Lắng Lặng Thân Tâm
Lắng Lặng Thân Tâm
(Văn bản. Diệu Quang)
Tất cả huynh đệ chúng ta đại đa số những người còn rất trẻ mà đã ôm ấp trong lòng trí nguyện giác ngộ xuất trần đó là điều thiêng liêng cao cả không phải việc một sớm một chiều đã có được, đây đã là từ bao kiếp xa xưa đã gieo trồng hạt giống xuất trần cho nên hôm nay mới có được một kết quả lớn lao như thế. Chúng ta nhớ lại ngày chúng ta phát khởi tâm xuất trần và trãi qua biết bao nhiêu khó nhọc, biết bao nhiêu trở ngại cũng như chiến đấu từ nơi bản thân mình cũng như đối với ngoại cảnh và những người xung quanh cha mẹ, ông bà, anh em bà con của mình đâu phải dễ cho mình đi xuất gia, chẳng những bên ngoài mà còn xét sâu vào trong lòng mình phải có sự phấn đấu có sự nỗ lực rất nhiều mới có sự quyết tâm quyết định, những khó khăn của chặng đường ban đầu chúng ta đã vượt qua, mình nhìn lại xa xưa về trước đã từ bao nhiêu kiếp tu hành nên tất cả huynh đệ ở đây đều là những hạt giống, những chồi mầm những cây của giác ngộ của giải thoát. Tất cả huynh đệ ở đây đều là những viên ngọc để kết lại thành hạt chuỗi minh châu hay những viên đá viên gạch rất quý báu để sau này xây dựng tòa nhà của Phật pháp cho nên sự có mặt của mình ở tại pháp hội này quý báu vô cùng không phải dễ dàng mà có được. Trở lại vấn đề khi chưa được xuất gia ở thôn quê hẻo lánh trãi qua bao nhiêu khó khăn thủ tục phiền toái mình mới có thể từ quê nhà tỉnh xa lên thành phố trãi qua thêm một khó khăn mà mình đã vượt qua, từ khi được lên thành phố bao nhiêu người gia đình đàn na tín tí đóng góp giúp đỡ cho mình có tiền đóng học phí, hàng ngày chúng ta phải đạp xe vất vả đến trường rất xa, bao nhiêu cái khó cái khổ chúng ta đã vượt qua, từ khó khổ của quá khứ nhiều đời cho đến cái khó khổ trong hiện tại bây giờ chúng ta có mặt ở đây phải làm như thế nào chúng ta có mặt ở đây để làm cái gì? chúng ta tự nhắc nhở mình, tự hâm nóng lại trí nguyện xuất trần rất quan trọng. Chúng ta thấy những cụ già bảy tám mươi tuổi thậm chí chín mươi tuổi hay những ông cụ rất lớn tuổi chống gậy đi lum khum nhưng khi gặp Chư tăng chúng ta cuối chào rất cung kính đó là cung kính trí nguyện giải thoát cao siêu của mình, cha mẹ gạt bao nhiêu dòng nước mắt có khi khóc trước mặt nhưng có lúc rơi lệ ở sau lưng. Hồi xưa khi Minh Thành xin cho đi xuất gia gia đình không ai đồng ý, ba không đồng ý cũng không ngăn cản, rất lâu Minh Thành mới về thăm nhà một lần khi về về được nghe kể lại, mẹ khóc nức nở Minh Thành nghĩ mình như vậy thì tất cả huynh đệ cũng đều như vậy, cha mẹ rất thương nhớ mình rất lo lắng cho mình, ông bà cô bác đặt hết hy vọng niềm tin ở nơi mình. Chúng ta vào phải làm cái gì? thường thường khi mình mới phát tâm xuất gia lúc đó trí nguyện mình rất mãnh liệt nóng bỏng, thấy đạo lý hay sự giác ngộ giải thoát ở ngay trước mắt không còn xa nhưng khoảng chừng một hai năm sau từ từ phai nhạt và bắt đầu nó trở thành quen nhàm thấy bình thường, ngày cạo tóc đầu tiên thấy thiêng liêng xúc động rưng rưng nước mắt nhưng cạo vài lần đầu thấy còn nhưng lâu dần thấy bình thường như đi cắt tóc, chúng ta nhớ cạo tóc đọc bài kệ.
“Thế trừ tu phát đương nguyện chúng sanh
Viễn ly phiền não cứu cánh tịch diệt
Cạo bỏ râu tóc nguyện cho chúng sanh xa lìa phiền não
Rốt ráo vắng lặng”
Mỗi lần chúng ta cạo tóc là nhớ bài kệ đó, nhớ bài đó là một lẽ nhưng vận dụng bài kệ đó vào cuộc sống hàng ngày. Thế Tôn mới nhắc nhở chúng ta phải làm sáng ngủ thức dậy chúng ta phải sờ đầu của mình vứt bỏ tất cả trang sức của thế tục, đã từ bỏ hết những dục lạc những thú vui ở thế gian phải tiến thẳng mục tiêu của người xuất gia đó là thành tựu đạo quả, sự nghiệp cao cả của người xuất gia.
