Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Trí Tuệ Bất Tử

2026-03-03 00:53:34
TRÍ TUỆ BẤT TỬ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu thâm sâu – đời sống vô thường PAGEREF _Toc75679644 \h 1

II. Sợ hãi và tinh tấn PAGEREF _Toc75679645 \h 5

III. Ba thiên sứ - sợ hãi ác nghiệp PAGEREF _Toc75679646 \h 6

1. Thiên sứ thứ nhất PAGEREF _Toc75679647 \h 6

2. Thiên sứ thứ hai PAGEREF _Toc75679648 \h 12

3. Thiên sứ thứ ba PAGEREF _Toc75679649 \h 13

I. Quán chiếu thâm sâu – đời sống vô thường

Tất cả đại chúng thực hành 3 pháp, mắt mở ra nhìn xuống về phía trước, cảm nhận sự động chuyển của 3 chỗ chóp mũi, lồng ngực và bụng, từ đó mở rộng cảm giác ra toàn thân, cảm giác đỉnh đầu, mặt, cổ, vai, cánh tay, bàn tay, mình, mông, chân, bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác tỏa sáng, rõ biết, sáng tỏ. Ba pháp này phải thực tập trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm, trong mọi lúc mọi mơi chứ không phải đợi lên ngồi thiền mới thực tập. Rõ biết trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân.

Mục đích thực tập cảm giác toàn thân để làm gì? Để phát hiện ra tham sân si trong cảm giác, nhìn lại cảm giác để thấy tham trong đó, sân trong đó và si mê, chấp ngã trong đó, sự trì trệ, hôn trầm, lờ đờ là si. Nhìn lại cảm giác mới thấy được tham sân si, thấy được rồi mới nhiếp phục, chuyển hóa nó, nhiếp phục được thì mình mới có sự an lạc. Giống như có con rắn hổ mang trong nhà thì làm sao mình có thể ngủ yên? Chỉ một con rắn thôi đã ngủ không được, còn đằng này có đến 4 con rắn mà không ai thấy được, chính là ngũ uẩn.

Đức Thế Tôn nói rằng nếu trong cuộc đời này không có già, bệnh, chết thì Đức Phật không xuất hiện ở thế gian này. Do có già, bệnh, chết cho nên Đức Phật mới xuất hiện ở cuộc đời này, vậy mà mình cứ luôn sống trong sự lãng quên, không nhớ rằng mình sẽ chết, mình đang chết và mình đã chết. Sẽ chết là trong tương lai sẽ xảy ra, còn đang chết là mình đang đi đến cái chết, từng bộ phận, từng tế bào trong cơ thể mình đang tiến dần đến chỗ hủy hoại, hoại diệt, mình đã chết tức là trong vòng luân hồi sanh tử này mình đã chết không biết bao nhiêu lần như trong kinh đã nói:

“Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.

... các Ông chịu đựng con chết...

... các Ông chịu đựng con gái chết...

... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...

... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...

Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.”

(Tương Ưng Bộ, Tập II Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)

Nước mắt khóc vì cha mẹ chết, con, chồng, anh chị, chú bác, ông bà chết nhiều hơn nước mắt của bốn biển. Nước mắt của mình đã rơi vì những người thân thương nhất trong vòng luân hồi này, nếu không có trí huệ quán chiếu thì mình cứ nghĩ mình mới sanh ra đây nhưng thật chất mình đã sanh sanh tử tử trong muôn ngàn vạn kiếp rồi, mình đã chết rồi, mình đang chết và mình sẽ chết. Bây giờ mình lại quên chứ không nhớ, chính vì mình quên cái chết, quên cái già bệnh cho nên mình mới lừng lẫy trong tham sân si. Bí mật pháp môn là lúc nào cũng nhớ mình sẽ chết, mình nhớ rồi thì tự động tham sân si, phiền não sẽ rơi rụng.

