Phật Đản Sanh Địa Cầu Chấn Động
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
PHẬT ĐẢN SANH ĐỊA CẦU CHẤN ĐỘNG!
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức, kính thưa toàn thể quý nam nữ Phật tử hiền trí trong đạo tràng, hôm nay chúng ta bước qua tuần lễ Phật đản, chúng ta tất cả hàng đệ tử của Phật trên khắp hành tinh điều hướng niệm về Đức Thế Tôn, bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người. Sự xuất hiện của ngài là sự xuất hiện của mắt, xuất hiện của mắt lớn, sẽ xuất hiện của đại quang đại minh, sự xuất hiện của ánh sáng, sự xuất hiện, của trí tuệ của giác ngộ, của bình minh chân lý. Tất cả hàng con Phật chúng ta trong mùa Phật Đản đều là hướng niệm, nghĩ nhớ, tưởng nhớ, đảnh lễ, nhắc, ôn, nhớ nghĩ về sự xuất hiện của một bậc đại vĩ nhân trên hành tinh này.
Thứ sáu vừa rồi con có chia sẻ về 18 điều chưa từng có hiếm có của Đức Phật trong chương trình Phật học online của ban hoằng pháp Trung Ương. Khi Bồ- tát từ cung trời Đâu Suất dáng thần, là chánh niệm tỉnh giác, tức là ngài biết ngài chọn chỗ ngài đi xuống, ngài chọn ai làm cha làm mẹ của ngài và trong khi ngài đi vào trong bào thai, ngài thấy biết hết, gọi là chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát nhập mẫu thai. Khi ngài đi vào trong bào thai có nhiều cái lạ, nhiều cái đặc biệt, nhiều cái điều hiếm có, hi hữu chưa từng có xuất hiện, từ hào quang ánh sáng cho đến địa cầu này chấn động, rung chuyển. Điều đặc biệt chúng ta nghe nói là địa chấn thì chúng ta sợ nhưng không có ai bị tai nạn, không có vật gì bị đổ, vẫn còn nguyên, chỉ có rung chuyển thôi.
Hôm nay chúng ta sẽ tổng hợp nhiều bài kinh có thể trước giờ chúng ta chưa từng được nghe để chúng ta quán niệm, nhớ nghĩ về ân đức, công hạnh, trí tuệ, tấm lòng đại bi của Đức Thế Tôn. Đầu tiên Minh Thành nhắc lại bài kinh Động Đất cho quý vị thấy có 8 lý do đất này sẽ rung chuyển, trong đó lý do chúng ta muốn nói là lý do lúc Bồ-tát vào thai mẹ và ra khỏi thai mẹ thì quả đất này rung chuyển. Bài kinh này do ngài A-nan thưa hỏi thì Đức Phật mới nói, Đức Phật gợi ý nhiều lần là các bậc Chánh Đẳng Giác có thể ở lại một kiếp, tuổi thọ của ngài có khả năng kéo dài một kiếp trái đất chứ không phải một kiếp của con người 100 năm, tại vì các ngài đã tu tập Tứ Như Ý Túc nên các ngài muốn sống bao nhiêu là các ngài sống. Ngài gợi ý 3 lần nhưng lúc đó tâm ngài A-nan bị che, bị loạn, cho nên không có thỉnh Đức Phật ở lại, chứ Đức Phật gợi ý mấy lần là các Đức Như Lai tu Tứ Thần Túc thành tựu viên mãn có thể, nếu muốn sống một kiếp Trái đất.
