Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tâm Ơi Đừng Mê Nữa 2

2026-03-03 00:53:35
Tinh Hoa Nikāya

Thiền Quán

TÂM ƠI ĐỪNG MÊ NỮA 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu nghiệp quả - khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc82706486 \h 1

II. Nhận ra tính chất vô thường PAGEREF _Toc82706487 \h 5

III. Cuối cùng cũng trắng tay PAGEREF _Toc82706488 \h 11

IV. Tâm ơi dừng lại! PAGEREF _Toc82706489 \h 15

I. Quán chiếu nghiệp quả - khuyến tấn tu tập

Chúng ta cùng nhau chia sẻ và giải thích bài thiền quán Tâm ơi đừng mê nữa, bài kinh giúp làm thức tỉnh tâm mê muội của chúng ta và cảnh giác tâm trước nghiệp và nhân quả. Tâm chúng ta không biết từ khi nào gọi là vô thỉ, một tâm thức hôn mê, si ám. Từ sự hôn mê, si ám, không thấy biết sự thật nên sinh ra yêu thích, tham đắm, dính mắc, nắm chặt, chấp thủ.

Chúng ta nhớ lại bài thiền quán Thân trống rỗng: “Thân trống rỗng không ai trong đó, tâm vào đây làm tổ chi tâm? Tâm vào đây làm ổ làm gì? Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm, tâm vào đây làm tổ chi tâm?”

Tâm không thấy, không biết, vô tri, vô trí, vô minh nên mê muội, làm ổ ở trong thân xác, hình hài này, trong vật chất, tài sản, tiền của, đất vườn, xe cộ, trong những người thân thương, trong thể xác, trong nghiệp quả.

Như những bài kinh Đức Phật đã dạy, tâm này tham ái với những tài sản, vật chất, người thân, thể xác của chính nó và tham ái với những nghiệp mà nó tạo ra. Như vậy có bốn lớp. Nói thẳng là nó làm ổ, làm tổ trong thân này, nói rộng là còn có tài sản, quyến thuộc, thói quen, nghiệp lực, tập khí, tính tình, tập tính.

Vậy nên chúng ta nhớ về cha mẹ có những cảm xúc rất sâu sắc, nhưng mình mượn những cảm xúc đó để tinh tấn tu, khi chìm đắm trong cảm xúc đó vẫn là ái. Nên sau buổi Vu Lan, Minh Thành nhờ các thầy mở các bài thiền quán về thân là cát bụi, tứ đại, Ba mươi hai thể trượt, Chín giai đoạn tử thi. Vì chìm đắm trong cảm giác đó nhiều thì mình đi về nhà.

Vì vậy, chúng ta chỉ nên mượn các cảm xúc thân thương, hiền thiện đó để mình làm cho khởi phát sự nhiệt tâm, nỗ lực, đốt cháy các lậu hoặc, kiết sử, chúng ta phải nhớ các trạch pháp sâu sắc, vì nếu mình không biết thì các cảm thọ nào hiện lên thì mình sẽ bị dính mắc trong đó nên tâm mê này cần được đánh thức và cảnh giác nó trước nghiệp và nhân quả.

Những bài thiền quán trong quyển Cửa vào bất tử này có rất nhiều nhắc nhở về nghiệp, vì đời sống chúng ta là nghiệp, không có gì là ngoài nghiệp. Nghiệp là những ý nghĩ, lời nói, hành động, thói quen. Khi là thói quen thì có một sức mạnh của thói quen trong đó, mình không chống cự lại nổi với sức mạnh đó, mình phải có đạo lực, ngũ lực gồm: tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực và tuệ lực, mình phải dùng ngũ lực mới chiến đấu lại với nghiệp lực. Và để đấu với nghiệp lực là cả một sự cay đắng, tranh tối tranh sáng giằng co, mỗi ngày, mỗi giờ của chúng ta là chiến đấu.

Nếu là người thật tu thì luôn chiến đấu với nội tâm, với những thói quen của mình, với những sự tham muốn, thèm thuồng, khát khao, ở trong những cảm giác của dục, sân, si mê, hôn ám, giãi đãi, buông lung, phóng dật…Tất cả đều là chiến đấu, giành co, tranh tối tranh sáng, kéo co, vật lộn với nhau. Người chân tu luôn phải có tâm thế như vậy.

Từng ý niệm thì chúng ta luôn phải soi rọi là thiện hay bất thiện, nếu là bất thiện thì không bỏ qua một cách đơn giản. Nhìn thấy trong các ý niệm có sân, hơn thua, nhân ngã không? Nếu có thì không thể bỏ qua, phải nhắc nhở, trách mắng, rầy la, chửi mắng tâm, phải ra những đòn mạnh như Đức Thế Tôn đã nói như dùng roi quất một trận nên thân để con trâu sợ và nhớ trận đòn đó, sau này khi gặp lúc mạ của người ta thì nó sẽ không dám dẫm đạp lên, không dám ăn nữa.

Vì vậy người xuất gia là một người dũng sĩ, chiến sĩ, trong từng giờ từng phút từng giây. Không để đến khi người ta chửi thì mình mới tu, nếu bình thường mình đã không tu thì đến lúc đó mình sẽ tu không được, làm sao đủ được sức mạnh của thói quen? Lúc đó giống như xe đang lao dốc.

Những lúc bình thường là những lúc mình tập dợt, khổ luyện, công phu để lúc hữu sự thì mình sử dụng. Còn nếu giờ mình nói “Giờ mình không tu, đợi khi có chuyện thì mới tu!” thì đến lúc đó mình sẽ trở tay không kịp.

Tại sao hằng ngày tướng phải rèn tập cho binh lính? Hay hằng ngày phải luyện tập, rèn luyện, khổ luyện? Vì để khi bước lên đấu trường, võ đài thì lúc đó họ mới có công phu, sức mạnh, chiêu thức thì lúc đó mới có thể hạ gục được đối thủ. Đối với chúng ta cũng vậy, trong lúc bình thường là lúc mình dùng công phu, để những lúc sóng gió tới tai họa, tai nạn tới, hiểm nạn tới, lúc già cỗi, bệnh tật, chết chóc tới thì lúc đó mình mới có đủ sức mạnh.

