Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thế Nào Là Bốn Truyền Thống Bậc Thánh

2026-03-03 00:53:33
Tu Học Kinh Nikāya

THẾ NÀO LÀ BỐN TRUYỀN THỐNG BẬC THÁNH

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhắc nhở, dặn dò học – hiểu – hành: PAGEREF _Toc56669483 \h 1

II. Bốn truyền thống bậc thánh: PAGEREF _Toc56669484 \h 5

1. Truyền thống đầu tiên: PAGEREF _Toc56669485 \h 5

2. Vị ngọt – sự nguy hại – năm gánh nặng của người tu: PAGEREF _Toc56669486 \h 7

3. Truyền thống thứ hai: PAGEREF _Toc56669487 \h 12

4. Truyền thống thứ tư: PAGEREF _Toc56669488 \h 13

5. Truyền thống thứ hai: PAGEREF _Toc56669489 \h 15

5. Truyền thống thứ ba: PAGEREF _Toc56669490 \h 17

I. Nhắc nhở, dặn dò học – hiểu – hành:

Minh Thành đã có trình bày với các huynh đệ, từ đây đến hết học kỳ, chúng ta sẽ tìm hiểu về những pháp – pháp hành. Trong 37 phẩm trợ đạo, tùy theo nhân duyên của chúng ta, bởi vì ở sơ cấp và những năm đầu chúng ta có học về Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần và Bát Chánh Đạo nên giờ chúng ta sẽ không tìm hiểu giống như lúc trước mình học mà là tìm hiểu một cách sâu sắc, nhiều khía cạnh về 37 phẩm trợ đạo từ trong tài liệu gốc của kinh tạng Nikāya và ứng dụng vào đời sống thực tiễn trong thiền môn.

Về bài kinh Tứ Niệm Xứ, con mới vừa chia sẻ cho khóa tu 7 ngày trên Linh Quy, đã dựng xong, sắp sửa đưa lên trang linhquyphapan.vn, con mời các thầy đón xem, phần đó rất kỹ về quán thân, quán thọ, quán tâm; rất kỹ và rõ ràng về những phần tổng cương lĩnh của Tứ Niệm Xứ. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về Tứ Chánh Cần, tìm hiểu về sự tinh tấn, chuyên cần chân chánh trong Phật Pháp là làm gì và mong rằng tất cả quý huynh đệ, quý thầy về nhà phải đọc thêm kinh. Chúng ta sẽ về đọc bài kinh “Tinh cần” – Tăng Chi Bộ, tập 1, ở đây ai có xài máy, mở lên là có. Nhất là mấy huynh đệ về chịu khó lên trang linhquyphapan.vn có phần phân loại kinh tạng Nikāya, mình tải app đó xuống, tất cả tư liệu chúng ta học đều có trong đó.

Trong đó chia ra gần 500 chủ đề, pháp nghĩa của toàn bộ 5 bộ Nikāya. Quý huynh đệ lên đó tải xuống, rất tiện cho mình học, vì 500 chủ đề này, ví dụ quý huynh đệ gõ “vô thường”, tất cả những bài kinh, những câu pháp thoại liên hệ tới vô thường của Đức Phật ở trong Nikāya sẽ hiện ra trong mục “vô thường” đó. Ví dụ giờ mình đánh vô “Ngũ uẩn”: sắc uẩn, thọ uẩn, hành uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn; tất cả những gì Đức Phật nói về ngũ uẩn trong Nikāya hiện ra trong mục đó. Mình nhớ lên tải app đó xuống, trên app cũng có, đánh phân loại Nikāya là có. Dễ nhất là lên trang linhquyphapan.vn, tất cả những tư liệu chúng ta học đều lấy trong đó.

Thí dụ chủ đề “Xuất gia”, tất cả những bài kinh, những chủ đề Đức Phật nói về người xuất gia đều có trong đó, rất tiện cho chúng ta học, nghiên cứu, viết luận văn, trình bày một vấn đề hay thuyết giảng, rất tiện. Quý thầy ở chùa Hoằng Pháp bây giờ bắt đầu giảng pháp, lên đó lấy xuống là có tư liệu sẵn hết. Hay các thầy hướng dẫn Bát quan trai giới, hay những buổi pháp thoại, chia sẻ trong ngày sám hối… chỉ cần lên đó là không cần soạn bài cực khổ. Trên đó đầy đủ hết, muốn chủ đề nào bấm vô là có. Nhưng điều quan trọng là mình có hiểu được chính xác trong đó hay không, chứ không phải cầm báu vật trong tay mà không biết sử dụng, vì mình không hiểu được những từ trong đó.

Muốn hiểu được những từ trong đó phải nghe những bài giảng trên trang linhquyphapan.vn, vì những bài con đưa lên là những bài nói về Tổng cương lĩnh, đạo lộ tu tập, đường lối của kinh tạng Nikāya khi mình nghe những cái đó rồi mình nghe được những từ giảng một số bài kinh thì có chìa khóa để mình mở ra bộ phân loại kinh Nikāya, còn nếu không, mình có đọc đi nữa, con xin thưa đại chúng, con đã nghe kinh Nikāya 10 năm mà không hiểu, hiểu chữ về nghĩa mà nghĩa cũng không đúng. Mà khi mình nắm được phần nhận diện ngũ uẩn, mình biết được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là gì; nhận diện trong thân tâm của mình rồi, mình có sự nhìn lại, sau đó mình mới có chìa khóa để mở tạng kinh Nikāya nên các thầy, các huynh đệ để ý phần đó.

Nhớ phân loại, trên app và trang Nikāya linhquyphapan.vn đều có. Chỉ cần lên bấm một xíu 2,3 phút rồi đem về, xin thưa quý thầy, cái này con đem lên tốn nhiều lắm, mấy thầy lên bấm 2 phút về được miễn phí hoàn toàn. Cư sĩ Chơn Tín Toàn phải bỏ ra hàng chục năm để phân loại bộ này. Chúng ta chỉ cần bấm 2, 3 phút, nhiều lắm là 5 phút, chúng ta sẽ lấy về hết những tinh hoa trí tuệ 3000 năm của Đức Phật – 500 chủ đề, rất tiện. Xin thưa đại chúng, bây giờ con đâu tốn thời gian để biên soạn nhiều, tất cả đã nằm trong đây hết, mình căn cứ vào đó để học, tu và chia sẻ Phật Pháp. Mình tìm hiểu trong đó kỹ, nó có một hệ thống rất đầy đủ, rõ ràng, chi tiết, tất cả những phương diện.

