Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 26 - 7 Trí Về Thức
Tinh Hoa Nikāya
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 26
7 Trí Về Thức
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trí tuệ về Thức PAGEREF _Toc201584817 \h 1
II. Thu nhiếp lục căn PAGEREF _Toc201584818 \h 4
III. Tất cả pháp trống rỗng PAGEREF _Toc201584819 \h 7
IV. Tứ Diệu Đế PAGEREF _Toc201584820 \h 10
V. Trả lời câu hỏi về thức PAGEREF _Toc201584821 \h 13
I. Trí tuệ về Thức
Ba mươi lăm loại trí tuệ về năm uẩn:
GIẢI THÍCH SÁU THỨC
- Nhãn thức: Thấy rõ, rõ biết người, cảnh, vật, tứ đại.
Nhĩ thức: Nghe rõ, rõ biết lời nói, âm thanh, tiếng động, tiếng ồn.
- Tỷ thức: Rõ biết mùi hương thơm, thối, tanh, hôi.
- Thiệt thức: Rõ biết vị mặn, ngọt, chua…
- Thân thức: Rõ biết sự đụng chạm giữa thân này và quần áo, người, vật, tứ đại bên ngoài.
- Ý thức: Rõ biết thọ, tưởng, hành trong tâm.
Ý thức này rất quan trọng, hồi đó Minh Thành học mấy chục năm mà không biết ý thức là cái gì, khi học vào Nikāya mới biết ý thức là rõ biết được thọ; tưởng; hành. Thành ra những cái này là những cái đặc sắc của Nikāya nên chúng ta phải để ý thật là kỹ, nắm vững được những cái đó. Thí dụ mình nhìn thì biết cái này là cái ly, mình rõ biết được cái ly, rõ biết được nam nữ, rõ biết được cái bình, cái bàn, cái ghế, cái phòng thì cái rõ biết đó là nhãn thức, rõ biết cái tiếng chó sủa dưới kia, cái tiếng của những người thợ đục, khoan, rõ biết đó là nhĩ thức. Mình bước vô một cái phòng mới có mùi sơn, mình ngửi được cái mùi, mình rõ biết cái mùi thì đó là tỷ thực, mình rõ biết được vị thức ăn là thiệt thức. Mình để ý thân mình có sự đụng chạm vào quần áo vào bàn ghế, mình rõ biết được sự đụng chạm đó là thân thức. Mình quay lại trong tâm nhớ lại chuyện hôm trước, mình thấy rõ có cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ thì đó là ý thức.
BẢY TRÍ VỀ THỨC
• Thức: Rõ biết, nên gọi là Thức.
• Thức sanh: Do Danh sắc tập khởi nên Thức tập khởi.
• Thức diệt: Do Danh sắc đoạn diệt nên Thức đoạn diệt.
• Thức diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Thức đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
• Vị ngọt của Thức: Do duyên Thức khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Thức.
• Sự nguy hại của Thức: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Thức, đó là sự nguy hại của Thức.
• Sự xuất ly của Thức: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Thức, đó là sự xuất ly của Thức.
- Danh sắc: Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý là Danh. Tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành, đây gọi là Sắc.
Sắc là tứ đại, danh là thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý.
Thọ: Cảm thọ.
Tưởng: Hình bóng trong tâm.
Tư: Sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư.
Xúc: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.
Tác ý: Sự tác động tâm ý.
Vị ngọt, sự nguy hại của thức và sự xuất ly của thức là ba loại trí tuệ rất quan trọng. Mình thấy món đồ đẹp thì mình có thích không? Có thấy khoái không? Có thấy dễ chịu không? Đó là vị ngọt. Mình nghe tiếng êm ái, ngọt ngào, khen ngợi mình thì mình có thích không? Đó là vị ngọt. Mình nghe tiếng người ta xưng tụng, khen ngợi mình thì mình có thích không? Đó là vị ngọt. Mình nếm thức ăn thấy ngon quá thì mình khoái, đó là vị ngọt. Mình nhớ lại người dễ thương, khả ái thì lúc đó có vị ngọt trong ý thức. Khi có những cái thọ; tưởng; hành khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ dễ chịu, khoan khoái, thích thú, êm dịu, khả ái, hấp dẫn, ngọt ngào thì lúc đó có vị ngọt ở trong tâm ý của mình, đó là vị ngọt của ý thức.
Nhiều khi ngồi một mình nhớ là chuyện gì đó là buồn cười là mình cười, đó là vị ngọt của ý thức. Chính vì mình thích, mình khoái, mình thưởng thức cái vị ngọt đó cho nên mình không đi ra khỏi thức, cái tâm của mình nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt, làm căn cứ địa ở trong cái thức đó, nó cho thức nó là nó, là của nó, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi mà nó không biết cái thức này là do duyên sanh, vì căn với trần rồi mới sanh khởi ra thức. Sáu nội xứ là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, sáu ngoại xứ là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, sáu chỗ bên trong và sáu chỗ bên ngoài sanh khởi ra sáu thức. Như vậy nó là pháp duyên sanh, tự nó không có, thí dụ bên ngoài không có ánh sáng mặt trời, không có ánh sáng đèn cầy, đèn pin, đèn dầu, tất cả là không có ánh sáng, tối đen rồi mình có nhìn được mặt ai không, mình có biết được ai không, chỉ toàn một màu đen thì nhãn thức không sanh khởi vì thiếu duyên.
Thành ra cái thấy này là pháp duyên sanh, mà duyên sanh thì có điều kiện, nó vô thường, biến hoại, nó vô ngã, trống rỗng. Nhưng mà khi mình thấy là mình chấp vô liền "tôi thấy rõ ràng vậy mà", "tôi nghe rõ ràng như vậy mà", mình chấp vô cái thấy, cái nghe, cái ngửi, nếm, xúc, biết, thậm chí mình còn cho cái này là chân tâm nữa thì cái này không đúng lời Đức Phật dạy. Đây chỉ là thức sanh diệt, duyên sanh, vô thường, do nó vay mượn, nó kết hợp, nó nương dựa, nó lắp ráp rồi nó sanh khởi lên. Ví dụ điện thoại bị sóng yếu là mất mạng, mình không nói chuyện được, không còn nghe được, không thấy video được cho nên màn hình đó là duyên sanh, đủ duyên thì mình thấy hình người kia, thiếu duyên là câm, điếc, mù. Như vậy để thấy do mình yêu thích cái vị ngọt ở trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc biết này cho nên mình không đi ra khỏi nó, mình tham đắm, tức là mình không hiểu tính chất, cái bản chất của nó là vô minh cho nên mình tưởng nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình cho nên mình bám giữ, mình nắm chặt, mình ghi chắc, mình cho nó là ta, là của ta, là tự ngã của ta.
Chính vì vậy cái tâm mình bị hôn mê ở trong sáu thức cho nên nhìn thấy là đau khổ, nhìn thấy là yêu thích, nhìn thấy là bực bội, sân si vì mình không biết nó là duyên sanh, cái nào cũng cho là thật. Mình không nhận diện sáu cái biết đó là riêng lẻ, không phải là một cho nên phải thấy vị ngọt của nó, phải thấy được sự nguy hiểm của nó là cái thứ biến đổi, vô thường, khổ đau, chịu sự biến hoại, bản chất của nó là nguy hiểm và tác hại. Khi thấy là tham, thấy là dục, thấy là ái, nghe là mê, tiếp xúc là say đắm, ngu muội, điên khùng trong đó luôn, nếm thử rồi nghiện ngập, ngáo đá, cô gái mới ngoài hai mươi mà trần truồng chui trong ống cống, hoặc là leo lên nóc nhà quăng đứa con xuống đất. Chúng sanh bị điên đảo ở trong vị ngọt mà không thấy được sự nguy hiểm và tác hại của nó, nó hại mình, nó giết mình, làm cho mình khổ đau, trầm luân, chìm đắm, trôi lăn, trôi dạt, trôi nổi, phiêu bạt vô lượng, vô số, vô biên kiếp mà không thấy.
Mình cho đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, mình hôn mê, mình đam mê, mình say mê, ngu mê ở trong sáu cái thức đó, không thấy nó là duyên sanh, không thấy nó là vô thường, không thấy là sanh diệt, không thấy nó là cái thứ gây ra tội lỗi, nó gây ra sự trói cột, sự chìm đắm, trôi lăn, gây ra sự sanh tử. Nó gây ra cho tất cả chúng sanh trong sự quay cuồng điên đảo, hỗn độn, hỗn loạn mà không nhìn thấy cho nên mình bị đắm đuối trong đó, trôi dạt, chìm đắm, trôi lăn, trôi nổi, phiêu bạt đau khổ trong sáu thức. Bây giờ mình quán sự nguy hiểm và tác hại của nó để thoát ra, mình muốn thoát ra nó thì mình phải nhiếp phục dục và tham sự, đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của thức.
