Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh Tăng Hộ Niệm Như Thế Nào - Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc A - B

2026-03-03 00:53:34
Kinh Nikāya Giảng Giải

THÁNH TĂNG HỘ NIỆM NHƯ THẾ NÀO?

KINH GIÁO GIỚI CẤP CÔ ĐỘC A - B

-–Thích Minh Thành–

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thường trú vô thường PAGEREF _Toc84239616 \h 1

II.Thánh Tăng hộ niệm cho cư sĩ Cấp Cô Độc PAGEREF _Toc84239617 \h 5

1.Không chấp thủ sáu căn PAGEREF _Toc84239618 \h 7

2.Không chấp thủ thức PAGEREF _Toc84239619 \h 9

3.Không chấp thủ xúc và thọ PAGEREF _Toc84239620 \h 11

4.Không chấp thủ tứ đại PAGEREF _Toc84239621 \h 13

5.Không chấp thủ vào ngũ uẩn PAGEREF _Toc84239622 \h 16

6.Không chấp thủ tứ thiền bát định PAGEREF _Toc84239623 \h 17

7.Không chấp thủ thế giới PAGEREF _Toc84239624 \h 19

8.Không chấp thủ các pháp PAGEREF _Toc84239625 \h 21

III.Lời tán thán của Thiên tử Cấp Cô Độc PAGEREF _Toc84239626 \h 21

Thường trú vô thường

Câu hỏi: Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thầy con có một câu hỏi về lúc hấp hối lâm chung. Hiện nay tình hình dịch bệnh rất trầm trọng, đối diện nhà con có 15 người F0 đã bị đưa đi, con không biết khi nào tới mình cho nên con rất lo sợ cho cái chết. Nếu như đến lượt con, con phải ở trong bệnh viện đối diện với cái chết một mình không có gia đình, hiu quạnh, không có ai trợ niệm thì con phải chuẩn bị tư tưởng, tâm lý, tinh thần lúc đó như thế nào? Con phải niệm những điều gì, suy nghĩ và hướng tâm như thế nào, phải làm những điều gì ngay lúc hấp hối đó để con không đọa vào ba đường ác. Con kính xin thầy từ bi chỉ dạy cho con những điều này để con được hiểu trong những buổi dạy online sắp tới, con rất khao khát được nghe những điều này. Con xin tri ân thầy rất nhiều.

Đối diện nhà Phật tử này là 15 người F0, mỗi ngày nghe tiếng xe cứu thương vang dội. Hôm qua Minh Thành cũng nhận tin một Phật tử ở chung một người bị F0 nhưng chờ hai ngày chưa có ai đưa đi, thành phố hiện tại đang quá tải, bệnh viện, bác sĩ, điều dưỡng làm không xuể, những người F0 không có triệu chứng ở nhà. Một ngày gần ba ngàn người nhiễm bệnh, người bệnh phải chờ vì không đủ xe cấp cứu, không đủ giường bệnh, phòng bệnh và thiếu cả bác sĩ chăm sóc bệnh nhân.

"Nhân vô viễn lự, Tất hữu cận ưu".

Dịch nghĩa:"Người không biết lo xa, ắt sẽ có buồn gần".

Chúng ta ở trong cái an cũng đừng quên cái nguy, ở trong cái bình phải suy nghĩ lúc loạn, khi khỏe phải xét đến lúc bệnh đau, khi đang sống phải chuẩn bị, quán chiếu và lo lắng cho cái chết, đó là bậc trí. Người không có trí chỉ thấy hiện tại, thấy trước mắt, thấy rất cạn cợt, người có trí tuệ phải nhìn cho xa. Sáng nay nhìn lại, đã thấy thầy Pháp An lưng còng vì bị đau xương sống, không có điều gì mình có thể biết trước được cho nên đừng nghĩ rằng mọi thứ sẽ như vầy hoài, đó là người ngu, si mê, hôn ám. Vì thế, chúng ta phải thường xuyên đặt mình vào hoàn cảnh như vậy để quán chiếu cái khổ, khi khổ đến mình sẽ có bình an. Còn cứ sống trong lãng quên, buông lơi, buông trôi đời sống của mình, đến khi tai họa ập đến thì không biết làm sao. Cũng như Phật tử hỏi nếu rơi vào trường hợp nằm trong bệnh viện, phải thở bằng máy, lúc bình thường không nỗ lực tu tập thì đến khi đó thì tâm phải làm sao. Vì thế, những khi bình thường không biết nghĩ đến lúc bệnh tật, nguy nan thì tới lúc đó trở tay không kịp.

Cũng như thường chia sẻ, Minh Thành luôn đặt mình vào cái nguy cấp, cái khó vì khi đặt mình vào như vậy quen rồi thì lúc chuyện đến chúng ta sẽ bình tĩnh, đây là tâm đại bi của Đức Phật. Những người bị nhiễm dịch bệnh đều bất ngờ, họ nghĩ rằng làm sao họ có thể bệnh được, chính cái bất ngờ đó mà người ta khổ đau. Vì vậy, trong lúc bình thường chúng ta phải tu tập để khi bất thường đến mới có được tâm bình thường. Chúng ta thường ở trong tâm thái bất thường để khi bất thường đến mình được bình thường, còn nếu thường trong trạng thái bình thường thì khi bất thường đến mình không giữ được tâm bình thường.

Vì vậy, đó chính là lý do chúng ta phải luôn đặt mình trong Khổ Thánh Trí, phải nhìn thấy các nỗi khổ, phải nhìn thấy mọi hành pháp này là khổ đau, bệnh hoạn, tai nạn, tai họa, hiểm họa, nếu không có cái thấy đó thì mình vẫn chưa bước được vào cổng chùa. Chúng ta phải nghĩ đến một cái trật chân có thể bể đầu, một cơn gió độc thổi qua có thể nằm liệt gường liệt chiếu, thức ăn không sạch có thể ngộ độc thực phẩm, một cơn đau bụng có thể phải mổ ruột thừa lập tức. Sâu sắc hơn, một cảm xúc bất thiện sanh khởi bất thình lình có thể làm mình thân bại danh liệt, làm sụp đổ tất cả đạo hạnh gây dựng bao nhiêu năm qua; một cảm thọ sân hận có thể làm đổ vỡ tất cả tình huynh đệ, thầy trò, vợ chồng, mẹ con; một suy nghĩ sai lầm có thể phá tan tất cả. Cho nên, chúng ta phải tập cẩn thận từng chút trong từng suy nghĩ, cảm xúc, trong từng ý tưởng, hành động của mình. Chúng ta càng thận trọng, càng cẩn trọng, cẩn thận chừng nào thì mình càng ít lỗi lầm, ít tai họa, ít tai nạn, tức là mình sẽ được bình an.

Thực tế bây giờ, người nào cũng biết dịch bệnh nguy hiểm, người nào cũng biết dính bệnh có thể lây cho cả gia đình, dẫn đến nguy hiểm tính mạng. Thế nhưng, chỉ cần có tin đồn thành phố chuẩn bị phong tỏa thì ùn ùn kéo nhau ra siêu thị giành giật mua đồ, chen chúc nhau mua nhưng chưa hẳn đồ ăn ở nhà đã hết. Chúng ta không muốn khổ nhưng cứ đi tìm nguyên nhân của khổ, mình không muốn bệnh nhưng lại đi tạo ra những nguyên nhân để sanh bệnh. Thế nên, cẩn thận rất có ích, đó là pháp của bậc Thánh, người không cẩn thận sẽ không tu được, có tu cũng phất phơ.