Ví dụ phần Niệm Xứ, tất cả những bài kinh Đức Phật nói về Niệm Xứ đều có trong đó. Và phần hậu phân loại, chúng con đang làm, tức những chủ đề đó sẽ làm thành một tập sách, biên tập lại, sắp cái nào trước, cái nào sau, trình tự như 1 luận án, luận văn. Cái này phải cần nhân lực nhiều chứ ít người làm không nổi. Đã làm xong quyển Nghiệp, thầy Pháp Sơn nhập thất trên rừng (Linh Quy) 3 năm, thầy đã làm được 5, 7 chuyên đề. Nghiệp làm rồi, Nhập Lưu làm rồi, Giới đức của người tu làm rồi, Ngũ uẩn làm rồi… 1 số 7,8 chủ đề đã làm xong. Những chủ đề đó làm giáo trình cho cao đẳng, trung cấp, cho bên giảng sư làm giáo trình.

Như vậy, trước khi chúng ta đi vào chủ đề Pháp hành, không giống như mình quan niệm. Trước nay mình cứ học Tứ Niệm Xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ thì khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, nó không phải đơn giản như vậy, đơn giản giống như học tiểu học. Quý thầy về đón nghe bộ: “Sức sống của người tu”, đó là bộ Tứ Niệm Xứ, chiều nay hay mai con sẽ nhờ quý thầy đem lên trang web, rất là kỹ và nhiều về Tứ Niệm Xứ. Đây là tổng hợp tất cả những tư tưởng, pháp hành của Đức Phật dạy và trình bày trong bài kinh Niệm Xứ, chứ không phải giảng đơn thuần, chỉ có chữ nghĩa đó. Nó sẽ khác với những bản chú giải hay giảng thuyết Tứ Niệm Xứ trước nay.

Ví dụ giải thích từ “Tuệ tri”, không đơn giản chỉ giải thích là rõ biết. Mình nói rằng đi rõ biết đang đi, đứng rõ biết đang đứng, ngồi rõ biết đang ngồi, không phải đơn giản vậy mà Tuệ tri của Tứ Niệm Xứ là một chìa khóa khẩu quyết. Chứ không phải giải thích kiểu: đi biết rõ tôi đang đi, ngồi biết rõ tôi đang ngồi, nằm mới biết tôi đang nằm. Không đơn giản vậy, nghe rồi mới biết Tuệ tri trong đó nghĩa là gì. Đây là khẩu quyết của Đức Phật, chữ Tuệ này là tri kiến của bậc Thánh – Thánh Trí Tuệ. Thành ra Tứ Niệm Xứ mình cứ mở lên nghe rồi hiểu theo chữ đó là không đúng nên mình sẽ không thực hành được. Mà có thực hành đi nữa kết quả cũng rất ít, không đến giống như sự trình bày đầy đủ của Đức Phật.

Đức Phật giảng không chỉ có một bài kinh mà cả một tạng kinh, khi mình đối chiếu tất cả những bài pháp về Tứ Niệm Xứ mình mới biết được chữ Tuệ tri hay Niệm Xứ là như thế nào. Mình chỉ học một đoạn về Niệm Thân mà nghĩ là hết rồi là không phải. Thành ra chứ Tuệ tri là biết bằng trí tuệ của Chánh Kiến, không đơn giản là đi biết đi, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm thì mấy người ngoài đời cũng biết. Người ta đi cũng biết mình đang đi, ăn cũng biết đang ăn, như vậy đâu có gì khác. Nên phải nghe kỹ sức sống của người tu.

Quý thầy có muốn con chia sẻ kinh nghiệm tu học Nikāya không? Bởi vì cái này thực sự rất khó. Chính bản thân Minh Thành nghe suốt 10 năm mà con xin thưa đại chúng, con là Nho chùm, Hán thâm, con đã dịch 20 tác phẩm về thiền, luận những bộ luận lớn: Triệu luận, Lâm Tế Ngữ Lục… những bộ có tên tuổi trong Thiền tạng và trong Đại tạng, vậy mà vô kinh Nikāya con còn dội. Nếu một người bình thường không biết chữ Nho rất là khó, cực kỳ khó. Chính vì vậy tại sao tạng kinh Nikāya không thể phổ biến rộng rãi được, nó có những yếu tố như:

Thứ nhất là cách hành văn của nó lặp tới lặp lui, người ta đọc một hồi sẽ ngán. Nhưng con xin thưa hồi xưa mình cũng nghĩ như vậy, nhưng đó là cái vô minh của mình, nếu không lặp tới lặp lui, bây giờ tạng kinh đã bị diệt rồi. Vì cách lặp tới lặp lui đó là khẩu truyền để cho người ta nhớ, mới lưu truyền được. Nếu bây giờ nói 1 lần là lộn xộn, quên hết, phải nói 3 lần.

Thứ 2, ở trong đó là cổ văn, cổ ngữ, những lời nói đó hết sức cô đọng, hàm súc, tinh túy, khẩu quyết, giống như bí kíp võ lâm hồi xưa lọt xuống hang động. Mấy người khờ khờ khạo khạo, hiền hiền lọt xuống hang động, gặp bộ xương, khi lạy xuống thì tự nhiên bắn tên lên, sau khi nhảy nhảy, mở ra coi thấy xẹt hào quang, thì ra là bí kíp võ công “Cửu âm chân kinh”. Khi anh ta cầm bí kíp đó lên đọc cũng chưa hiểu, phải từ từ, lâu ngày luyện mới ngộ ra một chút, gặp tiền bối chỉ cho từ từ. Cuối cùng, khi hạ sơn, anh ta thành thiên hạ vô địch, đầu cô cầu bại.

Kinh Nikāya này còn hơn như vậy nữa, là khẩu quyết của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Thánh trí tuệ. Nó không phải ngôn ngữ bình thường để mình đọc giống như mình đọc báo mà hiểu. Thành ra cái khó thứ 2 là vấn đề cổ ngữ, phải qua một lớp Hán văn. Nếu người không học chữ Hán, đọc sẽ không hiểu, đây mới chỉ nói về từ ngữ, chưa nói tới lý và pháp hành, đó là một phần. Phần thứ 2 là phải có người chỉ mình cách thực hành đúng, khi thực hành được mới bắt đầu mở lớp thứ 2: đạo lý, nghĩa lý trong đó.

Tại sao các nước Phật giáo nguyên thủy bây giờ vẫn đi theo tạng luận, không lấy kinh làm chủ lực? Tại kinh rất khó, cực kỳ khó, phải có những người tu thành tựu mới mở kinh đó ra được, mới khám phá được bí kíp thực sự trong đó. Vì kinh là tất cả những gì trí huệ của Đức Phật, các vị đó nghe rồi tu chứng đắc, nên tại sao bây giờ mình không hiểu được, không sáng tỏ được? Do không có người chứng đắc, không hiểu được lấy gì tu, không tu làm sao chứng. Phải là bậc thành tựu người đó mới giải mã được. Thành ra có nhiều người lại hỏi bây giờ pháp hành tu ở đâu, không biết pháp hành ra sao, mà thực ra tất cả tạng kinh Nikāya đó là pháp hành. Không có một câu hay bài kinh nào mà không phải là pháp hành.