Dục và tham đối với thức là cái sự mình thích, khoái. Trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này mình thích lắm, mình khoái lắm, mình muốn được nhìn. Ở trong phòng một mình đâu có chịu nổi, đó là thức thực, món ăn của nhận thức là nó muốn biết, thí dụ mình ở trong phòng nhưng nghe tiếng ngoài kia thấy quen quen nên ráng chạy ra nhìn để xem tiếng của ai, đó là thức thực, là sự tò mò, hiếu kỳ, muốn tìm hiểu, để ý người ta. Ví dụ mình đang ngồi đây nhưng nghe người ta nói "cô đó sân si dữ lắm", nói cái tên đó trùng với tên mình thì mình ra sao? Mình không thấy mặt nên phải bước ra xem người nào đang nói, tên gì, ở đâu, tại sao nói tôi như vậy rồi mình đau khổ, sân si lên cho nên biết cái đó để làm gì. Nghe để sân si, tham muốn, nghe để hơn thua, đấu đá thì nghe để làm cái gì? Thấy để làm cái gì?
II. Thu nhiếp lục căn
Cho nên người ta làm tượng con khỉ bịt mắt, bịt tai, bịt miệng, đó là đóng các thức lại, thâu nhiếp lục căn, không thọ hành ra có những lúc tập thấy như không thấy, nghe như không nghe, biết như không biết, có những lúc phải tập như vậy để đỡ phiền não chứ rác nhà ai cũng gom vào nhà mình hết thì nhà mình là một đống rác cho nên có những cái thấy giống như mù, nghe giống như điếc, biết giống như không biết, mình xả những cái đó thì mới được an lạc.
Khi con còn là Tăng sinh nhỏ thì các huynh đệ nói:
Ông nghe cái gì chưa? Mấy người kia nói ông như vậy.
Tôi bận lắm, mắc học, ai muốn nói gì nói.
Vậy là khỏe, con không muốn nghe vì nghe để phiền não, sân si thì nghe làm gì. Hoặc là có nhiều người hỏi
Thầy có nghe cái gì chưa? người ta nói thầy như vậy.
Vậy hả… Bận lắm, phiền não nhiều lắm đang gội rửa không có thời gian, không nhận rác thêm.
Vậy là tâm mình khỏe, rác trong tâm đã mệt rồi thì mình hứng vào thêm nữa chi cho khổ. Bây giờ thấy cái gì cũng hứng vô, chụp hình, quay phim, ghi âm để làm gì? Mắt mình giống như máy chụp hình, tai mình giống cái máy ghi âm, cái miệng giống như cái loa, cái thọ của mình giống lò lửa, cái tưởng của mình giống cái tivi, cái hành giống cái đài radio cho nên nó làm mình khổ. Bây giờ đóng lại không thèm mở, thấy giống như mù, nghe giống như điếc, biết giống như không biết luôn, xả luôn. Tự nhiên mình đi ngang thì trừng trợn, lườm nguýt mình, mình nhìn giống như mù, mình xả hết cho khỏe, quay vào nhìn tâm chứ đừng nhìn ai bên ngoài nữa.
Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Lòng Đạo xin tròn một tấm gương.
(Nguyễn Đình Chiểu)
Cho mình khuất đôi trong mắt luôn đi, cho mình mù luôn đi, đừng nhìn thấy, ai liếc, háy, nguýt gì kệ người ta, khỏi cần để ý gì hết, sự đời thà khuất đôi trong mắt mà lòng đạo xin tròn một tấm gương, tức là mình có một cái gương sáng để mình soi lại bên trong của mình, không thèm nhìn bên ngoài, không cần nhìn bên ngoài, ai muốn nói gì nói miễn mình đi cho đúng chánh đạo, đúng chánh pháp để mình đạt tới chánh kiến, chánh quả là được rồi, không cần quan tâm ai hết. Trong sự tu của mình phải khéo léo thu thúc lục căn, khéo léo từ bỏ, quán chiếu tác ý các thức. Tự nhiên mình ngồi nhớ lại người hủy nhục, chỉ trích mình rồi bực bội lên chi vậy? Hãy xả bỏ hình ảnh đó, xả bỏ cái cảm thọ đó, từ bỏ cái suy nghĩ đó, nghĩ cái này để cho mình mệt, nghĩ để cho mình bực thì nghĩ làm chi, chỉ cần nghĩ niệm ân đức của Phật, niệm ân đức của Tăng, niệm ân đức của pháp, niệm cái tâm xả ly, cái tâm xuất ly, niệm cái tâm của các bậc thánh, không niệm cái sân, cái sự bực bội, hơn thua, chấp nhặt, ghim gút với người khác mà niệm thánh đạo, thánh quả, thánh pháp, thánh trí, niệm các bậc hiền thánh, nhớ đức hạnh của tôn giả Xá-lợi-phất, nhớ đức hạnh của ngài Mục-kiền-liên, nhớ đức hạnh của ngài Maha Kassapa, ngài Maha Ca-diếp.
Mình niệm ân đức của các bậc thánh thì tự nhiên mình đẩy hết tất cả những cái thọ; tưởng; hành ngu si, vô minh, hơn thua, chấp ngã, ghim rút, hẹp hòi, nhỏ mọn, hạ liệt, phàm phu ra khỏi tâm của mình, đó là mình từ bỏ những cái thức vô minh, sân si, tham ái, chấp thủ, mình hướng cái thức của mình đến cao thượng, hướng nó vào tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh, thượng nhân pháp, đó là sự công phu của mình ở trong sáu thức và phải thường thường nhận diện sáu thức thì khi thấy mình biết cái này pháp duyên sanh, cái thấy này là duyên sanh, Do duyên có mắt và các sắc, sanh khởi nhãn thức (sự rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là nhãn xúc. Do duyên có nhãn xúc nên sanh khởi thọ, sắc tưởng, sắc tư.
Tại sao thấy là chấp vậy? Nghe một cái là thương hoặc là bực mình để làm gì vậy? Cho nên mình tập cái tâm nhả ra, mở ra, bỏ ra, buông ra, quăng ra, liệng ra đối với sáu thức, không chấp nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, dầu cho mình có sanh khỏi cảm thọ thì cảm thọ này cũng là vô thường, mình không có nhận cảm thọ này là mình. Dù cho nó có hiện lên hình bóng ở trong tâm ám ảnh thì mình cũng xả bỏ những hình bóng này vì nó là khổ đau, từ bỏ những hình bóng này, hình bóng này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, "những hình bóng ma trơi, những hình bóng của vô minh, những hình bóng của khát ái, của dục, của ngu si, điên đảo mộng tưởng tan biến khỏi tâm ta đi". Tuy mình nói là thức nhưng mà đầy đủ cả ngũ uẩn, khi mình nói sẽ có đầy đủ ngũ uẩn trong đó, như vậy nhiếp phục dục tham và đoạn tận dụng tham đối với các thức này là sự xuất ly khỏi các thức.
Đừng có tin vào cái thấy này, đừng có dựa hết vào cái nghe này, cái ngửi, cái nếm này, phải quán sự sanh khởi, an trú và đoạn diệt của nó. Những cái tiếp xúc của mình phải có sự chính niệm và tỉnh giác trong khi tiếp xúc, những cái hình bóng, suy nghĩ và cảm thọ trong tâm phải được soi chiếu, phải được thấy, được biết, nội soi, được nội tỉnh, được nội quán, được nội chiếu và đừng có để cho những cái dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã đó che mờ, nó phủ lấp, xâm chiếm, áp đảo, bao vây, vây hãm, khống chế, nó sai khiến, sai sử, sai bảo mình, mình phải tập làm chủ ở trong sáu thức. Có những lúc mình không cần thấy, không có cần nghe nữa, mình thực hành ba pháp, rõ biết trước mặt cảm, giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Mình an trú vững chắc định tâm trên thân, không có buông lung phóng dật, không có chạy theo cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này, mình trú trong cái trí vô thường, khổ, vô ngã đối với ngũ uẩn. Tâm mình bình an, an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu, trong sáng, hướng đến sự yểm ly, ly tham, hướng đến sự nhàm chán, đoạn diệt, chấm dứt, xuất ly đối với năm thủ uẩn.