Khi đại chúng lên hướng dẫn tu con phải theo dõi từng chút một, trong sự hướng dẫn đó thể hiện sự tu học thành tựu đến mức độ nào trong thời gian vừa qua. Cho nên, trong mỗi việc đều phải chánh niệm, chỉ cần lơ là một chút không để tâm là đi ra khỏi hành xứ của ông cha mình để lại, tức là ra khỏi Tứ Niệm Xứ. Khi chúng ta không niệm thân – thọ – tâm – pháp, không nhớ hơi thở, không niệm oai nghi, hành động thì mình không quán chiếu tứ đại, không thấy tứ đại mà chỉ thấy cái tôi, như vậy là chúng ta đã ra khỏi hành xứ của ông cha mình. Khi không thấy đất; nước; gió; lửa, không thấy sự vô thường, khổ, vô ngã, không thấy cái pháp đang vận hành thì lúc đó mình đi ra khỏi vòng tròn của Đức Thế Tôn và các bậc Thánh hiền.

"-- Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, một con chim ưng cái thình lình vồ xuống và chụp lấy một con chim cút.

Rồi này các Tỳ-kheo, con chim cút bị con chim ưng cái bắt, than khóc như sau:

'-- Như thế này, thật bất hạnh cho tôi! Thật thiếu công đức cho tôi! Vì rằng tôi đã đi không phải chỗ hành xứ của mình, đi vào cảnh giới của người khác. Nếu tôi đi trong chỗ hành xứ của tôi, trong cảnh giới của cha mẹ tôi, thời con chim ưng này không thể hơn tôi, nếu phải đánh nhau'.

'-- Này Chim cút, thế nào là chỗ hành xứ của ngươi, thế nào là cảnh giới của cha mẹ ngươi?'

-- 'Là vạt đất được lưỡi cày xới lên'.

Rồi này các Tỳ-kheo, con chim ưng cái không có siết mạnh sức mạnh của mình, không có bóp chặt sức mạnh của mình, thả con chim cút rồi nói:

-- 'Hãy đi, này Chim cút. Sau khi đi tại chỗ ấy, ta sẽ không thả cho ngươi'.

Rồi này các Tỳ-kheo, con chim cút đi đến vạt đất được lưỡi cày xới lên, leo lên một hòn đất lớn, đứng trên ấy và nói với con chim ưng:

'-- Này, hãy đến ta, Chim ưng! Này, hãy đến ta, này Chim ưng!'

Rồi này các Tỳ-kheo, con chim ưng cái siết mạnh sức mạnh của mình, bóp chặt sức mạnh của mình, xếp cả hai cánh, thình lình vồ lấy con chim cút. Này các Tỳ-kheo, khi con chim cút biết được: 'Con chim ưng này đang vồ mạnh xuống ta', liền nấp sau hòn đất ấy. Này các Tỳ-kheo, ở đây, con chim ưng bị bể ngực.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với ai đi tới chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác. Do vậy, này các Tỳ-kheo, chớ có đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỳ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác, thời Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.

Này các Tỳ-kheo, chỗ nào không phải hành xứ của Tỳ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của người khác? Chính là năm dục công đức. Thế nào là năm?

Có các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Có các tiếng do tai nhận thức... Có các hương do mũi nhận thức... Có các vị do lưỡi nhận thức... Có các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỳ-kheo, đây là chỗ không phải hành xứ của Tỳ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác.

Này các Tỳ-kheo, hãy đi đến chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỳ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của mình, đến cảnh giới của cha mẹ mình, thời Ác ma không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.

Và này các Tỳ-kheo, chỗ nào là chỗ hành xứ của Tỳ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của cha mẹ? Chính là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; trú, quán thọ trên các thọ...; trú, quán tâm trên tâm...; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỳ-kheo, đây là chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm,  Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, VI. Con Chim Ưng)

Chúng ta phải luôn luôn biết lo sợ giống như đối diện nhà mình có 15 người F0, cần đặt mình vào hoàn cảnh đó để biết lo, biết sợ. Chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh khó khổ, hiểm họa để khi hiểm họa đến mình được bình an, lúc nào cũng đặt bản thân vào trạng thái bất thường để khi bất thường đến mình được bình thường. Còn nếu cứ ở trong trạng thái bình thường đến khi bất thường đến mình sẽ bất ngờ, hoảng loạn. Khi ở trong trạng thái thường thường thì vô thường đến mình sẽ bị vô thường cuốn đi, còn luôn ở trong trạng thái vô thường thì khi vô thường đến mình được bình thường. Chúng ta thường sống trong trạng thái thấy khổ thì khi khổ đến mình không khổ, còn mình ở trong trạng thái vui, bình an thì đến khi khổ đến mình cực kì đau khổ, đó là chủ đề cho chúng ta quán chiếu. Khi cảm thọ tu học hoặc làm việc bị quá giờ ăn hoặc giờ ngủ thì cũng phải tập tâm bình thường, mọi người đừng mong muốn được bình thường mà không chịu bất thường, vì khi bất thường đến mình sẽ khổ.

Thánh Tăng hộ niệm cho cư sĩ Cấp Cô Độc

"Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana, (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi cư sĩ Cấp Cô Ðộc gọi một người:

-- Hãy đến đây, này Bạn. Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch như sau: 'Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Ðộc xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn'. Rồi đi đến Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: 'Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Ðộc xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: 'Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc'.

-- Thưa vâng, Tôn giả.

Người ấy vâng đáp cư sĩ Cấp Cô Ðộc, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ chân Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Rồi người ấy đi đến Tôn giả Sariputta, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Sariputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sariputta:

-- Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: 'Thưa Tôn giả, tốt lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc'.

Tôn giả Sariputta im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Sariputta đắp y, cầm y bát, cùng với Tôn giả Ananda là thị giả, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc, sau khi đến liền ngồi lên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Sariputta nói với cư sĩ Cấp Cô Ðộc.

-- Này Cư sĩ, ta mong rằng Ông có thể kham nhẫn; Ta mong rằng Ông có thể chịu đựng. Ta mong rằng khổ thọ được giảm thiểu, không gia tăng, sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng.

-- Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Sự khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu con". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Thầy Pháp An hãy nghe kĩ bài kinh này vì đây là lá bùa hộ mạng cho thầy, không phải lúc nào quý thầy, quý cô và con cũng ở kế bên thầy. Ngài Cấp-cô-độc bị đau như người lực sĩ cầm dao chém vào đầu, kinh khủng, kinh hoàng đến như vậy, cho nên, chúng ta đừng nghĩ mình còn trẻ là dịch bệnh, tai nạn, cái chết tha cho mình.

"Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết chặt; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, con cảm thấy bị đau đầu một cách kinh khủng. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những thống khổ của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Nếu bình thường mình không tập luyện, không chịu khó thức khuya dậy sớm, đói bụng, những cảm thọ đau chút chút thì đến khi phải nhận những cảm thọ đau đớn như trong kinh thì làm sao mình chịu nổi? Một trong những pháp Đức Phật dạy là niệm tử, phải nhớ mình sẽ chết, khi niệm rồi các phiền não, tham, sân, si sẽ lắng dịu.

Không chấp thủ sáu căn

"-- Do vậy, này Cư sĩ hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ con mắt, và tôi sẽ không có thức y cứ vào con mắt'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ tai, và tôi sẽ không có thức y cứ vào tai'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ mũi... y cứ vào mũi... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ lưỡi... y cứ vào lưỡi.... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ thân... y cứ vào thân... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ ý... y cứ vào ý... hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Con mắt này không phải là tôi, tôi không phải là con mắt này. Tôi sẽ không bám chấp vào con mắt này, cái thấy biết của con mắt này không phải là tôi, không phải của tôi, tôi không phải là nhãn thức, nhãn thức không phải là tôi. Tôi sẽ không nắm chặt vào lỗ tai này, tôi sẽ không dính mắc vào lỗ tai này, tôi không cho rằng lỗ tai này là tôi, là của tôi, đây là quán sự không chấp thủ và từ bỏ sáu căn. Cũng vậy, không chấp thủ vào mũi, không nắm chặt vào lưỡi, miệng, khi tác ý như vậy thì sự nắm chặt được gỡ ra, tháo ra thì cảm thọ sẽ được lắng dịu hoặc là thoát ra khỏi cảm thọ, không bị dính mắc vào đó.