Mình dùng tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực (ngũ lực) để tạo sức mạnh của niềm tin, của sự tiến tới, của Chánh Niệm, của tâm an định và cuối cùng là sức mạnh của sự thấy biết đúng sự thật. Từ năm nền tảng của sự tu học, gọi là ngũ căn, khi mình rèn luyện thuần thục thì nó biến ngũ căn trở thành ngũ lực, năm sức mạnh.

Vậy nên, khi mình nghe pháp, lễ Phật, tụng kinh, quán chiếu là làm cho mình lớn mạnh thêm sức mạnh của lòng tin đối với Đức Phật, Chánh Pháp, chư tăng, bậc đạo sư, Thánh giới. Khi lòng tin đó càng lớn, càng mạnh, càng vững, càng chắc, càng kiên, càng định chừng nào thì nó phát huy ra được công năng, sức mạnh, chính những sức mạnh đó đẩy mình tiến về phía trước trên con đường Thánh đạo, đó gọi là tấn lực.

Người đấu võ hay người ra trận họ tin là họ sẽ chiến thắng nên họ luôn hò hét, xông lên, cầm vũ khi tiến về phía trước. Và họ luôn cẩn thận, để ý trong những chiêu thức của địch thủ, của đối phương, khi họ xuất chiêu nào ra là phải đánh vào trọng điểm hoặc họ đỡ những chiêu nào đó thì họ phải đỡ cho chính xác, đó gọi là niệm lực, luôn chánh niệm tỉnh giác. Khi đó thì tâm của họ luôn tập trung vào những chiêu thức, những cái đỡ, đánh, ra đòn, tập trung hết tâm tư của họ thì đó gọi là định lực. Trong khi đánh suy xét dùng chiêu thức nào, ra đòn nào để có thể chiến thắng quân địch, đó gọi là tuệ lực.

Chúng ta mỗi ngày nghe pháp, học kinh, suy tư về pháp thì lòng tin của mình lớn mạnh. Từ lòng tin đó làm động lực đẩy mình tiến về phía trước, mình nỗ lực thì tâm của mình chánh niệm, luôn thường để tâm, để ý trong nhận diện ngũ uẩn, trong cảm thọ, cảm giác của mình. Khi mình để ý như vậy thì có sự tập trung tâm ý trở thành định lực. Và khi tập trung tâm ý như vậy thì mình sẽ nhìn thấy được sự thật của ngũ uẩn đang diễn ra như thế nào, đó là tuệ lực. Và không dừng lại ở thấy mà sau khi thấy phải xử lý từng thứ một, nào là dục tham, sân, tâm hướng ngoại thì xử lý theo đó và diệt tận, như nào là bản ngã thì mình hạ gục nó.

Vậy nên mình dùng ngũ lực để đánh nghiệp lực, muốn như vậy thì bước đầu tiên là phải cảnh giác tâm trước nghiệp và nhân quả. Chúng ta phải luôn cảnh giác để biết nghiệp đó là thiện hay bất thiện. Nghiệp đó có phải là nghiệp cũ của mình không, người đó có phải là oan gia trái chủ của mình không? Phải luôn cảnh giác, nếu mình không biết thì giống như khi chúng ta lạy sám hối: “Con vì vô minh nên con không biết, nghiệp cũ đến thì con chống đối thẳng tay.”

Vì mình không biết đó là nợ cũ của mình, mình lại không có cảnh giác, chánh niệm, không có sâu sắc, hời hợt thì khi đúng nghiệp cũ đến đòi thì mình lại trả đũa thẳng tay, như vậy làm chồng thêm nghiệp mới. Nghiệp cũ không trả được mà chồng thêm nghiệp mới. Chồng chất thêm thì ngày càng nặng nề làm sao giải thoát?

Nhất là đối với các Phật tử, người xuất gia hay cư sĩ cũng vậy, các Phật tử có gia đình và ông xã cứ hằn học, đay nghiến mình thì mình phải biết đó là nghiệp chủ, hoặc có người vợ hay đứa con thì cũng biết đó là nợ cũ. Phải biết như vậy, có sự cảnh giác tâm trước nghiệp và nhân quả thì mình mới biết. Mình không cảnh giác và cứ nghĩ theo vô minh, thường tình của mình “Tại sao đối xử với tôi như vậy?” Suốt này mình cứ nói “Tại sao? Tại sao?” rồi lại sân hận lên, so đo đúng sai thì có gì là đúng sai? Là họ đến đòi chứ không là đúng sai gì.

Vì vậy, cảnh giác tâm trước nghiệp và nhân quả hết sức quan trọng. Như có những người lên chùa cắt lá chuối, không xin phép và lại bỏ rác ở đầy đường đi trong khi đó mình là người trồng, lên thành cây. Hay có khi mình giúp đỡ nhưng người ta lại hăm dọa, chửi mắng, giết hại. Những việc đó là những nghiệp cũ, nếu như mình không chánh niệm tỉnh giác, lại đi so đo thì như vậy là mình thất bại. Lúc đó tâm sân hận lên là sai.

Sắp tới khi chúng ta vào bài thì mình chạy theo đúng sai thì mình khổ đau hoài thôi, thật sự đúng sai rất sâu sắc, nếu mình không biết được nghiệp và nhân quả thì đúng sai của mình chỉ là lý lịch trích ngang. Giờ mình thấy là đúng nhưng không phải, không chỉ là bây giờ mà còn tri nguyên nó ra. Vậy nên cái đúng, cái mình cho là phải thì thật sự không đúng.