Mình không còn phải đi tìm những cái gì để mình nhìn nữa, không có ngóng những cái âm thanh nào nữa hết, không có đi kiếm. Cái tâm mình không tầm cầu những cái thức ăn nữa, cái thân mình cũng không có đòi hỏi, khao khát những sự xúc chạm, đụng chạm, tiếp xúc. Trong cái ý của mình là nhìn thấy được cái bản chất, cái tính vô thường, trống rỗng, khổ đau, bất an và tai họa của các thọ; tưởng; hành; thức, đó là mình trú ở trong thánh trí của Đức Phật đưa đến sự nhàm chán đối với ngũ uẩn, đưa nó sự ly tham đối ngũ uẩn, đưa đến sự chấm dứt đối với ngũ uẩn, đưa đến từ bỏ đối với ngũ uẩn, đưa đến giải thoát, thoát ly ra khỏi ngũ uẩn. Đó là sự tôn tối cao của thánh đạo, thánh quả, thánh pháp, thánh trí ở trong kinh tạng Nikāya.
III. Tất cả pháp trống rỗng
Đối với tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức trong ngoài, thô thế, thắng liệt, xa gần, đẹp xấu, quá khứ, hiện tại, vị lai cần phải như thật tuệ tri, biết nó bằng trí tuệ những thứ đó là những thứ mong manh, tạm bợ, vô thường, những thứ đó là những cái bong bóng, những thứ bọt nước. Cần phải quán sắc như hòn bọt, quán thọ như bong bóng, quán hành như những bẹ chuối, bán thức giống như là trò ảo thuật của cái tâm thức này, chỉ là trò ảo thuật thôi, quán tưởng giống như là ráng của mặt trời vậy, chỉ là cái ảo ảnh do phản chiếu ánh nắng.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?
Ví như, này các Tỳ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?
Ví như, này các Tỳ-kheo, trong tháng cuối mùa hạ, vào đúng giữa trưa đứng bóng, một ráng mặt trời rung động hiện lên. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, nên ráng mặt trời ấy hiện rõ ra là trống không, rỗng không, không có lõi cứng... Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong ráng mặt trời được?
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người cần có lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cái búa sắc bén đi vào ngôi rừng. Ở đây, người ấy thấy một cụm cây chuối lớn, mọc thẳng, mới lớn, cao vút. Người ấy chặt rễ cây ấy. Sau khi chặt rễ, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ chuối ngoài. Khi lột vỏ chuối ngoài, giác cây còn tìm không được, tìm đâu cho có được lõi cây?
Ví như, này các Tỳ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được?" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước)
Tất cả những cái mình cho là tôi nghe, tôi thấy, tôi ngửi, tôi nếm, tôi xúc, tôi biết đều là trò ảo thuật của tâm thức. Tất cả những gì mình thấy tận mắt, mình nghe tận tai, mình sanh khởi lên cảm xúc rõ ràng nhưng mà tất cả cái đó là trò ảo thuật của tâm thức, không có thật. Mình bị gạt, mình bị dụ, mình bị hoa mắt, mình bị các lậu hoặc dụ, "tôi thương thầy lắm", "tôi thương cô lắm, tôi quý lắm, tôi kính lắm", nghe vậy rồi tin liền, những cái đó chưa chắc, đó là trò ảo thuật, mới khen hôm qua nhưng nay đã che, vài bữa trước đưa lên nhưng nay bị hạ bệ, những cái vinh nhục, được mất, hơn thua, khen chê trong cuộc đời này là bát phong, gọi là lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc, đó là tám ngọn gió cuộc đời này, lợi ích hay là suy hao, hủy báng hay là khen ngợi, khổ hay là vui đều là cái pháp biến động, vô thường, không có thật.
"- Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, lạc và khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (V). Tùy Chuyển Thế Giới (1))
Dù cho mình có thấy, có biết, có nghe, ngửi, nếm, xúc, biết rõ ràng trước mặt như vậy nhưng chỉ là trò ảo thuật của tâm, dù ở trước mặt mình như vậy nhưng mà là nó là trò ảo thuật không có thật nhưng mình đau khổ trong đó, mình sầu bi, mình ưu não trong đó, mình nhớ, mình thương, mình oán, mình hận, mình thù, mình tủi, mình nhục, mình bất an, lo lắng, sợ hãi với những cái hòn bọt, bong bóng nước, với những cái bẹ chuối vô nghĩa, trống rỗng, vô thường, vô ngã, vô tình, vô giá trị, không có cái gì hết, cuối cùng cuộc đời của mình là một cái đống tro tàn, một đống nghiệp, một đống khổ, một đống nước mắt, một đống xương, một đống sình lên hôi thối.
Xin đừng đem dạ tưởng mơ,
Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây,
Rút gươm huệ dứt dây tham ái,
Kiếp tìm thầy cầu phái qui y.
Kiên trì ngũ giới tam qui,
Mở lòng từ nhẫn sân si phải chừa.
(Sám Thảo Lư - Sám Hồi Tâm I (Tổ Huệ Đăng)
Mới vừa đây động đất ở Maroc được báo cáo là chết với bị thương 4.500 người, vẫn còn đang tìm kiếm xác nữa, Trung Quốc là không biết bao nhiêu trăm triệu nhà tan cửa nát, nhà trôi, người bay, cây tróc gốc, xe trôi như lục bình. Hiện tại bây giờ toàn thế giới biến động, thiên hạ đại loạn, khổ đau tràn đầy, đói khát cùng khắp, trăm trăm triệu triệu người chết đói. Mình ngồi đây là biết bao nhiêu công đức, phước báo thiện lành mà mình không trân trọng, trân quý, trân kính thì mình mất cái cơ hội này là đau đớn.
Lỡ bước một phen ngàn đời ân hận
Quay đầu trở lại chín suối ngậm ngùi.
Mình không trân trọng những cái mình đang có, mình mất đi một cái rồi mình đau khổ trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, rớt chiếc áo cà sa này xuống là hầm lửa, là vạt dầu sôi, là cột đồng cháy đỏ, là rừng đao, núi kiếm. Một khi rớt áo cà sa xuống, cái tấm y xuống mà không có giới đức, thiền định, trí tuệ thì tam đồ ác đạo chờ đợi, mang lông đội sừng vì thế mình phải lo lắng và sợ hãi, mình nỗ lực, mình tinh cần, mình làm cho bản thân có một sức mãnh liệt, mạnh mẽ để mình tiến lên còn nếu không là tai họa, hiểm nạn và đau khổ đang chờ đợi phía trước của chúng ta. Không biết ngày mai, không biết tuần sau, hay là tháng sau, hay là năm sau, hay là ba năm, năm năm, bảy năm, không biết lúc nào chết, bất thình lình trúng gió độc cũng chết, bất thình lình tai biến, đột biến, đột quỵ, đột tử cũng chết, đi xe tai nạn giao thông, máy bay máy rơi, bất thình lình bị chém lộn người cũng chết, đang ngồi uống café bị bắn chết tại chỗ.
Tất cả chỉ là giấc mộng thôi, một vở tưởng của dục ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, nếu không nhìn ra được là mình còn sầu, bi, khổ, ưu, não, là mình còn đóng vở tuồng đó hoài hoài trong vô lượng, vô biên, vô thỉ kiếp, những tập phim đầy rẫy nước mắt và máu, những tập phim đầy rẫy sự tranh đấu, tranh giành, giành giật, ganh tỵ, đố kỵ, khổ sầu,… Cứ đóng mãi những tập phim đó mà không thấy chán, chiến tranh biết bao năm làm chết biết bao mạng người, tích tắc là nguyên một cái thành phố Hawaii trở thành đóng tro tàn, không ai lường được, không ai ngờ được, không ai tưởng được, đó là bất khả tư nghì, nghiệp dị thục là không thể tưởng tượng được, cuộc đời của mình cũng vậy.
Nghiệp đeo như bóng với hình,
Chờ duyên hội đủ để hành tội nhau,
Nay thương, mai ghét, đổi mau
Ghét thương, thương ghét, khổ nhau cả đời.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Bây giờ cái nghiệp nằm yên đó chờ thời đúng lúc nó xử mình, những oan gia trái chủ, cụ thù chấp đối từ vô lượng, vô số, vô kiên kiếp của mình nằm sẵn đó chờ đúng thời đúng lúc, nhân duyên thuần thục, nghiệp quả chín muồi thì nó ập vào là xong. Mình đừng có tưởng đâu mình đang ngồi đây là yên thân, không không có, mình tưởng đi ngoài đường là yên thân, không có, bất thình lình nghe cái "rầm" là xong. Nghiệp như hình với bóng, chờ thời để ra tay là mình đi đâu nó theo đó giống như hình với bóng, chờ thời ra tay là nó núp lùm, nó bắn tỉa, nó du kích, đừng có tưởng đâu mình an yên, không bao giờ có trạng thái an yên ngoại trừ các bậc thánh mới là đại an ổn, hoàn toàn được ngơi nghỉ, hoàn toàn tâm bất động giải thoát, còn tất cả phàm phu là trong cái trạng thái bất an, sầu, bi, khổ, ưu, não.