Khi nghĩ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân này của tôi thì khi đau nhức quằn quại là tôi đau nhức quằn quại. Còn khi tác ý thứ này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, tức là thoát ra khỏi nó thì cái đau nhức đó là đau nhức của tứ đại, hình hài, sắc uẩn chứ không phải tôi đau. Lúc đau bệnh nếu chúng ta cứ nghĩ "con mắt tôi đau quá", "cái bụng tôi đau quá", "cái đầu tôi đau quá"… thì cái đau càng nhân lên. Vì vậy, ở đây chúng ta không nghĩ sáu căn là mình, là của mình, khi sự chấp thủ được tháo gỡ thì cái thức sẽ không y cứ vào sáu căn đó, nó không có cơ sở, nền tảng, sanh y bám vào đó để phát khởi ra các cảm thọ khổ đau, luyến tiếc, thống khổ. Chúng ta gỡ ý hành, gỡ cái tưởng, cái thấy biết ra thì cảm thọ sẽ theo đó thoát ra.

Những điều này lúc bình thường Ngài Cấp-cô-độc đã nghe, đã học và đã nhận diện các pháp nên lúc sắp chết Ngài sẽ quán được, còn người bình thường không thể quán được. Cho nên, chúng ta phải thường thực tập, tác ý hằng ngày thì đến khi cần mới sử dụng được. Những câu nói của Ngài Xá-lợi-phất là những khẩu quyết, là những tinh túy, tinh hoa, cốt tủy của sự nhận diện, quán chiếu, sâu sắc trong lúc bình thường để đến khi cần thì dùng được. Ngài Cấp-cô-độc đã đi theo Đức Phật rất nhiều năm, hằng ngày đi đến Tinh xá được nghe rất nhiều thời pháp của Phật nên khi Ngài Xá-lợi-phất nói những điều này ra thì Ngài Cấp-cô-độc mới quán chiếu được, còn người bình thường không biết cái gì thì làm sao nói ra họ có thể hiểu được. Chưa cần nói người không biết Phật pháp, ngay cả đến người Phật tử trong lúc gần chết nếu mình đọc bài này hộ niệm chưa chắc họ biết, nếu có biết cũng sơ sơ trên suy nghĩ thôi. Kế đến là những người tu trong dòng pháp Nikāya đến khi đau đớn gần chết như vậy mà mình đọc bài này có còn thực hành nổi không?

Như vậy đó nhưng mình sống rất vô tư vì lúc nào cũng có suy nghĩ còn trẻ, còn khỏe làm sao chết được, đó là vô minh, bây giờ chết trẻ rất nhiều, ở độ tuổi vị thành niên đã gây ra biết bao án mạng. Cho nên cần gỡ ra sáu căn và sáu thức, tu học hằng ngày phải tập gỡ nó ra khỏi thân tâm, tập niệm câu "con mắt này không phải tôi, không phải của tôi", "lỗ tai, miệng, lưỡi này không phải tôi, không phải của tôi", "thân thể này không phải tôi, không phải của tôi", mình niệm như niệm Phật, vừa niệm vừa sanh cảm thọ. Đây là bài kinh giáo giới cho người sắp mạng chung (chết), sau đó đến sáu trần.

Không chấp thủ thức

"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ nhãn thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn thức'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ thức... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ thức... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt thức... Tôi sẽ không chấp thủ thân thức... Tôi sẽ không chấp thủ ý thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý thức'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Có sáu thức: nhãn thức; nhĩ thức; tỷ thức; thân thức; thiệt thức; ý thức và cái thức y cứ vào sáu thức đó chính là sự chấp thủ. Trong kinh Nikāya Đức Phật không nói đến thức thứ bảy nhưng sau này người ta nói chính là Mạt-na, tức là sự nắm giữ vào trong sáu cái biết đó, cho nó là tôi. Có một cái biết bám chặt vào sáu cái biết về sắc, thanh, mùi, vị, xúc chạm và cái biết thọ; tưởng; hành bên trong. Nó cho sáu cái biết đó là tôi, là của tôi, rồi yêu thích cái biết đó, tức là vô minh và tham ái với cái biết đó.

Chỉ khi nào tĩnh tâm thiền quán mới thấy những điều này rất sâu sắc, có dày đặc các lớp vô minh, tham ái, chấp thủ trong nội tâm. Nếu không nội soi, thiền quán, không đi sâu vào bên trong thì mình y như con rối, chính vô minh, tham ái, chấp thủ là đạo diễn cho mọi việc, cái nào nó cũng cho là tôi: tôi thấy, tôi nghe, tôi biết, tôi cảm xúc, tôi suy tư. Ngài Xá-lợi-phất dạy rằng không được có cái thức bám vào sáu thức này, chấp thủ như vậy tức là có ý niệm “là tôi”, là “của tôi”. Mà "tôi là" chỉ là một sự động chuyển của tâm, "tôi là" là một ung nhọt, là mũi tên.

Cho nên để tháo ra chấp ngã trong tâm là cả một công trình to lớn, là một sự nỗ lực khủng khiếp chứ không phải tu thường thường là làm được. Phải suy xét từng ý niệm, từng suy nghĩ, từng cảm thọ, thậm chí đến ý hành lầm thầm trong thọ thôi cũng cho là mình, là tôi, là của tôi, không chịu buông bỏ ra. Vì vậy, dù không nói ra miệng, không thể hiện trên mặt nhưng một ý hành thầm trong đầu là chúng ta không được chấp nhận và quan trọng phải thấy được những thầm ý đó.

"Này các Tỳ-kheo, cái chúng ta tư niệm, tư lường, có thầm ý, cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên có mặt thời thức có an trú. Do thức ấy an trú, tăng trưởng, nên trong tương lai, tái hữu sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu có mặt trong tương lai, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Này các Tỳ-kheo, nếu không có tư niệm, không có tư lường nhưng nếu có thầm ý (canuseti), cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên có mặt thời thức có an trú. Do thức ấy an trú, tăng trưởng, nên trong tương lai, tái hữu sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu có mặt trong tương lai, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Này các Tỳ-kheo, nếu chúng ta không có tư niệm, không có tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên không có mặt thời thức không an trú. Do thức ấy không an trú và không tăng trưởng, nên trong tương lai tái hữu không sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu không có mặt trong tương lai, nên sanh, già chết, sầu, bi, ưu, não được đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), IV. Phẩm Kalàra - Vị Sát Ðế Lỵ, VIII. Cetanà: Tư Tâm Sở)

Nói ra lời thì chúng ta dễ thấy rồi nhưng có những cái không nói thành lời mà chỉ là những thầm ý bên trong, nó cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi, là của tôi, như vậy nghĩa là không chấp nhận Thánh trí tuệ. Cho nên, phải nhìn thấy những thầm ý, những sự chống đối đó và mình phải loại bỏ từ từ. Chúng ta phải tháo gỡ những cái thâm sâu trong cảm thọ, cho nên đây là lý do phải tập nhận diện ngũ uẩn.