Cạo bỏ rau tóc nguyện cho chúng sanh, chúng sanh trong đó có mình xa rời phiền não rốt ráo vắng lặng. Mình cạo rất nhiều lần không nhớ nỗi, phiền não xa lìa lắng lặng phần nào nhưng lâu lâu vẫn trở lại nên mỗi lần chúng ta nhớ cạo tóc nhớ bài kệ dần dần đến chỗ vắng lặng nên Xa-di gọi là
Diệt danh cần sách
Diệt danh cầu tịnh
Cần sách chuyên cần sách tấn, siêng năng tiến lên, cầu đạt tới chỗ vắng lặng, vắng lặng ở đây có hai nghĩa, lắng lặng ở nơi hoàn cảnh bên ngoài và vắng lặng ở trong nội tâm của mình nếu nói rộng ra có ba trường hợp vắng lặng cảnh, vắng lặng của thân và vắng lặng của tâm, chúng ta bỏ những cái xôn xaob sự náo nhiệt của gia đình anh chị em vợ chồng bà con v.v… để vào trong cảnh thiền môn là A lan nhã, A la nhã là nơi xa vắng, ở nơi yên lặng, mình thường vào chùa là chỗ vắng lặng cảnh lặng nhưng thân của mình lặng hay chưa? Nương nơi cảnh lặng để thân ta được lặng, lặng từ nơi những cái thô dần dần đến cái tế, thô là cái miệng cái thân của mình như những lời nói thường thường đã bao đời huân tập thói quen miệng thường hay nói, nói hết chuyện này tới chuyện kia hết chuyện kia tới chuyện khác những chuyện cần nói thì nói còn những chuyện không cần thiết mà cứ nói nên cái miệng làm cho thân mình không được lặng nó loạn, mình nhớ trong đạo dạy chúng ta
“Im lặng đúng như chánh pháp
Nói năng đúng như chánh pháp”
Bước đầu tiên huynh đệ nhớ có một chú tiểu để tay ở miệng nói
“Bớt nói một câu chuyện
Niệm nhiều một câu Phật
Đánh chết được vọng niệm
Pháp thân ta hiển lộ”
Bớt nói câu chuyện niệm nhiều câu Phật để làm cho miệng mình được lặng, từ miệng lặng đó thân từ từ mới lặng, thân lặng tâm mới lặng cho nên sự tu khá hay yếu sâu hay cạn chỉ cần nhìn miệng thôi là biết được người, liên tu bất tận không ngừng là rối loạn không làm chủ được. Ngày xưa khoa học thông tin chưa tiến bộ nhiều chưa phát triển rộng nên người tu có nhiều thời gian thân dễ lặng hơn. bây giờ buồn lấy điện thoại ra lướt bấm liên tục làm cho loạn tâm không có nhiều thời gian để chúng ta nghiền ngẫm quán xét những lời Phật dạy cũng như chiếu soi được lẽ thật của chân lý, bởi cái tâm của mình tự vốn chiếu soi tâm mình tự vốn tĩnh lặng, thể của tâm là thể của tịch chiếu lặng lẽ sáng soi tự nó có đức tánh đó bây giờ chúng ta bỏ mất đức tính lặng lẽ để đuổi vọng niệm đó làm cho nó phân tán hết công năng lớn diệu dụng, khi phân tán nhiều làm cho mình rối loạn dần dần trôi ra biển không trở về nguồn được nên trong Thủ lăng nghiêm nói
“Nhất căn nguy bổn nguyên
Lục căn thành giải thoát”
Một căn trở về nguồn thì tự nhiên sáu căn được giải thoát, chúng ta càng ngày càng trôi ra biển vì trôi theo tập khí trôi theo phiền não rồi trôi theo những cám dỗ của thế gian bây giờ nhất là điện thoại di động nên ở chỗ Nam Phổ Đà ở Đài Loan người thọ giới Tỳ-kheo và học trường Phật học năm thứ hai mới cho xài điện thoại, còn các Thiền viện tu hành nghiêm chỉnh ở nước ta là không được xài, Minh Thành thấy những vị mới xuất gia đã xài điện thoại di động như vậy không bao giờ thân, miệng mình được dừng, đã không có nó còn rối loạn liên tu ngồi thiền tâm còn giao động, niệm Phật còn lăng xăng huống hồ gì phương tiện giúp cho nó thêm rong ruổi chạy đuổi như vậy loạn càng thêm loạn động càng thêm động.
Thân chưa được dừng đáng ra mở kinh điển ra xem hoặc nghiềm ngẫm hay dịch kinh sách viết lách biên soạn v.v… bắt đầu không chịu yên dẫn xe ra đi không có chuyện gì cũng đi
“Nhìn qua đường phố xe qua lại
Dưới biển tàu tới lui
Dòng đời luôn chuyển đổi
Bệ đá đạo nhân ngồi”
Người tu là người yên lặng, thân lặng, miệng lặng, tâm mới lặng, tâm lặng rồi mình mới thấy một kết quả bất khả tư nghì không thể nghỉ bàn diệu dụng của tâm khi tâm lặng, tâm lắng sẽ lặng, lặng thì sẽ trong, trong mới sáng, sáng mới soi, soi mới thấy rõ, thấy rõ sẽ phát sanh ra trí tuệ vô lậu giác ngộ giải thoát, thấy rõ tức là vô thượng chánh đẳng chánh giác, sự thấy biết chân chánh cùng tột của đức Phật được hiển bày, được bừng sáng từ nơi tỉnh lặng,
“Thử hỏi ai tìm chân lý đạo
Bên dòng sông lạnh chẳng riêng ta”
Đâu phải một mình ta ở bên dòng sông mà lạnh lùng vắng vẻ đó mà các Thế tôn quá khứ vô lượng vô biên như hằng hà sa số cũng đã từng ngồi bên dòng sông lặng lẽ đó mà chứng ngộ được đạo mầu cho nên Ngài Huyền Giác Thiền sư trong chứng đạo ca nói
“Vào rừng sâu ở lan nhã,
Núi dựng tùng già ôm bóng cả
Thông dong ngồi tịnh mái chùa tranh
Cảnh lặng lòng yên thanh thoát lạ”
Chỉ có nơi yên lặng đó mới giúp cho tâm mình yên lặng. Chúng ta thấy từ cái thô dần dần tới cái tế, miệng được yên, thân được lặng thì tâm sẽ lắng, tâm lắng rồi phát huy diệu dụng không thể nghĩ bàn, tâm lặng đó phát sanh ra trí tuệ, trí tuệ này không thể đem tri thức của thế gian mà so sánh được, cái tri thức hiểu biết của thế gian nó thuộc về vay mượn, mượn phải có trả cho nên sẽ mất đi lúc nào chúng ta không hay biết được, ví dụ như thầy giáo kêu học một bài thơ hay một câu nào đó về học rất thuộc, trả bài cho huynh đệ nghe đọc ro ro nhưng tới chừng thầy gọi lên tự nhiên run quên hết không còn nhớ chữ nào đó là vay mượn, mới nãy ở nhà học ro ro giờ không còn chữ nào đó là vay mượn không có thật, giả xử đọc ro ro được mười điểm nhưng vài năm sau quên, khi học lên tới tiến sĩ, cử nhân hay cao học nếu chuyên ngành mình sẽ biết được nhiều nhưng bỗng nhiên bị tai biến quên hết hoặc tới già tự nhiên lú lẫn không còn nhớ được bao nhiêu, nhiều khi chưa đợi tới già, vài năm nó cũng đã quên đó là tri thức vay mượn ôn đi lập lại cho nhớ rồi sẽ quên, còn cái tâm tĩnh lặng mà nó bừng sáng đó là cái lẽ thật không thể quên vì nó là trí tuệ sẵn có mà không do thầy truyền trao.