IV. Tứ Diệu Đế
Nếu mình không ý thức được điều đó thì mình không có thấy khổ, mình không thấy được cái đó thì làm sao mình thấy khổ, mình không thấy khổ thì làm sao mình tu, làm sao mình muốn thoát khổ cho nên tất cả các thiện nam tử từ đời quá khứ từ bỏ gia đình sống không gia đình là để tìm cầu nhìn thấy được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ và đây là con đường để chấm dứt khổ đau, đây là một nỗ lực cố gắng mà các ông cần phải làm để các ông thấy được khổ, thấy được nguyên nhân của khổ và thấy được đạo lộ diệt khổ.
" -- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các Tỳ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỳ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... sẽ chơn chánh xuất gia... tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, III. Thiện Nam Tử)
Bất cứ một người nào tu hành chân chánh thì người đó cũng đều cố gắng nỗ lực để nhìn thấy được ngũ uẩn này là khổ. Dục ái, tham, sân, si, bản ngã trong cái ngũ uẩn này là nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt, sự diệt tận hoàn toàn cái khổ này bằng Bát Thánh Đạo. Tất cả thiện nam tử quá khứ, hiện tại, vị lai, thiện nữ nhân, Tăng Ni, Phật tử đều là như vậy hết, trong ba thuở không có một cái gì khác, nếu không thấy khổ thì người đó không có cái tâm cầu thoát khổ, mà không có tâm cầu thoát khổ thì làm sao người đó bước trên cái đạo lộ đi đến diệt khổ. Chính vì vậy pháp Tứ Thánh Đế là tối thượng của tất cả các bậc thánh, tất cả các bậc thánh hiền đều phải thấy khổ và thấy được khổ tập khởi, thấy được khổ đoạn diệt và thấy được con đường đưa đến khổ đoạn diệt.
Ngũ uẩn là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mà sắc; thọ; tưởng; hành; thức là bao gồm thân tâm và thế giới, như vậy trí tuệ năm uẩn có phải là trí vũ trụ không? Bao trùm cả trời đất không? Không còn cái trí nào ngoài trí năm uẩn nữa hết, bản chất của năm uẩn là duyên sanh, là vô thường, khổ, biến hoại, bản chất của nó cũng là sự nguy hiểm và tác hại. Từ lời dạy của Đức Phật mình đưa vào trong đời sống của mình thực tế của mình, thí dụ như bây giờ có ai chạm tới mình lúc đó mình sao, có ai đưa cái tôi mình lên lúc đó mình sao, mình phải có những cái ví dụ cụ thể thực tế trong đời sống sinh hoạt của mình tức là mình trình pháp. Ví dụ mình gặp cái đó đẹp quá, đồ đó đẹp, cảnh đẹp thì lúc đó mình như thế nào, nếu mình đi theo những cái đó thì nó làm cho mình khổ, nếu mình rời xa được những cái đó thì mình có an lạc, mình phải có những cái ví dụ thiết thực, cụ thể ở trong đời sống về tham, sân, si, bản ngã. Khi mình chạy theo vị ngọt của nó thì như thế nào, khi mình xuất ly được khỏi nó, mình nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, mình ra khỏi nó thì mình được an lạc như thế nào, mình hạnh phúc như thế nào, mình thoải mái, mình tự do như thế nào, sự nguy hiểm và tác hại của nó như thế nào, ba cái khía cạnh là ba cái trí tuệ về ngũ uẩn, đó là vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly.
Mình phải thuộc lòng những cái lời kinh định nghĩa về ba cái trí tuệ đó và mình phải có những cái ví dụ thực tế, thực tiễn, thực nhất ở trong đời sống của mình, trong tự thân của mình cũng như trong những chuyện mà mình thấy, mình nghe, mình tiếp xúc những người chung quanh mình, mình đem cái nhìn nhận trong trí tuệ ngũ uẩn để mình soi rọi từ đời sống sinh hoạt của mình cho đến những người xung quanh, hay là toàn thế giới này. Mình trình bày được cái ngũ uẩn, cái tham, sân, si, dục ái, bản ngã nó vận hành trong cái đời sống thực tế, khi mình đối diện với nó rồi mình xử lý nó như thế nào, tu tập như thế nào, mình tác ý như thế nào để mình chuyển hóa nó, mình vượt qua nó, chỗ đó là chỗ tu tập của mình, chỗ thực tập của mình, chỗ thực dụng của mình, chỗ công phu của mình, chỗ mình có hiểu bài không, thực tập được không, trải nghiệm thực chứng ở trong đó hay không. Khi mình gặp chuyện tham lúc đó mình như thế nào, mình xử lý nó ra sao, khi gặp chuyện sân lúc đó mình phải giải quyết như thế nào, xử lý cái cơn giận đó ra làm sao, khi mình gặp những trường hợp sanh khởi lên bản ngã thì mình tu tập như thế nào, lúc đó nó làm cho mình khổ như thế nào, người khổ như thế nào, tu tập làm sao, tác ý làm sao, quán chiếu sao, thực hành sao.
V. Trả lời câu hỏi về thức
Sư thầy 1: Mô Phật, con kính bạch thượng tọa giáo thọ sư, từ đầu năm học đến giờ chúng con học về ngũ uẩn, con chưa rõ về thức, giáo thọ sư giải thích cho con rõ về thức của vọng thức và thức của chân tâm Phật tánh của mình là cái gì, khi nào nó hiện hành, khi nào nó hiện khởi để con biết cách tu tập. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Chân tâm hay Phật tánh là từ của sau này, Đức Phật không dùng từ đó, trong Nikāya không có từ đó, trong Nikāya chỉ dùng từ "thánh trí" thôi chứ không nói đến chân tâm Phật tánh cho nên khi làm bài mình không dùng từ đó, nó không có trong kinh nên không dùng. Mình học Nikāya là chỉ nói về Nikāya thôi, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là pháp duyên sanh nhưng cái trí để biết nó là duyên sanh, là vô thường, đau khổ thì trí tuệ đó là thánh trí và mình trú trong cái thánh trí đó chứ không trú trong ngũ uẩn, không trú trong cái tâm nắm giữ sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Mình chú trong cái tâm thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, cái đó là thánh trí, những gì mình đang học từ hôm tới giờ là thánh trí đó, thấy một sự nguy hiểm, sự tác hại của nó, thấy được cái tâm bám chắc, nắm giữ, làm cho mình đau khổ ở trong ngũ uẩn đó, mình thấy được những cái đó rồi mình muốn nhàm chán, cái đó là thánh trí về ngũ uẩn, Đức phật không có dùng những cái từ chân tâm Phật tánh gì hết, dùng từ thánh trí, tri kiến bậc thánh, thánh trí tuệ về năm uẩn. Thí dụ mình nhìn thấy món đồ đẹp, cái chuông này đẹp mình yêu thích, mình muốn có một cái vậy thì đó tức là những cái thọ; tưởng; hành của tham ái, vô mình. Mình biết cái này cũng là sắc pháp, sắc uẩn, nó cũng vô thường thôi, nó cũng tan hoại, rớt xuống là bể, có gì đâu mà ham thích mắc công cho mệt, từ bỏ ham thích đó, cái mà nhìn thấy được ở phía sau để từ bỏ, không có ham thích thì cái đó là thánh trí ly tham đối với ngũ uẩn để thoát ra.
Con người cũng vậy, thấy người đó dễ thương, khả ái, đẹp, thích, ham thì cái đó là phàm tình, cái đó là thường tình, là mê tình, là dục tình. Còn với trí huệ nhìn rõ cái đó là cái đống bao máu mủ, phân, nước tiểu, ruột, phèo, phổi nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, có cái gì trong này mà mê, sử dụng cái quán thân trên thân ở trong Tứ Niệm Xứ để quán cho đến khi nhả cái tâm yêu thích, khoan khoái, chạy theo nó, từ bỏ, thoát ra thì cái đó là thánh trí. Hãy sống với cái đó, cái tâm ly tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cái đó là thánh trí, cái tâm tham chạy theo sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tham đắm, mê nhiễm, chìm đắm ở trong đó là cái tâm mê, còn cái tâm từ bỏ, thoát ra ngũ uẩn là cái tâm tỉnh ngộ, tỉnh giác, thánh trí. Trí tuệ đó gọi là thánh trí ngũ uẩn, giúp cho mình ly tham, giúp cho mình nhàm chán, ly tham, từ bỏ, thoát ra, giải thoát, tâm mình sẽ bất động đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Dù có xảy ra chuyện gì đi nữa tâm mình vẫn bất động bởi vì mình biết nó là vô thường, là hư vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, huyễn hóa quá cho nên tâm mình không có đam mê chạy theo, dính mắc, cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, tâm mình nhàm chán thoát ra, vượt ra, xuất ly khỏi năm uẩn, cái tâm đó là tâm bất động giải thoát thánh trí ngũ uẩn.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 26
7 Trí Về Thức
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trí tuệ về Thức PAGEREF _Toc201584817 \h 1
II. Thu nhiếp lục căn PAGEREF _Toc201584818 \h 4
III. Tất cả pháp trống rỗng PAGEREF _Toc201584819 \h 7
IV. Tứ Diệu Đế PAGEREF _Toc201584820 \h 10
V. Trả lời câu hỏi về thức PAGEREF _Toc201584821 \h 13
I. Trí tuệ về Thức
Ba mươi lăm loại trí tuệ về năm uẩn:
GIẢI THÍCH SÁU THỨC
- Nhãn thức: Thấy rõ, rõ biết người, cảnh, vật, tứ đại.