II. Bốn truyền thống bậc thánh:

Con nói ví dụ, đây là quyển “Giới đức của người tu”, con lật bất cứ bài kinh nào, không có chỗ nào không phải là pháp hành. Bài kinh: “Truyền thống” – Tăng Chi Bộ Kinh, tập 1.

“Có 4 truyền thống bậc Thánh, này các Tỳ-kheo, được biết là tối sơ, có đã lâu đời, được biết là truyền thống, kỳ cựu, không có tạp nhiễm, trước không bị tạp nhiễm, nay không bị tạp nhiễm , sẽ không bị tạp nhiễm, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách. Thế nào là bốn?

1. Truyền thống đầu tiên:

Ở đây, này các Tỳ-kheo biết đủ với bất cứ các loại y nào, và nói lời tán thán sự biết đủ với bất cứ loại y nào, không vì nhân y phục rơi vào sự tầm cầu bất chánh, không thích hợp”. (Bài kinh Truyền thống - III. Phẩm Uruvelà– Chương bốn – Bốn pháp – Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1.)

Đó có phải pháp hành không? Mình không biết pháp hành ở đâu, giờ đi tìm dạy pháp hành. Mình thấy đây là bốn truyền thống của bậc Thánh, tất cả những người tu học đều phải biết bốn điều này. Thứ nhất là phải biết đủ đối với bất kỳ cái áo, cái y nào – đây là pháp hành. Và phải nói lời tán thán với bất cứ loại y nào, dầu người ta cho vải cũ, vải thô cũng phải tán thán tùy hỷ công đức người ta phát tâm cúng dường. Vải cũ cũng là sự phát tâm cúng dường của họ, nhiều khi người ta cúng mình bữa cơm nhưng nhà họ nghèo, rất đơn sơ, có miếng đậu hũ với rau nhưng đó là cả tấm lòng, mình dùng cơm xong phải nói lời tùy hỷ tán thán. Mà có khi trong bụng mình không thích, nhưng mình cũng phải nhiếp cảm thọ đó và có lời tán thán công đức, đó là truyền thống của bậc thánh. Chứ không lẽ người ta cho món đồ lớn mới cảm ơn còn đồ nhỏ thì không sao, đó là pháp hành.

“Nếu không được y, không có lo âu tiếc nuối; nếu được y không có tham lam, mê say, tham đắm; thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ thấy được sự xuất ly, vị ấy hưởng thọ y, không vì biết đủ với bất cứ loại y nào, không có khen mình chê người.”.

Cái này mình học chưa? Chưa được học. Nếu y đẹp, phải nhiếp phục tâm ưa thích, nếu y xấu phải nhiếp phục tâm sân hận; nếu y bình thường không đẹp không xấu, phải quán chiếu tính chất vô thường, vô ngã trong đó, nếu không mình vẫn dính mắc như thường, quán chiếu trí huệ. Bây giờ Đức Phật dạy mình pháp hành về những chiếc y, thật ra về y mình học 7 buổi chưa hết. Phật dạy nhiều lắm mà mình không để tâm. Rồi mình nói giờ không có pháp hành, không biết đi cầu, đi kiếm ai dạy cho mình. Đi về dưới miền Tây, vô mấy cái miếu. Thấy không, sư phụ mình là đại đạo sư, để cho mình một kho báu pháp hành mà mình lại không biết pháp hành ở đâu, coi động trời không? Có mâu thuẫn vô cùng không?

“Nếu không được y, không lo âu tiếc nuối. Nếu được y không tham lam, mê say, tham đắm”.

Chẳng hạn bây giờ nói ví dụ đơn giản thực tế để thấy, nếu không đọc cái này không hiểu. Tự nhiên 2, 3 huynh đệ ở trong chùa, Phật tử lại cúng mấy người kia mà không cúng mình, mình lo, thấy sao kỳ. Một là sân, hai là lo, không biết mình có gì không mà không cúng cho mình. Thấy chưa? Tại sao không cho mình? Rồi tiếc nuối, lúc đầu người ta hỏi có cần không, trả lời không, sau suy nghĩ lại thấy tiếc, nghĩ phải chi lúc đó mình nói có. Vải này đẹp quá, mình tưởng đâu vải bình thường, ai dè vải siêu Ấn, siêu Mỹ gì đó. Không được cũng không lo âu, tiếc nuối.

Còn nếu được, không tham lam, mê say, tham đắm, không tu làm sao gặp cái này. Đây chính là những pháp tu không phải riêng chiếc y hay bao thơ, hộp túi sự cúng dường, tất cả mọi cái nếu được, không tham lam, mê say, tham đắm. Những điều này không học thuộc lòng thì không thấy được sự nguy hiểm trong chiếc y, trong bao thơ, trong gói quà, trong gói đồ đó. Nếu không tỉnh giác, Chánh niệm, không chịu quán chiếu tu tập, làm sao thấy được. Lúc đó lại mở ra coi người ta cho gì bên trong đó, nhiều khi còn chưa kịp đem về chùa. Không tu tập làm sao có những cái này, đó là pháp hành. Cái này là vô lượng vô số pháp hành, những chi tiết nhỏ nhiệm, sâu sắc trong tất cả cử chỉ hành động, sinh hoạt đời tu của mình. Làm sao để thấy được sự nguy hiểm trong đó?

Với trí tuệ thấy được sự xuất ly, điều này tuyệt vời lắm, mình tu ở chỗ thấy được 3 loại trí huệ này, phải nhớ thường thường quán niệm. Đây là 3 loại trí tuệ mà thường xuyên bậc đa văn Thánh đệ tử quán chiếu là pháp hành. Bất cứ mình tiếp xúc với cái gì mà thấy được sự nguy hại của nó, nguy hại tức là nguy hiểm và tác hại. Vị ngọt của nó là khỏi nói rồi, trên truyền hình, bảng quảng cáo rất nhiều, đem lại dục, đem lại hỷ, đem lại khoan khoái thích thú. Nhưng chúng sanh chỉ đuổi theo vị ngọt mà không biết được tính chất nguy hiểm và tác hại trong đó.

2. Vị ngọt – sự nguy hại – năm gánh nặng của người tu:

Cái gì cũng có cái nguy hiểm nguy hại trú ẩn trong đó. Một bữa ăn, một câu nói, một cái bắt tay, một sự cung kính, thân thiện đều tìm ẩn sự nguy hiểm trong đó. Nếu mình không nhìn ra, nó đều có hết. Ánh mắt có sự nguy hiểm và tác hại trong đó. Đi tụng đám ma cũng có sự nguy hiểm và tác hại: bảy thất mất ông thầy. Nó ghê gớm như vậy chứ đâu phải đơn giản. Nếu một người luôn luôn nhìn thấy sự nguy hiểm và tác hại mọi chỗ mọi nơi, thì người này cẩn thận không? Như vậy ta gọi giống như đi trên dao bén, bước trên băng mỏng. Vì người tu chân chánh, chân tu, tha thiết, chân thành trong sự tu, người này lúc nào cũng chăm chăm cẩn thận, sợ rơi vào sự nguy hiểm và tác hại của dục, nên sự tu đúng theo Chánh pháp rất khổ chứ không phải sướng như mình nghĩ. Đức Phật nói: “Này, các Tỳ-kheo, các ông không được bỏ quên gánh nặng của thiện pháp”. Tức là mình bỏ gánh nặng của thế gian: cơm, áo, gạo, tiền rồi vô đây gánh một gánh nặng của thiện pháp chứ không phải bỏ ở ngoài để vô đây hưởng cho sướng. Điều đó không đúng.

