm thọ dục, ái, sân, si làm sao thấy được.
Đó là lý do Đức Phật không muốn thuyết pháp, chúng sanh sống trong vô minh, tham ái, bản ngã mà Đức Phật nói về diệt dục phá ngã thì làm sao họ chịu, họ sẽ chống đối không muốn nghe vì thế khi chúng ta không thấy lo lắng, không thấy sợ hãi, không biết khổ đau thì không thể tu được. Ngồi cho thấy hình thức là đầu tròn áo vuông có màu sắc cho vui nhưng không phải là bậc Thánh đệ tử, người chân tu là người rất ưu tư, trăn trở, rất lo lắng, sợ hãi, sợ hãi dòng luân hồi này, sợ hãi những tai họa, bất an đang rình rập khắp mọi nơi.
Thưa các bậc hiền trí, lúc nào bước lên xe con cũng nghĩ không thể đến nơi cần đến được, lúc nào lên máy bay cũng nghĩ sẽ không đến chỗ được cho đến khi nào đến nơi bước vào cửa thì lúc đó biết là đã đến, biết rằng có được một chút an ổn trong chặng đường lần này. Trong một tháng nay có sáu chục ngàn ca nhiễm sốt xuất huyết và bây giờ trở thành dịch sốt xuất huyết rất nguy hiểm, tăng 97% so với năm trước, còn ở Hà Nội nhiệt độ ngoài mặt đường giữa trưa lên đến 60 độ, còn nhiệt độ trung bình là 38 độ, bên Pháp nhiệt độ hơn 40 độ, còn Ấn Độ và Bangladesh bị lũ lụt cướp đi hàng triệu căn nhà và biết bao sinh mạng đã chết, bên Trung Quốc cũng bị bão lụt cuốn trôi nhà cửa, xe cộ, ngoài ra những biến thể Covid 19 lại bắt đầu xuất hiện. Thật sự chỉ có người mù, người vô tri vô cảm mới sống một cách dễ vui, sống buông thả, sống vô tri, còn người có mắt rất lo sợ, bất an và họ nghĩ rằng không kịp nữa, tu còn chưa kịp chứ đừng nói gì không tu.
Tại sao người ta thích nghe giảng chọc cười? Vì người ta đi làm cả ngày căng thẳng, mệt mỏi nên đến chùa nghe cái gì vui cười cho giải trí, còn đạo tràng mình ngồi lại là khổ đau, khóc lóc, Đức Thế Tôn nói rằng ngài và các vị Tỳ-kheo luân hồi lâu dài nhiều năm, nhiều kiếp, nhiều đời là do không thấy được Khổ Thánh Đế, cái thấy Khổ Thánh Đế này không phải chỉ trong lúc đọc kinh, không phải lúc thấy người chết, bị tai nạn mà khi gặp người đẹp đẽ, thành đạt, người có tiếng tăm, cho đến lúc nào nhìn vào đám cưới, đi chung với minh tinh điện ảnh mà nhìn vào mắt họ, nhìn vào tâm họ vẫn thấy một đống khổ đau, không thấy thật sự có cái gì vui trên thế giới này thì đó mới là Khổ Thánh Trí.
Nếu còn thấy vui, thích một cái gì thì mình còn ham muốn, còn thèm khát, còn mong chờ, truy tìm, tâm mình không thể an tịnh, lắng dịu được, không thể hoàn toàn tịch tịnh được. Phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần thì tất cả các sắc cũng phải được nhìn kĩ, nhìn sâu, nhìn thấu đáo, nhìn tận tường nó là pháp biến hoại, vô thường, tan rã, hủy hoại, hoại diệt, nó là pháp bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, nó là hang ổ của bệnh tật, sầu đau, nó là kẻ giết người, tất cả các hình sắc, bao gồm thân hình này là ổ chứa nhóm bệnh tật, là căn cứ của tất cả mối lo, là nền tảng của hiểm họa và tai ương, là cơ sở của sự bất an, bất trắc. Trí huệ này chúng ta thẩm thấu được bao nhiêu? Một ngày mình nhớ được bao nhiêu? Khi ngồi thiền mình quán được bao nhiêu hay chỉ nghe qua một chút là quên? Chúng ta thẩm thấu được sắc uẩn này là khổ đau, là bệnh tật, là tai nạn được bao nhiêu phần?