Nhĩ thức: Nghe rõ, rõ biết lời nói, âm thanh, tiếng động, tiếng ồn.
- Tỷ thức: Rõ biết mùi hương thơm, thối, tanh, hôi.
- Thiệt thức: Rõ biết vị mặn, ngọt, chua…
- Thân thức: Rõ biết sự đụng chạm giữa thân này và quần áo, người, vật, tứ đại bên ngoài.
- Ý thức: Rõ biết thọ, tưởng, hành trong tâm.
Ý thức này rất quan trọng, hồi đó Minh Thành học mấy chục năm mà không biết ý thức là cái gì, khi học vào Nikāya mới biết ý thức là rõ biết được thọ; tưởng; hành. Thành ra những cái này là những cái đặc sắc của Nikāya nên chúng ta phải để ý thật là kỹ, nắm vững được những cái đó. Thí dụ mình nhìn thì biết cái này là cái ly, mình rõ biết được cái ly, rõ biết được nam nữ, rõ biết được cái bình, cái bàn, cái ghế, cái phòng thì cái rõ biết đó là nhãn thức, rõ biết cái tiếng chó sủa dưới kia, cái tiếng của những người thợ đục, khoan, rõ biết đó là nhĩ thức. Mình bước vô một cái phòng mới có mùi sơn, mình ngửi được cái mùi, mình rõ biết cái mùi thì đó là tỷ thực, mình rõ biết được vị thức ăn là thiệt thức. Mình để ý thân mình có sự đụng chạm vào quần áo vào bàn ghế, mình rõ biết được sự đụng chạm đó là thân thức. Mình quay lại trong tâm nhớ lại chuyện hôm trước, mình thấy rõ có cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ thì đó là ý thức.
BẢY TRÍ VỀ THỨC
• Thức: Rõ biết, nên gọi là Thức.
• Thức sanh: Do Danh sắc tập khởi nên Thức tập khởi.
• Thức diệt: Do Danh sắc đoạn diệt nên Thức đoạn diệt.
• Thức diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Thức đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
• Vị ngọt của Thức: Do duyên Thức khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Thức.
• Sự nguy hại của Thức: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Thức, đó là sự nguy hại của Thức.
• Sự xuất ly của Thức: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Thức, đó là sự xuất ly của Thức.
- Danh sắc: Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý là Danh. Tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành, đây gọi là Sắc.
Sắc là tứ đại, danh là thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý.
Thọ: Cảm thọ.
Tưởng: Hình bóng trong tâm.
Tư: Sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư.
Xúc: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.
Tác ý: Sự tác động tâm ý.
Vị ngọt, sự nguy hại của thức và sự xuất ly của thức là ba loại trí tuệ rất quan trọng. Mình thấy món đồ đẹp thì mình có thích không? Có thấy khoái không? Có thấy dễ chịu không? Đó là vị ngọt. Mình nghe tiếng êm ái, ngọt ngào, khen ngợi mình thì mình có thích không? Đó là vị ngọt. Mình nghe tiếng người ta xưng tụng, khen ngợi mình thì mình có thích không? Đó là vị ngọt. Mình nếm thức ăn thấy ngon quá thì mình khoái, đó là vị ngọt. Mình nhớ lại người dễ thương, khả ái thì lúc đó có vị ngọt trong ý thức. Khi có những cái thọ; tưởng; hành khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ dễ chịu, khoan khoái, thích thú, êm dịu, khả ái, hấp dẫn, ngọt ngào thì lúc đó có vị ngọt ở trong tâm ý của mình, đó là vị ngọt của ý thức.
Nhiều khi ngồi một mình nhớ là chuyện gì đó là buồn cười là mình cười, đó là vị ngọt của ý thức. Chính vì mình thích, mình khoái, mình thưởng thức cái vị ngọt đó cho nên mình không đi ra khỏi thức, cái tâm của mình nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt, làm căn cứ địa ở trong cái thức đó, nó cho thức nó là nó, là của nó, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi mà nó không biết cái thức này là do duyên sanh, vì căn với trần rồi mới sanh khởi ra thức. Sáu nội xứ là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, sáu ngoại xứ là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, sáu chỗ bên trong và sáu chỗ bên ngoài sanh khởi ra sáu thức. Như vậy nó là pháp duyên sanh, tự nó không có, thí dụ bên ngoài không có ánh sáng mặt trời, không có ánh sáng đèn cầy, đèn pin, đèn dầu, tất cả là không có ánh sáng, tối đen rồi mình có nhìn được mặt ai không, mình có biết được ai không, chỉ toàn một màu đen thì nhãn thức không sanh khởi vì thiếu duyên.
Thành ra cái thấy này là pháp duyên sanh, mà duyên sanh thì có điều kiện, nó vô thường, biến hoại, nó vô ngã, trống rỗng. Nhưng mà khi mình thấy là mình chấp vô liền "tôi thấy rõ ràng vậy mà", "tôi nghe rõ ràng như vậy mà", mình chấp vô cái thấy, cái nghe, cái ngửi, nếm, xúc, biết, thậm chí mình còn cho cái này là chân tâm nữa thì cái này không đúng lời Đức Phật dạy. Đây chỉ là thức sanh diệt, duyên sanh, vô thường, do nó vay mượn, nó kết hợp, nó nương dựa, nó lắp ráp rồi nó sanh khởi lên. Ví dụ điện thoại bị sóng yếu là mất mạng, mình không nói chuyện được, không còn nghe được, không thấy video được cho nên màn hình đó là duyên sanh, đủ duyên thì mình thấy hình người kia, thiếu duyên là câm, điếc, mù. Như vậy để thấy do mình yêu thích cái vị ngọt ở trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc biết này cho nên mình không đi ra khỏi nó, mình tham đắm, tức là mình không hiểu tính chất, cái bản chất của nó là vô minh cho nên mình tưởng nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình cho nên mình bám giữ, mình nắm chặt, mình ghi chắc, mình cho nó là ta, là của ta, là tự ngã của ta.
Chính vì vậy cái tâm mình bị hôn mê ở trong sáu thức cho nên nhìn thấy là đau khổ, nhìn thấy là yêu thích, nhìn thấy là bực bội, sân si vì mình không biết nó là duyên sanh, cái nào cũng cho là thật. Mình không nhận diện sáu cái biết đó là riêng lẻ, không phải là một cho nên phải thấy vị ngọt của nó, phải thấy được sự nguy hiểm của nó là cái thứ biến đổi, vô thường, khổ đau, chịu sự biến hoại, bản chất của nó là nguy hiểm và tác hại. Khi thấy là tham, thấy là dục, thấy là ái, nghe là mê, tiếp xúc là say đắm, ngu muội, điên khùng trong đó luôn, nếm thử rồi nghiện ngập, ngáo đá, cô gái mới ngoài hai mươi mà trần truồng chui trong ống cống, hoặc là leo lên nóc nhà quăng đứa con xuống đất. Chúng sanh bị điên đảo ở trong vị ngọt mà không thấy được sự nguy hiểm và tác hại của nó, nó hại mình, nó giết mình, làm cho mình khổ đau, trầm luân, chìm đắm, trôi lăn, trôi dạt, trôi nổi, phiêu bạt vô lượng, vô số, vô biên kiếp mà không thấy.
Mình cho đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, mình hôn mê, mình đam mê, mình say mê, ngu mê ở trong sáu cái thức đó, không thấy nó là duyên sanh, không thấy nó là vô thường, không thấy là sanh diệt, không thấy nó là cái thứ gây ra tội lỗi, nó gây ra sự trói cột, sự chìm đắm, trôi lăn, gây ra sự sanh tử. Nó gây ra cho tất cả chúng sanh trong sự quay cuồng điên đảo, hỗn độn, hỗn loạn mà không nhìn thấy cho nên mình bị đắm đuối trong đó, trôi dạt, chìm đắm, trôi lăn, trôi nổi, phiêu bạt đau khổ trong sáu thức. Bây giờ mình quán sự nguy hiểm và tác hại của nó để thoát ra, mình muốn thoát ra nó thì mình phải nhiếp phục dục và tham sự, đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của thức.