Có rất nhiều từ để nói về sự giác ngộ, chỗ diệu dụng của tâm chỗ thấu suốt được lẽ thật chân lý đó
Vô sư trí là trí tuệ không phải có được từ thầy truyền trao, tự nhiên trí là trí huệ tự nhiên sẵn có tự bao đời. Tự giác thắng trí là cái trí tuệ của bậc thánh do tự giác mà có được, sự học của chúng ta không phải không có thầy không có thiện tri thức mà được phải nhờ thầy bên ngoài nhờ thiện tri thức nhờ Phật tổ các vị Cao tăng cổ đức v.v… nhưng nhờ các Ngài ấy chỉ cho chúng ta thấy được phương pháp thấy được con đường, thấy được cách thức để cho chúng ta quay lại mình mà khám phá ra trí tuệ chân thật sẵn có của mình. Ở bước đầu tiên chúng ta phải nương nơi kinh điển giáo pháp rất nhiều, phải nỗ lực không có ngừng dần dần chúng ta sẽ thấy được trí sáng sẵn có của mình. Một hôm đức Phật đang ngồi bên bồ hồ Ngài A-nan đứng bên cạnh, đức Phật gọi A-nan Ngài chỉ tay xuống hồ sen hỏi A-nan ông có thấy không, những đóa sen đã nở tròn trịa trên mặt nước tỏa hương ngào ngạt rất đẹp, có những đóa sen nở chưa tròn, có những đóa sen còn búp và có những đóa sen còn nằm dưới nước thậm chí ở trong bùn nhưng những cái ngó sen hay đóa sen trong bùn hay dưới nước hay vừa ngoi lên mặt nước kia từ từ cũng sẽ nở tròn trịa và tỏa hương sắc ngào ngạt, tất cả chúng sanh đều có khả năng giác ngộ đều có Như lai trí huệ đức tước, khi đức Thế Tôn mới vừa mới thành đạo dưới cội Bồ đề phát hiện ra chân lý thật kỳ lạ, Ngài thốt lên kỳ lạ thay kỳ lạ thay, tất cả chúng sanh đều có đầy đủ trí tuệ đức tướng Như lai nên tất cả Quý huynh đệ đây đầy đủ trí huệ đức độ Như lai nên Minh Thành không dám khinh quý Ngài tất cả Quý ngài sẽ thành Phật. Chúng ta có một trí nguyện rất lớn có tâm rất rộng có duyên lành rất sâu nên cùng nhau nâng đỡ hỗ trợ để tiến bước lên chứ đừng để cho nó lùi sụt hoặc dặm chân tại chỗ, rất sợ điều nãy chúng ta nói càng ngày càng xa với tâm ban đầu xa với mục tiêu đích đến ngày đầu tiên xuất gia chúng ta nhắm.
Bây giờ chúng ta duyên lành có đủ bây giờ tiến tới mức độ nào khi chúng ta vào học, từ những kinh nghiệm của chư tổ các bậc Cao tăng đại đức cho thấy học đạo khác với học đời, khác xa thậm chí ngược lại. Học ở thế gian càng học càng thêm nhiều, càng tích lũy thêm kiến thức hiểu biết nhiều và học để hết những quá trình để đạt được bằng cấp coi như thành công nhưng học của đạo là khác, học đạo chúng ta học càng ngày càng giảm thiểu, giảm tới chỗ không còn gì tới lúc đó học đã thành công, giảm những tham muốn ở trong lòng, giảm những cái nóng giận những cái si mê, mình giảm những cái chạy đuổi theo vô minh lầm lạc, giảm sạch hết mọi vọng niệm lăng xăng trong tâm trừ khi đi tới chỗ tịch lặng hoàn toàn đó gọi là Niết bàn, viên tịch là lặng lẽ trọn vẹn. Trong sự học của chúng ta học để tiến tới chỗ lặng lẽ, muốn đạt được lặng lẽ làm sao đạt được? muốn được lặng lẽ thì chúng ta phải thấu suốt được sự thật, muốn thấu suốt được lẽ thật phải nghe pháp nghiền ngẫm giáo lý từng ngày thậm chí từng giờ phút từng giây. Như trở lại vấn đề kiến thức mình vay mượn bên ngoài lúc nhớ quên còn mất, như trí mình thấy được mạng sống này chỉ trong hơi thở, thấy được chén cơm hay ly nước vay mượn để hình thành thân này cái thấy đó không ai cướp giật được, cái trí sáng thấy rõ mạng sống này vô thường mong manh, thấy rõ mọi sự vật vay mượn nương tựa khong có thật trí đó không ai cướp mất được, chiếc xe của mình có thể mất có thể bị hư, áo của mình cũng có thể bị rách, nhà của mình cũng có thể bị sụp đổ nhưng trí sáng của mình thấu suốt được sự thật vạn pháp trí đó là chân thật không có mất, chúng ta học bao nhiêu năm nghe bao nhiêu bộ kinh luận tốt nghiệp bao nhiêu bằng cấp cũng không quan trọng bằng mục tiêu duy nhất là khai mở được trí tuệ, trí tuệ là thấy biết đúng lẽ thật của vạn vật, thấy biết được rồi thì tự nhiên nó không còn rong ruổi chạy đuổi, không chạy nữa sẽ yên, yên rồi sẽ lặng, lặng rồi sẽ trong sáng soi rõ trong. Trong kinh A-hàm đức Phật ví dụ rất hay, có người đó đang chạy rất nhanh mệt quá mới mệt, ông nói sao mình phải chạy thôi mình bước từ từ, bước từ vẫn mệt ông nói thôi dừng lại đi cho khỏe khi đứng dừng lại vẫn mỏi, ông mới nói ngồi xuống cho khỏe rồi ông ngồi xuống, khi ngồi xuống chưa khỏe ông nằm xuống mới khỏe, nằm xuống chưa khỏe nữa giờ ngủ giấc chắc khỏe nên ngủ giấc khỏe, đức Phật đem cái đó ví dụ cho người tu tập từng mức độ khác nhau, lúc đầu tiên chưa hiểu đạo mình rất cuồng nhiệt nóng bỏng đối với ngủ dục lục trần lúc chạy nhanh, chạy xong u đầu sứt chán khổ đau nhiều nên thôi chạy nhanh chi khổ đi từ từ, đi từ từ hồi cũng thấy mệt, sao bao nhiêu năm nay đã làm lụng vất vả tình cảm danh lợi địa vị quyền thế cũng thấy mệt thôi dừng lại không đi, dừng lại vẫn thấy còn mệt, tiến sâu vào trong tâm niệm ngừng cả trong tâm nên nằm xuống ngủ, ngủ là dừng lại tâm trong nhà Thiền gọi là đại hưu huyệt tức là hoàn toàn ngơi nghỉ. Mình không chỉ ở dừng bên hình thức bên ngoài phải tiến sâu dừng nghỉ bên trong tâm niệm, tâm niệm phải có phương pháp phải có cách thức phải có pháp môn trong phật pháp chúng ta vô lượng pháp môn để cho mình dừng, pháp môn đơn giản gần nhất quan trọng nhất thiết yếu nhất là thở, quan trọng nhất là trong hơi thở của mình, từng giây từng phút luôn luôn mượn vào trả ra từng giây từng phút chỉ cần nhìn trở lại thấy rõ liền lập tức sự vay mượn của thân, thấy được như vậy tức là thấy đạo, đạo không phải cái gì cao siêu ở trên trời trên mây hoặc trên ngủ đài hay bồ đề đạo tràng Ấn độ, đạo là lẽ thật đương xảy ra trong từng giây từng phút ở ngay nơi