II. Cảm thọ là khổ
Phàm có thọ gì, bây giờ hay trước kia, vi tế hay thô phù, vui sướng hay khổ đau thì tất cả cảm giác đó phải quán chiếu nó là ung nhọt, bệnh tật, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, là hố than hừng, phải quán chiếu nó là ngọn lửa bốc cháy thiêu đốt tự thân, thiêu đốt tha nhân, thiêu đốt hữu tình, thiêu đốt chúng sanh. Phàm tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Phải nhàm chán đối với tất cả cảm thọ, không cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Trí huệ này chúng ta thâm nhập được bao nhiêu? Mỗi ngày mình nhìn ra được các cảm thọ trong mấy tiếng hay buông ra là nhập cuộc chung với nó? Mình có tách mình ra khỏi cảm thọ không? Mình có quán thọ trên các thọ không? Đau nhức một chút là chịu không nổi, lạnh quá hay nóng quá là khó chịu, tê chân, bệnh tật một chút là mất pháp, chỉ còn thấy cái đau bệnh thôi, đến khi tai nạn, đến khi đối đầu cái chết thì làm sao nhiếp phục, làm sao chế ngự các cảm thọ.
Chúng ta nhàm chán với những tư tưởng, hình bóng, suy tư trong tâm được bao nhiêu phần hay vẫn còn yêu thích, khoan khoái, nắm giữ, chấp thủ? Nhìn cảnh như vầy mình có ái không? Có nghĩ rằng chùa tôi là của tôi không? Có khoan khoái, thích thú không? Mình xem lại tịnh thất mình ở, căn nhà, cái gường chõng có tâm luyến ái trong đó không, nhiều hay ít và mình phá được bao nhiêu? Nếu không mình sẽ trở lại làm cháu nội, cháu ngoại, nếu có phước làm người sẽ quay lại nhà đó nữa, trở lại cái chùa đó nữa rồi tiếp tục tham, sân, si, tiếp tục sầu, bi, khổ, ưu, não. Dùng thước đo về sự ái thủ trong năm uẩn này, dùng thước đo bản ngã xem nó hạ xuống được bao nhiêu, có bẻ gãy nó được chưa, nó hạ gục nó được chưa. Ngày nào cũng phải ngó, giờ nào cũng phải nhìn lại, giây phút nào cũng soi rọi vào trong, nội quán để nhìn xem thân xác này đang vận hành như thế nào, những cái gì đang có mặt bên trong, đang sanh khởi, đó là Tứ Niệm Xứ.
Độ dày vô minh của chúng ta vô cùng khủng khiếp, có khi học nhưng vẫn không biết vô minh là gì. Nó nằm trong cái thấy nghe, ngửi nếm, cảm thọ, sự tiếp xúc của mình, nó dày đặc trong đó, phải tập nhận diện vô minh trong suy nghĩ, vô minh trong cảm thọ, vô minh ở trong tưởng, nhận diện vô minh trong thức, nhận diện vô minh trong cả năm uẩn. Nếu cứ sống trong vô minh không có chánh niệm sẽ dễ rơi vào ba đường ác nếu không có thiện nghiệp vì bình thường còn không tỉnh táo nhận thức được cái thấy, nghe, nhận thức của mình, khi nghiệp quả đến là cận tử nghiệp thì vô minh còn hơn nữa, khi đó nó dẫn đi đâu mình cũng không biết.
Khi phóng sanh người ta thường đọc câu "do vô minh không tu chánh niệm cho nên rơi vào loài súc sanh làm thân lông lá, đội sừng", thành ra cái đầu tiên trong Bát Chánh Đạo là chánh kiến mà chánh kiến là phá vô minh thì mới đi ra khỏi ba đường ác. Từ những cái nhỏ nhìn ra những cái lớn, lúc mình đang tức giận, sân si là lúc đó vô minh đang điều khiển, sân điều khiển, bản ngã vô minh nhưng đầu tiên là vô minh vì đó là cái xúc trong vô minh, mà hễ xúc trong vô minh là có bản ngã, có sân hận, hơn thua, còn xúc trong trí tuệ thì không có bản ngã, không có hơn thua, không có sân si cho nên tu được chánh kiến thường xuyên là có khả năng chặn được những cái vô minh, tham ái, sân si, chấp thủ và bản ngã. Nhưng muốn nhìn bằng chánh kiến thì phải có mức độ trầm tĩnh nhất định, có rất nhiều pháp trong đó chứ không đơn giản chỉ học hiểu là có chánh kiến, học hiểu là ngay lúc đó nhưng khi trở ra mà không giữ cái thấy đó, không hộ trì các căn, tâm không bình tĩnh thì chỉ cần nghe hoặc thấy cái gì là sanh ra thọ, hành, không chỉ có ý hành mà có cả thân hành, khẩu hành đều tiếp xúc trong vô minh.