Một kiếp trái đất lâu dài lắm, từ khi trái đất thành lập cho đến tan hoại, Đức Phật gợi ý như vậy mà ngài A-nan không có thỉnh Phật ở lại. Lúc đó tâm ngài cũng c bị che đậy và ác ma, thiên ma cũng quấy nhiễu, ngài A-nan không có thỉnh cho nên Đức Thế Tôn quyết định là thâu thọ mạng lại, tức là sẽ nhập Niết-bàn trong 3 tháng nữa. Khi ngài A-nan không thỉnh thì một lát sau ác ma đến thỉnh, nói với Thế Tôn bây giờ ngài có đệ tử đầy đủ, Tỳ-kheo Ni, Tỳ-kheo, bốn chúng có đầy đủ, giáo pháp của ngài giảng đã đầy đủ hết tất cả rồi, có nhiều bậc Thánh chúng tu thành tựu. Lúc trước ngài nói khi nào ngài có đầy đủ đệ tử, pháp của ngài được lưu bố rộng rãi thì ngài nhập Niết-bàn, Đức Phật thấy cơ duyên cũng tới rồi nên ngày hứa là 3 tháng sau vào Niết-bàn. Lúc ngài vừa hứa thì trái đất rung động, cả cái địa cầu rung chấn hết, ngài A-nan thấy vậy thì đi vào hỏi Đức Phật, lúc đó Đức Phật mới nói tám lý do động đất.
- Này Ananda, có tám nhân, có tám duyên, khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám?
Này Ananda, đại địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở trên hư không. Này Ananda, đến thời gió lớn khởi lên, khi gió lớn thổi lên nước rung động, và khi nước rung động thì quả đất rung động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa chấn động" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Đại địa này thiết lập ở trên nước, đất của chúng ta nằm ở trên nước, nước ở trên gió, phía dưới nước là gió, phía dưới gió là hư không. Đúng thời gió lớn thổi lên, nước rung động thì đất rung động, đó là lý do chúng ta bị động đất, thiên nhãn của ngài nhìn thấy mọi thứ, ngài hiểu tại sao có động đất. Đó là nguyên nhân thứ nhất.
"Lại nữa, này Ananda, có Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được tự tại, hay hàng chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này tu tập địa tưởng có hạn, thủy tưởng vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ hai, duyên thứ hai, khiến đại địa chấn động" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Những vị tu hành có thần thông và chư thiên có thể làm cho trái đất này rung chuyển. Đó là nguyên nhân thứ hai.
"Lại nữa, này Ananda, khi Bồ-tát từ bỏ thân chư Thiên Tusità (Ðâu-suất), chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ ba, duyên thứ ba, khiến đại địa chấn động." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
"Bồ-tát từ bỏ thân chư Thiên Tusità (Ðâu-suất)" nghĩa là ngài mạng chung, qua đời trên cõi trời thì ngài chánh niệm tỉnh giác vào trong thai mẹ, khi đó trái đất này rung động, chuyển động mạnh, đó là nguyên nhân thứ ba khiến cho địa cầu chấn động.
"Lại nữa, này Ananda, khi Bồ-tát, chánh niệm, tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ tư, duyên thứ tư, khiến đại địa chấn động" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Lúc ngài lọt lòng mẹ là ngài biết hết, đây là những điều chưa từng có, hy hữu hiếm có trên đời. Do ngài đã tu tập nhiều kiếp nhiều đời nên ngài không có mê như mình, mình ở đâu chui ra đây mình cũng không biết, nghiệp lôi mình kéo mình chứ mình không biết mình từ đâu đến, mình không biết là mình từ dưới lên hay từ trên trời xuống hay là đi ngang, còn ngài chánh niệm tỉnh giác biết hết từng giai đoạn. Khi mẹ hạ sanh thì lúc đó địa cầu này rung động, chuyển động, chấn động mạnh, điều đặc biệt khi Bồ-tát đản sanh là người mẹ không nằm sanh ngài, không có ngồi sanh mà là đứng sanh. Khi sanh ra ngài không phải loài người đỡ mà là bốn vị thiên tử, bốn vị thái tử ở cõi trời đỡ ngài trước, sau đó mới tới loài người. Khi đỡ ngài xong thì trên trời xuất hiện hai dòng nước, một dòng nóng và một dòng lạnh rót xuống tắm cho ngài, vì ngài là thầy của chư thiên và loài người nên đệ tử lo cho ngài là chuyện bình thường.