Cảnh giác tâm trước nghiệp và nhân quả hết sức quan trọng, một ý nghĩ, lời nói, hành động thì mình thấy được ngay là mình đang gieo hạt xuống. Phải luôn cảnh giác trước nhân quả. Nghiệp là những cái đã rồi, nhân quả là mình bắt đầu gieo nên, mỗi suy nghĩ, lời nói, hành động của mình đều có nhân quả, vậy nên chúng ta cần cẩn thận.

II. Nhận ra tính chất vô thường

Sự thấy biết rõ về ngũ uẩn sẽ giúp tâm đâm thủng được vô minh, thoát khỏi trạng thái hôn mê và không tiếp tục tạo các nghiệp để luân hồi, sanh tử, phiền não, khổ đau.

Chúng ta thấy điều gì cũng quay trở về một pháp, để đạt thành bất tử là trí tỉnh giác chiếu soi năm uẩn, cũng trở về cội gốc này. Sự thấy biết rõ về ngũ uẩn sẽ giúp tâm đâm thủng được vô minh, vì vô minh nằm bên trong ngũ uẩn, khi thấy biết rõ ngũ uẩn thì mình mới thấy được vô minh, tham ái, chấp thủ trong đó. Không thấy ngũ uẩn thì không thấy được vô minh, tham ái, vì chúng nằm trong ngũ uẩn. Vậy nên trước kia mình tu hoài mà không thấy được vô minh là gì. Mình cứ nghĩ vô minh là “Hồi xửa hồi xưa trong mười hai nhân duyên. Vô minh, duyên hành trong đời quá khứ.” Bây giờ thì lại không thấy vô minh.

Nhưng khi đã nhận diện được ngũ uẩn thì mình đã thấy được từ trong suy nghĩ của mình có vô minh, trong cảm giác của mình có vô minh và trong những hình bóng, nhận thức của mình đều có vô minh.

“Tâm ơi đừng mê nữa!

Thế gian thường dính mắc

Trong đẹp xấu, tướng hình

Trong ghét thương, được mất

Trong khen ngợi, chê bai...

Thế gian thường mê mải,

Trong dục, ái, tham, sân

Trong cái ta hư ảo

Quên vô thường, khổ đau.

Tâm lao xao dao động,

Theo những cái vô thường,

Ghét thương, rồi được mất

Cuối cùng cũng trắng tay.

Đêm ngày tâm theo cảnh,

Đời được một, muốn hai

Tâm ơi, dừng lại nhé,

Chết rồi cũng trắng tay...

Ra đi bàn tay trắng,

Chỉ có nghiệp theo mình,

Cùng với tâm mê muội

Tiếc cảnh mộng vừa tan.

Nhận tham sân làm bạn

Tâm mệt mỏi, bất an

Bị ái, dục chi phối

Tâm luân hồi miên man.

Lang thang trong cảnh mộng

Không nhớ đến vô thường

Tham, sân, si, ngã mạn

Tâm lún chìm, mê man.”

Tên bài đã là một câu tác ý rất tuyệt vời cho chúng ta: Tâm ơi đừng mê nữa. Mỗi khi mình thấy tâm chạy theo dục ái, tham, sân thì mình nói “Tâm ơi đừng mê nữa!” Giống như một người đang ngủ và được gọi để lay tỉnh dậy “Tâm ơi đừng mê nữa, hãy tỉnh đi tâm ơi!”

Khi mình thấy tâm thức của mình u mê, đi theo những tập khí, theo những sự buông lung, theo những thói quen của thường tình thì mình kêu “Tâm ơi đừng mê nữa!” Đây là một câu tác ý rất tuyệt diệu, khi mình thấy nó đi vào si mê thì mình kêu nó “Tâm ơi đừng mê nữa! Hãy tỉnh đi!” Giống như trong bài Thân trống rỗng.

“5. Thế gian thường dính mắc

Trong đẹp xấu, tướng hình

Trong ghét thương, được mất

Trong khen ngợi, chê bai.”

Cuộc sống này, chung trong hữu tình chúng sanh đều bị dính mắc trong đẹp xấu, tướng hình. Khi mình tiếp xúc thì thấy rất rõ là giữa người đẹp và người xấu xí thì tâm liền dính mắc với người đẹp, tham ái đối với người đẹp và sân hận với người xấu. Trên hình tướng cũng vậy, đưa chúng ta vào một căn nhà chỉ với bốn tấm tole và đưa vào một cung điện thì cái nào làm cho mình khởi tham ái lên? Đó chính là sự dính mắc trên hình tướng. Chúng ta thấy xúc sanh thọ rất nhanh, chỉ cần mình nghe thấy tiếng nhạc bài Lòng mẹ thì bên trong cảm thấy ra sao? Chỉ cần có xúc là thọ sanh ngay, nhưng như việc đó là tốt còn những xúc khác thì không chính đáng.

Xúc sanh ra nghiệp, ra dục, ra sân nên dính mắc trong đẹp xấu, hình tướng, hình thức. Mình không biết pháp nên mình thích hình tướng, không biết giáo pháp ly tham, nhàm chán, từ bỏ, không phải pháp là hình tướng đẹp đẽ, hoành tráng. Đó là do mình không biết pháp, không học, nên mình bị những hình tướng đó mê hoặc. Lúc đầu khi mình đi tu thì mình muốn tìm sự giải thoát trong hình tướng, nhưng nếu không khéo thì khi mình đi tu mình sẽ bị hình tướng trói cột. Hình tướng làm cho tâm chúng ta dính mắc.

Vậy nên Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng ngày xưa, những bậc chân tu, cao tăng, họ sống ở đời rất đơn giản, không có nhiều hình tướng, tài sản. Nơi nào có nhiều hình tướng, nhiều tài sản thì chỗ đó có tranh đấu, tranh giành. Vậy nên Thế Tử đã từ bỏ. Chúng ta cần thấy rõ điều này, hình tướng và đẹp xấu làm cho tâm ta dính mắc.