Dục và tham đối với thức là cái sự mình thích, khoái. Trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này mình thích lắm, mình khoái lắm, mình muốn được nhìn. Ở trong phòng một mình đâu có chịu nổi, đó là thức thực, món ăn của nhận thức là nó muốn biết, thí dụ mình ở trong phòng nhưng nghe tiếng ngoài kia thấy quen quen nên ráng chạy ra nhìn để xem tiếng của ai, đó là thức thực, là sự tò mò, hiếu kỳ, muốn tìm hiểu, để ý người ta. Ví dụ mình đang ngồi đây nhưng nghe người ta nói "cô đó sân si dữ lắm", nói cái tên đó trùng với tên mình thì mình ra sao? Mình không thấy mặt nên phải bước ra xem người nào đang nói, tên gì, ở đâu, tại sao nói tôi như vậy rồi mình đau khổ, sân si lên cho nên biết cái đó để làm gì. Nghe để sân si, tham muốn, nghe để hơn thua, đấu đá thì nghe để làm cái gì? Thấy để làm cái gì?
II. Thu nhiếp lục căn
Cho nên người ta làm tượng con khỉ bịt mắt, bịt tai, bịt miệng, đó là đóng các thức lại, thâu nhiếp lục căn, không thọ hành ra có những lúc tập thấy như không thấy, nghe như không nghe, biết như không biết, có những lúc phải tập như vậy để đỡ phiền não chứ rác nhà ai cũng gom vào nhà mình hết thì nhà mình là một đống rác cho nên có những cái thấy giống như mù, nghe giống như điếc, biết giống như không biết, mình xả những cái đó thì mới được an lạc.
Khi con còn là Tăng sinh nhỏ thì các huynh đệ nói:
Ông nghe cái gì chưa? Mấy người kia nói ông như vậy.
Tôi bận lắm, mắc học, ai muốn nói gì nói.
Vậy là khỏe, con không muốn nghe vì nghe để phiền não, sân si thì nghe làm gì. Hoặc là có nhiều người hỏi
Thầy có nghe cái gì chưa? người ta nói thầy như vậy.
Vậy hả… Bận lắm, phiền não nhiều lắm đang gội rửa không có thời gian, không nhận rác thêm.
Vậy là tâm mình khỏe, rác trong tâm đã mệt rồi thì mình hứng vào thêm nữa chi cho khổ. Bây giờ thấy cái gì cũng hứng vô, chụp hình, quay phim, ghi âm để làm gì? Mắt mình giống như máy chụp hình, tai mình giống cái máy ghi âm, cái miệng giống như cái loa, cái thọ của mình giống lò lửa, cái tưởng của mình giống cái tivi, cái hành giống cái đài radio cho nên nó làm mình khổ. Bây giờ đóng lại không thèm mở, thấy giống như mù, nghe giống như điếc, biết giống như không biết luôn, xả luôn. Tự nhiên mình đi ngang thì trừng trợn, lườm nguýt mình, mình nhìn giống như mù, mình xả hết cho khỏe, quay vào nhìn tâm chứ đừng nhìn ai bên ngoài nữa.
Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Lòng Đạo xin tròn một tấm gương.
(Nguyễn Đình Chiểu)
Cho mình khuất đôi trong mắt luôn đi, cho mình mù luôn đi, đừng nhìn thấy, ai liếc, háy, nguýt gì kệ người ta, khỏi cần để ý gì hết, sự đời thà khuất đôi trong mắt mà lòng đạo xin tròn một tấm gương, tức là mình có một cái gương sáng để mình soi lại bên trong của mình, không thèm nhìn bên ngoài, không cần nhìn bên ngoài, ai muốn nói gì nói miễn mình đi cho đúng chánh đạo, đúng chánh pháp để mình đạt tới chánh kiến, chánh quả là được rồi, không cần quan tâm ai hết. Trong sự tu của mình phải khéo léo thu thúc lục căn, khéo léo từ bỏ, quán chiếu tác ý các thức. Tự nhiên mình ngồi nhớ lại người hủy nhục, chỉ trích mình rồi bực bội lên chi vậy? Hãy xả bỏ hình ảnh đó, xả bỏ cái cảm thọ đó, từ bỏ cái suy nghĩ đó, nghĩ cái này để cho mình mệt, nghĩ để cho mình bực thì nghĩ làm chi, chỉ cần nghĩ niệm ân đức của Phật, niệm ân đức của Tăng, niệm ân đức của pháp, niệm cái tâm xả ly, cái tâm xuất ly, niệm cái tâm của các bậc thánh, không niệm cái sân, cái sự bực bội, hơn thua, chấp nhặt, ghim gút với người khác mà niệm thánh đạo, thánh quả, thánh pháp, thánh trí, niệm các bậc hiền thánh, nhớ đức hạnh của tôn giả Xá-lợi-phất, nhớ đức hạnh của ngài Mục-kiền-liên, nhớ đức hạnh của ngài Maha Kassapa, ngài Maha Ca-diếp.
Mình niệm ân đức của các bậc thánh thì tự nhiên mình đẩy hết tất cả những cái thọ; tưởng; hành ngu si, vô minh, hơn thua, chấp ngã, ghim rút, hẹp hòi, nhỏ mọn, hạ liệt, phàm phu ra khỏi tâm của mình, đó là mình từ bỏ những cái thức vô minh, sân si, tham ái, chấp thủ, mình hướng cái thức của mình đến cao thượng, hướng nó vào tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh, thượng nhân pháp, đó là sự công phu của mình ở trong sáu thức và phải thường thường nhận diện sáu thức thì khi thấy mình biết cái này pháp duyên sanh, cái thấy này là duyên sanh, Do duyên có mắt và các sắc, sanh khởi nhãn thức (sự rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là nhãn xúc. Do duyên có nhãn xúc nên sanh khởi thọ, sắc tưởng, sắc tư.
Tại sao thấy là chấp vậy? Nghe một cái là thương hoặc là bực mình để làm gì vậy? Cho nên mình tập cái tâm nhả ra, mở ra, bỏ ra, buông ra, quăng ra, liệng ra đối với sáu thức, không chấp nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, dầu cho mình có sanh khỏi cảm thọ thì cảm thọ này cũng là vô thường, mình không có nhận cảm thọ này là mình. Dù cho nó có hiện lên hình bóng ở trong tâm ám ảnh thì mình cũng xả bỏ những hình bóng này vì nó là khổ đau, từ bỏ những hình bóng này, hình bóng này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, "những hình bóng ma trơi, những hình bóng của vô minh, những hình bóng của khát ái, của dục, của ngu si, điên đảo mộng tưởng tan biến khỏi tâm ta đi". Tuy mình nói là thức nhưng mà đầy đủ cả ngũ uẩn, khi mình nói sẽ có đầy đủ ngũ uẩn trong đó, như vậy nhiếp phục dục tham và đoạn tận dụng tham đối với các thức này là sự xuất ly khỏi các thức.
Đừng có tin vào cái thấy này, đừng có dựa hết vào cái nghe này, cái ngửi, cái nếm này, phải quán sự sanh khởi, an trú và đoạn diệt của nó. Những cái tiếp xúc của mình phải có sự chính niệm và tỉnh giác trong khi tiếp xúc, những cái hình bóng, suy nghĩ và cảm thọ trong tâm phải được soi chiếu, phải được thấy, được biết, nội soi, được nội tỉnh, được nội quán, được nội chiếu và đừng có để cho những cái dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã đó che mờ, nó phủ lấp, xâm chiếm, áp đảo, bao vây, vây hãm, khống chế, nó sai khiến, sai sử, sai bảo mình, mình phải tập làm chủ ở trong sáu thức. Có những lúc mình không cần thấy, không có cần nghe nữa, mình thực hành ba pháp, rõ biết trước mặt cảm, giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Mình an trú vững chắc định tâm trên thân, không có buông lung phóng dật, không có chạy theo cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này, mình trú trong cái trí vô thường, khổ, vô ngã đối với ngũ uẩn. Tâm mình bình an, an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu, trong sáng, hướng đến sự yểm ly, ly tham, hướng đến sự nhàm chán, đoạn diệt, chấm dứt, xuất ly đối với năm thủ uẩn.