Năm gánh nặng đó là gì? Thứ nhất: Thánh giới uẩn, thứ hai: Thánh định uẩn, thứ ba: Thánh tuệ uẩn, thứ tư: Thánh giải thoát uẩn, thứ năm: Thánh giải thoát tri kiến uẩn. Đó là năm đại gánh nặng của người xuất gia, chứ không phải đi tu là khỏe, như vậy là tu vì tham ái, tu để tìm sung sướng không cần phải làm gì, khỏi cơm áo gạo tiền cực khổ. Ở ngoài thấy khổ quá đi tu, có thể lúc đầu như vậy được nhưng khi vào học Chánh pháp phải biết mình còn một gánh nặng.

Đức Phật nói trong kinh Nikāya: “Tỳ-kheo ràng rụa nước mắt, ôm mặt, đấm ngực, thậm chí đau khổ cho đến ngất xỉu và gần như chết, chiến đấu để thành tựu phạm hạnh” để cho chúng ta thấy được sự thật của người tu bản chất là như vậy chứ không phải nói đi tu để sung sướng, không phải làm gì. Đó là vô năng phàm phu, không biết được pháp, gánh nặng rất lớn, nước mắt dầm dề đầy mặt khi giới hạnh không thành tựu hoặc xúc phạm, hủy phạm, đau khổ, ray rứt, tội lỗi, ăn năn, tha thiết, chân thành, sám hối. Nên chúng ta thấy mới chỉ phần Thánh giới uẩn thôi đã cả một đại gánh chứ không phải gánh nhỏ. Để được viễn mãn Thánh giới uẩn là cả một công trình vĩ đại chứ đâu giống như mình nghĩ đơn sơ vô tu ngày 2 thời là rồi, không phải.

Làm thế nào để lớn mạnh, tăng thượng, hướng thượng, quảng đại, viên mãn trong Thánh giới uẩn, đó là gánh nặng của thiện pháp. Ví dụ, đúng giới luật buổi chiều không ăn, tuy rằng mình không giữ giới được, sức khỏe yếu kém, công việc nhiều… nhưng khi ăn phải đem lòng hổ thẹn, thấy xấu hổ vì mình chưa tròn được giới này. Đây là phạm giới, trong luật gọi là “khả dĩ”, còn đây ăn tới bến. Chiều một cữ, tối còn làm thêm tô mì, như vậy mà không xấu hổ, sợ hãi thì đây là tai họa, nguy hại nằm trong sự xuất gia, nguy hiểm và tác hại nằm trong sự xuất gia của mình. Ví dụ này nhỏ, vui vui cho dễ thấy, còn những cái lớn, nguy hiểm tự thấy, tự biết đó là gì, phải biết sự nguy hại trong đó.

Vị ngọt của người xuất gia là gì? Là không trồng, không gặt, không hái, không may, không làm gì hết mà được người ta quỳ, lạy, dâng cúng? Vừa cạo đầu đã có sẵn quần áo, cơm nước, phòng ốc, điện nước sẵn hết, tất cả mọi chi phí nhất thiết hiện thành. Tất cả đã hoàn thành ngay trong hiện tại, có sẵn, đầy đủ hết, lưỡi lam có sẵn, 3 bộ đồ có sẵn, y có sẵn, chùa có người cúng sẵn, phòng có sẵn, cơm gạo có sẵn trong kho, xe cộ cũng sẵn. Không cần lo tiền điện, tiền nước, tiền phòng…đó là vị ngọt của người xuất gia. Nhưng nguy hại, nguy hiểm và tác hại, những cái này tiền nợ của nó còn gấp 1.000 lần vay nóng xã hội đen. Rất khủng khiếp và kinh khủng. Vì sao? Mình vay nóng thì họ tới đòi, rạch mặt, chặt tay, đâm chém mình, nhưng cái kia xuống địa ngục, 100.000 lần thành hoại của trái đất này vẫn còn ở trong địa ngục, khủng khiếp như thế nên rất nguy hại.

Không thành tựu giới, phá giới, không có tâm hổ thẹn, tàm quý, không có tâm tăng thượng, hướng thượng để cho các giới được lớn mạnh là nguy hiểm. Đó mới là một phần, Thánh giới uẩn, chưa nói tới Định uẩn, Tuệ uẩn. Đó là gánh nặng, chỉ Thánh giới uẩn đã cả một đời tu nước mắt đầm đìa đầy mặt, ray rứt, nhức nhối trong tâm. Nếu một người chân tu, thực học, tha thiết, ý thức sâu sắc bổn phận và trách nhiệm của một người xuất gia thì người này sẽ đau nhức, ray rứt, đau khổ, xấu hổ khi mình chưa hoàn thành tất cả những giới mà nửa tháng tụng một lần.

Chúng ta thấy 3 loại trí tuệ này mình ứng dụng tất cả chỗ. Sự nguy hại sâu sắc hơn nữa là tham dục, sân hận, vô minh, bản ngã trong lòng mình vẫn còn, không thiểu giảm, tăng trưởng phát phiển chứ giảm, không được nhiếp phục, không được chế ngự, đoạn tận mà lại tăng trưởng phát triển thì đây là sự nguy hại. Cho nên chúng ta thấy 3 loại trí tuệ này rất quan trọng, ứng dụng với tất cả mọi chỗ trong cái dục, sự nguy hại của dục, sự xuất ly ra khỏi dục. Trong sắc và cảm giác cũng vậy, trong tất cả mọi cái đều đem 3 loại trí huệ này soi chiếu vô. Vị ngọt trong chuông, sự nguy hại trong chuông và sự xuất ly khỏi chuông.