Như ở Linh Quy thường chưng cúng Phật chỉ vài cành trúc, nên nhiều khi có những Phật tử không biết pháp sâu sắc, đã mê thích hình tướng thì vào lại thấy hình tướng nhiều lại mê thêm, khi chưng được một cái thì có thể chưng đầy hết, sẽ tốn hàng bao nhiêu triệu chỉ tiền hoa thôi.

Vậy nên khi tu mình phải thấy được đúng thì từng cái nhỏ, những cái mình trang trí, trình bày, thiết lập thì mới đem lại lợi ích thiết thực cho những người đến cầu học pháp. Nếu mình không thấy đúng chánh kiến thì mình không giúp được mình, giúp được người một cách chân chánh, nếu không khéo sẽ làm cho người ta dính mắc.

Đối với nhiều Phật tử thấy đó cũng là tốt nhưng đây là nói sâu sắc hơn, tới chùa chỉ thích làm đẹp, thích cắm bông, chưng bông, làm nhiều việc nhưng không học pháp, hành pháp nên một thời gian dài họ làm công quả như vậy nhưng gặp chuyện thì họ tham, sân si, bản ngã và khổ đau. Chỉ thích trang hoàng trên hình tướng thôi thì không tốt.

Ngay cả đối với người xuất gia, mình không kiên trì mục tiêu, không nhắm thẳng mục tiêu, không biết được hồng tâm để mình hướng tới nên đẹp xấu, hình tướng, ghét thương, được mất, khen ngợi, chê bai là tám ngọn gió thổi bay hết, làm dao động cả tâm thức của chúng sanh, của hữu tình.

Chúng ta thấy các cành trúc có đẹp, có thanh thoát không ạ? Có thanh thoát, nhẹ nhàng, có sức sống của màu xanh không? Không nhất thiết phải tốn bạc triệu để cắm thành hình phượng hoàng hay con rồng? Vậy nên pháp rất tinh tế, vi tế, không đơn giản. Mình cứ nghĩ từng chút, từng chút nên người khổ tâm sẽ hiểu cho ta. Người không biết thì người ta hỏi “Sao lại khó quá vậy? Đây là chưng bông cúng Phật?” còn nhắc nhở thêm, đó là không đúng. Đó là thương mình, thương đáu để, thương hết lòng.

Điều này không phải là người khổ tâm thì không biết được, “bất thị khổ tâm nhân bất tri”. Nên tình yêu thương của đạo đôi khi mình thấy lệch lạc, nhạt nhẽo, như nước lã nhưng không có nó thì mình chết, mình lại cần uống suốt đời.

Đối với tình thương phàm tình của thế gian, thương ghét, thế gian thường dính mắc trong ghét thương. Tình thương của thế gian giống như bò húc, như những chai nước ngọt có nhiều màu uống vào dễ sinh bệnh. Vì vậy tình thương của đạo vị mình nhìn thấy giống như không thương, nhạt nhẽo như nước suối. Còn tình thương ái, luyến của thế gian rất ngọt ngào, đậm đà như nước bò húc, nước tăng lực, Sting, Coca, Xá xị lại dễ sinh bệnh.

Vì vậy, đẹp xấu, hình tướng, thương ghét, được mất, khen chê làm cho tâm của người ta bị dính vào, mắc vào, trói buộc vào đó, không ra được. Vì tâm đã mê dính, kẹt, buộc vào những hình tướng trong đó. Mình không thấy và an trú trong pháp thì mình bị các điều này làm cho mình quay lòng vòng, trói cột. Chúng ta tu là vì những điều này, cứ khen chê thì có tu được không? Được đưa lên cao rồi lại hạ bệ mình xuống, ngay với những điều đó thì mình có trú được với pháp không? Mình xem lại tâm lúc đó có an trú được với pháp không hay bị chê khen đó làm cho tâm dao động?

Ví như giờ mình đi tu nhưng có lời ra tiếng vào thì tâm mình có an định không? Nên khi tu cần có tâm kiên định, nếu không, lời ra tiếng vào, không chỉ tiếng ở ngoài mà tiếng bên trong tâm nữa sẽ tác động. Vậy nên những điều này để kiểm tra tâm của mình: đẹp xấu, hình tướng, ghét thương, được mất, khen chê.

“Thế gian thường mê mải,

Trong dục, ái, tham, sân

Trong cái ta hư ảo

Quên vô thường, khổ đau.”

Mê mải, mê miết, mê si trong những ham muốn, yêu thích, nóng giận, hết muốn cái này lại đến cái kia, cái nọ lại tới cái khác. Hết đòi hỏi cái này lại tới đòi hỏi cái kia, cái nọ, cái khác…cứ mê mãi như vậy mà không có ngày dừng. Ở bên trong cứ sôi sục, thúc giục, thúc đẩy, trào dâng, lôi kéo, dẫn dắt.

Nếu là dục, tham, ái mê thì không nói nhưng sân thì tại sao lại mê? Nếu mình không nhận diện ngũ uẩn thì mình không biết là mình rất mê sân, ái sân, tức là mình thích giận. Giống như câu “Nhận tham sân làm bạn”, rất thâm sâu và đầy trí tuệ. Mình mê, thích, ưa, muốn cảm giác nóng giận đó dù mình nói là “Mình không muốn nóng giận!” Nhưng thật sự sâu sắc bên trong là mình ái cơn sân đó, vậy nên mình đã không chịu từ bỏ. Ai nói gì cũng không, cứ ôm giữ cảm giác khó chịu, bực bội đó, ngủ chung, đắp chăn chung, đi tắm, đi ăn, đi ngủ chung, thở chung với nó.

“Trong cái ta hư ảo. Quên vô thường, khổ đau” chúng ta cứ mê mãi trong cái ta hư ảo, ảo tưởng, ảo ảnh, ảo giác, ảo vọng, ảo mộng “Ta phải thế này, thế khác, ta phải như vậy! Ta phải như vậy mới được! Dám xem thường ta, coi ta không ra gì, khinh khi ta, để đó đi, chờ thời cơ rồi ta cho biết mặt!”