Phải nhớ chứ đừng có quên, Minh Thành đi dự những đám tang, thấy những người thân khóc cha, khóc mẹ, khóc anh chị, khóc vợ chồng, khóc con cháu thì Minh Thành rất xót xa, đợi đến chết mới biết thì đã muộn màng. Ngay bây giờ mình phải biết rằng có một ngày mình sẽ khóc, mình đã khóc với những người thân của mình rồi thì tại sao mình lại quên? Tại sao mình không nhớ? Mình làm gì có thời gian để nhớ giận ai, ghét ai, hờn ai nếu mình nhớ rằng mình sẽ chết, đang chết và đã chết. Đây là tuệ lực, là sức mạnh của trí tuệ, sức mạnh của bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho mình.

Ngồi với nhau không bao giờ nói về cái chết đã cận kề rồi để nhanh chóng tu tập mà chỉ nói chuyện đi chơi, ăn uống, con cháu, đây là sự vô minh, si mê, là sống trong sự tăm tối không tỉnh thức, tỉnh giác. Bây giờ ai là người nhắc cho mình nhớ những điều này? Không có ai nhắc nhở nếu không có Đức Phật, nếu không có giáo pháp, nếu không có bậc thiện tri thức. Thậm chí nghe nói đến là sợ "thôi đừng nói cái này, cái này sợ lắm, buồn lắm", như vậy thì cứ nói chuyện hài, chọc cười thôi hay sao? Đó là đưa mình đi vào trong cái mê lầm, đưa mình vào trong sự khỏa lấp, che đậy sự thật, rồi một ngày khi đối diện sự thật thì mình sẽ hụt hẫng, hoảng loạn, kinh hãi khi đối diện trực tiếp với tử thần.

“Sự thể là vậy, này Ananda, tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như vậy, màu da không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan! Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập.”

(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), V. Phẩm Về Già, 41. I. Già).

Mình tu tới giờ này mà suốt ngày cứ ghi tên cầu an là chứng tỏ mình chưa có trí huệ gì hết. Thân thể này làm gì có sự an ổn, an toàn trong đây? Làm gì có sự cứng chắc trong cái thân bong bóng này?

“Hãy xem bong bóng đẹp,

Chỗ chất chứa vết thương,

Bệnh hoạn nhiều suy tư,

Thật không gì trường cửu.”

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 147)

Thân này như bong bóng đẹp lấp lánh nhưng nó lại có tính chất vỡ nát, tan bể bất cứ lúc nào, đừng nghĩ còn trẻ là cứng chắc vì sắc là vô thường, tứ đại là vô thường, không thể khác hơn được nữa. Mình phải thấy được điều này thì mới cố gắng tu tập, còn khi bất thình lình vô thường ập đến tan vỡ lúc đó mình sẽ ra sao? Ở đây có ai không sợ chết không? Minh Thành rất sợ chết nên mới đi tu, Đức Phật là người sợ chết, sợ bệnh, sợ già cho nên Ngài mới bỏ cung điện, vợ đẹp con ngoan để đi tu. Cái này phải quán chiếu sâu sắc mới thấy được chứ không phải nói chuyện thông thường là có thể hiểu được.

Tánh già nằm trong tuổi trẻ tức là mình đang còn trẻ nhưng mình phải biết tính chất của già đang ở trong đó, mình bị trúng độc tham sân si. Nếu cái già, bệnh, chết đến thì Minh Thành sẵn sàng chấp nhận một cách bình an vì mình đã thấy rõ sự thể là vậy, nếu nó có đến thì mình không hoảng loạn vì mình đã biết sự thật nó là vậy rồi, hằng ngày mình đã quán chiếu và nghiền ngẫm, còn giờ mình quên đi cái bệnh, bất thình lình nó đến rồi bác sĩ vào khám thông báo ung thư thời kì cuối thì kinh hãi, đó là sự thật, chắc chắn mình sẽ hoảng loạn vì mình không có sự quán chiếu, mình không thấy được sự thật đến khi nó đến thì sợ hãi, kinh khiếp.