Vị ngọt trong chuông là khi đánh cảm thấy chuông này nhập, là chuông Ấn Độ, Nepal, tiếng nghe đặc biệt, ngân vang. Nguy hại là đi đâu cũng kè kè sợ mất, rủi nó mất mình sầu bi khổ não. Đó là một ví dụ nhỏ xíu thôi. Sự xuất ly là thoát ra nguy hại trong tham sân si, nguy hại trong cái tâm đam mê dính mắc mà mình đã học trong chương “Tương ưng lợi đắc” cung kính, chương đó hết sức quan trọng. Mình muốn xuất ly ra, không ưa thích trong đó nữa, thiếu nợ, mang nợ, mắc nợ, rồi mai mốt đòi nợ, trả nợ, có gì trong này mà thích thú. Cho nên trong khi mình thấy sự nguy hiểm với trí huệ thấy được sự xuất ly, vị ấy hưởng thọ y. Đó mới là bậc chân tu, tức đang cầm y, đang cầm bao thơ, đang cầm phần quà đó nhưng không ưa thích, khoan khoái. Nguy hiểm trong này, Giới, Định, Huệ không thành tựu, gánh nặng thiện pháp chưa duyên thành, Thánh đạo chưa đi được tới đâu; tham, sân, si, bản ngã còn nhiều, giờ nhận cái này vô là mối hại, là mắc nợ, mang nợ, thiếu nợ, đền nợ, trả nợ.

Thành ra nhận như vậy nhưng bên trong tâm là trí tuệ thấy được sự xuất ly, không ham muốn, tuy cầm nhưng cảm giác bên trong muốn xa lìa, đó gọi là viễn ly hạnh. Tuyệt diệu chưa. Hạnh viễn ly tức là khi mình cầm món đồ đó nhưng không thích thú và khoan khoái nên tăng đường của Linh Quy mới vừa làm xong gọi là viễn ly xứ. Người tu mình đúng là phải viễn ly, yểm ly, xả ly, xuất ly. Tại sao mình viễn ly, tức xa lìa, chán lìa, bỏ lìa, lìa khỏi? Tại sao đưa đến cái này? Đây là thánh pháp ấn.

Tất cả sự tu tập của người xuất gia mà không hướng đến chỗ này là không phải Chánh pháp, không đưa đến cứu cánh phạm hạnh. Tại sao đưa đến điều này? Vì thấy được tính chất nguy hại này mới đưa đến xuất ly, còn chúng sanh thấy cái này [47:35], chúng ta thấy chỗ tuyệt diệu của đa văn thánh đệ tử là quán sâu về tính nguy hại của các pháp. Nên người này tự động, tự nhiên sẽ có một công năng, tác dụng đi tới chỗ đó. Cũng giống như uống đã khát, ăn cơm no bụng, cũng vậy, sự tu tập thâm sâu quán chiếu nguy hại, nguy hiểm và tác hại của các dục, các sắc làm cho người này đưa đến sự viễn ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt đối với tất cả ngũ uẩn.

Đây là chỗ tuyệt diệu của Thánh pháp, từ Thánh tri kiến đưa đến Thánh tư duy. Vì sao? Người này luôn luôn quán chiếu bất tín bất tịnh, nhơ nhớp, bẩn thỉu, vô thường. Bây giờ lũ lụt, sạt lở, hỏa tai, thiên tai, dịch bệnh, quán chiếu cái đó hoài, trong thân, ngoài thân, quán sự sanh diệt của thân, quán sự vô thường và bất tịnh của thân, quán sự vô thường của các cảnh vật bên ngoài, tai nạn, hiểm họa nguy hại, đủ thứ, đầy dẫy khắp mọi nơi thì người này đương nhiên nhàm chán, muốn xa lìa, không ưa thích nữa nên tâm người này hướng về viễn ly, ly tham, yểm ly, xả ly, xuất ly, nhất hướng Niết Bàn. Đó là công năng, tác dụng của Thánh tri kiến, Chánh tri kiến.

Bây giờ mình không quán gì hết, sống hữu ái, ưa thích hiện hữu, đam mê trong những sắc thân hương vị suốt ngày làm sao đưa đến viễn ly? Nên tâm chỉ, yếu chỉ tột cùng của người tu là đưa đến điều này, tất cả sự tu đều đưa đến điều này. Đó là Thánh pháp ấn – con dấu Chánh pháp của bậc Thánh. Nếu tu không đưa đến điều này thì cái đó tu không đúng. Nhớ, tu phải đưa đến điều này thì mới là tu đúng Chánh pháp. Đây là Thánh pháp ấn, không thể sai được, 3 đời chư Phật. Vì sao? Nếu ưa thích trong ngũ uẩn, trong tứ đại, trong này là vô thường, khổ, vô ngã, tan hoại, tan nát, hủy hoại, biến hoại mà ưa thích là ưa thích khổ.

“Này, các Tỳ-kheo, ai ưa thích sắc là người đó ưa thích khổ, ai ưa khổ thì người đó không thể giải thoát được khổ đau. Này, các Tỳ-kheo, ai không ưa thích sắc, người đó không ưa thích khổ, ai không ưa thích khổ người đó giải thoát khỏi khổ đau”.

Tại sao không ưa thích sắc và ưa thích sắc? Vị ngọt của sắc, nhìn cái này hoài nên ưa thích sắc. Tại sao không ưa thích sắc? Quán sự nguy hiểm và tác hại của sắc nên người này đưa đến sự xa lìa, chán ngán, từ bỏ, thoát ra khỏi nó. Xin thưa với đại chúng, đây là tổng cương lĩnh của tất cả giáo pháp. Mình ngồi nhìn tâm bản thân là biết, mình còn đam mê, ưa thích, khoan khoái, khao khát, say đắm đối với sắc. Đó là khổ, là nghiệp, còn sanh tử dài dài, nước mắt và máu còn chảy xuống, những thân xác còn chồng chất, chết dài dài. Khổ, đừng có mê.

Nên Đức Phật sau khi nói những bài kinh chúng ta thấy rất hay, như bài kinh “Chế ngự”:

“Này, các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt đưa đến xả ly; tu tập Trạch pháp giác chi…tu tập Tinh tấn giác chi…tu tập Hỷ giác chi…tu tập Khinh an giác chi…tu tập Định giác chi…tu tập Xả giác chi, Y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt đưa đến xả ly. Này, các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập”. (Bài kinh Chế ngự - phẩm Bhandagana – Chương bốn – Bốn pháp – Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1)

Y chỉ tức là nương tựa, đi đến chỗ đó.

Nhất quán hết tất cả đại tạng kinh Nikāya, không có ý nghĩa thứ hai chen vô trong đây, lộn xộn. Tất cả sự tu tập 37 phẩm trợ đạo đều đi tới đó. Tại vì sao? Mình nói đoạn tận sanh tử, chấm dứt luân hồi. Luân hồi ở đâu? Luân hồi trong ngũ uẩn. Tại sao đời này mình chết, sanh ra đời sau lại có thân nữa? Vì ưa thích, đam mê, khát khao, khát ái thân nên nó phải tiếp tục sanh ra thân nữa.