Bây giờ Minh Thành tu nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục các cảm thọ thì khác, tiếp xúc nhưng có phần thấy biết trong đó, ngày xưa chưa nhận diện ngũ uẩn thì thấy là la rầy trong vô minh, trong sân si, bản ngã nhưng bây giờ la rầy trong cái thấy biết, đưa cái pháp vào. Mình phải tập nhận diện cái xúc vì khi cái xúc tập khởi là thọ; tưởng; hành tập khởi nhưng nếu xúc chạm trong vô minh sẽ đi theo tham, sân, si, dục ái, bản ngã còn xúc trong trí tuệ sẽ đi theo hiểu và thương, từ bi hỷ xả. Cái thấy cái nghe, cái cảm giác, nhận thức này cần phải tu tập, phải có sự trầm tĩnh, sự an tịnh lắng dịu, phải có sự chánh niệm và tỉnh giác trong khi thấy nghe, ngửi nếm, xúc, biết.
Ăn trong vô minh sẽ rất khác với chánh quán thọ thực, thậm chí bắt ăn chánh quán thọ thực thấy khó chịu vì đã quen với cái ăn dục, tham, thích thú nhưng nếu chịu khó thì sẽ thành dễ chịu, hoan hỉ trong thiện pháp đó. Bước đi cũng vậy, ánh nhìn cũng vậy, suy nghĩ cũng vậy, lời nói cũng vậy, phải tập trầm tĩnh, tập có sự chánh niệm, tập kiểm soát trong cái thấy, nghe, nói năng, suy nghĩ, tập phòng hộ các căn vì chỉ khi phòng hộ các căn mới đưa mình đến ít lỗi lầm và không có lỗi lầm, cái phòng hộ đó cũng là một sự cẩn thận và thận trọng.
Có rất nhiều pháp trong đó, trong nhận diện ngũ uẩn không chỉ đơn giản là nhận diện ngũ uẩn không mà trí mình sẽ thành tựu trong cái nhận diện ngũ uẩn đó, thiện pháp và bất thiện pháp sẽ sáng tỏ, lộ trình tâm sẽ được thanh tịnh, trong sáng, mình sẽ thấy biết các pháp khi nó sanh khởi. Phải cảm thấy sợ khi sống trong vô minh, phải tập nhận diện ngũ uẩn nhìn ra được vô minh trong năm uẩn, có khi nào đang nhận diện ngũ uẩn mà mình thấy ra mình đang suy nghĩ trong vô minh không? Lúc đó đang chống đối Chánh Pháp, chống đối với những lời góp ý tốt lành.
III. Vô Minh
Vô minh là thức ăn cho hữu ái, chỉ có chánh giải thoát mới đâm thủng được vô minh uẩn, vô minh là cấu nhiễm lớn nhất và thuốc độc chính là vô minh. Vô minh tháp tùng trong cả ba hành, tức là thân hành, khẩu hành và ý hành.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
Ở đây, Thế Tôn nói như sau:
-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một ngôi nhà có nóc nhọn cao, phàm có những cây kèo xa nào, tất cả chúng đều đi đến góc nhọn, đều quy tựa vào góc nhọn, đều châu đầu vào góc nhọn, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm có những bất thiện pháp nào, tất cả chúng đều lấy vô minh làm cội rễ, đều lấy vô minh làm điểm tựa, đều châu đầu vào vô minh, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng ta hãy sống không phóng dật'". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương XI. Tương Ưng Thí Dụ, I. Chóp Mái)
Đức Phật ví dụ một ngôi nhà cao có nóc nhọn thì những cây kèo, xà, cột đều quy tựa vào góc nhọn, cũng giống vậy, có những pháp ác, bất thiện, những sai lầm, tội lỗi ấy đều lấy vô minh làm điểm tựa. Buông lung phóng dật là thả lỏng các căn, nhìn vào người buông lung là biết ngay, một người có chánh niệm và tỉnh giác, một người có thu nhiếp sáu căn thì cái đi, đứng, ngồi, nằm sẽ thể hiện ra điều đó, một người thả lỏng các căn, buông lung phóng dật nhìn vào cũng biết ngay.