 Tánh chết ở trong sự sống, mình đang sống đây mà phải biết rằng bản chất, tánh chất của cái chết nằm sẵn trong cuộc sống này rồi. Quý vị đang thực tập, quán chiếu như vầy thì quý vị đang thể nhập vào cảnh giới của bất tử. Người nào thường quán chiếu 3 câu tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh chết ở trong sự sống, tánh bệnh ở trong sức khỏe thì người đó đang thể nhập cảnh giới của bất tử, người đó sẽ không chết nữa. Tại sao thường nhớ sanh tử thì người đó sẽ đạt đến bất tử?

II. Sợ hãi và tinh tấn

Vì khi nhớ rồi mới có sự sợ hãi, khi sợ hãi mới có sự nỗ lực, tinh tấn tu tập thì cuối cùng mới vượt khỏi sanh tử, thành tựu bất tử, đây là Niết-bàn, là mục đích chí cao của Phật giáo, chấp dứt được sanh, già, bệnh, chết. Tuổi già phải nằm một chỗ đại tiểu tiện, không ngồi lên nổi thì đây là sự bất hạnh, đại bất hạnh, có những người nằm một chỗ hơn 20 năm, hoặc hàng chục năm, nằm đến mức lưng bị lở loét, rỉ máu. Báo đưa tin có trường hợp người mẹ bị mắc kẹt trong nhà bị hỏa hoạn rồi bị phỏng nặng, cô muốn chết đi nhưng cô có đứa con chỉ mới hơn 10 tuổi nên không nỡ chết.

Đứa con chứng kiến hằng ngày da thịt trên người mẹ mình rớt ra từng mảng vì bị hoại tử. Bất hạnh thay là cái già bệnh mà mình lại quên lãng đi mất, mình quên mình sẽ già, bệnh, chết. Minh Thành nói thật là không có ngày nào mà Minh Thành không nhớ về cái chết, không có ngày nào Minh Thành không quán niệm về sự chết thì tại sao mọi người đã lớn tuổi mà lại không nhớ? Nếu Minh Thành không quán chiếu cái này thì làm sao cái tâm có thể bình an, thanh thản, lúc nào cái tâm mình mới xả ly được khi cứ bám chặt vào rồi khổ. Mọi người nghĩ cái tâm như vậy thì khi chết sẽ như thế nào?

Mình không bỏ nhà đi tu 1 ngày- 3 ngày được thì làm sao khi chết có thể đi xa được? Nếu cái nghiệp nặng có thể rơi vào ngạ quỷ vất vơ vất vưởng quanh nhà không đi được, hoặc làm súc sanh như chó mèo canh nhà, cái tâm mình nó buộc vào rất ghê gớm, cho nên Đức Phật dạy mình để nhìn thấy được các pháp vô thường, thân này già, bệnh, chết để tâm mình thoát ly, lúc nhắm mắt ra đi sẽ nhẹ nhàng vì mình đã thấy được hết những cái này là giả dối, không có thực thì mới siêu thoát được. Mình càng bám chấp nặng chừng nào thì mình càng khổ nặng chừng đó, có những vị vua khi hoàng hậu mất thì bỏ bê việc triều chính, nằm kế hoàng hậu, khi nghe Phật thuyết pháp thì tỉnh ngộ ra mới hỏa táng hoàng hậu, cái tâm ái luyến mạnh sẽ rất khổ sở.

Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da, hình bóng đáng yêu, nét đẹp lúc trước bị tuổi già phá tan hết tất cả. Mình phải chiêm nghiệm điều này chứ không được quên. Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập, dù cho có sống 100 tuổi đi nữa thì cuối cùng cũng phải chết chứ cái chết không bỏ sót bất kì ai. Đừng để tâm nhiều đến thế sự, đến phiền não sự, thị phi sự, hãy bỏ hết những cái này để ngày đêm nghe, nghiền ngẫm và tu tập theo pháp thì cái này mới là trí huệ thông minh nhất trong tuổi già. Mọi người hãy nhìn ra cuộc sống đi, nhiều khi mình làm càng được nhiều vật chất chừng nào thì mình càng bị trói buộc càng nhiều chừng đó, có khi 70 tuổi rồi mà vẫn không bỏ công việc được.