Chỉ một câu nói, tin nhắn, cuộc điện thoại, ánh nhìn, hành động, cử chỉ thôi thì bên trong lại bừng bừng, phừng phừng lên, phực cháy lên. Vậy nên thế gian thường mê mãi trong cái ta hư ảo để rồi quên đi vô thường khổ đau. Lãng quên một cách rất xót xa về sự vô thường. Bệnh chết, đau đớn khổ sở như vậy, hiện nay đã hơn ba trăm mấy chục ngàn ca nhiễm, số lượng chết đã bao nhiêu ngàn người, cũng có người đi lừa gạt người khác, dù là giàu hay nghèo cũng dùng những thủ đoạn để lừa gạt người ta. Thậm chí việc đưa những người nhập cảnh trái phép như vậy là nguy hiểm nhưng cũng vì tham tiền nên đã đưa người qua đường mòn, lối mỏ. Vì sự ích kỷ, lòng tham của mình mà ảnh hưởng đến bao nhiêu người khác đau khổ, “Quên vô thường khổ đau”.

III. Cuối cùng cũng trắng tay

“6. Tâm lao xao dao động,

Theo những cái vô thường,

Ghét thương, rồi được mất

Cuối cùng cũng trắng tay.”

Suốt ngày tâm cứ lăn xăn, dao động theo những cái vô thường, theo những cái bèo bọt, khói mây, dù không có chuyện gì đáng. Cứ mãi lăn xăn, tất bật, rộn ràng, dao động, náo loạn theo những thứ bọt nèo, khói sương, chẳng là gì. Ví như chỉ vì chuyện của con chó cũng làm nên chuyện đổ máu, giết người, đều là không đáng.

Hay như ngày trước chỉ vì kéo cánh cửa sắt làm ồn thôi nhưng lại sân hận rồi xảy ra án mạng. Hay chỉ vì một tiếng hát karaoke kế bên nhà thôi lại trở thành những vụ án hình sự. Tất cả đó đều là những chuyện bọt bèo, không đáng. Hay như chuyện trại mộc cưa cây làm bay bụi sang cũng xảy ra giết người. Đều là do tâm mê làm ra. Như chuyện trong nhà, hai vợ chồng chỉ nói qua nói lại chút thôi thì nhún nhường chút thôi nhưng lại muốn cho hơn, không muốn thua để rồi cự cãi nhau, trong mùa dịch thậm chí chỉ có hai người nhưng không nói chuyện, lén lút, chờ đối phương vào phòng rồi mới ra ăn cơm, con thì giận dỗi cha mẹ…

Mình đã quên ân, quên đức, bội nghĩa, bội nhân, không tỉnh, không xét, quên đi đạo đức, nghĩa nhân, tri ơn, nhớ ơn, quên đi những điều đó để rồi tham sân, bản ngã hành hạ, làm cho tâm mình cứ quay cuồng, dao động, náo động mà chỉ vì những chuyện bèo bọt, khói sương, không có gì đáng.

Pháp của Phật cho chúng ta một trí tuệ, một sự tỉnh thức, tuyệt vời, mình mới có thể buông bỏ, nếu họ muốn nói hơn thì cho hơn, thấy giống như là thua nhưng thật sự là thắng. Người hơn thì thêm oán, kẻ thua ngủ chẳng yên, hơn thua cả hai đều bỏ thì được an ổn ngủ. Chúng ta sắp được học Tương Ưng Kosala và học bài đánh trận, hơn thua.

Thật sự thì cái hơn, thua có phải như vậy không hay chỉ là trong quan điểm mình giành nói sao cho hơn người đó mình mới chịu, nhưng thật sự là có hơn không? Còn người nhẫn nhịn, nhún nhường, khoan dung, độ lượng, nhu hòa, từ ái có thật sự là thua? Người hung hăn, dữ tợn, làm cho hả dạ mình, nói cho hơn, cho gác hay nói trên đầu người ta? Người đó có thật sự là hơn, thật sự là thắng không? Người khiêm cung, nhún nhường, độ lượng, dung hòa, từ ái, tha thứ, nhường nhịn thì người đó có thật sự là thua không?

Vậy nên khi mình nhìn bằng con mắt thường tình thì dễ nhầm lẫn, không đúng, người kia thấy như thắng nhưng thật sự thua, người này thấy như thua nhưng thật sự thắng. Đó là họ thắng chính cảm xúc sân hận, hơn thua của họ, những cảm xúc, cảm giác tranh đấu. Họ chiến thắng như vậy thì gia đình được bình an, ấm áp, hòa thuận, yên vui, nhất là trong mùa dịch này rất dễ cự cãi, quạo hay bức xúc thì đã có sẵn, chỉ cần bung ra thôi.

Vậy nên trong mùa này chúng ta tu tập tâm hiền, tâm từ, tâm hỷ, tâm xả. Dù lúc nào cũng tu nhưng trong lúc này thì càng cần tu nhiều hơn bình thường, lúc này không tu là rất khổ.

“Tâm lao xao dao động,

Theo những cái vô thường,

Ghét thương, rồi được mất

Cuối cùng cũng trắng tay.”

Cứ cự cãi, hơn thua, tranh giành với nhau, giành giựt rất nhiều, đem về để bao nhiêu vào tủ thì đến cuối cùng nằm trên giường mất thì cũng như câu “Cuối cùng cũng trắng tay”, cũng vì những trang giành, hơn thua đó thì cuối cùng được cái gì khi đã nhắm mắt xuôi tay, ngừng thở rồi? Một ngày nào đó thôi ngừng thở, nhắm mắt xuôi tay thì những hơn thua, giành giật, tranh đấu đó thì có ý nghĩa gì, được cái gì, cái gì hơn thua cái gì và cái gì hơn thua? Tranh giành cái gì và cái gì tranh giành? Được mất với ai và với ai được mất? Vì “Quên vô thường khổ đau”, nếu như mình nhớ vô thường, nhớ khổ đau thì những cái đó tự động an tịnh, lắng dịu.