bản thân tâm của mình nếu như ngay đây mình không nhìn thấy được dù cho chạy đi năm non bảy núi, dù chạy ngũ đài thất đài vẫn càng xa với đạo, chỉ trong một giây phút trở về mình thấy được lẽ thật. Trong tinh thần giáo lý viên đốn, viên là trọn vẹn, đốn là nhanh chóng tức thời khi mới phát tâm liền thành chánh. Chúng ta thấy khi mới phát tâm liền thành chánh giác bởi vì trí huệ đã sẵn có từ lâu chỉ cần soi chiếu trở về chỗ chân thật, lúc nào quên không soi chiếu lúc đó là mê, huynh đệ thấy bốn chữ Duy tuệ thị nghiệp, người xuất gia chỉ có trí tuệ sự nghiệp là chân thật chân chánh tại vì sức khỏe của mình có một ngày nào đó sẽ suy tàn, vẻ đẹp của mình cũng tan hoại, tuổi trẻ của mình cũng biến đổi danh vọng địa vị quyền thế cũng rã tan theo vô thường năm tháng đừng nói những cái bên ngoài ngay thân này chỉ bị té là chết, sanh mạng mong manh, thân này sẽ rã về với tứ đại nhưng linh giác tỏa chiếu không có mờ. Một hôm có vị thầy đó tên là Thần Tán được Sư phụ cho đi học, Thần Tán đi học một thời gian dài rất lâu về Sư phụ hỏi con đi học bao lâu nay con được cái gì? thầy Thần tán nói với Sư phụ hoàn toàn không được gì hết, Sư phụ mới nói thôi xuống chấp tác làm công việc bình thường đi, ông xuống rửa chén, lau nhà giặt đồ, Sư phụ thích đọc kinh sách thường nhớ câu cú trong kinh nhưng trong cuộc sống thì chưa vận dụng được, lúc đó có con ong chỗ cửa trống nó không bay mà cứ bay đâm vào cánh cửa sổ, đâm vào lọt xuống cứ vậy làm ba bốn lần đệ tử Thần Tán mới đọc bài kệ
“Cửa không chẳng chịu ra
Quá ngu chui cửa sổ
Giấy cũ trăm năm rùi
Ngày nào được thoát khỏi”
Không môn bất khẳng xuất
Đầu sông giả thái si
Bắt niên toản gối chỉ
Hà nhất xuất đầu trì
Ông Thầy đang đọc kinh mà đọc bài kệ ông Sư phụ cũng không để ý. Sư phụ già rồi nên hôm đó Ngài tắm kỳ lưng cho Sư phụ, Ngài mới vỗ vỗ lưng nói điện thì có Phật mà Phật không có linh, lúc đó Sư phụ quay lại không biết đệ tử nói chuyện gì nhìn, Ngài mới nói tuy Phật không linh nhưng thường phóng quang, Sư phụ thấy lạ không biết chuyện gì mới tập chung chúng lại bắt lên pháp tòa nói học được cái gì? Ông lên ông mới tuyên dương lại câu pháp ngữ của Bách trượng
“Linh quang đập chiếu
Vượt thoát căn trần
Thể lộ chân thường
Chẳng cuộc văn tự
Tâm tánh không nhiễm
Vốn tự viên thành
Chỉ lìa vọng duyên
Tức như như Phật”.
Linh quang đập chiếu
Vượt thoát căn trần
Linh quang ánh sáng linh thiêng, nó riêng một mình vượt thoát khỏi căn trần, căn là thân, trần là cảnh, tánh sáng suốt của mình nó vượt riêng ở ngoài thân và cảnh như cái biết đang nghe pháp hiện giờ của mình cái đó không có hình tướng mà làm chủ thân tâm làm chủ cả vạn vật, mình nhìn thấy kia là màu đỏ kia là màu vàng cái bàn ghế, lao phông …tất cả những cái có hình tướng đều do một cái không hình tướng làm chủ điều pháp mẹ của ba đời Chư phật, chúng ta có cái quý báu đó mà bỏ quên.
Thể lộ chân thường không có cuộc trong văn tự, cái thể tánh đó nó là chân thật thường hằng không bị lệ thuộc.
Minh nghe những vị Kinh sư cúng có câu
“Bất cấu bất nhiễm thị tây phương
Vô não vô ưu chân cực lạc”
Bất cấu bất nhiễm là tâm mình không nhiễm là tây phương, không có não không lo buồn đó là cực lạc đó là chánh nhân của tịnh độ cực lạc ở hiện tại, khi mình sống với cái tâm thanh tịnh niệm Phật không có buồn thương giận ghét đó khi mình nhắm mắt là thượng phẩm thượng sanh, có tịnh độ ở nơi tâm có tịnh độ ở nơi cực lạc sự lý viên dung, chứ không nói tâm tánh bỏ hết sự tướng, không phải nói đi sự tướng mà bác đi tâm tánh, thấy rõ được sự lý dung thông trong pháp giới vô tận nhưng muốn được sự đó trước phải được lý, muốn được tướng đó phải từ nơi tánh nên từ chỗ hạ thủ công phu tu hành thiền tịnh giáo luật, mật v.v… là phải bắt tay từ nơi tâm tịnh nên mới gọi là tu tâm
Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành
Muốn được không nhiễm chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.
Phải lìa được vọng duyên, vọng duyên những nhân duyên hư vọng giả dối, hàng ngày mắt thấy tai nghe bao nhiêu duyên cảnh bên ngoài mình tiếp xúc đều vọng duyên hư giả, thậm chí mình ngồi yên niệm Phật mà bao nhiêu buồn thương giận ghét nó ào ạt dâng trào đều là vọng duyên, câu niệm Phật của mình có sức mạnh đánh tan hết những vọng duyên đó, lìa vọng duyên đó tức như như Phật lúc đó tự tánh Di đà hiển lộ, lúc đó tịch lặng sẵn có nó hiện tiền đó là hoàn thành sứ mệnh cái bổn phận, trách nhiệm của người xuất gia, lúc đó mặc tình qua lại trong ba cõi làm lợi lạc cho chúng sanh, lúc đó là một ánh mắt, một nụ cười, một lời nói, một bước chân của mình đều diệu dụng vô cùng vô tận, tất cả đều trở thành Phật pháp còn bây giờ làm bằng cánh gắng gượng nói Phật pháp là Phật pháp thành ra cảnh duyên vo hồi trở thành thế gian, còn lúc đó thật sự chứng pháp đã sống với pháp nên các vị Cao tăng cổ đức những bậc Tôn túc ngày xưa nhất cử nhất động đều là lợi lạc cho chúng sanh, đều phát xuất từ tâm đại trí huệ đại giác ngộ và mỗi việc làm đều mẫu mực cho muôn đời. Chúng ta thấy đức Phật hay Chư tổ sư các bậc Cao tăng đọc lịch sử các Ngài chúng ta thấy được một cuộc đời xứng đáng như vậy cha mẹ rất vui, ông bà cô bác của mình sẽ rất hãnh diện, tất cả những người bạn đạo huynh đệ của mình sẽ thấm nhuần lợi lạc từ nơi mình, tất cả chúng sanh sẽ được ân đức của mình chia sẻ ban phát.
Hôm nay là buổi học cuối cùng để chúng ta vào ba tháng an cư, an cư là tập dừng lặng thân tâm, mong rằng khi xong ba tháng hạ ai cũng thêm một tuổi đạo được trưởng thành trong chánh pháp và càng ngày càng gần tới chỗ vắng lặng chân thật.