Điều này phải chiến đấu kiên cường, nhiều khi đến chết cũng không nhiếp phục được các căn vì thói quen cái hấp tấp, vội vàng, lăng xăng, tất bật, quen ăn to nói lớn, cái đó không tu được thì đừng mong tu được những pháp sâu sắc vì đây là nền tảng căn bản, thu thúc lục căn thanh tịnh giới, công phu của người tu là lấy cái này làm thước đo vỏ ngoài của phạm hạnh. Vỏ ngoài của phạm hạnh tức là thu thúc lục căn, thu thúc là đối ngược với thả lỏng, buông lung phóng dật, phải làm sao để thu thúc được trong bước đi, lời nói, cử chỉ, phải chiến thắng được sự thúc giục bên trong, vì không nhận diện sâu sắc ngũ uẩn nên không biết lúc đó dục đang hoạt động.
Tại sao mình lại đi nhanh? Tại sao mình lại nói huyên thuyên, người ta yêu cầu dừng nhưng vẫn nói? Đó là dục đang hoạt động nhưng cũng không biết, đó là vô minh rồi bản ngã sanh, sân si sanh ra nên cứ nói rồi cự cãi cho nên vô minh là cái góc nhọn mà tất cả pháp bất thiện đều châu đầu vào đó, nhiều khi câu chuyện đã qua rồi nhưng vẫn nhắc lại, điều này trong giới luật có nhắc đến, đó là phạm giới.
Nếu mình nghĩ tánh tình như vậy đã quen rồi làm sao sửa được thì cái suy nghĩ đó sẽ giết chết đời tu của mình. Tu là hiện pháp, tức là mình bắt đầu ngay lúc nhận thức được pháp, lúc đó là lúc bắt đầu ra tay hạ thủ công phu, còn nghĩ rằng đi nhanh quen rồi, ăn to nói lớn quen rồi không sửa được thì như vậy đừng tu, suy nghĩ đó là một ý nghĩ chấp thủ, ác và bất thiện pháp. Tu là sửa đổi mà giờ mình không chịu sửa thì làm sao tu?
Mình nói rằng "tôi là vậy đó, chịu hay không chịu thì tôi về" vậy là khỏi tu, có khi miệng không nói ra nhưng trong bụng lại nghĩ như vậy, đó là mình đã chấp nhận ác ma, chấp nhận làm phàm phu chứ không trở thành bậc Thánh đệ tử, một ý hành đó thôi sẽ giết chết đời tu, sự nghiệp tu hành, tương lai phạm hạnh của mình hoàn toàn là con số 0 vì thế vô ngã trong suy nghĩ là cực kì quan trọng, cung kính pháp trong suy nghĩ là tuyệt đối quan trọng vì pháp Đức Phật nói như vậy, mình làm theo được thì mình thành tựu, ngược lại mình nói rằng mình không thể theo được là mình không tu theo pháp, chống đối với pháp nên không thể thành tựu pháp, thế là quy y pháp bất thành chỉ trong một suy nghĩ.
Mình cho rằng bản thân xưa giờ nóng tánh quen rồi nên giờ tu tâm từ không được, vậy là thất bại. Thứ nhất là mình bất kính với pháp, chống đối pháp, không chấp nhận học pháp thì làm sao tu, như vậy tâm đó không quy y pháp, không thành tựu pháp quy y, không thành tựu pháp quy giới nên không thể thành Thánh đệ tử, chính vì vậy quy y tam bảo vô cùng sâu sắc, nếu thành tựu viên mãn pháp quy y sẽ trở thành các bậc Thánh, còn mới quy y trên hình thức ban đầu là để cho mình thực tập.
Cho đến lúc nào tâm của mình hoàn toàn tùy thuận Thánh pháp, không chống đối bất cứ một pháp nào của Đức Phật đưa ra thì thành tựu quy y pháp cũng là lúc Nhập Lưu, cũng là lúc chính thức tham dự vào dòng chảy của Thánh tuệ. Điều căn bản là trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, biết ơn, tôn trọng là những thứ thu thúc lục căn, đó là một cách nói khác, nếu không thu thúc thì làm sao trang nghiêm, không thu thúc thì làm sao thanh tịnh, nếu không biết ơn, nhớ ơn thì làm sao tôn kính, thành ra trong đó có thu thúc lục căn thanh tịnh và cái pháp của bậc chân nhân.