Hơn thua, giành giật từng tiếng với nhau để làm gì? Chúng ta là anh em, vợ chồng, cha con, mẹ con, huynh đệ, tỉ muội thì hơn thua nhau từng tiếng nói, tranh giành với nhau để được cái gì? Khi chúng ta nhớ vô thường, khổ đau là tự các điều đó an tịnh, lắng dịu. Chúng ta nhớ các bí kíp đó, nhớ vô thường, khổ đau, nhớ một ngày nào đó thôi ngừng thở, nhắm mắt, xuôi tay, ngưng thở. Hay là niệm “Ngưng thở, nhắm mắt, xuôi tay! Nhớ vô thường, khổ đau” Khi đã nhớ rồi thì không cần cố gắng mà tự động chúng sẽ mất đi.

“Cuối cùng cũng trắng tay” thì giành nhau, cãi nhau làm chi, hơn thua với nhau làm gì? Ganh tị, đố kỵ, tức giận, giành phần hơn với nhau để được gì? “Một ngày nào đó thôi ngừng thở thì giấc mộng đã tàn, chớ vấn vương”

“Đêm ngày tâm theo cảnh,

Đời được một, muốn hai

Tâm ơi, dừng lại nhé,

Chết rồi cũng trắng tay.”

“Đêm ngày tâm theo cảnh” là ngày đêm tâm cứ chạy theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, thấy cái nào cũng dính mắc với chúng, nghe cái nào cũng mắc vào đó, cảm giác nào cũng chất chứa vào, oán thù nào cũng cất giữ, tức giận nào cũng chất chứa, hận thù nào cũng giữ chặt, giữ kĩ. Vạn mối sầu cũng cất trong đó, một thân tàn, ma dại thê thảm, khô khan, tiều tụy, héo gầy, mòn mỏi nhưng thấy gì cũng đến nhìn, nghe gì cũng nhảy vào thì tâm không an định, không định tĩnh, không thâu nhiếp nên cứ phóng ra, hướng ngoại, cứ chạy theo cảnh như vậy.

Chỉ nghe một tin nhắn hay nghe một cuộc điện thoại thì tâm dao động ngay, nghe câu nói chưa biết đúng sai hay chỉ là tiếng đồn thì đã sân hận lên, mất lòng tin với Tam Bảo, với thầy tổ, với bạn đạo, với giáo pháp. Cứ hướng ngoại, không an trú trong pháp, không nội soi mà chỉ cần nghe thôi là chạy theo nghe.

“Đêm ngày tâm theo cảnh” là mình không chôn sâu cột trụ tịnh tín, lòng tin trong sạch của mình, trong sáng của mình, mình cứ để như bông gòn gió thổi đi đâu là bay đến đó, bay lang thang, vô định. “Đừng mãi lang thang vô định để rồi làm ngạ quỷ nha tâm!” là tâm mình cứ để lang thang mãi thì trở thành cô hồn, vất vơ, vất vưởng. “Cứ tham ái, tham dục thì trở thành súc vật nha tâm! Tâm sân hận mãi thì rơi vào địa ngục nha tâm!”.

“Đêm ngày tâm theo cảnh” là không chỉ ban ngày mà buổi tối bắt đầu những hình bóng cũng hiện ra, hết chuyện này đến chuyện kia, hết người này đến người nọ, hết câu này đúng đến câu kia sai hay người này xem thường, người kia yêu quý, người nọ ghét tôi, khinh thường tôi… Bao nhiêu thứ bên trong như vậy nên khi ngồi thiền tâm mình có được yên không? Bao nhiêu cảnh hiện ra nhưng tâm mình có chánh niệm tỉnh giác, trí tuệ năm uẩn có nhận diện được là cái này là tưởng, là hành hay là nhập cuộc vào luôn? Dù là đang ngồi trên bồ đoàn nhưng cũng bị dẫn đi, lôi kéo đi, đó được gọi là “tâm theo cảnh”.

Nên không phải nói ở ngoài mới bị dẫn mà ngay lúc ngồi thiền, ngủ mê, nằm chiêm bao cũng bị dẫn, đó là “Đêm ngày tâm theo cảnh”. Thấy là đang ở một mình nhưng thật ra có đến bảy, tám mình. Nhớ người này thấy thương, nhớ người kia thì thấy giận, thấy ghét, người khác thì thấy buồn, hờn mác. Nếu ở một mình mà ý thức được “Cái này là tưởng uẩn nha, tưởng quá khứ nha. Đây chỉ là tưởng uẩn, hành uẩn, suy nghĩ thôi! Từ bỏ, nhiếp phục! Thôi, tan biến đi! Tan biến khỏi tâm ta đi, hư ảo, ta không chấp nhận mi!” Như vậy thì còn sống được một mình, còn nếu cứ bị lôi kéo, dẫn dắt mà không biết quay trở về thì như vậy là “tâm theo cảnh”.

Chúng ta thấy ngày đêm nếu không an trú trong thân thọ tâm pháp, thân hành niệm, chánh niệm tỉnh giác, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác để nhìn thấy những cảm giác, nghĩ tưởng đó để loại bỏ, xử trí, tẩy sạch thì tâm sẽ theo cảnh suốt ngày đêm, ngay cả trong giấc chiêm bao.

“Đời được một, muốn hai”, thậm chí được ba đòi bốn, được bốn đòi năm…Ý nói tâm không hài lòng, không vừa lòng, không thỏa mãn vì ở hoàn cảnh nào cũng không chịu. Khi chưa có pháp thì tha thiết cầu pháp, được pháp rồi thì lại không cố gắng trú trong pháp.