(Văn bản. Diệu Quang)
Tất cả huynh đệ chúng ta đại đa số những người còn rất trẻ mà đã ôm ấp trong lòng trí nguyện giác ngộ xuất trần đó là điều thiêng liêng cao cả không phải việc một sớm một chiều đã có được, đây đã là từ bao kiếp xa xưa đã gieo trồng hạt giống xuất trần cho nên hôm nay mới có được một kết quả lớn lao như thế. Chúng ta nhớ lại ngày chúng ta phát khởi tâm xuất trần và trãi qua biết bao nhiêu khó nhọc, biết bao nhiêu trở ngại cũng như chiến đấu từ nơi bản thân mình cũng như đối với ngoại cảnh và những người xung quanh cha mẹ, ông bà, anh em bà con của mình đâu phải dễ cho mình đi xuất gia, chẳng những bên ngoài mà còn xét sâu vào trong lòng mình phải có sự phấn đấu có sự nỗ lực rất nhiều mới có sự quyết tâm quyết định, những khó khăn của chặng đường ban đầu chúng ta đã vượt qua, mình nhìn lại xa xưa về trước đã từ bao nhiêu kiếp tu hành nên tất cả huynh đệ ở đây đều là những hạt giống, những chồi mầm những cây của giác ngộ của giải thoát. Tất cả huynh đệ ở đây đều là những viên ngọc để kết lại thành hạt chuỗi minh châu hay những viên đá viên gạch rất quý báu để sau này xây dựng tòa nhà của Phật pháp cho nên sự có mặt của mình ở tại pháp hội này quý báu vô cùng không phải dễ dàng mà có được. Trở lại vấn đề khi chưa được xuất gia ở thôn quê hẻo lánh trãi qua bao nhiêu khó khăn thủ tục phiền toái mình mới có thể từ quê nhà tỉnh xa lên thành phố trãi qua thêm một khó khăn mà mình đã vượt qua, từ khi được lên thành phố bao nhiêu người gia đình đàn na tín tí đóng góp giúp đỡ cho mình có tiền đóng học phí, hàng ngày chúng ta phải đạp xe vất vả đến trường rất xa, bao nhiêu cái khó cái khổ chúng ta đã vượt qua, từ khó khổ của quá khứ nhiều đời cho đến cái khó khổ trong hiện tại bây giờ chúng ta có mặt ở đây phải làm như thế nào chúng ta có mặt ở đây để làm cái gì? chúng ta tự nhắc nhở mình, tự hâm nóng lại trí nguyện xuất trần rất quan trọng. Chúng ta thấy những cụ già bảy tám mươi tuổi thậm chí chín mươi tuổi hay những ông cụ rất lớn tuổi chống gậy đi lum khum nhưng khi gặp Chư tăng chúng ta cuối chào rất cung kính đó là cung kính trí nguyện giải thoát cao siêu của mình, cha mẹ gạt bao nhiêu dòng nước mắt có khi khóc trước mặt nhưng có lúc rơi lệ ở sau lưng. Hồi xưa khi Minh Thành xin cho đi xuất gia gia đình không ai đồng ý, ba không đồng ý cũng không ngăn cản, rất lâu Minh Thành mới về thăm nhà một lần khi về về được nghe kể lại, mẹ khóc nức nở Minh Thành nghĩ mình như vậy thì tất cả huynh đệ cũng đều như vậy, cha mẹ rất thương nhớ mình rất lo lắng cho mình, ông bà cô bác đặt hết hy vọng niềm tin ở nơi mình. Chúng ta vào phải làm cái gì? thường thường khi mình mới phát tâm xuất gia lúc đó trí nguyện mình rất mãnh liệt nóng bỏng, thấy đạo lý hay sự giác ngộ giải thoát ở ngay trước mắt không còn xa nhưng khoảng chừng một hai năm sau từ từ phai nhạt và bắt đầu nó trở thành quen nhàm thấy bình thường, ngày cạo tóc đầu tiên thấy thiêng liêng xúc động rưng rưng nước mắt nhưng cạo vài lần đầu thấy còn nhưng lâu dần thấy bình thường như đi cắt tóc, chúng ta nhớ cạo tóc đọc bài kệ.
“Thế trừ tu phát đương nguyện chúng sanh
Viễn ly phiền não cứu cánh tịch diệt
Cạo bỏ râu tóc nguyện cho chúng sanh xa lìa phiền não
Rốt ráo vắng lặng”
Mỗi lần chúng ta cạo tóc là nhớ bài kệ đó, nhớ bài đó là một lẽ nhưng vận dụng bài kệ đó vào cuộc sống hàng ngày. Thế Tôn mới nhắc nhở chúng ta phải làm sáng ngủ thức dậy chúng ta phải sờ đầu của mình vứt bỏ tất cả trang sức của thế tục, đã từ bỏ hết những dục lạc những thú vui ở thế gian phải tiến thẳng mục tiêu của người xuất gia đó là thành tựu đạo quả, sự nghiệp cao cả của người xuất gia.