Nếu nói “Tôi không chấp thủ vào tỷ thức, thiệt thức, thân thức và tôi sẽ không y cứ vào tỷ thức, thiệt thức, thân thức” nếu chúng ta không biết thức là gì thì làm sao quán chiếu được? Cho nên hằng ngày phải nhận diện sáu thức, cái thâm sâu chính là ý thức: “Tôi không cho rằng sự rõ biết thọ; tưởng; hành này là tôi và của tôi, tôi sẽ không để tôi bị dính mắc, nắm chặt vào những cảm giác, nghĩ tưởng này và tôi sẽ không có thức dựa dẫm vào ý thức này”. Những điều này vô cùng sâu xa cho nên tâm mình tu rất vi tế, tế nhị, sâu sắc, nhận diện sáu thức chưa rõ ràng thì làm sao mình biết được sự chấp thủ đối với sáu thức?

Sự chấp thủ ở đây là suy nghĩ, là ý hành, rõ biết các sắc là tôi; rõ biết âm thanh này là tôi; rõ biết mùi vị là tôi; rõ biết về sự đụng chạm của thân là tôi, là của tôi và sâu bên trong là những sự rõ biết về cảm giác, hình bóng, suy nghĩ là tôi, là của tôi. Trong suy nghĩ của mình là một sự bám víu, bấu chặt cho rằng đó là tôi, là của tôi thì gọi là chấp thủ. "Tôi sẽ không có thức y cứ vào có thức", tức là không có một cái thức nương dựa vào ý thức đó, cái thức này là một sự ưa thích vì không hiểu biết cái đó là vô thường, khổ, vô ngã. Qua đây mới thấy chúng ta còn phải tu học thêm rất nhiều.

Không chấp thủ xúc và thọ

"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ nhãn xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn xúc'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thân xúc.. Tôi sẽ không chấp thủ ý xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý xúc'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Đến đây là mở ra từng bộ phận cho chúng ta thấy rõ. Khi Minh Thành bước ra thấy người dân làm cái này làm cái nọ, lấn đất chùa, khi xúc là thọ sanh khởi lên nên phải tác ý ngay "hãy giao cho các cư sĩ, họ làm được cái gì thì làm, cái này không phải là mình, không phải của mình, không phải sở hữu của mình". Sau khi tác ý cái tâm mới yên tịnh, giữ tâm mình quý hơn giữ tài sản, đất đai. Những thứ tài sản vật chất này khi chết đi cũng không đem theo được, nhưng nếu không giữ tâm được thì mai này ra đi sẽ mất tâm an tịnh, bất động, an định, mất tâm lắng dịu… nếu mất tâm này mới thật sự nghèo khổ. Vì thế, sự xúc chạm này cực kì quan trọng. Khi ở trong thất không gặp ai, không tiếp xúc ai thì tâm được yên rất dễ đi sâu vào pháp. Còn thấy cái này cái kia, nhất là vào chợ giao du với những người thị phi, ác bạn hữu là bị cuốn trôi theo đó.

'Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhãn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhãn xúc sanh khởi'. Chỗ này rất sâu sắc, khi tiếp xúc sẽ sanh ra thọ, vì vậy, phải tháo gỡ cái xúc này ra. Mắt gặp sắc và có sự rõ biết sắc, ba pháp đó hội tụ ngay lúc tiếp xúc thì mình phải sắc bén nhận ra ngay chỗ nhãn xúc đó như thế nào. Hơn nữa, chưa chắc mình nhận diện ra được thọ do nhãn xúc sanh vì nó rất nhanh. Vì thế, khi tu học Nikāya mà không có thiền định, không có tâm an tịnh, lắng dịu, định tĩnh là không thấy được pháp, mà không thấy pháp thì làm sao giãn trạch, phân biệt, làm sao nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch được? Một khi không thấy được pháp thì mắt nhìn thấy sắc, tai nghe tiếng là lập tức sanh khởi cảm thọ, những cái này diễn ra rất nhanh mình chặn lại không kịp. Hoặc khi sân hận sanh khởi, tham dục khởi lên, một lúc sau chúng ta mới nhận ra được nhưng vẫn đỡ hơn không thấy. Tôi không chấp thủ vào nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc và tôi không có thức y cứ vào nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.

"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhãn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhãn xúc sanh khởi'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhĩ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do tỷ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thiệt xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thân xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do ý xúc sanh khởi và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do ý xúc sanh khởi'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Khi thọ sanh khởi là lập tức mình bị đồng hóa với nó. Có ai nhận diện được khi thọ sanh khởi lên không? Khi sân sanh khởi lên thì lúc đó thế nào? Cảm giác đó sanh khởi rất nhanh, những thứ nhanh nhất hiện giờ cũng không bằng tốc độ sanh khởi của cảm giác này, thậm chí phi thuyền bay trong không gian cũng chẳng là gì đối với sự vận hành của tâm thức ngũ uẩn. Khi cảm thọ sân sanh khởi là toàn bộ ngũ uẩn đều sân theo đó, khi khởi lên tư là lập tức có sắc tư; thanh tư; hương tư; vị tư; xúc tư; pháp tư rồi sau đó là sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái… Tất cả tập hợp lại hoạt động, tất cả những suy nghĩ, hình bóng, nhận thức quay cuồng trong đó áp đảo, xâm chiếm toàn bộ ngũ uẩn. Một người không biết nhận diện ngũ uẩn, không biết cảm thọ là gì, không biết sự vận hành, an trú và chấm dứt của cảm thọ, không biết nhân duyên sanh diệt của thọ; tưởng; hành; thức thì làm sao có thể nhiếp phục được nó? Chúng ta đã học, thấy biết chút ít mà mỗi khi nó sanh khởi lên mình vẫn thua nó, không kịp nhận diện được nó. Cho nên, trong sự tu mà xem thường là không bao giờ thành tựu.

Khi ngồi thiền mà ý xúc sanh khởi, thọ do ý xúc sanh ra. Không cần đối diện với con người, âm thanh, mùi hương mà chỉ cần ngồi một mình thì những hình bóng, cảm xúc, suy nghĩ vẫn sanh khởi rồi quật mình gục ngã ngay trên thiền đường. Chính những tư tưởng về dục, sân, bản ngã, những lý luận, cảm xúc, hình bóng xâm chiếm trong thân tâm mình. Không có bộ phim nào khủng khiếp như bộ phim ngũ uẩn này, không có vở tuồng nào dài tập bằng vở tuồng ngũ uẩn này, không có đạo diễn nào kinh khủng như đạo diễn ngũ uẩn này. Chúng ta đóng tất cả các căn để ngồi yên thiền định trên bồ đoàn hoặc ở một mình trong thất, dưới gốc cây, ven bìa rừng nhưng mình có làm chủ, đối diện hoặc nhiếp phục những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong thân tâm không? Những tên giặc đó mạnh khủng khiếp mà mình không có vũ khí gì cả hoặc lờ đờ thì mình làm được gì? Vì vậy, phải gỡ ý niệm "tôi" và "của tôi" ra từ từ, gỡ sự bám chắc, bấu víu, buộc chặt vào trong những cái đó.

Không chấp thủ tứ đại

"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ địa giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào địa giới'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thủy giới... Tôi sẽ không chấp thủ hỏa giới... Tôi sẽ không chấp thủ phong giới... Tôi sẽ không chấp thủ hư không giới... Tôi sẽ không chấp thủ thức giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Không chấp thủ vào địa giới là không bám vào thân xác xương da này, không bám vào những món đồ, đôi dép, chiếc xe, cái đãi, gường chõng, túi xách, chùa chiền, tịnh thất, phòng ốc, y áo… tất cả mọi cái đều không được chấp thủ vào đó và không để cho những cái thức dựa dẫm vào những thứ đó. Phải xoá sạch trong tâm sự dựa dẫm, bấu víu, nắm chặt, dính mắc, chấp thủ vào trong những thứ đó. Khi có suy nghĩ "cái đãi này đẹp quá" phải tác ý gỡ cái suy nghĩ đó ra khỏi đầu "không có gì là tôi, không có gì của tôi trong cái thứ vô thường, tan nát, hủy hoại này".Địa giới là tất cả những gì được đất tạo thành, nếu chấp thủ vào nhà cửa mà lỡ hôm nào nhà sập thì khổ, chấp thủ vào tượng Phật mà lỡ bị bể thì sân hận lên.