Đối với tham vọng ở đời, khi đi bộ được người khác cho chiếc xe đạp thì rất mừng, được mấy ngày hay tuần, tháng sau thì nhìn thấy chiếc xe máy, sau đó là những chiếc xe cao cấp hơn, nhìn sang những chiếc xe hơi, máy bay, trực thăng… Về chuyện tình cảm, tình ái cũng vậy, lúc thì cảm thấy buồn khi chưa có ai, khi có rồi thì than khổ hay lại muốn thêm. Như lúc xưa các ông vua thường có tam cung lục viện, có đến trăm ngàn cung tần, mỹ nữ cũng không thấy đủ, thậm chí có con rơi ở nhiều nơi.

Hay như đối với những vụ án ngày nay, giết người, hãm hiếp… dù hung thủ còn nhỏ tuổi. Do bị ảnh hưởng phim đen ở trên mạng. Đó là những ác nghiệp làm cho những đứa trẻ vị thành niên dễ hư hỏng. Tâm tham dục rất khủng khiếp, như Đức Thế Tôn từng dạy giáo pháp ly tham, nhiếp phục dục tham thì mới cứu khổ được chúng sanh, vì đó là cái làm cho chúng sanh đau khổ. Lúc nào nó cũng khao khát, lúc nào cũng bất mãn, lúc nào cũng đòi hỏi, muốn thêm muốn thêm mà không dừng. Nên chúng sanh chìm đắm mãi mãi, trôi lăn mãi mãi, quay cuồng mãi mãi trong khổ đau.

IV. Tâm ơi dừng lại!

“Tâm ơi dừng lại nhé. Chết rồi cũng trắng tay.” Chúng ta thấy tại sao người ta lại khổ? Là do sự đòi hỏi, tham muốn bên trong thúc giục mãi, nhưng chúng ta lại không biết đó là các cảm thọ, ta lại càng không biết đó là các dục, không biết được đó là động lực để người ta khao khát, đuổi tìm, truy cầu, nhập nhằng, khổ đau… Vì không biết nên ta lại thích thú với những điều đó mà lấy chúng làm sức sống, sự sống nên chạy hết cái này đến cái kia, chạy mãi như vậy. Thậm chí đến chết, nằm trên giường bệnh hơi tàn nhưng tâm muốn, đòi hỏi thêm nữa cũng chưa ngừng lại. Vậy nên mới có câu mộng đế vương, mộng bá vương, mộng gồm thâu lục quốc, mộng chiếm cả hành tinh này nên “Tâm ơi dừng lại nhé. Chết rồi cũng trắng tay.”.

“Nhân sanh bất mãn bách.

Thường hoài thiên tế ưu”

Là người sống không trăm năm, thường lo, ôm ấp trong lòng mối lo ngàn năm. Tức sống không tới trăm năm mà lo cả ngàn năm. Nên thời xưa khi gặp vua người nói câu “Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế” nhưng thật sự thì không thể sống tới số tuổi đó. Tất cả đó thể hiện lòng tham của con người, “chết rồi cũng trắng tay”. Dù là ăn mày hay ông vua thì khi chết cũng thành bộ xương.

Nhưng “đời được một muốn hai” cứ tham vọng như vậy để rồi gây ra bao đau khổ, tranh chiến. Chúng ta biết trong những đại thế chiến đã làm chết bao nhiêu mạng người không? Hay chỉ một quả bom nguyên tử thả xuống thì tiêu tan cả một thành phố. Tại sao người ta lại làm ra những loại vũ khí đó? Nên lòng tham của con người rất ghê gớm, khủng khiếp, đã tạo ra không biết bao nhiêu là đau khổ, nước mắt và máu.

Đó là nói về chuyện lớn, có những chuyện nhỏ như khi làm ăn thì lừa gạt người ta, mánh khóe, thủ đoạn, thuốc tây giả, thức ăn thì để vào những chất độc hại… Trong gia đình thì có vợ chồng, con cái, chị em, anh em… Lâu lâu lại có người tâm sự, dù là anh em ruột với nhau nhưng khi bán đất thì trở mặt, chia tiền lại đánh lộn, giành giật, không còn tình nghĩa. Lòng tham đã che mờ cả đạo đức, tình nghĩa, lễ giáo hết.

Mình Thành có dịp đi chúc tết một vị lãnh đạo, có một chú nói câu “Tôi không học đạo Phật nhiều nhưng tôi biết, tất cả mọi thứ trên cuộc đời này chỉ qua một chữ thôi, đó là tham!” Và để nhìn thấy được hết gốc rễ, nguồn cội của cái tham này là cả một trí tuệ, người phàm phu bình thường thì họ chỉ nhìn thấy được cái ngọn bên ngoài. Đức Phật dạy chúng ta nhận diện ngũ uẩn để thấy được sự lay động, thúc giục mà không một lời nói bên trong. Như cảm giác thì không có lời, ý hành thì có lời, ra đến khẩu hành… Mình thấy được chỗ căn nguyên, nguồn cội, sanh khởi, phát khởi của nó để mình dập tắt được. Nếu chúng ta không khéo để nhìn ra được thì khổ vô cùng.

Ví dụ như có những tin nhắn báo đã trúng thưởng, lúc đầu chỉ kêu đưa mười triệu đến năm mươi triệu để lãnh thưởng nhưng rồi mọi thứ đều mất. Đó là do lòng tham suy nghĩ nên nhiều thứ để hại người, từ ở ngoài đời đến trong chùa cũng không từ. Vì vậy, chúng ta phải hết sức cẩn thận.

Bây giờ có những thứ lừa gạt rất khủng khiếp, như điện thoại có nhiều cuộc gọi, mình nghe máy thì không sao nhưng khi gọi lại thì mất thông tin qua cuộc gọi đó. Có những người bị nặng, mất cả số tiền lớn. Vì đánh vào lòng tham, vì ai cũng tham. Nếu trong gia đình nếu mình nhìn thấy và không biết tu tập từ trong gia đình, tự thân mình, vợ chồng, anh chị em, bà con đến anh chị em ở ngoài xã hội, đến giao du, giao tiếp mà mình không tỉnh giác chánh niệm thì rất nguy hiểm, thân bại danh liệt đến tán gia bại sản.