IV. Tinh cần – thu thúc lục căn
Lúc đó con chưa đi vào kinh tạng Nikāya mà con đã nhìn ra được những nền tảng cốt lõi để thành tựu một người tu cho nên thu thúc lục căn rất quan trọng, Đức Phật đã nói trong rất nhiều bài kinh rằng chớ có buông lung phóng dật, nếu ai cũng biết tu phòng hộ, bảo hộ, thu nhiếp sáu căn thì đó là đạo tràng tối thượng, đó là đạo tràng tinh ba chứ không phải đạo tràng cặn bã vì sẽ không có bất cứ điều gì làm bất hòa được, dù có bất hòa cũng rất nhẹ nhàng chứ không có đấu khẩu vì ai cũng thu nhiếp sáu căn, không có ai thả lỏng buông lung lời nói "sư tỷ không đồng ý thì cho muội xin sám hối", vậy là xong, do có thu thúc lời nói, có nhiếp phục, chế ngự lời nói thì đó là đạo tràng tối thượng.
Muốn phá vô minh thì điều đầu tiên là không được buông lung, tại sao lại như vậy vì thường sẽ dùng trí tuệ để phá vô minh nhưng ở đây lại không được buông lung phóng dật để trị vô minh? Muốn có trí tuệ thì phải có định tĩnh, muốn có định tĩnh thì phải có giới, muốn có giới thì phải thu thúc sáu căn, đó là trình tự của pháp, gọi là pháp nhĩ như thị tức là nó vận hành như vậy, trình tự như vậy, hệ nhân quả của nó như vậy.
Cho nên thu thúc lục căn cũng là giới, mình đừng nghĩ những giới lớn mới là giới, còn cái nhỏ không phải nên xem thường, chính cái xem thường sẽ từ từ làm mất giới vì thế nhất là người xuất gia, kế đó là những vị về tu và sau cùng là những vị trong đạo tràng Nikāya phải tập cho được thu nhiếp lục căn, phải phòng hộ, giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý.
Nếu chưa chế ngự được ý thì ít nhất cũng phải chế ngự được thân vì ý quá vi tế, quá nhanh, quá nhỏ nhiệm nhưng cái thân là có hình tướng, là cái thô phù bên ngoài nên mình phải chế ngự được, đó là bước thành tựu thứ nhất, là vỏ ngoài của phạm hạnh, nếu suy nghĩ "mình làm không được" thì suy nghĩ đó giết chết mình, suy nghĩ đó không tu được, suy nghĩ đó là ác ma, suy nghĩ đó là chống đối Thánh pháp, là bất kính với tam bảo. Giả sử mình nói "tập khí con nặng nề quá, đã quen từ nhỏ đến giờ nên con sẽ cố gắng sửa từ từ" thì còn được, đó là ý nghĩ hiền thiện từ từ khắc phục, còn ý nghĩ ban đầu là không được cho nên trong ý nghĩ quyết định sự tu hành của mình.
Khi Minh Thành bước vào thiền đường, Ni xá hoặc gặp đại chúng an tịnh lắng dịu là Minh Thành rất vui, còn nghe ồn ào là không thấy vui, không hoan hỉ. Chúng ta ồn ào, lăng xăng vì chuyện không đáng nên con không thấy vui trong lòng, những bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác là những bậc an tịnh trầm lặng và mình phải học theo sự an tịnh trầm lặng đó.
Có một hôm các thầy Tỳ-kheo đang pháp đàm ồn ào, Thế Tôn đi đến nhưng các thầy Tỳ-kheo không nhận ra vì ngài đi rất nhẹ nhàng an tịnh, đến khi gần kết thúc cuộc nói chuyện thì Thế Tôn nói tằng hắng nên các thầy Tỳ-kheo mới biết rồi mời Thế Tôn vào ngồi. Sau đó Thế Tôn nói các thầy Tỳ-kheo nói pháp dài ta nghe đến mỏi lưng, các thầy Tỳ-kheo hỏi rằng sao Thế Tôn không lên tiếng thì ngài trả lời ngài tôn kính pháp, không muốn làm gián đoạn buổi pháp đàm của các vị Tỳ-kheo.