Hơn nữa, chúng ta đừng để cho cái thức y cứ vào những thứ này, vì khi những thứ này bị phá vỡ, bị tan hoại mình không bị khổ đau, đối với thân này cũng vậy. Những điều này phải được thực tập, huân tập thường xuyên hằng này, hằng giờ, hằng tuần, hằng năm và hằng nhiều năm. Phải phá vỡ mọi sự dính mắc, chấp thủ vào cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, không chấp thủ vào đất; nước; gió; lửa, hư không giới và thức… những thứ đó là vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Phải gỡ ra từng ý niệm, từng cảm thọ, từng suy nghĩ, như vậy mới gọi là tu tâm, mới gọi là thể nhập trí tuệ.

Khi có sư trạch pháp chúng ta sẽ biết cái đó thuộc về cái gì, thọ do ý xúc sanh hay thọ do nhãn xúc sanh, trong thọ có tham ái hay có chấp thủ, nếu không nhìn thì làm sao thấy những cái này, không thấy thì làm sao biết, mà không biết thì làm sao phân biệt được, không phân biệt thì làm sao nhiếp phục, đoạn trừ, tẩy sạch? Vì thế, sự tu tập của chúng ta thuần túy tràn ngập thiền quán, trong sự thực tập đó phải để tâm lắng dịu, tịnh chỉ rồi bắt đầu nhìn ra, biện biệt trạch pháp. Từ đó phân biệt được cái nào là căn, cái nào là trần, cái nào là thức, cái nào là thọ, cái nào là dục ái, vô minh… Trong mỗi cái như vậy thì có phương pháp thích hợp để đối trị và chúng ta biết phải dùng cái gì tẩy sạch, nhiếp phục chúng, như vậy gọi là thiền quán. Thiền là sự an tịnh, lắng dịu, quán là nhìn kĩ, sau đó mới bắt đầu làm việc, xử lý từng trường hợp cho hợp lý, hiệu quả, nếu vào thiền mà cứ ngồi nhắm mắt thở vào thở ra im lặng rồi hôm nào ngồi yên được thì mừng, hôm nào bị động là buồn thì làm sao giải quyết được vấn đề gốc rễ trong tâm. Muốn xử lý phải biết tình trạng của nó, muốn biết tình trạng thì phải rõ vấn đề nằm ở đâu, muốn biết vấn đề ở đâu thì phải nhìn, ngó mà việc nhìn, ngó chính là nhận diện ngũ uẩn, việc tu rất hệ thống, rõ ràng, thực tế, khoa học. Khi tâm hết lậu hoặc mình sẽ biết, lậu hoặc còn nhiều hay ít mình cũng biết, từ nãy giờ là căn – trần – thức – xúc – thọ nếu được nắm vững thì sau này việc tu hành không đi ra ngoài những thứ này nên mới gọi là căn bản trí. Trong kinh ghi lại lời Ngài Xá-lợi-phất nhưng dùng dấu ba chấm để ngắn gọn, chứ thật tế Ngài nói lặp đi lặp lại để sanh ra cảm thọ khắc sâu vào tâm của người nghe, Ngài Xá-lợi-phất đang giúp ông Cấp-cô-độc tác ý, tôi sẽ không bám chặt, tôi sẽ không bấu chặt, tôi sẽ không để cho thức có chỗ y cứ vào trong sáu giới này, đất, nước, gió, lửa, hư không và thức.

Thế nào là không chấp thủ vào phong giới? Người ta nói một câu vậy mà về giận thì đó là chấp thủ vào phong giới, xem câu nói đó là gió, nghe một câu thôi là về phân tích câu nói đó đủ các khía cạnh làm ảnh hưởng thân tâm, đó là chúng ta không biết đó chỉ là gió, là phong giới thôi, phải xem lời nói đó như gió thổi mây bay, khi nghe người ta chửi thì tác ý "cái này là gió độc đang thổi, không có ai ở đây". Mỗi khi nghe chửi là phân tích người đó lớn hay nhỏ mà nói vậy, phân tích câu nói đó, vậy là tâm mình đặt sai hướng, không trú trong pháp, bị chấp thủ vào phong giới và thức y cứ vào phong giới, nghĩa là câu chửi đó hằn sâu trong đầu thậm chí đến khi chết cũng không quên, mỗi lần lặp lại là đau khổ, giày vò, tức tưởi, oán thù, gọi là thức y cứ vào phong giới. Sự bám chặt, bấu víu, buộc chặt, chấp thủ là rất khủng khiếp.

"Thân trống rỗng không ai trong đó,

Không có ai ở trong đâu tâm,

Tâm còn yêu thích thân trống rỗng

Thì còn đau khổ mãi nha tâm".

"Gió trống rỗng không ai trong đó,

Không có ai mà đúng với sai,

Thân còn bám chấp sai với đúng,

Thì còn đau khổ mãi nha tâm".

Những bài này phải được thiền quán liên tục và thường xuyên, đó là tinh hoa Nikāya. Lỡ bị mất món đồ cũng không chấp thủ vào món đồ, không có tâm thức dính mắc vào món đồ đó. Trong từng cái nghe, thấy, tiếp xúc đều phải tập tác ý để tháo gỡ sự chấp thủ, tháo gỡ sự y cứ vào đó mới gọi là tu tâm.

Ví dụ, có người bỏ bao rác trước cửa nhà thì mình như thế nào? Nếu có cảm xúc khó chịu sanh khởi, mình phải tác ý "tôi sẽ không chấp thủ vào không giới, vào khoảng trống đó", cái khoảng không để bao rác đó không có la lối gì thì tại sao mình la, mình giận. "Tôi không để thức y cứ vào không giới này, vào khoảng trống đó", đó là quán hư không giới trống rỗng. Nếu mình muốn chỗ đó không để rác thì đem bao rác đó đi đổ là xong chuyện, gọi là lưỡng toàn kỳ mỹ. Nhiều khi như vậy lại cảm hóa được người hay bỏ rác trước nhà mình "đúng ra để vậy phải bực bội đằng này im lặng, không nói gì hết còn đi đổ cho mình nữa", ngược lại mình nổi giận đùng đùng, sân hận lên rồi cuối cùng được khổ đau, phiền não, nhiệt não. Có người chỉ vì năm tấc đất mà anh em ruột đâm nhau chết 4-5 người, đó là do chấp thủ vào miếng đất, tâm thức bám víu vào miếng đất, ăn không được ngủ không ngon cứ suy nghĩ về miếng đất. Vì chấp thủ vào sắc pháp và thức y cứ vào địa giới là miếng đất nên anh em giết nhau chết, nhẹ nhàng thì thù hận, không nhìn mặt nhau.

Cho nên, chúng ta tu là để đạt được tâm không chấp thủ bất cứ một vật gì ở trên đời, tức là không nắm chặt vào bất kì vật gì ở trên đời, cái gì cũng có thể buông bỏ được, thiền tâm xả nhằm buông bỏ, xả bỏ những cái này, “tâm buông xả là tâm hạnh phúc”. Thánh pháp tối thượng là vậy mà không chịu, cứ thích những thứ làm sầu, bi, khổ, ưu, não, hơn thua rồi tự mình làm khổ cho mình, Đức Phật dạy pháp an lạc, muốn an lạc nhưng con đường dẫn đến an lạc lại không chịu đi, cứ đi ngược đường an lạc để đến con đường đau khổ, đó gọi là "bội giác hợp trần", quay lưng lại với sự giác ngộ rồi hợp theo trần lao.