Hôm trước mình học bài kinh “Thân kiến”: kiến có thân, kiến chấp có thân, người đó chưa thành tựu Thánh tri kiến. Một người thành tựu Thánh tri kiến là người đó không ưa thích thân nữa, viễn ly, xa lìa thân, từ bỏ, nhám chán, chấm dứt thân bất tịnh, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, luân hồi, sanh tử, nước mắt, phèo phổi, máu mủ, gan ruột… từ bỏ, chấm dứt, không muốn tiếp tục nữa. Đó là Thánh tri kiến, tức là phá được thân kiến, diệt được hữu ái, cái này hay, sâu và đã vô cùng. Đây mới là Thánh trí huệ của Đức Phật, một sự không tiền tuyệt hậu, độc nhất vô nhị trên 10.000 hành tinh. Phá thân kiến, vì mình ưa thích tự thể ái này, ưa thích những cái “tôi”, “của tôi”, từ đó tham, sân, si mới sanh khởi, bản ngã, sự chiếm hữu mới sanh khởi, sự bành trướng mới sanh khởi.

Nếu mình thấy được bản chất tứ đại ngũ uẩn này là vô thường, khổ, vô ngã, nguy hiểm, tác hại trong này. Giờ mình thấy khổ chưa từng có không? Bây giờ là hơn 40 triệu ca nhiễm Covid, trong 1 ngày có nửa triệu người nhiễm bệnh, khủng khiếp không? Đây mới chỉ là con số báo cáo thôi, còn không báo cáo còn nhiều hơn nữa nên với Thánh trí tuệ, với tri kiến bậc Thánh, nhàm chán, không ham thích, ưa thích. Nên mình mới thấy được sự nguy hiểm với trí huệ, thấy được sự xuất ly vị ấy mới hưởng thọ cái y.

Chưa hết, lúc ấy mới đập một chút, “không vì biết đủ với bất cứ loại y nào, không khen mình, chê người”. Chỗ này sâu sắc, không những biết đủ mà còn phải tu dẹp bản ngã, mình tu được như vậy thì thấy người ta không tu, khen mình chê người, vẫn rơi vào bản ngã. Thấy vậy, tu như vậy, biết như vây, nhưng nhìn người khác với một lòng thương xót, thương bi mẫn. Không cống cao ngã mạn, không khen mình chê người mà nhìn với tâm từ ái, thương xót, đầy bi mẫn.

“Ai ở đây khôn khéo, thiện xảo, không thụ động, tỉnh giác, Chánh niệm, này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo đứng ở trên Thánh truyền thống, kỳ cựu, được nhận biết là tối sơ”. Ai ở đây khôn khéo, khéo léo, không thụ động, tức không lười biếng, hăng hái, nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, để tâm học hỏi, hành trì, không ẩn dương nương Phật, không an ổn qua ngày, không tự cho như vậy là thiện pháp. Mà người này nhiệt tâm, tha thiết, cần cầu, học hỏi, hành trì thì người đó Chánh niệm, tỉnh giác. “Này, các Tỳ-kheo, đó gọi là Tỳ-kheo đứng trên truyền thống của bậc Thánh”. Đó là người thừa kế truyền thống của bậc Thánh, cũng gọi là người thừa tự pháp, cũng gọi là người thừa kế được gia tài thật sự của Đức Như Lai – nếu là người thực hành giống như vậy. Được gọi là kỳ cựu, được nhận biết là bậc tối sơ, là bậc kỳ cựu trong chúng tăng.

Không phải lớn tuổi mới gọi là kỳ cựu, mà là người Chánh thống, tiếp nhận, thừa hưởng, truyền thừa Thánh pháp của Đức Phật gọi là bậc kỳ cựu trong Chánh pháp. Không phải lấy năm tháng để làm lớn mà người đó có thật sự tiếp nhận, thừa tự, truyền trì được pháp, người đó là bậc kỳ cựu, được nhận biết là tối sơ.

3. Truyền thống thứ hai:

“Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo biết đủ với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào và nói lời tán thán sự biết đủ đối với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào, không vì nhân khất thực mà rơi vào sự tầm cầu bất chánh không thích hợp. Nếu không được đồ ăn khất thực, không có lo âu tiếc nuối; nếu được đồ ăn khất thực, không có tham lam, mê say, tham đắm; thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ thấy được sự xuất ly, vị ấy hưởng thọ đồ ăn khất thực, không vì biết đủ với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào, không có khen mình, chê người. Ai ở đây khôn khéo (thiện xảo), không có thụ động, tỉnh giác, chánh niệm, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đứng ở trên Thánh truyền thống, kỳ cựu, được nhận biết là tối sơ”. (Bài kinh Truyền thống - III. Phẩm Uruvelà– Chương bốn – Bốn pháp – Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1.)

Có thầy nào đăng ký đi khất thực với con không? Sau này có duyên xin thưa đại chúng, nhất là mấy sư, sau này nếu đủ duyên, con xin một tháng đi khất thực 2 lần, như ngày rằm hay mùng 8 (ngày trai giới trong kinh Nikāya) những ngày đó Tứ đại Thiên vương sẽ đi tuần hành trong dân gian. Điều này kinh Nikāya có nói, những ngày đó rất quan trọng. Tại sao những ngày này gọi là ngày trai giới: 14 là thái tử con của Tứ đại Thiên vương đi tuần hành, ngày 15 là Tứ đại Thiên vương, mùng 8 cũng vậy. Những ngày trai giới đó, nếu sau này có duyên chắc chắn sẽ làm, sớm muộn thôi. Mình đắp y như thời Đức Phật, tuyệt đối không nhận tiền, chỉ nhận đồ ăn. Mình xin phép, bây giờ khất thực giả nhiều nên phải xin phép.

Thành ra tái hiện lại hình ảnh truyền thống của Đức Phật, chứ không phải chỉ có cổ Phật khất thực, với ở trong chùa khất thực thôi thì không có mấy người thấy. mình phải khất thực đúng pháp, không nhận tiền giống như thời Đức Phật. Chúng ta thấy mình khất thực như vậy, mình chỉ nhận đồ ăn vừa đủ bình bát, hoặc người ta mời về tư gia mình vào ăn cơm rồi phải thuyết pháp giống như thời Đức Phật. Ở trong kinh có hết, mình phải làm giống như vậy.Tuy không thể nào trở lại giống y như thời Đức Phật được nhưng cũng làm tái hiện lại đôi phần chút ít nào nếu không quên hết và trở thành những người khất thực giả làm mất hình ảnh, ô uế hình ảnh cao quý thiêng liêng của Đức Phật và thánh chúng. Giờ mình trở lại phần khất thực, là biết đủ, giống như lúc nãy, với sàng tọa, phòng ốc, đồ ăn, quần áo, thuốc men.

4. Truyền thống thứ tư:

“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích tu tập, vui thích tu tập, ưa thích đoạn tận, vui thích đoạn tận, nhưng không vì ưa thích tu tập, vui thích tu tập, ưa thích đoạn tận, vui thích đoạn tận mà khen mình chê người. Ai ở đây khôn khéo, không có thụ động, tỉnh giác, chánh niệm, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đứng trên Thánh truyền thống, kỳ cựu, được nhận biết là tối sơ.