Cạo bỏ rau tóc nguyện cho chúng sanh, chúng sanh trong đó có mình xa rời phiền não rốt ráo vắng lặng. Mình cạo rất nhiều lần không nhớ nỗi, phiền não xa lìa lắng lặng phần nào nhưng lâu lâu vẫn trở lại nên mỗi lần chúng ta nhớ cạo tóc nhớ bài kệ dần dần đến chỗ vắng lặng nên Xa-di gọi là
Diệt danh cần sách
Diệt danh cầu tịnh
Cần sách chuyên cần sách tấn, siêng năng tiến lên, cầu đạt tới chỗ vắng lặng, vắng lặng ở đây có hai nghĩa, lắng lặng ở nơi hoàn cảnh bên ngoài và vắng lặng ở trong nội tâm của mình nếu nói rộng ra có ba trường hợp vắng lặng cảnh, vắng lặng của thân và vắng lặng của tâm, chúng ta bỏ những cái xôn xaob sự náo nhiệt của gia đình anh chị em vợ chồng bà con v.v… để vào trong cảnh thiền môn là A lan nhã, A la nhã là nơi xa vắng, ở nơi yên lặng, mình thường vào chùa là chỗ vắng lặng cảnh lặng nhưng thân của mình lặng hay chưa? Nương nơi cảnh lặng để thân ta được lặng, lặng từ nơi những cái thô dần dần đến cái tế, thô là cái miệng cái thân của mình như những lời nói thường thường đã bao đời huân tập thói quen miệng thường hay nói, nói hết chuyện này tới chuyện kia hết chuyện kia tới chuyện khác những chuyện cần nói thì nói còn những chuyện không cần thiết mà cứ nói nên cái miệng làm cho thân mình không được lặng nó loạn, mình nhớ trong đạo dạy chúng ta
“Im lặng đúng như chánh pháp
Nói năng đúng như chánh pháp”
Bước đầu tiên huynh đệ nhớ có một chú tiểu để tay ở miệng nói
“Bớt nói một câu chuyện
Niệm nhiều một câu Phật
Đánh chết được vọng niệm
Pháp thân ta hiển lộ”
Bớt nói câu chuyện niệm nhiều câu Phật để làm cho miệng mình được lặng, từ miệng lặng đó thân từ từ mới lặng, thân lặng tâm mới lặng cho nên sự tu khá hay yếu sâu hay cạn chỉ cần nhìn miệng thôi là biết được người, liên tu bất tận không ngừng là rối loạn không làm chủ được. Ngày xưa khoa học thông tin chưa tiến bộ nhiều chưa phát triển rộng nên người tu có nhiều thời gian thân dễ lặng hơn. bây giờ buồn lấy điện thoại ra lướt bấm liên tục làm cho loạn tâm không có nhiều thời gian để chúng ta nghiền ngẫm quán xét những lời Phật dạy cũng như chiếu soi được lẽ thật của chân lý, bởi cái tâm của mình tự vốn chiếu soi tâm mình tự vốn tĩnh lặng, thể của tâm là thể của tịch chiếu lặng lẽ sáng soi tự nó có đức tánh đó bây giờ chúng ta bỏ mất đức tính lặng lẽ để đuổi vọng niệm đó làm cho nó phân tán hết công năng lớn diệu dụng, khi phân tán nhiều làm cho mình rối loạn dần dần trôi ra biển không trở về nguồn được nên trong Thủ lăng nghiêm nói
“Nhất căn nguy bổn nguyên
Lục căn thành giải thoát”
Một căn trở về nguồn thì tự nhiên sáu căn được giải thoát, chúng ta càng ngày càng trôi ra biển vì trôi theo tập khí trôi theo phiền não rồi trôi theo những cám dỗ của thế gian bây giờ nhất là điện thoại di động nên ở chỗ Nam Phổ Đà ở Đài Loan người thọ giới Tỳ-kheo và học trường Phật học năm thứ hai mới cho xài điện thoại, còn các Thiền viện tu hành nghiêm chỉnh ở nước ta là không được xài, Minh Thành thấy những vị mới xuất gia đã xài điện thoại di động như vậy không bao giờ thân, miệng mình được dừng, đã không có nó còn rối loạn liên tu ngồi thiền tâm còn giao động, niệm Phật còn lăng xăng huống hồ gì phương tiện giúp cho nó thêm rong ruổi chạy đuổi như vậy loạn càng thêm loạn động càng thêm động.
Thân chưa được dừng đáng ra mở kinh điển ra xem hoặc nghiềm ngẫm hay dịch kinh sách viết lách biên soạn v.v… bắt đầu không chịu yên dẫn xe ra đi không có chuyện gì cũng đi
“Nhìn qua đường phố xe qua lại
Dưới biển tàu tới lui
Dòng đời luôn chuyển đổi
Bệ đá đạo nhân ngồi”
Người tu là người yên lặng, thân lặng, miệng lặng, tâm mới lặng, tâm lặng rồi mình mới thấy một kết quả bất khả tư nghì không thể nghỉ bàn diệu dụng của tâm khi tâm lặng, tâm lắng sẽ lặng, lặng thì sẽ trong, trong mới sáng, sáng mới soi, soi mới thấy rõ, thấy rõ sẽ phát sanh ra trí tuệ vô lậu giác ngộ giải thoát, thấy rõ tức là vô thượng chánh đẳng chánh giác, sự thấy biết chân chánh cùng tột của đức Phật được hiển bày, được bừng sáng từ nơi tỉnh lặng,
“Thử hỏi ai tìm chân lý đạo
Bên dòng sông lạnh chẳng riêng ta”
Đâu phải một mình ta ở bên dòng sông mà lạnh lùng vắng vẻ đó mà các Thế tôn quá khứ vô lượng vô biên như hằng hà sa số cũng đã từng ngồi bên dòng sông lặng lẽ đó mà chứng ngộ được đạo mầu cho nên Ngài Huyền Giác Thiền sư trong chứng đạo ca nói
“Vào rừng sâu ở lan nhã,
Núi dựng tùng già ôm bóng cả
Thông dong ngồi tịnh mái chùa tranh
Cảnh lặng lòng yên thanh thoát lạ”
Chỉ có nơi yên lặng đó mới giúp cho tâm mình yên lặng. Chúng ta thấy từ cái thô dần dần tới cái tế, miệng được yên, thân được lặng thì tâm sẽ lắng, tâm lắng rồi phát huy diệu dụng không thể nghĩ bàn, tâm lặng đó phát sanh ra trí tuệ, trí tuệ này không thể đem tri thức của thế gian mà so sánh được, cái tri thức hiểu biết của thế gian nó thuộc về vay mượn, mượn phải có trả cho nên sẽ mất đi lúc nào chúng ta không hay biết được, ví dụ như thầy giáo kêu học một bài thơ hay một câu nào đó về học rất thuộc, trả bài cho huynh đệ nghe đọc ro ro nhưng tới chừng thầy gọi lên tự nhiên run quên hết không còn nhớ chữ nào đó là vay mượn, mới nãy ở nhà học ro ro giờ không còn chữ nào đó là vay mượn không có thật, giả xử đọc ro ro được mười điểm nhưng vài năm sau quên, khi học lên tới tiến sĩ, cử nhân hay cao học nếu chuyên ngành mình sẽ biết được nhiều nhưng bỗng nhiên bị tai biến quên hết hoặc tới già tự nhiên lú lẫn không còn nhớ được bao nhiêu, nhiều khi chưa đợi tới già, vài năm nó cũng đã quên đó là tri thức vay mượn ôn đi lập lại cho nhớ rồi sẽ quên, còn cái tâm tĩnh lặng mà nó bừng sáng đó là cái lẽ thật không thể quên vì nó là trí tuệ sẵn có mà không do thầy truyền trao.