Tất cả vua trời đều là đệ tử của ngài, khi ngài sanh ra như vậy thì trên trời xuất hiện hai dòng nước mà sau này người ta gọi là "Cửu long phúng thủy thiên ngoại lai" tuôn xuống tắm cho ngài. Thân thể ngài không dính một chút máu mủ hay nước ối nào cả, đó là điều bất khả tư nghì, hiếm có, chưa từng có, không dính dơ trong bụng mẹ. Khi ngài sanh ra là hai chân đứng vững trên mặt đất, chư thiên cầm lọng báo che trên đỉnh đầu, ngài nhìn về các phương và tuyên bố "ta là bậc tối tôn tối thượng, là bậc cao quý nhất trên đời. Đây là kiếp cuối cùng, không còn một đời sống nào khác nữa". Khi ngài tuyên bố như vậy thì lúc đó địa cầu rung chuyển nhưng không có ai bị tai nạn hay đồ vật bị vỡ, như vậy mới đặc biệt, đó là bậc đại đạo sư của mình.
Khi ngài sinh ra như vậy thì chư thiên cầm cái lọng trắng che trên đỉnh đầu và ngài bước đi bằng hai đôi chân của mình thăng bằng, vững chắc nhìn về phía bắc, sau đó nhìn khắp tất cả các phương và ngài đã là tuyên bố là "ta là bậc tối tôn tối thượng, bậc tôn quý nhất ở trên đời này. Đây là đời sống cuối cùng, sau thân này sẽ không còn một cái thân nào khác nữa", đó là nguyên nhân thứ tư.
"Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ năm, duyên thứ năm, khiến đại địa chấn động" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh khi ngài thành tựu vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Lúc đại giác ngộ, lúc giác ngộ viên mãn thì ngay cái khoảnh khắc đó địa cầu này rung chấn, chuyển động và tất cả chư thiên truyền với nhau là Bồ-tát Tất-đạt-đa đã thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, từ chư thiên ở dưới dục giới truyền lên các tầng trời, rung động hết tất cả 33 tầng trời. Các chư thiên thông báo với nhau với âm ba vang dội.
Và khi Pháp luân này được Thế Tôn chuyển vận như vậy, chư Thiên cõi đất này lớn tiếng nói lên: 'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời'.
Sau khi được nghe tiếng chư Thiên ở cõi đất, Tứ đại Thiên vương thiên lên tiếng nói lên: 'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời'.
Sau khi được nghe tiếng của chư Thiên ở Tứ đại Thiên vương thiên, thời chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba... chư Thiên Yàmà... chư Thiên Tusità... chư Hóa lạc thiên... chư Tha hóa tự tại thiên... chư Thiên ở Phạm thiên giới lớn tiếng nói lên: 'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận... bất cứ một ai ở đời'.
Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy lên đến Phạm thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng, quảng đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, I. Như Lai Thuyết)
Lúc đó các vị chư thiên có duyên, có pháp duyên, có tâm cầu pháp tập trung lại để chúc tụng. Các vị nguyên thủ quốc gia mới đắc cử tổng thống như Mỹ chẳng hạn, là biết bao nguyên thủ các nước gửi thư chúc mừng, đó là một vị vua bình thường của phàm phu đã vậy thì huống chi một bậc Thiên Nhân Sư thì quý vị tưởng tượng tất cả các tầng trời vang lên "Bồ-tát chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác rồi", vang dội cả mười ngàn thế giới, tất cả các chư thiên, phạm thiên bay xuống dập đầu đảnh lễ dưới chân ngài.
"Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ sáu, duyên thứ sáu, khiến đại địa chấn động"
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ không duy trì mạng sống (thọ hành); khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ bảy, duyên thứ bảy, khiến đại địa chấn động.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai nhập Vô dư Niết-bàn; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ tám, duyên thứ tám, khiến đại địa chấn động.