Mình không còn phải đi tìm những cái gì để mình nhìn nữa, không có ngóng những cái âm thanh nào nữa hết, không có đi kiếm. Cái tâm mình không tầm cầu những cái thức ăn nữa, cái thân mình cũng không có đòi hỏi, khao khát những sự xúc chạm, đụng chạm, tiếp xúc. Trong cái ý của mình là nhìn thấy được cái bản chất, cái tính vô thường, trống rỗng, khổ đau, bất an và tai họa của các thọ; tưởng; hành; thức, đó là mình trú ở trong thánh trí của Đức Phật đưa đến sự nhàm chán đối với ngũ uẩn, đưa nó sự ly tham đối ngũ uẩn, đưa đến sự chấm dứt đối với ngũ uẩn, đưa đến từ bỏ đối với ngũ uẩn, đưa đến giải thoát, thoát ly ra khỏi ngũ uẩn. Đó là sự tôn tối cao của thánh đạo, thánh quả, thánh pháp, thánh trí ở trong kinh tạng Nikāya.
III. Tất cả pháp trống rỗng
Đối với tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức trong ngoài, thô thế, thắng liệt, xa gần, đẹp xấu, quá khứ, hiện tại, vị lai cần phải như thật tuệ tri, biết nó bằng trí tuệ những thứ đó là những thứ mong manh, tạm bợ, vô thường, những thứ đó là những cái bong bóng, những thứ bọt nước. Cần phải quán sắc như hòn bọt, quán thọ như bong bóng, quán hành như những bẹ chuối, bán thức giống như là trò ảo thuật của cái tâm thức này, chỉ là trò ảo thuật thôi, quán tưởng giống như là ráng của mặt trời vậy, chỉ là cái ảo ảnh do phản chiếu ánh nắng.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?
Ví như, này các Tỳ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?
Ví như, này các Tỳ-kheo, trong tháng cuối mùa hạ, vào đúng giữa trưa đứng bóng, một ráng mặt trời rung động hiện lên. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, nên ráng mặt trời ấy hiện rõ ra là trống không, rỗng không, không có lõi cứng... Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong ráng mặt trời được?
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người cần có lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cái búa sắc bén đi vào ngôi rừng. Ở đây, người ấy thấy một cụm cây chuối lớn, mọc thẳng, mới lớn, cao vút. Người ấy chặt rễ cây ấy. Sau khi chặt rễ, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ chuối ngoài. Khi lột vỏ chuối ngoài, giác cây còn tìm không được, tìm đâu cho có được lõi cây?
Ví như, này các Tỳ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được?" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước)
Tất cả những cái mình cho là tôi nghe, tôi thấy, tôi ngửi, tôi nếm, tôi xúc, tôi biết đều là trò ảo thuật của tâm thức. Tất cả những gì mình thấy tận mắt, mình nghe tận tai, mình sanh khởi lên cảm xúc rõ ràng nhưng mà tất cả cái đó là trò ảo thuật của tâm thức, không có thật. Mình bị gạt, mình bị dụ, mình bị hoa mắt, mình bị các lậu hoặc dụ, "tôi thương thầy lắm", "tôi thương cô lắm, tôi quý lắm, tôi kính lắm", nghe vậy rồi tin liền, những cái đó chưa chắc, đó là trò ảo thuật, mới khen hôm qua nhưng nay đã che, vài bữa trước đưa lên nhưng nay bị hạ bệ, những cái vinh nhục, được mất, hơn thua, khen chê trong cuộc đời này là bát phong, gọi là lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc, đó là tám ngọn gió cuộc đời này, lợi ích hay là suy hao, hủy báng hay là khen ngợi, khổ hay là vui đều là cái pháp biến động, vô thường, không có thật.
"- Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, lạc và khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (V). Tùy Chuyển Thế Giới (1))
Dù cho mình có thấy, có biết, có nghe, ngửi, nếm, xúc, biết rõ ràng trước mặt như vậy nhưng chỉ là trò ảo thuật của tâm, dù ở trước mặt mình như vậy nhưng mà là nó là trò ảo thuật không có thật nhưng mình đau khổ trong đó, mình sầu bi, mình ưu não trong đó, mình nhớ, mình thương, mình oán, mình hận, mình thù, mình tủi, mình nhục, mình bất an, lo lắng, sợ hãi với những cái hòn bọt, bong bóng nước, với những cái bẹ chuối vô nghĩa, trống rỗng, vô thường, vô ngã, vô tình, vô giá trị, không có cái gì hết, cuối cùng cuộc đời của mình là một cái đống tro tàn, một đống nghiệp, một đống khổ, một đống nước mắt, một đống xương, một đống sình lên hôi thối.
Xin đừng đem dạ tưởng mơ,
Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây,
Rút gươm huệ dứt dây tham ái,
Kiếp tìm thầy cầu phái qui y.
Kiên trì ngũ giới tam qui,
Mở lòng từ nhẫn sân si phải chừa.
(Sám Thảo Lư - Sám Hồi Tâm I (Tổ Huệ Đăng)
Mới vừa đây động đất ở Maroc được báo cáo là chết với bị thương 4.500 người, vẫn còn đang tìm kiếm xác nữa, Trung Quốc là không biết bao nhiêu trăm triệu nhà tan cửa nát, nhà trôi, người bay, cây tróc gốc, xe trôi như lục bình. Hiện tại bây giờ toàn thế giới biến động, thiên hạ đại loạn, khổ đau tràn đầy, đói khát cùng khắp, trăm trăm triệu triệu người chết đói. Mình ngồi đây là biết bao nhiêu công đức, phước báo thiện lành mà mình không trân trọng, trân quý, trân kính thì mình mất cái cơ hội này là đau đớn.
Lỡ bước một phen ngàn đời ân hận
Quay đầu trở lại chín suối ngậm ngùi.
Mình không trân trọng những cái mình đang có, mình mất đi một cái rồi mình đau khổ trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, rớt chiếc áo cà sa này xuống là hầm lửa, là vạt dầu sôi, là cột đồng cháy đỏ, là rừng đao, núi kiếm. Một khi rớt áo cà sa xuống, cái tấm y xuống mà không có giới đức, thiền định, trí tuệ thì tam đồ ác đạo chờ đợi, mang lông đội sừng vì thế mình phải lo lắng và sợ hãi, mình nỗ lực, mình tinh cần, mình làm cho bản thân có một sức mãnh liệt, mạnh mẽ để mình tiến lên còn nếu không là tai họa, hiểm nạn và đau khổ đang chờ đợi phía trước của chúng ta. Không biết ngày mai, không biết tuần sau, hay là tháng sau, hay là năm sau, hay là ba năm, năm năm, bảy năm, không biết lúc nào chết, bất thình lình trúng gió độc cũng chết, bất thình lình tai biến, đột biến, đột quỵ, đột tử cũng chết, đi xe tai nạn giao thông, máy bay máy rơi, bất thình lình bị chém lộn người cũng chết, đang ngồi uống café bị bắn chết tại chỗ.
Tất cả chỉ là giấc mộng thôi, một vở tưởng của dục ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, nếu không nhìn ra được là mình còn sầu, bi, khổ, ưu, não, là mình còn đóng vở tuồng đó hoài hoài trong vô lượng, vô biên, vô thỉ kiếp, những tập phim đầy rẫy nước mắt và máu, những tập phim đầy rẫy sự tranh đấu, tranh giành, giành giật, ganh tỵ, đố kỵ, khổ sầu,… Cứ đóng mãi những tập phim đó mà không thấy chán, chiến tranh biết bao năm làm chết biết bao mạng người, tích tắc là nguyên một cái thành phố Hawaii trở thành đóng tro tàn, không ai lường được, không ai ngờ được, không ai tưởng được, đó là bất khả tư nghì, nghiệp dị thục là không thể tưởng tượng được, cuộc đời của mình cũng vậy.
Nghiệp đeo như bóng với hình,
Chờ duyên hội đủ để hành tội nhau,
Nay thương, mai ghét, đổi mau
Ghét thương, thương ghét, khổ nhau cả đời.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Bây giờ cái nghiệp nằm yên đó chờ thời đúng lúc nó xử mình, những oan gia trái chủ, cụ thù chấp đối từ vô lượng, vô số, vô kiên kiếp của mình nằm sẵn đó chờ đúng thời đúng lúc, nhân duyên thuần thục, nghiệp quả chín muồi thì nó ập vào là xong. Mình đừng có tưởng đâu mình đang ngồi đây là yên thân, không không có, mình tưởng đi ngoài đường là yên thân, không có, bất thình lình nghe cái "rầm" là xong. Nghiệp như hình với bóng, chờ thời để ra tay là mình đi đâu nó theo đó giống như hình với bóng, chờ thời ra tay là nó núp lùm, nó bắn tỉa, nó du kích, đừng có tưởng đâu mình an yên, không bao giờ có trạng thái an yên ngoại trừ các bậc thánh mới là đại an ổn, hoàn toàn được ngơi nghỉ, hoàn toàn tâm bất động giải thoát, còn tất cả phàm phu là trong cái trạng thái bất an, sầu, bi, khổ, ưu, não.