III. Ba thiên sứ - sợ hãi ác nghiệp

1. Thiên sứ thứ nhất

“Có ba Thiên sứ này, này các Tỳ-kheo, Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Sau khi thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Rồi này các Tỳ kheo, những người lính địa ngục với hai cánh tay bắt người ấy dẫn đến Vua Yama (Diêm vương) và thưa:

"Thưa Ðại vương, người này không kính mẹ, không kính cha, không kính Sa-môn, không kính Bà-la-môn, không tôn kính các bậc lớn tuổi trong gia đình, Ðại vương hãy hình phạt nó"

Rồi vua Yama chất vấn người ấy, cật vấn, nạn vấn người ấy về Thiên sứ thứ nhất:

- "Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ nhất hiện ra giữa loài người không?"

Người ấy trả lời:

- "Con không thấy, thưa ngài"

Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy:

 "Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay đàn ông 80 tuổi, hay 90 tuổi, hay 100 tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, bệnh hoạn, tuổi trẻ đã tận, răng rụng tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, đầu rung, tay chân da mồi khô đét?"

Người ấy nói như sau:

- "Thưa Ngài, con có thấy".

Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:

- "Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: "Ta rồi cũng bị già, ta không vượt qua tuổi già. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?"

Người ấy nói như sau:

- "Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật."”

(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời,

35.- Diêm Vương)

Thiên sứ là sứ giả của trời, đây là thiên sứ thứ nhất, tức là già. Khi mình 18, 20 có biết bao nhiêu ánh mắt nhìn theo, chỉ cần quay ánh mắt nhìn lại là hết thảy mọi người đều nghiêng ngã.

“Bắc phương hữu giai nhân,

Tuyệt thế nhi độc lập.

Nhất cố khuynh nhân thành,

Tái cố khuynh nhân quốc.

Ninh bất tri, khuynh thành dữ khuynh quốc,

Giai nhân nan tái đắc.”

Dịch nghĩa:“Phương bắc có người giai nhân,

Đẹp tuyệt trần nhưng vẫn còn đơn độc.

Ngoảnh lại một lần thì làm nghiêng thành của người ta,

Ngoảnh lại hai lần thì làm nghiêng nước của người ta.

Há nào người không biết, vẻ nghiêng thành nghiêng nước,

Người đẹp ấy đâu dễ gặp lại.”

Những tuyệt thế giai nhân cổ xưa được miêu tả khuynh quốc khuynh thành, một nụ cười là nghiêng nước, hai nụ cười là đổ thành. Vậy mà bây giờ mình đi ngang không ai thèm nhìn cho nên Thế Tôn mới nói: Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Thiên sứ thứ nhất đã báo cho mình biết khi tuổi già đến là sẽ như vậy.

“"Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia, chúng sẽ làm cho ngươi, đúng theo sự phóng dật của ngươi. Ác nghiệp ấy của ngươi, không phải mẹ làm, không phải cha làm, không phải anh làm, không phải chị làm, không phải bạn bè thân hữu làm, không phải bà con huyết thống làm, không phải chư Thiên làm, không phải Sa-môn làm, Bà-la-môn làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm và Ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của ác nghiệp ấy.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời,

35.- Diêm Vương)

Mình sẽ thọ lãnh quả dị thục cho chính mình đã gây tạo nên. Dị thục là sự chín muồi, khi cái quả chín muồi là mình phải nhận lấy. Nhiều khi quả còn sống, còn non nhưng tới khi nghiệp quả chín muồi là mình phải nhận vì mình đã gieo, đã trồng thì mình sẽ gạt, sẽ hái chính nó. Cho nên phải cực kì cẩn thận và không được xem thường vì nghiệp quả rất đáng sợ, dù cho chỉ là một suy nghĩ xấu cũng phải phá bỏ, lời nói không tốt là phải chấm dứt, hành động bất thiện là phải ngăn chặn, thay đổi liền, còn không chính mình sẽ nhận lấy hoa trái chín của nghiệp quả đó.