Này Ananda, có tám nhân này, tám duyên này khiến đại địa chấn động" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Đó là 8 nguyên nhân địa cầu này chấn động, những cái động đất phía sau chúng ta thấy là tốt lành, không có làm tổn hại người với đồ vật. Quý vị có thấy Đức Phật của mình có vĩ đại không? Có thấy tối thượng không? Chính vì vậy mình mới lạy Phật, mình mới kính ngưỡng Đức Phật, mình mới niệm Phật, mình mới tôn thờ Đức Phật. Chúng ta cũng phải hiểu đức hiệu của Phật, cái từ Đức Phật nghĩa là sao? Nhiều khi mình nghe chữ Phật nhưng mình có hiểu nó không?
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc tự mình phát giác
Những cấu uế trong tâm,
Những cấu uế trong đời,
Tự mình thoát cấu uế,
Tự mình tẩy sạch tâm.
Ngài sanh ra trong đời
Ngài lớn lên trong đời
Nhưng Ngài thoát khỏi đời
Không bị đời uế nhiễm.
Vì vậy, Ngài được gọi,
Danh xưng là “Đức Phật”,
Bậc Giác Ngộ Giải Thoát.
Con thật kính phục Ngài,
Con thật kính ngưỡng Ngài,
Con xin quy phục Ngài,
Con xin đảnh lễ Ngài.
Ngài sinh ra trong đời, ngài lớn lên trong đời nhưng ngài thoát khỏi đời, không bị đời uế nhiễm vì vậy ngài được gọi danh xưng là Đức Phật, bậc giác ngộ giải thoát. Đây là bài giải thích ý nghĩa chữ Phật ở trong "Đảnh lễ trí đức Như Lai", giải thích 10 đức hiệu, ở đây là một trong 10 đức hiệu đó. Chữ Phật là bậc giác ngộ mà giác ngộ cái gì? Tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, những cấu uế trong đời rồi tự mình thoát cấu uế, tự mình tẩy sạch tâm mấy cái này, mấy cái này sâu sắc, rất hay và vi diệu. Thứ nhất là tự mình phát giác ra chứ không phải người khác dạy, ngài đi học bao nhiêu vị thầy không, có 6 năm khổ hạnh nhưng sau cùng ngài thấy tất cả các vị thầy dạy cho ngài những cái tầng thiền rất là cao: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ. Tức là ngài tu tập, ngài trải nghiệm và ngài chứng được tứ thiền bát định, cái này sâu lắm nhưng ngài thấy rằng 8 cái loại thiền định này chưa giải thoát được sanh, già, bệnh, chết và sầu, bi, khổ, ưu, não.
Vì thế ngài không hài lòng, các vị thầy của ngài là muốn giữ ngài lại truyền ngôi, giống như bây giờ là trao cho ngôi trụ trì nói cho dễ hiểu, hồi xưa là trao cho ngôi giáo chủ của một giáo phái nhưng ngài không chịu, ngài nói đi tu không phải để làm trụ trì, đi tu không phải để làm giáo chú mà mục đích của người đi tu là giải thoát sanh, già, bệnh, chết và sầu, bi, khổ, ưu, não. Chỗ này là chỗ quan trọng cho nên trong một bài kinh Đức Phật nói là tại sao mà Đức Phật xuất hiện thế gian này, vì thế gian này có sanh, già, bệnh, chết, vì thế gian này có tham sân si, vì thế gian này có khổ đau, có phiền não cho nên Như Lai mới xuất hiện.
"Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp không có mặt ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật được Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Thế nào là ba?
Sanh
Già
Chết.
Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp này không hiện hữu ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, ba pháp này có mặt ở đời, do vậy Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, do vậy, Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng được nêu rõ ở đời. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Ước Nguyện, (VI). Không Thể Tăng Trưởng)
Như vậy sự tầm cầu tìm kiếm, bỏ ngai vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ, bỏ cha già mẹ yếu tức là dưỡng mẫu của ngài, là bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề, bỏ hết lục thân quyến thuộc, ngài không phải đi tìm địa vị, không phải đi tìm danh tiếng, không phải đi tìm những cảnh giới tâm được bình an, được an yên, được khỏe, được nhàn. Ngài đi tìm sự cắt đứt dòng sống chết khổ đau, luân hồi sanh tử, hết sống rồi chết, nhưng nói sống chết là nói gọn, từ sự sống đi đến cái chết thì khoảng giữa đó là lo lắng, bất an, sợ hãi, khổ sầu, tai nạn, bệnh hoạn, hơn thua, nhân nhã bỉ thử, lừa gạt, đấu đá, giành giật, đâm chết, sát hại… Một đống khổ nên Đức Thế Tôn gọi là đại khổ uẩn, nghĩa là một đống khổ lớn. Đức Thế Tôn nhìn thế giới này là một đống khổ to lớn, ngài muốn ra khỏi cái khổ đó.