Có rất nhiều từ để nói về sự giác ngộ, chỗ diệu dụng của tâm chỗ thấu suốt được lẽ thật chân lý đó
Vô sư trí là trí tuệ không phải có được từ thầy truyền trao, tự nhiên trí là trí huệ tự nhiên sẵn có tự bao đời. Tự giác thắng trí là cái trí tuệ của bậc thánh do tự giác mà có được, sự học của chúng ta không phải không có thầy không có thiện tri thức mà được phải nhờ thầy bên ngoài nhờ thiện tri thức nhờ Phật tổ các vị Cao tăng cổ đức v.v… nhưng nhờ các Ngài ấy chỉ cho chúng ta thấy được phương pháp thấy được con đường, thấy được cách thức để cho chúng ta quay lại mình mà khám phá ra trí tuệ chân thật sẵn có của mình. Ở bước đầu tiên chúng ta phải nương nơi kinh điển giáo pháp rất nhiều, phải nỗ lực không có ngừng dần dần chúng ta sẽ thấy được trí sáng sẵn có của mình. Một hôm đức Phật đang ngồi bên bồ hồ Ngài A-nan đứng bên cạnh, đức Phật gọi A-nan Ngài chỉ tay xuống hồ sen hỏi A-nan ông có thấy không, những đóa sen đã nở tròn trịa trên mặt nước tỏa hương ngào ngạt rất đẹp, có những đóa sen nở chưa tròn, có những đóa sen còn búp và có những đóa sen còn nằm dưới nước thậm chí ở trong bùn nhưng những cái ngó sen hay đóa sen trong bùn hay dưới nước hay vừa ngoi lên mặt nước kia từ từ cũng sẽ nở tròn trịa và tỏa hương sắc ngào ngạt, tất cả chúng sanh đều có khả năng giác ngộ đều có Như lai trí huệ đức tước, khi đức Thế Tôn mới vừa mới thành đạo dưới cội Bồ đề phát hiện ra chân lý thật kỳ lạ, Ngài thốt lên kỳ lạ thay kỳ lạ thay, tất cả chúng sanh đều có đầy đủ trí tuệ đức tướng Như lai nên tất cả Quý huynh đệ đây đầy đủ trí huệ đức độ Như lai nên Minh Thành không dám khinh quý Ngài tất cả Quý ngài sẽ thành Phật. Chúng ta có một trí nguyện rất lớn có tâm rất rộng có duyên lành rất sâu nên cùng nhau nâng đỡ hỗ trợ để tiến bước lên chứ đừng để cho nó lùi sụt hoặc dặm chân tại chỗ, rất sợ điều nãy chúng ta nói càng ngày càng xa với tâm ban đầu xa với mục tiêu đích đến ngày đầu tiên xuất gia chúng ta nhắm.
Bây giờ chúng ta duyên lành có đủ bây giờ tiến tới mức độ nào khi chúng ta vào học, từ những kinh nghiệm của chư tổ các bậc Cao tăng đại đức cho thấy học đạo khác với học đời, khác xa thậm chí ngược lại. Học ở thế gian càng học càng thêm nhiều, càng tích lũy thêm kiến thức hiểu biết nhiều và học để hết những quá trình để đạt được bằng cấp coi như thành công nhưng học của đạo là khác, học đạo chúng ta học càng ngày càng giảm thiểu, giảm tới chỗ không còn gì tới lúc đó học đã thành công, giảm những tham muốn ở trong lòng, giảm những cái nóng giận những cái si mê, mình giảm những cái chạy đuổi theo vô minh lầm lạc, giảm sạch hết mọi vọng niệm lăng xăng trong tâm trừ khi đi tới chỗ tịch lặng hoàn toàn đó gọi là Niết bàn, viên tịch là lặng lẽ trọn vẹn. Trong sự học của chúng ta học để tiến tới chỗ lặng lẽ, muốn đạt được lặng lẽ làm sao đạt được? muốn được lặng lẽ thì chúng ta phải thấu suốt được sự thật, muốn thấu suốt được lẽ thật phải nghe pháp nghiền ngẫm giáo lý từng ngày thậm chí từng giờ phút từng giây. Như trở lại vấn đề kiến thức mình vay mượn bên ngoài lúc nhớ quên còn mất, như trí mình thấy được mạng sống này chỉ trong hơi thở, thấy được chén cơm hay ly nước vay mượn để hình thành thân này cái thấy đó không ai cướp giật được, cái trí sáng thấy rõ mạng sống này vô thường mong manh, thấy rõ mọi sự vật vay mượn nương tựa khong có thật trí đó không ai cướp mất được, chiếc xe của mình có thể mất có thể bị hư, áo của mình cũng có thể bị rách, nhà của mình cũng có thể bị sụp đổ nhưng trí sáng của mình thấu suốt được sự thật vạn pháp trí đó là chân thật không có mất, chúng ta học bao nhiêu năm nghe bao nhiêu bộ kinh luận tốt nghiệp bao nhiêu bằng cấp cũng không quan trọng bằng mục tiêu duy nhất là khai mở được trí tuệ, trí tuệ là thấy biết đúng lẽ thật của vạn vật, thấy biết được rồi thì tự nhiên nó không còn rong ruổi chạy đuổi, không chạy nữa sẽ yên, yên rồi sẽ lặng, lặng rồi sẽ trong sáng soi rõ trong. Trong kinh A-hàm đức Phật ví dụ rất hay, có người đó đang chạy rất nhanh mệt quá mới mệt, ông nói sao mình phải chạy thôi mình bước từ từ, bước từ vẫn mệt ông nói thôi dừng lại đi cho khỏe khi đứng dừng lại vẫn mỏi, ông mới nói ngồi xuống cho khỏe rồi ông ngồi xuống, khi ngồi xuống chưa khỏe ông nằm xuống mới khỏe, nằm xuống chưa khỏe nữa giờ ngủ giấc chắc khỏe nên ngủ giấc khỏe, đức Phật đem cái đó ví dụ cho người tu tập từng mức độ khác nhau, lúc đầu tiên chưa hiểu đạo mình rất cuồng nhiệt nóng bỏng đối với ngủ dục lục trần lúc chạy nhanh, chạy xong u đầu sứt chán khổ đau nhiều nên thôi chạy nhanh chi khổ đi từ từ, đi từ từ hồi cũng thấy mệt, sao bao nhiêu năm nay đã làm lụng vất vả tình cảm danh lợi địa vị quyền thế cũng thấy mệt thôi dừng lại không đi, dừng lại vẫn thấy còn mệt, tiến sâu vào trong tâm niệm ngừng cả trong tâm nên nằm xuống ngủ, ngủ là dừng lại tâm trong nhà Thiền gọi là đại hưu huyệt tức là hoàn toàn ngơi nghỉ. Mình không chỉ ở dừng bên hình thức bên ngoài phải tiến sâu dừng nghỉ bên trong tâm niệm, tâm niệm phải có phương pháp phải có cách thức phải có pháp môn trong phật pháp chúng ta vô lượng pháp môn để cho mình dừng, pháp môn đơn giản gần nhất quan trọng nhất thiết yếu nhất là thở, quan trọng nhất là trong hơi thở của mình, từng giây từng phút luôn luôn mượn vào trả ra từng giây từng phút chỉ cần nhìn trở lại thấy rõ liền lập tức sự vay mượn của thân, thấy được như vậy tức là thấy đạo, đạo không phải cái gì cao siêu ở trên trời trên mây hoặc trên ngủ đài hay bồ đề đạo tràng Ấn độ, đạo là lẽ thật đương xảy ra trong từng giây từng phút ở ngay nơi