Bốn truyền thống bậc Thánh này, này các Tỷ-kheo, được biết là tối sơ, có đã lâu đời, được biết là truyền thống, kỳ cựu, không có tạp nhiễm, trước không bị tạp nhiễm, nay không bị tạp nhiễm, sẽ không bị tạp nhiễm, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.”. (Bài kinh Truyền thống - III. Phẩm Uruvelà– Chương bốn – Bốn pháp – Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1.)

Truyền thống thứ 4 là gì? Ưa thích tu tập, vui thích tu tập, ưa thích đoạn tận, vui thích đoạn tận. Tu tập và đoạn tận, mình sẽ học tới các bài kinh “Chế ngự”, có 4 điều tinh tấn, trong đó có chế ngự, đoạn tận, tu tập, hộ trì. Tại sao ưa thích tu tập, vui thích tu tập, ưa thích đoạn tận, vui thích đoạn tận. Ưa thích tu tập cái gì, ưa thích đoạn tận cái gì? Khi nãy mình nói, tu tập giới, định, tuệ; hoặc ưa thích tu tập Tứ Niệm Xứ, tức luôn luôn nhìn lại thân, luôn luôn nhìn lại cảm thọ, cảm giác, nhìn lại nội tâm xem thử có tham, sân, si là mình đoạn trừ, tẩy sạch, diệt tận, chặt nó, làm nó không còn sanh khởi trở lại trong tương lai như cây Sala, chặt giống như chặt cây dừa, cây cau, chặt không còn mọc trở lại được nữa.

Người tu tập cũng phải như vậy, ưa thích, hoan hỉ, vui sướng, say mê trong sự tu tập. Làm sao mình làm nó sanh khởi trong cảm giác đó? Phải biết cách hành trì, hướng dẫn, có người đạo sư hướng dẫn. Nếu tu một mình rất dễ chán, vô ngồi thiền thấy ngán ngán, chán chán, một là buồn ngủ, hai là vọng tưởng, ba mỏi chân, 4 nhức lưng, 5 đau cẳng. Ngồi một hồi muốn bung ra sớm, lấy điện thoại quẹt có hương vị hơn, không ưa thích sự tu tập. Vì không thấy được sự ý nghĩa, giá trị, lợi ích, cao thượng trong sự tu tập, không thấy được sự vĩ đại trong sự tu tập, hành trì mà đoạn tận tham, tham dục, tham ái, đoạn tận sân hận, những cảm giác bực bội, cảm giác si mê, ù lì, ngơ ngơ ngáo ngáo, đơ đơ; đoạn tận cảm giác bản ngã, ta đây, tui, tao, mi, tớ, mày, tao, hơn thua, đúng sai, nhân ngã, bĩ thử, cống cao ngã mạn, giương giương tự đắc, khen mình chê người.

Đoạn tận, đoạn diệt, từ bỏ những điều đó, viễn ly, yểm ly, xả ly, xuất ly. Đó là sự tu tập, đứng trên Thánh truyền thống. Người này là người thừa kế được truyền thống của bậc Thánh, cũng là trưởng tử của Như Lai, Chúng Trung Tôn, phụng lập quần kê – phụng đứng trong bầy gà là phụng hoàng. Nên mới thấy được trong sự tu tập của chúng ta, có một sự nhiệt tâm, tinh cần, học hỏi đúng Chánh pháp. Mình có thực hành sẽ thích thú, vui sướng, hoan hỉ, ở trong trạng thái sơ thiền rất nhiều, thường luôn, hàng tháng, hàng năm, hàng nhiều năm trong trạng thái sơ thiền chứ không phải nói suôn, mà là sự tu tập đúng Chánh pháp.

Mình trú trong sơ thiền, bất cứ lúc nào cho sanh khởi hỉ lạc, mình muốn trú trong tâm từ, luôn suốt nguyên một ngày, một tuần, lúc nào cảm giác từ tâm, bi mẫn cũng tràn ngập tất cả châu thân, từ đỉnh đầu đến gót chân, giống như mình tắm vòi hoa sen, xối từ trên đầu xuống gót chân không chỗ nào không ướt. Cảm thọ từ tâm của mình cũng giống vậy, từng lỗ chân lông thấm đượm từ tâm, bi tâm. Khi mình trải tâm từ, tình thương của mình thấm nhuần, thấm đượm cùng khắp tất cả thậm chí nước mắt có thể ràn rụa xuống, xót thương một lòng bi mẫn vô hạn đối với tất cả chúng sanh hữu tình. Phải tu tập và rèn luyện tâm của mình như vậy, trú tâm mình.

Đức Phật nói tu tập tâm từ thế nào? Tu tập tâm từ vững chắc, kiên cố, tạo thành cỗ xe, tạo thành căn cứ địa, tạo thành thành quách, thành lũy kiên cố. Nhiều khi mình ở trong chùa 5 năm mà chưa trải tâm từ lần nào, chẳng qua thấy cảnh đó tội nghiệp, thương một chút vây chứ đó đâu phải trải tâm từ. Đó chỉ là một chút ý hành và cảm thọ. Về mở bài “Từ vô lượng tâm – trải tâm từ rộng lớn”, Minh Thành có hướng dẫn theo kinh Nikāya, mình sẽ thấy, trải tâm từ khắp 10 phương, mình thực tập mới thấy, không ngồi đó suy nghĩ, tưởng tượng được. Thực tập rồi mới thấy, thực sự tâm từ bao bọc lấy mình, bao bọc lấy người, chan hòa cùng khắp tất cả, ngay cả những người làm cho mình đau khổ, sân hận đối với mình, mình cũng có thể trải tâm từ đối với họ, bao bọc lấy họ nếu mình thực tập tâm từ một cách nhuần nhuyễn, thuần thục.

Trong sự tu học của chúng ta, xin thưa các huynh đệ phải cần nhiều cố gắng, nhất là trong tinh thần kinh Nikāya phải cố gắng rất nhiều, phải để tâm. Bây giờ con sẽ đọc cho quý thầy nghe lại đầy đủ bốn Thánh truyền thống. Hồi nãy là phần y, bây giờ về đồ ăn, khất thực.

5. Truyền thống thứ hai:

“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào, và nói lời tán thán sự biết đủ với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào, không vì nhân khất thực rơi vào sự tầm cầu bất chính, không thích hợp. Nếu không được đồ ăn khất thực, không có lo âu tiếc nuối; nếu được đồ ăn khất thực, không có tham lam, mê say, tham đắm”. (Bài kinh Truyền thống - III. Phẩm Uruvelà– Chương bốn – Bốn pháp – Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1.)