Khi ngài đi tìm con đường để đi ra khỏi đống khổ đó thì không ai chỉ cho ngài con đường rốt ráo để đi ra khỏi. Bởi vì các cái tầng thiền định nó được rồi nhưng khi trở ra hết cái định thì cũng còn tham, sân, si, khổ đau nữa, cũng còn tái sanh nữa, cũng còn ở trong một cái thân kiến, cái kiến chấp, cái ngã chấp, một cái tôi cái ta. Ngài thấy như vậy là không được, ngài không có hài lòng, không có thỏa mãn cho nên ngài quyết định là bỏ hết, không đi theo thầy nào nữa hết, tự đi tìm. Khi ngài tự đi tìm thì đó là bậc tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, ngài thấy được năm thủ uẩn, thân này là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức, ngài nhìn thấy bên trong hình hài là những cái cảm giác, bên trong nữa là những cái hình bóng, tưởng, bên trong nữa là những lời nói lầm thầm, suy nghĩ là hành, sâu xa nữa là sự rõ biết nhận thức. Ngài nhìn thấy được đây là năm cái thứ sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Khi đã nhìn thấy được thì ngài mới đào sâu vào năm thứ này, ngài thấy rằng cái xác này đó là do tinh cha huyết mẹ, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành, vô thường, bệnh hoạn, nhiều vi khuẩn, vi trùng, vi rút, nhiều bệnh tật, già nua, chết chóc, bất ăn, tai họa. Ngài thấy cái này đâu có gì hạnh phúc trong này, chúng sanh vì tham đắm cái sắc này cho nên bao nhiêu là tranh đấu, ganh ghét, hại, lừa dối nhau, thậm chí người thân thương mà cũng gian dối với nhau cho nên Đức Thế Tôn nói cái sắc này là vô thường, là khổ đau, là trống rỗng. Cuối cùng còn một nắm tro hoặc là đi ra nghĩa địa.
Những cái cảm giác vui, buồn hay là không vui không buồn có tham, sân, si trong này. Những cảm giác dễ chịu, vui là tham, những cảm giác khó chịu, bực là sân, những cảm giác thường thường, mình nói tôi làm mình cũng si mê. Đức Thế Tôn nói những cái cảm giác này là duyên sanh, vô thượng, một chút cũng mất hết. Những hình bóng trong tâm ám ảnh, hết hình bóng này tới hình bóng kia, hết hình bóng kia tới hình bóng nọ nhưng đều là tham, sân, si, hờn trách, oán hận, buồn phiền, những hình bóng trong tâm khổ, vô thường. Những cái suy nghĩ là khỏi nói, hết cái này tới cái kia, hết cái kia tới cái nọ, hết cái nọ tới cái khác, vô nằm ngủ mà không cho ngủ, nó kêu mình phải suy nghĩ, trong tâm bất an, nhiều căng thẳng. Sau mùa dịch có rất nhiều căng thẳng xảy ra, không những trong nước mình mà toàn cầu, căng thẳng, áp lực, trầm cảm, thậm chí đi tới vấn đề thần kinh, điên loạn. Trong cái nhận thức cũng vậy, nhận thức tôi hơn, tôi bằng hay là tôi thua, nhận thức theo bản ngã, theo vô minh, theo chấp thủ.