bản thân tâm của mình nếu như ngay đây mình không nhìn thấy được dù cho chạy đi năm non bảy núi, dù chạy ngũ đài thất đài vẫn càng xa với đạo, chỉ trong một giây phút trở về mình thấy được lẽ thật. Trong tinh thần giáo lý viên đốn, viên là trọn vẹn, đốn là nhanh chóng tức thời khi mới phát tâm liền thành chánh. Chúng ta thấy khi mới phát tâm liền thành chánh giác bởi vì trí huệ đã sẵn có từ lâu chỉ cần soi chiếu trở về chỗ chân thật, lúc nào quên không soi chiếu lúc đó là mê, huynh đệ thấy bốn chữ Duy tuệ thị nghiệp, người xuất gia chỉ có trí tuệ sự nghiệp là chân thật chân chánh tại vì sức khỏe của mình có một ngày nào đó sẽ suy tàn, vẻ đẹp của mình cũng tan hoại, tuổi trẻ của mình cũng biến đổi danh vọng địa vị quyền thế cũng rã tan theo vô thường năm tháng đừng nói những cái bên ngoài ngay thân này chỉ bị té là chết, sanh mạng mong manh, thân này sẽ rã về với tứ đại nhưng linh giác tỏa chiếu không có mờ. Một hôm có vị thầy đó tên là Thần Tán được Sư phụ cho đi học, Thần Tán đi học một thời gian dài rất lâu về Sư phụ hỏi con đi học bao lâu nay con được cái gì? thầy Thần tán nói với Sư phụ hoàn toàn không được gì hết, Sư phụ mới nói thôi xuống chấp tác làm công việc bình thường đi, ông xuống rửa chén, lau nhà giặt đồ, Sư phụ thích đọc kinh sách thường nhớ câu cú trong kinh nhưng trong cuộc sống thì chưa vận dụng được, lúc đó có con ong chỗ cửa trống nó không bay mà cứ bay đâm vào cánh cửa sổ, đâm vào lọt xuống cứ vậy làm ba bốn lần đệ tử Thần Tán mới đọc bài kệ
“Cửa không chẳng chịu ra
Quá ngu chui cửa sổ
Giấy cũ trăm năm rùi
Ngày nào được thoát khỏi”
Không môn bất khẳng xuất
Đầu sông giả thái si
Bắt niên toản gối chỉ
Hà nhất xuất đầu trì
Ông Thầy đang đọc kinh mà đọc bài kệ ông Sư phụ cũng không để ý. Sư phụ già rồi nên hôm đó Ngài tắm kỳ lưng cho Sư phụ, Ngài mới vỗ vỗ lưng nói điện thì có Phật mà Phật không có linh, lúc đó Sư phụ quay lại không biết đệ tử nói chuyện gì nhìn, Ngài mới nói tuy Phật không linh nhưng thường phóng quang, Sư phụ thấy lạ không biết chuyện gì mới tập chung chúng lại bắt lên pháp tòa nói học được cái gì? Ông lên ông mới tuyên dương lại câu pháp ngữ của Bách trượng
“Linh quang đập chiếu
Vượt thoát căn trần
Thể lộ chân thường
Chẳng cuộc văn tự
Tâm tánh không nhiễm
Vốn tự viên thành
Chỉ lìa vọng duyên
Tức như như Phật”.
Linh quang đập chiếu
Vượt thoát căn trần
Linh quang ánh sáng linh thiêng, nó riêng một mình vượt thoát khỏi căn trần, căn là thân, trần là cảnh, tánh sáng suốt của mình nó vượt riêng ở ngoài thân và cảnh như cái biết đang nghe pháp hiện giờ của mình cái đó không có hình tướng mà làm chủ thân tâm làm chủ cả vạn vật, mình nhìn thấy kia là màu đỏ kia là màu vàng cái bàn ghế, lao phông …tất cả những cái có hình tướng đều do một cái không hình tướng làm chủ điều pháp mẹ của ba đời Chư phật, chúng ta có cái quý báu đó mà bỏ quên.
Thể lộ chân thường không có cuộc trong văn tự, cái thể tánh đó nó là chân thật thường hằng không bị lệ thuộc.
Minh nghe những vị Kinh sư cúng có câu
“Bất cấu bất nhiễm thị tây phương
Vô não vô ưu chân cực lạc”
Bất cấu bất nhiễm là tâm mình không nhiễm là tây phương, không có não không lo buồn đó là cực lạc đó là chánh nhân của tịnh độ cực lạc ở hiện tại, khi mình sống với cái tâm thanh tịnh niệm Phật không có buồn thương giận ghét đó khi mình nhắm mắt là thượng phẩm thượng sanh, có tịnh độ ở nơi tâm có tịnh độ ở nơi cực lạc sự lý viên dung, chứ không nói tâm tánh bỏ hết sự tướng, không phải nói đi sự tướng mà bác đi tâm tánh, thấy rõ được sự lý dung thông trong pháp giới vô tận nhưng muốn được sự đó trước phải được lý, muốn được tướng đó phải từ nơi tánh nên từ chỗ hạ thủ công phu tu hành thiền tịnh giáo luật, mật v.v… là phải bắt tay từ nơi tâm tịnh nên mới gọi là tu tâm
Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành
Muốn được không nhiễm chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.
Phải lìa được vọng duyên, vọng duyên những nhân duyên hư vọng giả dối, hàng ngày mắt thấy tai nghe bao nhiêu duyên cảnh bên ngoài mình tiếp xúc đều vọng duyên hư giả, thậm chí mình ngồi yên niệm Phật mà bao nhiêu buồn thương giận ghét nó ào ạt dâng trào đều là vọng duyên, câu niệm Phật của mình có sức mạnh đánh tan hết những vọng duyên đó, lìa vọng duyên đó tức như như Phật lúc đó tự tánh Di đà hiển lộ, lúc đó tịch lặng sẵn có nó hiện tiền đó là hoàn thành sứ mệnh cái bổn phận, trách nhiệm của người xuất gia, lúc đó mặc tình qua lại trong ba cõi làm lợi lạc cho chúng sanh, lúc đó là một ánh mắt, một nụ cười, một lời nói, một bước chân của mình đều diệu dụng vô cùng vô tận, tất cả đều trở thành Phật pháp còn bây giờ làm bằng cánh gắng gượng nói Phật pháp là Phật pháp thành ra cảnh duyên vo hồi trở thành thế gian, còn lúc đó thật sự chứng pháp đã sống với pháp nên các vị Cao tăng cổ đức những bậc Tôn túc ngày xưa nhất cử nhất động đều là lợi lạc cho chúng sanh, đều phát xuất từ tâm đại trí huệ đại giác ngộ và mỗi việc làm đều mẫu mực cho muôn đời. Chúng ta thấy đức Phật hay Chư tổ sư các bậc Cao tăng đọc lịch sử các Ngài chúng ta thấy được một cuộc đời xứng đáng như vậy cha mẹ rất vui, ông bà cô bác của mình sẽ rất hãnh diện, tất cả những người bạn đạo huynh đệ của mình sẽ thấm nhuần lợi lạc từ nơi mình, tất cả chúng sanh sẽ được ân đức của mình chia sẻ ban phát.
Hôm nay là buổi học cuối cùng để chúng ta vào ba tháng an cư, an cư là tập dừng lặng thân tâm, mong rằng khi xong ba tháng hạ ai cũng thêm một tuổi đạo được trưởng thành trong chánh pháp và càng ngày càng gần tới chỗ vắng lặng chân thật.