Không chấp thủ vào ngũ uẩn

"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ sắc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào sắc'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ... Tôi sẽ không chấp thủ tưởng... Tôi sẽ không chấp thủ hành... Tôi sẽ không chấp thủ thức và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Ngài Xá-lợi-phất chia ra nhiều phần, đến đây là phần ngũ uẩn nhưng ngũ uẩn lại bao trùm tất cả những pháp kia, nó là cơ sở, là nền tảng. Nắm vào ngũ uẩn sẽ thấy đầy đủ các pháp, sẽ thấy chi tiết từng phần của ngũ uẩn, nếu không nắm được ngũ uẩn hoặc nắm không đầy đủ sẽ không thấy đầy đủ, tu học phải nắm đầy đủ ngũ uẩn vì ngũ uẩn bao trùm tất cả những chi phần, khía cạnh trong pháp.

Chữ "sắc" ở đây bao gồm sắc uẩn, là thân này: mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý và tất cả tài sản, vật chất xung quanh này. Mình thích tượng Phật, quý tượng Phật nhỏ này vậy là thức của mình bị y cứ vào tượng này, lâu lâu hình bóng tượng đó ám ảnh trong tâm. Nếu không thì đam mê vào vàng, tiền hoặc con người nào đó, cái đó gọi là chấp thủ vào sắc và thức y cứ vào sắc. Món đồ nào mình ưa, mình thích tức là mình chấp thủ và có thức y cứ vào đó, đó là lý do có nhiều trường hợp nhìn đồ vật mà nhớ người xưa. Thậm chí có những oan hồn trong món đồ đó không siêu thoát được, đó là chấp thủ và cái thức y cứ vào sắc pháp đó. Trong những cái cây có phi nhân trong đó, họ cho đó là nhà của họ, người nào đến chặt cây là tai họa, đó là chấp thủ vào cây và thức y cứ vào cây đó. Đối với căn nhà cũng có sự chấp thủ như vậy, cho nên mới có căn nhà ma, không ai dám lại ở.

Chỉ riêng phần sắc uẩn đã bao trùm mắt; tai; mũi; lưỡi; thân, ý, cho nên bậc thiện tri thức thấy được ngũ uẩn là cả một trí tuệ cực kì thâm sâu và rộng lớn. Chúng ta chỉ học sáu căn thôi là đã không đầy đủ chứ đừng nói đến việc chỉ tu trong một hơi thở, chỉ biết sáu căn thì làm sao mình biết được thọ; tưởng; hành? Cho nên, bằng nhiều phương tiện, căn cơ, hoàn cảnh mà Đức Phật nói ra nhiều phương pháp, tuy nhiên cuối cùng vẫn nằm trong ngũ uẩn, không ra khỏi ngũ uẩn. Vì vậy, chúng ta nắm được ngũ uẩn là nắm được gốc trễ, cốt lỗi, từ gốc rễ đó mà nắm được những chi phần khác một cách dễ dàng hơn. Đó chính là lý do tại sao chúng ta phải học, tu, hành trì và quán chiếu về ngũ uẩn, thật sự nó rất vi diệu.

Không chấp thủ tứ thiền bát định

"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ Hư không vô biên xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Hư không vô biên xứ'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ Thức vô biên xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Vô sở hữu xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Ở đây đã lên tới tứ thiền bát định, bài giảng này của Ngài Xá-lợi-phất đưa ông Cấp-cô-độc lên Thánh quả cao cấp chứ không còn là sự hộ niệm bình thường nữa. Không được ưa thích, chấp thủ vào tám tầng thiền định vì cứ chấp thủ là còn ở trong luân hồi sanh tử.

Người tu thiền đến trạng thái hư không vô biên xứ sẽ ngồi trong định rồi thấy tâm trống rỗng rộng lớn vô lượng vô biên, họ cứ trú trong đó gọi là hư không vô biên xứ, không vô biên xứ. Bây giờ vẫn có người tu theo kiểu này và họ nhầm tưởng đó là Niết-bàn. Họ trú trong tâm trống rỗng, rộng lớn, bao la, trùm khắp, không có hình tướng gì cả nên họ bị chấp thủ, thức y cứ vào đó cho nên không thể giải thoát được. Người đạt được thiền định này không còn ở dục giới, không có thân xác như mình, không có sắc giới nữa mà họ ở trong vô sắc, trống rỗng, trống không và họ chấp thủ vào đó cho đó là họ, là của họ, tâm họ y cứ vào đó nên ở trong đó không đi ra được. Cái thiền này là pháp hữu vi nên có giới hạn, khi người này hết nhân hết duyên trong thiền định, bị mất thiền định sẽ lọt xuống các cõi dục giới, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, hoặc thân người, chư Thiên nhưng thường sẽ bị rơi vào ba ác đạo.

Thức vô biên xứ là người này ngồi quán sự rõ biết của mình bao trùm khắp vô lượng vô biên, cái biết không hình không tướng, không có bờ mé, không có giới hạn. Người này chấp thủ vào cái biết này, vào sự quán tưởng này, họ ưa thích, dính mắc và thức y cứ vào đó. Nếu người này chứng đắc thì sanh vào cõi trời thức vô biên xứ tưởng và tuổi thọ kéo dài khủng khiếp, tính bằng đại kiếp. Họ sẽ ở trong cảnh thiền định đó đến khi hết nhân hết duyên thì từ cõi đó rơi xuống vì thức vô biên xứ là pháp hữu vi, là vô thường, do thức tưởng chứ không phải là Thánh trí tuệ.

Vô sở hữu xứ là không có gì hết, người này cứ ngồi trong trạng thái tâm trống rỗng rộng lớn, không có một sắc tưởng, tạp tưởng nào chen vào tâm người đó và người này trú luôn trong cảnh thiền định trống không đó, đến khi chết sanh lên vô sở hữu xứ, là cảnh trời vô sắc. Các cảnh trời từ thấp lên cao là dục giới, sắc giới và vô sắc giới, đó là cảnh trời cao nhất trong ba cõi, tuổi thọ tính bằng đại kiếp, do người này chấp thủ, ưa thích, cho nó là tâm thức mình nên thức an trú trong đó.

Phi tưởng phi phi tưởng xứ nghĩa là không phải tưởng và cũng không phải không tưởng, đây là cái rất vi tế. Người này chấp thủ và ưa thích nên thức chấp thủ vào trạng thái đó, đây là cảnh giới cao nhất trong tam giới, gọi là nóc nhà, đó chính là tầng thiền thứ tám của vô sắc giới. Ở cảnh giới này không có sắc dục nam nữ cũng hoàn toàn không có thân thịt như mình. Sắc giới là còn hình sắc, có những bóng sáng; còn vô sắc giới là không có hình sắc mà chỉ có tâm tưởng, sống bằng tâm tưởng chứ không có tướng mạo, hình tướng. Tất cả những cái này đều nằm trong ngũ uẩn tế hoặc thô, ở trong những trạng thái thiền định đó là trải qua vô số kiếp nhưng vẫn ở trong ngũ uẩn, vẫn chấp thủ và thức y cứ vào đó. Cho nên Ngài Xá-lợi-phất nói với Ngài Cấp-cô-độc đừng chấp thủ cũng đừng để thức y cứ vào những tầng thiền định này.