Chúng ta hãy lấy câu chuyện này làm đề mục quán chiếu, Thế Tôn là pháp nhãn, là pháp chủ, là con mắt của pháp, là gốc rễ của pháp, là nơi pháp được thuyết ra mà ngài nói "Ta tôn kính pháp", ngài sợ làm gián đoạn buổi pháp đàm. Qua đây chúng ta thấy sự an tịnh và trầm lặng của ngài đến mức nào, còn chúng ta bây giờ đi đến đâu là trống kèn đến đó, vì thế trong các buổi giảng của con không có người thỉnh khánh, chuông, lò trầm hay khay lễ gì cả mà chỉ im lặng bước vào vì con học theo sự trầm lặng của Đức Phật. Đức Thế Tôn đứng chờ như vậy trong im lặng, còn mình đi đâu cũng đăng hình đăng ảnh lên, làm như vậy để làm gì, đó là bản ngã khoe khoang phô trương.
Nếu học theo sự an tịnh trầm lặng của Thế Tôn thì ai trong đạo tràng Linh Quy cũng đẹp, tất cả Phật tử trong nước hay ngoài nước đều muốn về cùng nhau tu học, người ta thấy những buổi tu học của mình xúc động quá nhưng nếu trở về sống chung thấy không đẹp là người ta bỏ chạy, thấy trên hình đẹp quá mà trở về thấy không có ai sống an tịnh trầm lặng gì cả.
Nếu mình giữ được sự an tịnh trầm lặng đó cũng là một sự hoằng pháp lợi sanh, cũng đã đóng góp vào việc chuyển pháp luân, mình cứ nghĩ lợi tha là phải đi khắp nơi hoằng pháp nhưng không phải vậy mà có khi im lặng cũng đã là độ mình độ người, trong từng oai nghi, cử chỉ của mình vừa là sự thành công cho mình vừa tác thành cho người cho nên sự thu nhiếp sáu căn, không thả lỏng các căn, không buông lung phóng dật là vô cùng quan trọng trong đạo tràng chúng ta, cái đó mới có thể làm cho đại chúng trở nên hiền thiện, tinh ba chứ không phải là đại chúng cặn bã, đại chúng thù thắng chứ không phải đại chúng hạ liệt, thấp hèn.
Con xuất gia đến nay đã 30 năm mà đến nay mỗi bước chân đi đều phải để ý, lúc nào thấy đi vội vàng là thấy xấu hổ, mặc bộ đồ phải phù hợp với người tu, dáng ngồi cũng phải phù hợp, đó là niệm oai nghi trong Tứ Niệm Xứ, đó chính là gia vụ việc nhà của mình, làm được những cái này là điều đương nhiên chứ không phải làm được là tài giỏi, còn không làm được là xấu hổ, hổ thẹn vì Thân Hành Niệm là món ruột của người xuất gia, là công vụ của người xuất gia cho nên những khi làm việc hay có khóa tu là mình phải cẩn thận, tu trong lúc động. Bình thường mình tu trong lúc tĩnh lặng đã quen nên trong lúc động là những lúc làm bài tập và thi, lúc đó tu được, giữ được thì mới tiến bộ, còn tu quen trong khóa tu thôi còn khi hữu sự thì mình bị mất công lực. Cũng như cao thủ võ lâm lúc bình thường đánh võ giỏi nhưng đến khi ra trận thật lại đánh không được, như vậy làm sao được gọi là cao thủ, người ta chỉ công nhận là cao thủ lúc xung trận chứ không phải lúc bình thường ngồi nói chuyện.
Những lúc ăn cơm mỗi người ôm bình bát đi trong sự nhẹ nhàng thật là đẹp, chúng ta là khất sĩ và những vị cư sĩ cũng phải tập làm khất sĩ ít nhất là trong thời gian ở đây. Lúc nào cũng phải tập an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng để chất hiền từ, bình yên, tỉnh giác chánh niệm ngấm vào cả con người rồi mình mang chất liệu của chánh niệm, của sự bình yên này đi về nhà để nuôi dưỡng cho mình và nuôi dưỡng cho những người thân thương nhất trong gia đình mình.