Từ một người giàu có, thành đạt, đỉnh cao của xã hội, đến thân tàn ma dại, vợ bỏ, con bỏ rồi đi lang thang, thiếu nợ phải trốn chui trốn nhủi, thậm chí muốn tự vẫn. Tất cả đều vì lòng tham. Chơi chứng khoán một tháng lời đến hàng trăm triệu thì thích, rồi cứ chơi tiếp đến khi mấy trăm cây vàng cũng hết, để rồi thiếu nợ, thậm chí tự vẫn. Tất cả đều là do “đời được một muốn hai”, được hai muốn ba, được ba muốn bốn.

Vì vậy, Đức Thế Tôn từng dạy “ít muốn, biết đủ” rất tuyệt vời, sống bình an. “Tâm ơi dừng lại nhé. Chết rồi cũng trắng tay” là chúng ta nên biết dừng lại những dục tham, biết nghĩ tới cái vô thường, khổ đau, sự chết chóc. Tất cả giáo pháp là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham.

Ra đi bàn tay trắng,

Chỉ có nghiệp theo mình,

Cùng với tâm mê muội

Tiếc cảnh mộng vừa tan.

Từ đầu bài đến giờ có rất nhiều từ “trắng tay”: “cuối cùng cũng trắng tay”, “chết rồi cũng trắng tay” và “ra đi bàn tay trắng”. “Chỉ có nghiệp theo mình” là làm cả đời để có được bao nhiêu đất, tiền, vàng, sổ đỏ, đô-la thì đến cuối cùng để lại ai khác xài, chỉ có nghiệp là mang theo. Trong những cái để mình tạo nó ra là bao nhiêu sự dối trá, gạt gẫm, thủ đoạn, mưu mô, mưu sĩ, để tạo ra những cái đó nhưng khi chết rồi thì mình lại không đem theo được mà lại đem theo những ác nghiệp. Thật thấy đáng thương! Nếu như chết mà mình đem theo được thì cũng chịu nhưng đây là đã đổ bao nhiêu nước mắt, suy nghĩ chân chánh thì còn đỡ, nhưng đây là lừa đảo, lừa gạt, dụ dỗ, thủ đoạn, mưu mô đủ kiểu thì đến cuối cùng “Ra đi bàn tay trắng. Chỉ có nghiệp theo mình.”

Những thứ mà mình chất chứa, tích lũy, gom góp mà mình không đem theo được, lại đem theo cái nghiệp – suy nghĩ để tạo ra chúng.

“8. Ra đi bàn tay trắng,

Chỉ có nghiệp theo mình,

Cùng với tâm mê muội

Tiếc cảnh mộng vừa tan.”

“Ra đi bàn tay trắng” là chỉ nằm đung đưa rồi chết, buông thả bàn tay, bao nhiêu nghiệp ác, nghiệp xấu đi theo. Cùng với tâm si ám, mê muội rồi tiếc cảnh mộng vừa tan, bao nhiêu năm chất chứa, tích góp rồi đến khi chết nhiều lúc không biết được đồ để ở đâu. Người ở lại cũng chẳng biết vì vẫn chưa kịp nói đã mất nên sao lại không tiếc? Mộng đã tan nên tiếc của cải, tài sản, người thân, người thương, thân xác, tiếc những cái mình thương yêu, quý trọng, cất chứa đó.

“Nhận tham sân làm bạn

Tâm mệt mỏi, bất an

Bị ái, dục chi phối

Tâm luân hồi miên man.”

Không làm bạn với thiện mà lại “Nhận tham sân làm bạn”, bạn chí cốt, tri âm, tri kỷ, thân thiết. Cấu kết với những cảm giác giận hờn, ở chung, ăn chung, ngủ chung với nó như bóng với hình rồi yêu thương, nâng niu, chiều chuộng, nuôi dưỡng, tăng trưởng, tích lũy nó để rồi “Nhận tham sân làm bạn” nên “Tâm mệt mỏi, bất an”, là cứ mệt mỏi rồi chạy kiếm tìm, rồi lại mệt mỏi và kiếm tìm. Không được thì khổ mà được thì cũng chưa đủ, mừng vui rồi lại “được một muốn hai” lại muốn thêm nữa. Vậy nên cứ mệt mỏi, nhọc nhằn mãi, cứ vất vả, ưu tư, lo lắng mãi, đêm ngủ không được, nằm xuống thì nhớ cái này, nghĩ cái kia rồi lại lo lắng, sợ hãi lại muốn kiếm thêm.

“Bị ái dục chi phối. Tâm luân hồi miên man.” Là tâm bị xoay vòng trong luân hồi, miên man, liên tục giống như bánh xe cứ quay mãi rồi lại bị ái dục chi phối, cứ quay mãi như vậy.

“9. Lang thang trong cảnh mộng

Không nhớ đến vô thường

Tham, sân, si, ngã mạn

Tâm lún chìm, mê man.”

(Bài Tâm ơi đừng mê nữa, quyển Cửa Vào Bất Tử)

Lang thang trong cảnh mộng và không nhớ vô thường, nếu nhớ thì đã đừng lại. Cũng vì quên nên cứ lang thang mãi, hết cảnh mộng này để cảnh mộng kia. Tất cả những mộng đó là mộng tham, mộng si, mộng ngã mạn nên “Tâm lún chìm mê man”. Thật tội nghiệp, thương xót, đáng thương cho tâm mê này nên “Tâm ơi đừng mê nữa! Tỉnh lại đi tâm mê ơi!”

Chúng ta chia sẻ đến đây, phần sau là phần rất sâu sắc, tâm tạo ra cảnh.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính chúng ta. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này.

Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho chúng ta, lòng yêu thương tự thân chúng ta và yêu thương muôn loài.

Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.

Kính chúc quý thầy cô và quý Phật tử tâm tỉnh giác chiếu soi năm uẩn.