Không chấp thủ thế giới

"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Trong kinh Đức Phật có dạy phải quay lưng với tất cả sự lòe loẹt của thế giới. Trong suy nghĩ, trong thầm ý của mình không ưa thích, nắm giữ bất cứ một cái gì trên đời này, cũng như trong kinh Tứ Niệm Xứ có ghi “sống không nương tựa, không chấp trước bất cứ một vật gì trên đời”. Vì vậy, tâm chúng ta đối với tất cả mọi sự vật, sự việc, đến ngay cả ngũ uẩn tự thân tâm cũng không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

"Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống nhiều với tưởng không hoan hỉ đối với các thế giới, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lòe loẹt của thế giới; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI). Tưởng (2))

Khi thấy được bản chất vô thường, khổ não, vô ngã, trống rỗng của nó rồi nhàm chán, từ bỏ, xuất ly khỏi nó, đó là ý nghĩa của câu "không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây". Có như vậy mới đi đến Niết-bàn, không còn những yếu tố, động cơ để quay lại thế giới này nữa, như vậy mới gọi là xuất ly tam giới, ra khỏi ba cõi. Dục giới là vô cùng khổ; sắc giới có cái khổ vi tế, chư Thiên và A-tu-la đánh nhau liên miên; cõi vô sắc thì yên định nên cứ trú trong đó vô lượng vô biên kiếp. Điểm giống nhau là cả ba cõi đều còn trong sanh tử luân hồi cho nên không chấp thủ thế giới là đi ra khỏi ba cõi, xuất ly khỏi nó.

"Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác", thế giới ở đây là cõi dục giới, thế giới khác là cõi sắc và vô sắc, nghĩa là phải tháo gỡ, buông xả, từ bỏ, nhàm chán, xuất ly ra tất cả thế giới. Khi tác ý mình không còn muốn hơn thua, giành giựt gì nữa, mình đứng ngoài cuộc những sự đúng sai, thị phi, phải quấy, mưu sĩ, mưu mô… người ta muốn làm hại mình, phỉ báng, sỉ nhục mình cũng không ảnh hưởng đến mình, mình xem thế gian này là quán trọ.

"Trần thế âu là cảnh tạm nương,

Cũng như chiếc quán dựa bên đường.

Người đời là khách dừng chân tạm,

Rồi vội lui về nẻo viễn phương".

(Thơ văn Phật Giáo – Ly Gia)

Mình xem cả thế gian này chứ đừng nói gì căn nhà chỉ là quán trọ, cả hành tinh này cả là căn nhà trọ nên không dính mắc khi nhìn thế giới này nhưng từ tâm mình lại bao trùm cả thế gian. Thánh Pháp nghĩa là không dính mắc, trói buộc nhưng lại bao trùm bằng sự xót thương, bi mẫn, đây là chỗ tuyệt diệu của Chánh Pháp, đó là “trung đạo đệ nhất nghĩa đế”. Bình thường một là dính chặt vào, hai là bỏ mặc luôn, còn đằng này đứng ở ngoài thế gian nhưng lòng bi mẫn bao trùm vạn loại, đó là tâm của bậc Thánh, cũng chính là pháp mà Thế Tôn truyền trao cho hàng đệ tử của Ngài.

"-- Này các Tỳ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỳ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, II. Bông Hoa (hay Tăng trưởng))

Đó là tâm viễn ly, tâm siêu thế, xuất thế, có được tâm này sẽ rất vi diệu, không còn hơn thua, giành giật với ai nữa. Ai muốn đấu đá, mưu tính, chỉ trích, phỉ báng thì cứ việc vì đây chỉ là nhà trọ, ở một chút rồi đi thôi, đó mới là tâm của bậc đại nhân, bậc Thánh nhân. Vì thế, cần tác ý không nắm giữ bất cứ một cái gì trên thế gian này, tôi không để cho tâm thức tôi bám víu, nương dựa vào thế giới này hoặc thế giới khác.

Không chấp thủ các pháp

"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Thấy cái gì cũng biết nó vô thường, khổ, vô ngã; nghe thì biết nhưng không chấp thủ vào âm thanh đó; xem cảm thọ như mây, như khói; thậm chí không chấp thủ vào cái biết, vì cái biết này chỉ là pháp duyên sanh, là trò ảo thuật. Những cái gì được mong cầu trong tâm cũng không chấp thủ, ví dụ, có những người khi gần chết dặn dò cái này cái kia để không mong cầu gì nữa, chúng ta cũng không được chấp thủ vào đó. Tư sát với ý là những gì mà ý suy xét cũng không chấp thủ mà buông xả hoàn toàn. "Tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp trên" nghĩa là nó sanh khởi thì sanh khởi chứ mình không chấp thủ vào nó, nó sanh khởi rồi cũng sẽ diệt.

Lời tán thán của Thiên tử Cấp Cô Độc

"Khi nghe nói vậy, cư sĩ Cấp Cô Ðộc khóc và chảy nước mắt. Rồi Tôn giả Ananda nói với cư sĩ Cấp Cô Ðộc:

-- Này Cư sĩ, Ông đang gượng lên mà sống, hay chìm xuống (cõi chết)?

-- Thưa Tôn giả Ananda, con không gượng lên mà sống, con đang chìm xuống cõi chết. Dầu cho bậc Ðạo sư được con hầu hạ đã lâu và dầu con đã từng gần gũi các vị Tỳ-kheo tu tập ý lực, con chưa từng được nghe một thời thuyết pháp như vậy.

-- Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy không nói cho các hàng cư sĩ mặc áo trắng. Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy nói cho các hàng xuất gia.

-- Vậy thưa Tôn giả Sariputta, hãy thuyết pháp như vậy cho hàng cư sĩ mặc áo trắng. Thưa Tôn giả Sariputta, có những Thiện gia nam tử sanh ra với cấu uế không nhiều, nếu không được nghe pháp, sẽ bị đọa lạc; nhưng nếu được nghe, họ có thể biết được (Chánh) pháp.

Rồi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda sau khi giảng dạy cho cư sĩ Cấp Cô Ðộc với bài thuyết giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi cư sĩ Cấp Cô Ðộc, sau khi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, thân hoại mạng chung, và sau khi thân hoại mạng chung liền sanh lên cõi Tusita (Ðâu-suất thiên)". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Ngài Cấp-cô-độc sanh lên cõi trời Đâu-suất, chứng Thánh quả trở thành Thánh đệ tử thiên, lên đó tu tập tiếp tục để đi đến quả vị tận cùng tối cao A-la-hán. Sau khi lên cõi trời thì Ngài Cấp-cô-độc xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn, đó là một vị đại cư sĩ đúng theo ý nghĩa Thánh đệ tử thời Đức Phật. Ngài chỉ với tâm bố thí, cung kính Tam bảo lúc đầu nhưng cuối đời lại được kết quả ngoài sức tưởng tượng, không thể nghĩ bàn, thể nhập Thánh trí, lên cõi trời Đâu-suất để tiếp tục tu tập để thể nhập Thánh quả. Thật là vi diệu, tối thượng với những ai có lòng tin đối với Đức Thế Tôn, đối với Thánh pháp, đối với những bậc bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng. Mong rằng phước báo cao thượng, vi diệu của Thánh pháp sẽ lan tỏa cùng khắp thế giới trời đất này, cùng với tất cả những người đang bị cách ly, bị nhiễm bệnh hay đã chết. Mong tất cả chúng sanh thấm nhuần được sự thật chơn chánh tối thượng này sẽ được tâm bình an, thành tựu Thánh trí huệ về khổ đau, giải thoát khỏi tất cả khổ sầu, thành tựu Niết-bàn tối thượng.

Phần cuối bài kinh nói về sau khi Ngài Cấp-cô-độc qua đời thì Ngài được sanh lên cõi trời Đâu-suất trở thành thiên tử. Lúc trời hừng sáng là giờ Đức Phật thường thuyết pháp cho chư Thiên, thế nên đó là giờ chư Thiên cũng như thiên tử Cấp-cô-độc xuất hiện chói sáng. Khi ấy Ngài Cấp-cô-độc xuất hiện với thân hình chư Thiên chứ không còn là một ông già bệnh gần chết nữa.