Đức Thế Tôn nhìn thấy được năm thủ uẩn là khổ, ngài đi sâu vô năm thủ uẩn thì nhìn thấy những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là tham, sân, si, hơn thua, bản ngã, làm khổ cho nhau không. Cho nên ngài được gọi là bậc tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, chỗ thâm sâu là vô minh và tham ái. Vô minh là không thấy ngũ uẩn, cho là mình, vì không thấy không biết ngũ uẩn vô thường, khổ, vô ngã cho nên mình tưởng nó thường, tưởng nó vui, tưởng nó là mình là tôi cho nên mình yêu thích, từ vô minh đi kèm chung với tham ái. Tức là không hiểu biết cho nên nó khoan khoái, nó yêu thích, như vậy từ cái không hiểu biết cho nên nó ham muốn, nó yêu thích, nắm giữ rồi nó khổ đau. Ngồi đây có ai từ lúc sinh ra không có bệnh gì giơ tay lên? Mới có nói một cái thân thôi đó, nếu mà kể là bao nhiêu bệnh, viêm bao tử, huyết áp, mắt, tai, mũi, họng, tiểu đường, ung thư xương khớp, gout đó vậy mà ham khoái cái thân này lắm, yêu thích nó lắm, nắm giữ lắm cho nên khổ đau. Thế Tôn là đoạn tận hữu ái tức là ngài từ bỏ yêu thích sự hiện hữu trong cái thân này cho nên ngài không còn trở lại cái thân nữa.
Mình tuy là nó khổ nhưng mình còn khoái, mình muốn đời sau có cái ngon ngon hơn cái này, nhưng mà đâu phải muốn là được, mình tạo nghiệp. Thành ra được là phải tương xứng cái nghiệp thiện của mình, ví dụ mình có 100 đồng thì mình mua món đồ vừa 100 đồng, chứ mình có 100 mình đòi có món đồ cả triệu thì làm sao được? Mình thiếu nợ người ta mà mình đòi xài kiểu triệu phú là sao? Không hề được, cho nên Thế Tôn cắt đứt cái hữu ái, sự yêu thích cái này phải cắt đứt, đây là chỗ thâm sâu, chỗ này mới gọi là giải thoát sinh tử. Từ đó giờ mình học có thể không hiểu giải thoát khỏi sanh tử là gì, tức là Đức Phật khi nhập Niết-bàn là không trở lại cái thân ruột, gan, phèo, phổi, mủ máu, một thân nước tiểu như mình nữa thì mới gọi là giải thoát sinh tử, không còn sanh ra để chết nữa.
Mình còn sanh dài dài, sanh hoài, sanh mãi mãi, nếu sanh ra mà được thân người như này thì cũng chịu nhưng không được con người, được thân con kiến, gián, chuột cống, thân con chó nhưng lại là chó ghẻ, thân con muỗi, con giòi nhưng dù sao vẫn đỡ hơn thân ngạ quỷ, cô hồn, quỷ đói vất vơ vất vưởng, không ai cúng cho ăn nên đói hoài, thậm chí có cúng cũng không ăn được. Cảnh địa ngục là không cần nói nữa, vô lượng vô biên thống khổ, chịu khổ hoài cho nên Thế Tôn mới cắt đứt cái hậu hữu, hữu ái. Hậu hữu là cái thân đời sau được ngài cắt đứt, ngài không yêu thích có thân, không mong muốn có cái thân nữa, ngài muốn chấm dứt, ngài muốn từ bỏ, muốn thoát ra, đây là chỗ thâm sâu mà có thể quý vị ít được nghe, cho nên cần nghe kĩ để biết được Đức Phật giải thoát cái gì.