Phải làm sao sau khi tu học trên núi về thì trong người mình lan tỏa ra những cảm giác bình yên, ấm áp, những oai nghi cao đẹp của người tu, chồng mình, con mình, cha mẹ, anh chị em mình có thể cảm nhận được, Minh Thành thường nói có các cảm: cảm nhận, cảm động và sau cùng là cảm hóa. Mình kêu gọi mọi người tu kinh Nikāya nhưng người ta không thấy có cái gì hay thì làm sao người ta tu?
Trước hết trong con người mình phải thành tựu đôi phần thì nói ra người ta mới tin, thậm chí chưa nói người ta đã cảm nhận được, còn nếu mình không có cái gì trong con người mình, tu vài năm cũng y như trước khi tu thì làm sao nói người ta nghe cho nên vỏ ngoài của phạm hạnh rất quan trọng, kế đó mới đến bên trong, giác cây rồi mới đến lõi cây. Lõi cây bên trong là vô chấp thủ, giải thoát nhưng đó là mục đích cuối cùng, đầu tiên phải được ở bên ngoài, còn mới bước vào đã đòi phá hết chấp thủ còn những cái khác không cần tu là không được, đó là phàm phu không theo trình tự của pháp, muốn vượt qua bậc đạo sư. Mọi người từ khắp nơi lên núi tu học, cùng chung sống dưới một mái nhà.
Mỗi người mỗi nước mỗi non,
Bước vào cửa Phật là con một nhà.
(Ca dao Phật giáo)
Tất cả trở về đều là những người hiền thiện, hiền trí, đó là nhờ chúng ta có sự giữ gìn với nhau. Mỗi người giữ gìn cho mình cũng là giữ gìn cho người khác, còn không giữ gìn cho mình là không giữ gìn cho người khác. Khi tu phải khéo léo trong hai phương diện là hỷ và ưu, lúc trước khi chưa đi vào dòng pháp Nikāya thì mình ở trong cảm thọ bất khổ bất lạc, cứ tụng kinh niệm Phật đều đều chứ không có nhiều sự ưu tư hay vui vẻ.
Khi mình tu vào dòng pháp Nikāya thì quan trọng nhất là sự nhận diện ngũ uẩn, đó là chìa khóa mở cánh cửa nội tâm, đây là bước ngoặc khác biệt lớn nhất trong tất cả mọi sự tu tập trước nay của mình. Lúc trước mình không đọc được thân tâm một cách chính xác đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ cho nên khi mở được cánh cửa nội tâm thì mình sẽ thấy sốc và hiện tại chúng ta đang sốc và cái này là một điều tốt.
Nhìn ra được những cấu uế, lậu hoặc, ô nhiễm của tâm đến nỗi chính mình cũng căng thẳng, cảm thấy sợ hãi là một điều tốt, cũng như căn nhà bỏ hoang mấy chục năm bây giờ mở cửa ra thấy chuột, kiến, gián… đó là điều tốt, đó là bắt đầu mở được con mắt pháp và ai tu trong dòng pháp này cũng đều như vậy, nếu không như vậy thì không đúng vì đó là trình tự của pháp.
Bản thân con cũng như vậy, trước khi vào dòng pháp này cũng nghĩ mình tu ngon lành lắm rồi, bản ngã cũng hạ thấp lắm rồi, tham, sân, si cũng mỏng lắm nhưng khi nhận diện ra thì thấy hỡi ơi, thấy bàng hoàng, lúc trước mình đi lang thang nhìn bên ngoài chứ không nhìn vào căn nhà nội tâm. Khi thấy rác bẩn, cấu uế trong tâm là tốt vì sau khi thấy sẽ bắt tay vào dọn dẹp, vệ sinh, lau chùi, sự vận hành của pháp phải như vậy, không thể khác hơn, nếu một người đã thấy sự dơ bẩn mà không quét dọn thì điều đó không thể xảy ra. Mình lấy ví dụ căn nhà không được lau chùi trong vài chục năm đã dơ đến thế thì rác bẩn trong tâm là vô thỉ kiếp đến nay thì còn dơ đến cỡ nào.