"Rồi Thiên tử Cấp Cô Ðộc, khi đêm đã gần mãn, sau khi chói sáng toàn cảnh Jetavana (Kỳ-đà-Lâm) với dung sắc thù thắng đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Dung sắc thù thắng là vẻ đẹp khó diễn tả được của chư Thiên, không phải như da thịt của mình mà cái đẹp đó rất thanh thoát, thanh cao, cao thượng, hơn nữa Ngài lại là Thánh đệ tử thiên.

"Ðứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói lên với Thế Tôn bài kệ sau đây:

Rừng Jetavana,

Tốt đẹp phước lành này,

Ðược chư Thiên, chúng Tăng,

Thường lui tới an trú,

Ðược Pháp Vương trú trì,

Ban hoan hỉ cho ta.

Nghiệp, minh và Chánh Pháp,

Giới, tối thượng sanh mạng,

Chính nhờ các pháp trên,

Khiến chúng sanh thanh tịnh,

Không phải do giai cấp,

Không phải do tài sản.

Do vậy bậc Hiền giả,

Thấy rõ mục đích mình,

Suy tư pháp chân chánh,

Ðược thanh tịnh ở đây.

Như Sariputta,

Về tuệ, giới, tịch tịnh,

Bất luận Tỳ-kheo nào,

Ðã tới bờ bên kia,

Hãy đạt được tối thắng

Trong những pháp kể trên.

Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói như vậy. Bậc Ðạo sư tán đồng. Rồi Thiên tử Cấp Cô Ðộc suy nghĩ: 'Bậc Ðạo sư tán đồng ta'. Sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

Rồi Thế Tôn, khi đêm ấy đã mãn, gọi các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo, đêm nay, một vị Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, chiếu sáng toàn cảnh Jetavana với dung sắc thù thắng đã đi đến Ta, sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên tử ấy nói lên với Ta bài kệ sau đây:

Rừng Jetavana,

Tốt đẹp phước lành này,

Ðược chư Thiên, chúng Tăng,

Thường lui tới an trú,

Ðược Pháp Vương trú trì,

Ban hoan hỉ cho ta.

Nghiệp, minh và Chánh Pháp,

Giới, tối thượng sanh mạng,

Chính nhờ các pháp trên,

Khiến chúng sanh thanh tịnh,

Không phải do giai cấp,

Không phải do tài sản.

Do vậy bậc Hiền giả,

Thấy rõ mục đích mình,

Suy tư pháp chân chánh,

Ðược thanh tịnh ở đây.

Như Sariputta,

Về tuệ, giới, tịch tịnh,

Bất luận Tỳ-kheo nào,

Ðã tới bờ bên kia,

Hãy đạt được tối thắng

Trong những pháp kể trên.

Nói vậy xong, này các Tỳ-kheo, vị Thiên tử ấy suy nghĩ: 'Bậc Ðạo sư tán đồng ta', sau khi đảnh lễ thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.

Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, có phải vị ấy là Thiên tử Cấp Cô Ðộc chăng? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc có lòng tịnh tín bất động đối với Tôn giả Sariputta.

-- Lành thay, lành thay, Ananda! Những gì có thể thành đạt được bởi suy tư đã được đạt đến, này Ananda. Chính Cấp Cô Ðộc là vị Thiên tử ấy, không một ai khác.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)

Ngài Anan là người dẫn Ngài Xá-lợi-phất đi đến hộ niệm cho Ngài Cấp-cô-độc nên Ngài thấy trạng thái lúc đó của ông Cấp-cô-độc rất đau đớn, khổ sở nhưng ông ấy lại có sự tịnh tín bất động đối với pháp. Đức Phật nói những gì có thể suy nghĩ để đạt đến thì Ngài Anan chính là người đó, Ngài Anan đã đoán đúng người nói bài kệ đó chính là thiên tử Cấp-cô-độc.

Bài kinh này nhằm giúp các Phật tử hoan hỉ trong thiện pháp để thấy rằng một vị Phật tử bố thí, cúng dường với tâm chân thành, cung kính, tịnh tín bất động đối với Tam bảo và giây phút cuối cùng của cuộc đời được Thánh Tăng Xá-lợi-phất hộ niệm trở thành một vị Thánh đệ tử thiên. Khi trở về Ngài tán thán rừng Cấp-cô-độc viên, Kỳ Đà lâm này tốt đẹp và phước lành khi được chư Thiên và chúng Tăng thường an trú ở đây tu, đặc biệt là được bậc pháp vương trụ trì. Ngài Cấp-cô-độc được sanh thiên là do phước đức cúng dường Tinh Xá của Ngài, ngoài ra còn tín – giới – tuệ nhưng phần lớn là do công đức cúng dường.

Ngài hoan hỉ với việc thiện, phước báo đó nên Ngài trở về tán thán và trình lên Đức Phật bài kệ, tức là Ngài hoan hỉ với phước lành Ngài đã làm và phước lành Ngài đang được hưởng. Sau khi trở thành bậc Thánh đệ tử thiên thì Ngài xuống trở lại nói lời tri ân, cảm ơn, biết ơn đối với Đức Thế Tôn, đối với các bậc Thánh Tăng và đương nhiên tri ân các chư Thiên ở Kì Thọ Cấp-cô-độc viên rất nhiều, vì hễ chỗ nào có Chánh Pháp chỗ đó có chư Thiên hộ trì. Sau khi thấy được mục đích thì ngày đêm thiền tư, tư duy những lời Đức Phật dạy, những lời dạy Chánh Pháp, Ngài Cấp-cô-độc tán thán Phật, tán thán pháp, tán thán Tăng chúng và tán thán phúc lành của cư sĩ Cấp-cô-độc đã làm để ngày nay trổ ra quả thành thiên tử Cấp-cô-độc. Hiệ tại, Ngài không còn là một ông già nằm bệnh đau đớn khổ sở như ngày hôm qua nữa mà đã trở thành thiên tử có ánh sáng chói sáng khắp vùng, đó là hoa trái trong tu tập của một vị đại cư sĩ và lời hộ niệm của một vị đại Thánh Tăng.

Như vậy, chúng ta có một buổi thiền quán chia sẻ về những pháp mà tôn giả Xá-lợi-phất đã khuyến tấn, khích lệ, hộ niệm cho cư sĩ Cấp-cô-độc. Đây cũng như lời khuyến tấn, khích lệ, hộ niệm cho tất cả hữu tình chúng sanh đang có mặt trong ngày hôm nay, sau mấy mươi mấy ngày ông Cấp-cô-độc qua đời, vì một ngày đêm trên cõi trời Đâu-suất bằng bốn trăm năm dưới nhân gian.

"Bốn trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tusità (Ðâu-Xuất). Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Bốn ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tusità. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tusità'. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Ngày Trai Giới)

Chúng ta nghe pháp thì thấy nhàn chám, đau khổ nhưng khi thấm được thì đạt đến hạnh phúc tuyệt đối. Chúng ta nghe khổ, quán chiếu về khổ, suy tư về khổ để đạt đến chỗ diệt khổ, vì vậy, thể nhập Thánh trí về khổ để đưa đến chấm dứt khổ đau. Còn khổ của thế gian là trường viễn bất tận, khổ này để đưa đến khổ khác chứ có ngày chấm dứt nhưng Thánh trí về khổ giúp chúng ta chấm dứt khổ, thoát khổ, đây là chỗ đặc biệt của Thánh pháp, gương sáng ở đây là cư sĩ Cấp-cô-độc.

Kính chúc tất cả quý vị có được sự tịnh tín bất động thể nhập vào Chánh Pháp tối thượng, an lạc này.

./.