IV. Tứ Diệu Đế
Nếu mình không ý thức được điều đó thì mình không có thấy khổ, mình không thấy được cái đó thì làm sao mình thấy khổ, mình không thấy khổ thì làm sao mình tu, làm sao mình muốn thoát khổ cho nên tất cả các thiện nam tử từ đời quá khứ từ bỏ gia đình sống không gia đình là để tìm cầu nhìn thấy được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ và đây là con đường để chấm dứt khổ đau, đây là một nỗ lực cố gắng mà các ông cần phải làm để các ông thấy được khổ, thấy được nguyên nhân của khổ và thấy được đạo lộ diệt khổ.
" -- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các Tỳ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỳ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... sẽ chơn chánh xuất gia... tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, III. Thiện Nam Tử)
Bất cứ một người nào tu hành chân chánh thì người đó cũng đều cố gắng nỗ lực để nhìn thấy được ngũ uẩn này là khổ. Dục ái, tham, sân, si, bản ngã trong cái ngũ uẩn này là nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt, sự diệt tận hoàn toàn cái khổ này bằng Bát Thánh Đạo. Tất cả thiện nam tử quá khứ, hiện tại, vị lai, thiện nữ nhân, Tăng Ni, Phật tử đều là như vậy hết, trong ba thuở không có một cái gì khác, nếu không thấy khổ thì người đó không có cái tâm cầu thoát khổ, mà không có tâm cầu thoát khổ thì làm sao người đó bước trên cái đạo lộ đi đến diệt khổ. Chính vì vậy pháp Tứ Thánh Đế là tối thượng của tất cả các bậc thánh, tất cả các bậc thánh hiền đều phải thấy khổ và thấy được khổ tập khởi, thấy được khổ đoạn diệt và thấy được con đường đưa đến khổ đoạn diệt.
Ngũ uẩn là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mà sắc; thọ; tưởng; hành; thức là bao gồm thân tâm và thế giới, như vậy trí tuệ năm uẩn có phải là trí vũ trụ không? Bao trùm cả trời đất không? Không còn cái trí nào ngoài trí năm uẩn nữa hết, bản chất của năm uẩn là duyên sanh, là vô thường, khổ, biến hoại, bản chất của nó cũng là sự nguy hiểm và tác hại. Từ lời dạy của Đức Phật mình đưa vào trong đời sống của mình thực tế của mình, thí dụ như bây giờ có ai chạm tới mình lúc đó mình sao, có ai đưa cái tôi mình lên lúc đó mình sao, mình phải có những cái ví dụ cụ thể thực tế trong đời sống sinh hoạt của mình tức là mình trình pháp. Ví dụ mình gặp cái đó đẹp quá, đồ đó đẹp, cảnh đẹp thì lúc đó mình như thế nào, nếu mình đi theo những cái đó thì nó làm cho mình khổ, nếu mình rời xa được những cái đó thì mình có an lạc, mình phải có những cái ví dụ thiết thực, cụ thể ở trong đời sống về tham, sân, si, bản ngã. Khi mình chạy theo vị ngọt của nó thì như thế nào, khi mình xuất ly được khỏi nó, mình nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, mình ra khỏi nó thì mình được an lạc như thế nào, mình hạnh phúc như thế nào, mình thoải mái, mình tự do như thế nào, sự nguy hiểm và tác hại của nó như thế nào, ba cái khía cạnh là ba cái trí tuệ về ngũ uẩn, đó là vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly.
Mình phải thuộc lòng những cái lời kinh định nghĩa về ba cái trí tuệ đó và mình phải có những cái ví dụ thực tế, thực tiễn, thực nhất ở trong đời sống của mình, trong tự thân của mình cũng như trong những chuyện mà mình thấy, mình nghe, mình tiếp xúc những người chung quanh mình, mình đem cái nhìn nhận trong trí tuệ ngũ uẩn để mình soi rọi từ đời sống sinh hoạt của mình cho đến những người xung quanh, hay là toàn thế giới này. Mình trình bày được cái ngũ uẩn, cái tham, sân, si, dục ái, bản ngã nó vận hành trong cái đời sống thực tế, khi mình đối diện với nó rồi mình xử lý nó như thế nào, tu tập như thế nào, mình tác ý như thế nào để mình chuyển hóa nó, mình vượt qua nó, chỗ đó là chỗ tu tập của mình, chỗ thực tập của mình, chỗ thực dụng của mình, chỗ công phu của mình, chỗ mình có hiểu bài không, thực tập được không, trải nghiệm thực chứng ở trong đó hay không. Khi mình gặp chuyện tham lúc đó mình như thế nào, mình xử lý nó ra sao, khi gặp chuyện sân lúc đó mình phải giải quyết như thế nào, xử lý cái cơn giận đó ra làm sao, khi mình gặp những trường hợp sanh khởi lên bản ngã thì mình tu tập như thế nào, lúc đó nó làm cho mình khổ như thế nào, người khổ như thế nào, tu tập làm sao, tác ý làm sao, quán chiếu sao, thực hành sao.
V. Trả lời câu hỏi về thức
Sư thầy 1: Mô Phật, con kính bạch thượng tọa giáo thọ sư, từ đầu năm học đến giờ chúng con học về ngũ uẩn, con chưa rõ về thức, giáo thọ sư giải thích cho con rõ về thức của vọng thức và thức của chân tâm Phật tánh của mình là cái gì, khi nào nó hiện hành, khi nào nó hiện khởi để con biết cách tu tập. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Chân tâm hay Phật tánh là từ của sau này, Đức Phật không dùng từ đó, trong Nikāya không có từ đó, trong Nikāya chỉ dùng từ "thánh trí" thôi chứ không nói đến chân tâm Phật tánh cho nên khi làm bài mình không dùng từ đó, nó không có trong kinh nên không dùng. Mình học Nikāya là chỉ nói về Nikāya thôi, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là pháp duyên sanh nhưng cái trí để biết nó là duyên sanh, là vô thường, đau khổ thì trí tuệ đó là thánh trí và mình trú trong cái thánh trí đó chứ không trú trong ngũ uẩn, không trú trong cái tâm nắm giữ sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Mình chú trong cái tâm thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, cái đó là thánh trí, những gì mình đang học từ hôm tới giờ là thánh trí đó, thấy một sự nguy hiểm, sự tác hại của nó, thấy được cái tâm bám chắc, nắm giữ, làm cho mình đau khổ ở trong ngũ uẩn đó, mình thấy được những cái đó rồi mình muốn nhàm chán, cái đó là thánh trí về ngũ uẩn, Đức phật không có dùng những cái từ chân tâm Phật tánh gì hết, dùng từ thánh trí, tri kiến bậc thánh, thánh trí tuệ về năm uẩn. Thí dụ mình nhìn thấy món đồ đẹp, cái chuông này đẹp mình yêu thích, mình muốn có một cái vậy thì đó tức là những cái thọ; tưởng; hành của tham ái, vô mình. Mình biết cái này cũng là sắc pháp, sắc uẩn, nó cũng vô thường thôi, nó cũng tan hoại, rớt xuống là bể, có gì đâu mà ham thích mắc công cho mệt, từ bỏ ham thích đó, cái mà nhìn thấy được ở phía sau để từ bỏ, không có ham thích thì cái đó là thánh trí ly tham đối với ngũ uẩn để thoát ra.
Con người cũng vậy, thấy người đó dễ thương, khả ái, đẹp, thích, ham thì cái đó là phàm tình, cái đó là thường tình, là mê tình, là dục tình. Còn với trí huệ nhìn rõ cái đó là cái đống bao máu mủ, phân, nước tiểu, ruột, phèo, phổi nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, có cái gì trong này mà mê, sử dụng cái quán thân trên thân ở trong Tứ Niệm Xứ để quán cho đến khi nhả cái tâm yêu thích, khoan khoái, chạy theo nó, từ bỏ, thoát ra thì cái đó là thánh trí. Hãy sống với cái đó, cái tâm ly tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cái đó là thánh trí, cái tâm tham chạy theo sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tham đắm, mê nhiễm, chìm đắm ở trong đó là cái tâm mê, còn cái tâm từ bỏ, thoát ra ngũ uẩn là cái tâm tỉnh ngộ, tỉnh giác, thánh trí. Trí tuệ đó gọi là thánh trí ngũ uẩn, giúp cho mình ly tham, giúp cho mình nhàm chán, ly tham, từ bỏ, thoát ra, giải thoát, tâm mình sẽ bất động đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Dù có xảy ra chuyện gì đi nữa tâm mình vẫn bất động bởi vì mình biết nó là vô thường, là hư vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, huyễn hóa quá cho nên tâm mình không có đam mê chạy theo, dính mắc, cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, tâm mình nhàm chán thoát ra, vượt ra, xuất ly khỏi năm uẩn, cái tâm đó là tâm bất động giải thoát thánh trí ngũ uẩn.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.