Những đất nước chìm trong chiến tranh triền miên hay có những nước nhiệt độ tăng cao làm người dân sống không bằng chết hay có những nơi toàn là dân nghiện, vào trại tâm thần chỉ toàn người điên loạn thì tất cả những cái này đều là nghiệp quả đáng sợ. Tất cả những cái đó là do quá khứ họ đã gieo chứ không phải ai làm cho họ mù lòa, câm ngọng, đui điếc, sanh ra đã bệnh, có những chứng bệnh từ trong bụng mẹ, những bệnh làm cho họ bị dị dạng, có khi chưa sanh ra đã chết hay bị quăng bỏ trước cửa chùa, bỏ ở bệnh viện.

Thời sự đưa tin đứa trẻ mới mấy tháng tuổi sinh ra trong đất nước nội chiến liên tục, bị bom đạn văng trúng nên đã bị cụt hết tay chân, đó cũng là nghiệp quả. Mọi người thấy thế hãy biết sợ, khi hiểu được nghiệp quả rồi mọi người sẽ thấy sợ đối với từng ý nghĩ, từng lời nói, hành động đối với người khác, phải cẩn thận còn khi nó đã trổ quả ra rồi thì khổ đau không tưởng được. Một trong những cái không thể nghĩ bàn là nghiệp quả dị thục bất khả tư nghì, tức là khi nghiệp quả chín muồi là mình không thể tưởng tượng được, nếu mình cố gắng suy nghĩ thì Đức Thế Tôn nói mình sẽ điên loạn và đi đến chỗ chết.

“Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn? 

Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.

Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.

Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.”

(Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận,

(VII) (77) Không Thể Nghĩ Ðược).

Cho nên mình mới thấy có những người hay nói "sao kì vậy, tôi không thể hiểu được tại sao họ lại làm chuyện như vậy?", đó là nghiệp quả chín muồi đã trổ ra. Cho nên mới có những chuyện như mới thấy đó chết đó, có những người vừa leo đến đỉnh cao của danh vọng rồi rơi xuống vực thẳm ở tù, phá sản, hay tự nhiên phát bệnh tâm thần, lang thang ngoài đường… đó là sự chín muồi của nghiệp quả biểu hiện ra mà mình không thể hiểu được cũng không thể suy nghĩ được, Đức Phật nói mình suy nghĩ sẽ bị điên loạn và đi đến chỗ chết, vì đó là sức vận hành của nghiệp quả trong bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp tích tụ trong quá khứ của mình rồi tới một lúc nào đó nó biểu hiện ra thì không ai tưởng tượng được.

Khi mình biết được về nghiệp quả rồi phải biết sợ để đừng nói xấu bất kì ai, đừng suy nghĩ xấu cho bất cứ ai, làm việc xấu rồi có trải qua trăm đời ngàn kiếp thì việc xấu này cũng không mất đi, nếu đời này quả báo không đến thì đời sau sẽ đến hoặc nhiều đời sau nữa thì mình cũng sẽ gặp quả báo mà thôi, không thể tránh được. Thật sự rất ghê gớm và đáng sợ! Khủng khiếp thay cho nghiệp quả, đừng nên xem thường, đừng nghĩ mình nghĩ xấu mà người ta không biết hay mình nói xấu sau lưng mà người ta không hay, nó biểu hiện ra hết tất cả. Thiện nghiệp cũng vậy.

Nay vui, đời sau vui,

Làm phước, hai đời vui.

Người ấy vui, an vui,

Thấy nghiệp tịnh mình làm .

(Kinh Pháp Cú Phẩm Song Yếu, kệ 16)

Cái nghiệp sẽ gắn kết với mình, đồng hành với mình trong đời này và kiếp sau, trừ khi nào mình chấm dứt hết tất cả nghiệp để vào Niết-bàn thì mình sẽ thoát khỏi nó, còn khi nào mình còn ở trong sanh hồi luân tử thì nghiệp rất quan trọng, phước báu rất quan trọng.

2. Thiên sứ thứ hai

“Rồi vua Yama, này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ nhất, liền chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ hai:

- "Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ hai hiện ra giữa loài người không?"