Khi ngồi trai tăng, không tham lam, mê say, tham đắm mâm đồ ăn trước mặt bốc mùi lên, khi người ta quỳ dâng bao thơ, đừng ngồi tưởng hình bóng con số là số mấy. Đó là Đức Phật dạy mình, mình diễn ra phải như vậy, vì trong này khẩu quyết, không diễn ra sẽ không hiểu hết ý. Phải diễn ra ngôn từ bây giờ như vậy, thấy sự nguy hiểm trong bao thơ đó, ở trong món đồ ăn này, trong món đồ tứ sự này, món quà này. “thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ thấy được sự xuất ly, vị ấy hưởng thọ đồ ăn khất thực, không vì biết đủ với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào, không có khen mình, chê người. Ai ở đây khôn khéo (thiện xảo), không có thụ động, tỉnh giác, chánh niệm, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đứng ở trên Thánh truyền thống, kỳ cựu, được nhận biết là tối sơ”. (Bài kinh Truyền thống - III. Phẩm Uruvelà– Chương bốn – Bốn pháp – Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1.)

Ăn cơm như vậy mình được lợi lạc, còn người cúng được lợi ích, phước báu. Nên chư thiên rất thích cúng dường cho Ngài Ma Ha Ca Diếp, tại sao? Ngài Ma Ha Ca Diếp khi ăn cơm luôn luôn trú trong vô lương tâm định. Có một thầy hỏi vô lượng tâm định là sao, là mình trú tâm mình trong một trạng thái rộng lớn vô lượng khắp mười phương nên phải thực tập nên cảm giác toàn thân là thực tập căn bản, từ cảm giác toàn thân thực tập rồi mới thực tập cảm giác rộng mở trước, sau đó tới tâm rộng lớn, sau đó mới tới tâm vô lượng, phải từng bước.

Khi thực tập cảm giác toàn thân quen rồi phải cho cảm giác thương của mình lan tỏa ra khắp phòng này. Mình nói về tâm từ trước, thiền quán sẽ xuyên qua tường vách, xuyên qua nóc nhà, qua trái phải, trên dưới, bề ngang bề dọc, cùng khắp hết sự quán tưởng của mình. Thọ, tưởng, hành sanh khởi. Lúc đó hình bóng có, tưởng có, cảm giác thương yêu của mình lan tỏa ra. Rồi ý hành là suy nghĩ của mình phải có nói, lúc đầu phải tác ý thường thường. Mình tác ý như vậy nó bung ra cảm thọ của mình cùng khắp hết tất cả trời đất hư không.

Nhưng khi mình quán như vậy, lúc đầu rất khó, chưa được, phải từ từ rồi sau này mới thuần thục, cũng như Ngài Ma Ha Ca Diếp, trú trong một trạng thái tâm an định bất động, rộng lớn vô lượng vô biên khi Ngài ăn cơm nên cái phước cúng dường cho một vị thọ thực trong trạng thái định đó là vô cùng vô cực vô lượng vô biên, chư thiên rất thích cúng vì biết tâm. Chư thiên có tha tâm thông nên người được thiên thần ủng hộ là người đó giới đức thanh tịnh, có thiền định trí huệ, vì người ta đọc được tâm mình. Đâu phải dễ mà thiên thần ủng hộ, những người đó từng là quyến thuộc hoặc người đó giới đức thanh tịnh, thiền định, trí huệ, chư thiên biết được, người ta có thiên nhãn.

Trong bài kinh “Thỉnh pháp”, Đức Phật mới vừa thành đạo, ngài khởi ý muốn vào Niết Bàn, ngài Phạm Thiên biến mất ở cung trời Phạm Thiên trong khoảng co duỗi cánh tay, hiện ra trước mặt Đức Phật, vén y qua phía bên phải, lạy xuống cầu thỉnh Đức Thế Tôn 3 lần, Đức Thế Tôn chuyển thánh pháp luân. Khi Đức Thế Tôn suy nghĩ, Phạm Thiên đọc được tâm này, chính vì vậy chư thiên có tha tâm thông, thiên nhãn thông nên ngài Ma Ha Ca Diếp trụ trong vô lượng tâm định, chư thiên đều nhìn thấy và biết hết nên tha thiết cúng dường cho ngài và phước nhiều khủng khiếp. Vì tâm vô lượng thì phước vô lượng vô cùng, còn tâm nhìn thấy món này ngon, hủ tiếu, phở… thì tâm có nhiêu đó, dục, tham, ái, không có phước. Lúc ngồi chỉ thấy món đó, không quán chiếu, sự nguy hiểm, sự xuất ly không trụ trong tâm định.

5. Truyền thống thứ ba:

Thật sự thưa với đại chúng, trong sự tu học, kinh Nikāya vi tế, tế nhị, thâm sâu, rộng lớn, rất thâm sâu, rộng lớn, không phải đơn giản như mình nghĩ, sự tu học phải để tâm.

“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với bất cứ loại sàng tọa nào, và nói lời tán thán sự biết đủ với bất cứ loại sàng tọa nào, không vì nhân sàng tọa rơi vào sự tầm cầu bất chính, không thích hợp. Nếu không được sàng tọa, không có lo âu tiếc nuối; nếu được sàng tọa, không có tham lam, mê say, đắm đuối; thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ thấy được sự xuất ly, vị ấy hưởng thọ sàng tọa, không có khen mình chê người. Ai ở đây khôn khéo, (thiện xảo), không có thụ động, tỉnh giác, chánh niệm, này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Tỷ-kheo đứng ở trên Thánh truyền thống, kỳ cựu, được nhận biết là tối sơ”.

Bốn truyền thống bậc Thánh này, này các Tỷ-kheo, được biết là tối sơ, có đã lâu đời, được biết là truyền thống, kỳ cựu, không có tạp nhiễm, trước không bị tạp nhiễm, nay không bị tạp nhiễm, sẽ không bị tạp nhiễm, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.” (Bài kinh Truyền thống - III. Phẩm Uruvelà– Chương bốn – Bốn pháp – Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1.)

Tại sao Đức Phật nói không có tạp nhiễm mà bây giờ làm như vậy, nếu người nào giữ gìn được cái này thì người đó đứng trên truyền thống của bậc Thánh chứ không phải nói bên ngoài, nói trong tâm của bất cứ hành giả, Tỳ-kheo nào mà thực hành được 4 cái này thì người đó không bị tạp nhiễm. Thực ra mình học kinh mà cứ hướng ra ngoài là trật, nói ủa Đức Phật nói vầy sao bây giờ nói vầy. Do tự thân của người đó pháp không bị ô nhiễm, nhân mới ô nhiễm. Bất cứ người nào ở trong trái đất nào nếu hiểu được thánh pháp vày và thực hành đúng thánh pháp này thì thành tựu thánh pháp này như nhau. Giá trị của pháp không thay đổi nên xưa không ô nhiễm, nay không ô nhiễm và sau không ô nhiễm, chỉ trừ khi nào pháp bị diệt vong, không còn ai muốn thực hành nữa, ai cũng thích chạy theo dục, theo ái, theo tham, không ai muốn ly tham thì pháp diệt. Đó là tại tâm niệm của chúng sanh, chứ không phải tại pháp.

./.