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Mình đã đi hoang trong dòng luân hồi lục đạo này vô lượng vô biên, vô số kiếp thì căn nhà nội tâm dơ đến cỡ nào? Phải quét trong bao lâu mới sạch hoàn toàn? Thật ra nếu chịu quét dọn thì không bao lâu, do mình đui mù không thấy thì lâu sạch, còn một khi con mắt đã mở ra thấy được thì không lâu sẽ sạch nếu siêng năng, nỗ lực. Cho nên sự xúc động, sự chấn động, sự hổ thẹn tàm quý cũng là sự vận hành của pháp, dòng chảy của tàm quý sẽ đưa mình đến sự gội rửa thân tâm, sự xấu hổ sợ hãi đó sẽ dẫn đến hệ quả của nó là tu sửa, điều chỉnh và đi đến chỗ sạch sẽ, thanh tịnh là không lâu nếu mình thực hành theo Tám Đúng.
Thêm một điều nữa mình phải khéo léo là phải biết tác ý hỷ lạc, một người đang ở trong hố than hừng nhưng được cứu thoát ra khỏi đó thì tất nhiên phải vui mừng, người bị rớt xuống đầm lầy nhưng có người kéo lên thì phải vui, người ở trong bóng đêm đen dài mà bây giờ có ánh sáng để thấy đường thì phải vui. Mình phải tác ý si, vô minh là bóng đêm, bây giờ mình có được ánh sáng nhưng đó không phải ánh sáng thường, đó là ánh sáng của Thánh tuệ nên mình phải vui, mình thấy được vô minh của chính mình, thấy được si ám của chính mình. Tham là đầm lầy của ngũ dục mà giờ mình bắt đầu có tâm từ bỏ, tâm thoát ra, mình được các bậc thiện tri thức, thầy lành bạn tốt kéo mình ra khỏi đầm lầy của tham dục thì phải thấy hạnh phúc.
Mình bị đốt cháy trong hố than hừng mà giờ được thoát ra thì phải thấy vui. Phải thường quán chiếu như vậy, mình thoát khỏi bóng đêm, thoát khỏi đầm lầy, thoát khỏi hố than hừng, thoát khỏi căn nhà lửa, nếu không biết tác ý sẽ thấy buồn chán, suốt ngày chỉ thấy lỗi lầm nhưng nếu giờ này mình ở dưới phố thị là mình đang đốt lửa, đang bị lún sâu trong đầm lầy, đang sinh hoạt trong bóng tối của vô minh. Lúc nào cũng tác ý liên tục ba hình ảnh đó, thoát khỏi đầm lầy, có được ánh sáng và thoát ra khỏi hố than hừng, căn nhà lửa nên được mát mẻ.
Người nào nhiệt tâm nhiệt tình hay lo chuyện thiên hạ thì người này cũng hay để ý chuyện người ta thì đó là cái dở, song song với cái tốt là cái dở, mình phải biết chuyện nào là chuyện cần giúp mọi người và chuyện nào cần phải đóng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý lại, nếu cứ nhiệt tình lại thêm không hiểu biết thì ra phá hoại cho mình, phá hoại cho người, rất nhiệt tình nên thấy ai cũng muốn chỉ, thấy ai cũng muốn giúp rồi lãnh phiền não, sân si, khổ đau cho nên không phải ai mình cũng chỉ, ai mình cũng nói, không phải ai mình cũng nhìn, phải biết cái nào cần nhiệt tình, cái nào cần tu sửa cho chính mình, yên lặng cũng là chiến thắng mình và giúp đỡ cho người khác.
Bây giờ mình phải tác ý hỷ lạc "sống ở đây vui quá, không cần chạy đuổi như ngày xưa", "sống ở đây không cần sân hận, không tức giận như lúc trước", "sống ở đây vui quá không phải tất bật, dao động", "sống ở đây vui quá, được tỉnh giác chánh niệm chứ không sống trong si ám, vô minh", "sống ở đây vui quá không nghi ngờ đối với chánh pháp, ngũ uẩn đã được nhìn thấy một cách rõ ràng, minh bạch, niềm tin xác quyết bất động".
Thường xuyên ác ý hiện tại lạc trú, trong giai đoạn này tiếp tục tác ý thiền tâm hỷ, đó là sự thiện xảo khéo léo trong cách dụng tâm tùy vào thời điểm. Hãy để cho những cảm thọ hiền thiện, trí tuệ xúc chạm vào sự thật sanh khởi ra để tẩy rửa hết những cái vô minh, hắc ám, si mê, có chết cũng không sợ, ngoài kia người ta mất mạng vì đi du lịch, vì ăn chơi rất nhiều còn mình tu mà chết là tốt.
./.