Chỗ cao nhất của đạo Phật là cái đó, tức là không còn tái sinh trong lục đạo luân hồi nữa. Lục đạo là gì? Trời, người, A-tu-la, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. Mình chịu cái nào? Nói dễ hiểu là dạ xoa A-tu-la là thần đạo, có phước nhưng mà sân si lắm, chúng ta nhớ là trong 6 cái này là nó lòng vòng, không có khi nào chắc hết. Ví dụ bây giờ đang ở đỉnh cao chư thiên, thấy sướng quá, ăn rồi hưởng thụ rồi có khi tạo nghiệp, có khi trụy lạc bởi vì đâu có biết cực khổ, mê hưởng cái phước trong đó, trừ khi Thánh đệ tử Thiên, tức là chư thiên có học giáo pháp của Đức Phật thì gọi là Thánh đệ tử thiên, còn lại là phàm phu thiên, cứ hưởng hết phước rồi rơi xuống chỗ sâu nhất của lục đạo là địa ngục, cho nên trong 6 cái này không có cái nào bảo đảm hết. Thành ra người tu là muốn đi ra khỏi 6 cái này, muốn đi ra khỏi cái đó thì gọi là muốn giải thoát, muốn thoát ra, đi ra khỏi cái đó người ta gọi là viễn ly, muốn xuất ly, muốn thoát ly, muốn giải thoát. Đó gọi là chấm dứt sanh tử, tức là không đi vào 6 cái lòng vòng này
Ở dưới địa ngục bị hành hạ vô lượng, vô số, vô biên kiếp, tới chừng hết cái nghiệp địa ngục ngoi đầu lên thì làm chó, làm súc sanh, làm bò, là phải làm heo cho người ta cân ký, bán, cắt, mổ xẻ, thọc huyết, không thì làm trâu kéo cày, làm bò. Nhiều đời nhiều kiếp hết cái con bò mới ngoi lên, có khi là từ địa ngục lên ngạ quỷ rồi mới lên được súc sanh, có khi từ địa ngục lên thẳng súc sanh. Khi làm súc sanh bị đánh, bị đập rồi kéo xe chở nặng, có một hình ảnh hết sức xúc động là con ngựa kéo đồ nặng trong nó ốm yếu nên nó khụy xuống, ông chủ quất nó để nó đứng lên, nó ráng kéo một chút thì ngã xuống chết luôn. Cái này phản chiếu hình ảnh của mình chứ không phải ai đâu, trong cái vòng luân hồi này không phải tự nhiên ông chủ đánh nó, hồi xưa nó hành hạ ông nên bây giờ quay ngược trở lại nó bị đánh, cái vòng luân hồi cứ quay qua quay lại như vậy.
Mình ăn con gà, con vịt, mình mổ, mình xẻ nó, sau này nó ngoi lên làm người trong khi mình rơi xuống làm những con đó, gặp nhau là nó ngắm ngay mình "con này mới ngon", vài trăm kiếp sau nó thấy mình là "con này mới ngon nè, phải ăn sống, ăn tươi mới ngon". Luân hồi là cái vòng cứ quay tròn liên tục, mình ăn nó, nó ăn mình, mình giết nó, nó giết mình, mình chửi nó, nó chửi mình, mình đánh nó, nó đánh mình, mình mổ nó, nó mổ mình, mình cắt cổ nó, nó cắt cổ mình… cứ làm mãi như vậy thì gọi là luân hồi cho nên ăn chay sẽ tốt cho sức khỏe, rất dinh dưỡng cho nên phải cố gắng ăn chay trường, nếu chưa ăn được thì cố gắng nâng cấp lên để bớt cái nghiệp sát sanh. Con ngựa không đi nổi nữa mà vẫn bị đánh để bắt kéo hàng, cuối cùng chịu hết nổi nó chết ngay trên đường, mọi người đứng nhìn khóc vì thấy tội nghiệp nhưng không phải con ngựa mới vậy, con người cũng y như vậy, bị hành hạ, bóc lột sức lao động, một ngày phải làm việc 14 tiếng, 16 tiếng tới 18 tiếng. Ngày xưa làm nô lên, bây giờ cũng vậy, có điều mình không thấy không biết thôi chứ nó nhiều lắm.