Người ấy trả lời:

- "Con không thấy, thưa ngài"

Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy:

- "Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay một người đàn ông, bệnh hoạn khổ não nguy kịch, rơi nằm trong tiểu tiện, đại tiện của mình, cần người khác nâng dậy, cần người khác dìu nằm xuống?"

Người ấy nói như sau:

- "Thưa Ngài, con có thấy".

Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:

- "Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: "Ta rồi cũng bị bệnh, ta không vượt qua bệnh hoạn. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?"

Người ấy nói như sau:

- "Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật."

Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy:

- "Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia ... ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của các nghiệp ấy."”

(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời,

35.- Diêm Vương)

Đây chính là thiên sứ thứ hai. Mình tưởng tượng cái cảnh bệnh hoạn khổ não nguy kịch, rơi nằm trong tiểu tiện, đại tiện là cũng thảm rồi chứ đừng nói chi mình rơi vào cảnh này. Minh Thành đã chứng kiến có những người bệnh đại tiện tại chỗ, người ta phải thay tã cho như con nít, nhiều khi không có thay tã liền mà để đến chiều tối mới thay một lần luôn, người đó phải chịu đựng cái mùi của chính bản thân sản xuất ra, tiểu tiện còn đỡ chứ đại tiện thì làm sao chịu nổi nguyên một ngày? Khổ như vậy thì phải biết ráng tu học, tịnh khẩu nghiệp. Cái cảnh cần người khác nâng dậy, cần người khác dìu nằm xuống thật sự khổ sở, đến đi cũng cần có người kè hai bên nách.

3. Thiên sứ thứ ba

“Rồi vua Yama, này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ hai, liền chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ ba:

- "Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ ba hiện ra giữa loài người không?"

Người ấy trả lời:

- "Con không thấy, thưa Ngài."

Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy:

- "Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay một người đàn ông, chết đã được một ngày, hay chết được hai ngày, hay chết được ba ngày, sưng phù lên, xanh xám lại và nát rữa ra?"

Người ấy nói như sau:

- "Thưa Ngài, con có thấy".”

(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời,

35.- Diêm Vương)

Đó là cứu cánh bất tịnh, sự không sạch sẽ, nhơ nhớp đến tột cùng là ở chỗ trương phình lên, thối rữa ra, không có mùi nào kinh khiếp bằng mùi thây người chết, không có con nào hôi thối bằng con người chết. Khi chết đi con chó, con chuột, con bò, heo đều ăn được còn con người chết thì ai cũng tránh xa, rất khủng khiếp. Ngày nào mọi người cũng phải quán bất tịnh, quán bản chất của thân thể này để lìa tham sân si.

“Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:

- "Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: "Ta rồi cũng bị chết, ta không vượt qua sự chết. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?"

Người ấy nói như sau:

- "Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật."

Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy:

- "Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia ... ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của các nghiệp ấy."

Rồi vua Yama, này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ ba, rồi giữ im lặng.

Rồi này các Tỳ-kheo, những người lính địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc. Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.” 

(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời,

35.- Diêm Vương)

Có nghĩa rằng người đó không được chết mà phải sống hoài để chịu đau đớn như vậy, đâu quá rồi xỉu, xỉu rồi tỉnh lại để bị hành hạ nữa, cứ như vậy mà không được chết vì cái nghiệp chưa hết, phải chịu đựng cái khổ đó. Lúc sống thì hành hạ, đánh đập, sân hận rồi chém giết người ta đến khi chết đi thì nghiệp quả sẽ như vậy.

“Này các Tỳ-kheo, rồi các người lính địa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy cái rìu chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh ... chưa được tiêu trừ. Này các Tỳ-kheo, rồi các người lính địa ngục dựng ngược người ấy, chân trên đầu dưới và lấy dao sắc chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh ... chưa được tiêu trừ. Này các Tỳ-kheo, các người lính địa ngục, cột người ấy vào một chiếc xe, kéo người ấy chạy tới, kéo người ấy chạy lui, trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây thọ lãnh ... chưa được tiêu trừ. Rồi này các Tỳ-kheo, các người lính địa ngục đẩy người ấy lên, kéo người ấy xuống trên một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây thọ lãnh ... chưa được tiêu trừ. Rồi này các Tỳ-kheo, các người lính địa ngục nắm ngược người ấy, chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây, bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, khi thì trôi nổi lên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy được tiêu trừ. Rồi này các Tỳ-kheo, những người lính địa ngục quăng người ấy vào Ðại địa ngục. Này các Tỳ-kheo, Ðại địa ngục ấy:

Có bốn góc, bốn cửa

Chia thành phần bằng nhau,

Xung quanh có tường sắt,

Mái sắt lợp lên trên

Nền địa ngục bằng sắt

Nung đỏ cháy đỏ rực

Ðứng thẳng luôn có mặt

Rộng một trăm do tuần.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời,

35.- Diêm Vương)

Một do tuần dài 18 cây số vuông, một trăm do tuần là con số khủng khiếp. Địa ngục là có thật, được Đức Phật nói đến chứ không phải chuyện đùa. Bất hiếu với cha mẹ, bất kính với bậc tôn trưởng, giới đức, tham sân si lẫy lừng sẽ rơi vào những cảnh đã được nói đến trong kinh ở trên.

“Một thời xưa lắm, này các Tỳ-kheo, vua Yama suy nghĩ như sau: "Những ai làm ác nghiệp ở đời, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác như vậy. Mong rằng ta được làm người, và Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, ta có thể hầu hạ Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho ta, và ta có thể thông hiểu pháp do Thế Tôn thuyết giảng".”

(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời,

35.- Diêm Vương)

Vua Diêm Vương suy nghĩ ông mong rằng được gặp Đức Như Lai, bậc Chánh Đẳng Giác ra đời để ông được hầu hạ, được nghe Đức Phật thuyết pháp và có thể hiểu được các diệu pháp.

“Này các Tỳ-kheo, điều ta đang nói, không phải ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; những điều ta đang nói chỉ được ta biết mà thôi, chỉ được ta thấy mà thôi, chỉ được ta hiểu mà thôi.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời,

35.- Diêm Vương)

Những điều nãy giờ vua Diêm Vương nói không phải từ bất kì một ai mà những điều đó chỉ có một mình Diêm Vương thấy, hiểu điều đó. Những người khác không thấy cũng không hiểu, không thành tựu được thiên nhãn minh nên không thể thấy được. Những bậc A-la-hán và bậc Chánh Đẳng Giác mới thấy được mà thôi, còn giờ mình nghe bất kì ai nói không có địa ngục là coi chừng mình đi vào tà kiến. Đức Phật đã nói rất rõ ràng trong kinh tạng Nikāya những điều ta đang nói chỉ được ta biết mà thôi, chỉ được ta thấy mà thôi, chỉ được ta hiểu mà thôi, không có bất kì ai nói cho ta hết, cho nên mình phải tin lời Phật nói để tu học.

“Dầu Thiên sứ báo động,

Thanh niên vẫn phóng dật

Họ ưu buồn lâu dài,

Sanh làm người hạ liệt.

Ở đây, bậc Chân nhân,

Ðược Thiên sứ báo động,

Không bao giờ phóng dật

Trong diệu pháp bậc thánh

Thấy sợ trong chấp thủ

Trong hiện hữu sanh tử

Được giải thoát không thủ

Sanh tử được đoạn trừ

Ðược yên ổn không lạc

Ngay hiện tại tịch tịnh

Mọi oán hận sợ hãi

Các vị ấy vượt qua

Mọi đau đớn khổ sầu

Thảy đều được siêu thoát.”

Thanh niên ở đây không phải chỉ riêng con trai mà dùng để chỉ người trẻ, phóng dật buông lung sẽ ưu buồn lâu dài, sanh ra làm người hạ liệt, thấp hèn, bệnh tật. Bậc chân nhân chính là người thật sự tu hành, là đệ tử chân chánh của Phật thấy được thiên sứ báo động thì không buông lung phóng dật, tinh tấn tu tập để chấm dứt sanh tử, thành tựu sự yên ổn an lạc.

./.