Từ súc sanh ráng trả hết nghiệp làm bò kéo xe, trâu cày, làm thịt cho người ta ăn, bị mổ, bị thọc huyết rồi ngoi lên làm người bị đui điếc, câm ngọng, sanh ra bệnh đau, sanh ra bị ung thư. Cảnh luân hồi đau khổ vậy mà sao cứ mê hoài? Tham, sân, si không có chịu từ bỏ, quý vị đi vô mấy cái trại tâm thần thấy họ đứng chửi, một bà mẹ nuôi mấy đứa con bị bệnh tâm thần hai mươi mấy năm, mỗi ngày đưa thau cơm có trộn thuốc an thần trong đó, mỗi lần đưa cơm vào là những đứa con quăng cái thau đi, nó vừa chửi và đánh, từ những cảnh đó mới ngoi lên từ từ để được ngồi đây nghe pháp là phước báo rất nhiều nên chúng ta phải cố gắng tu tập. Vì vậy mới nói thân người khó được, gặp chánh pháp cũng khó được, quý vị được những cái khó được cho nên tại sao mà Minh Thành lần nào về cũng nhắc quý vị tu nhiều lên, tu nhiều lên, tinh tấn lên, tại vì mình sảy chân rơi xuống 3 đường ác là cả tỷ năm chưa ngoi lên được, đâu có dễ được đâu. Tại vì mình vô minh, si mê, mình không hiểu biết, mình không có con mắt thiên nhãn, Phật nhãn, thánh nhãn, pháp nhãn, tuệ nhãn cho nên con mắt của mình là con mắt thịt, mình thấy cái này là bình thường nhưng nó không có bình thường.
Mình phải gieo trồng rất nhiều thiện căn, phước đức, nhân duyên, rất nhiều thiện lành ở trong quá khứ nên bây giờ mình được ngồi đây, được nghe chánh pháp nữa thì quý vị nghĩ rằng cái phước của quý vị nó cỡ nào. Vì vậy phải trân trọng, cố gắng lên nữa, không có phung phí phước, không có hoang phí phước, không có lãng phí phước, không có phí phạm phước, Đức Phật nhìn thấy được cấu uế của cuộc đời này, những cái đó là từ cảm thọ tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái của mình, những cấu uế trong đời. Mình giống vậy, người ta cũng giống vậy, ngũ uẩn nào cũng giống vậy, đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã, hơn thua. Đó là cấu uế của mình rồi cấu uế của chúng sinh, Đức Phật là bậc tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, những cấu uế trong đời, tự mình thoát cấu uế, tự mình tẩy sạch tâm, cái này mới là tối thượng, cái này để cho chúng ta lạy.
Có khi mình nghe thì mình cũng hiểu tham, sân, si là xấu nhưng mình tẩy không nổi, thậm chí có muốn tẩy cũng không nổi, không có nỗ lực, chỉ tẩy một chút rồi bỏ. Ví dụ như bây giờ hết hai trang giấy bị dơ, mình lấy cục gôm lên tẩy tẩy vài cái rồi thôi, còn ngài tẩy sạch hết hoàn toàn cả một cái cuốn sách dày vô lượng vô biên kiếp, mình cứ tính một trang hay là một đời từ dưới này mà lên tới trên nóc chùa được ngài tẩy từng trang. Như vậy có xứng đáng để lạy ngài không?
Ngài sinh ra trong đời, ngài lớn lên trong đời nhưng ngài thoát khỏi đời, không bị đời uế nhiễm, chỗ này là chỗ tối thượng. Trong kinh Đức Phật hay lấy hoa sen làm ví dụ cho nên người ta mới để hoa sen dưới chân của ngài, còn trong kinh Nikāya không có để là ngài bước mỗi bước bông sen nở dưới chân, nhưng ngài giảng ngài hay nói về bông tai giống như hoa sen, sanh ra trong bùn, lớn lên ở trong bùn rồi lên trên mặt nước, vượt ra khỏi nước, hoa sen không có bị ô nhiễm bởi bùn, cũng không bị ướt bị nước nữa cho nên ngài lấy cái đó để ví dụ ngài sanh ra trong đời, ngài lớn lên trong đời mà ngài không bị đời làm ô nhiễm, ngài thoát ra khỏi đời, vì vậy ngày được gọi danh xưng là Đức Phật, bậc giác ngộ giải thoát. Con thật kính phục ngài, con thật kính ngưỡng ngài, con xin quy phục ngài, con xin đảnh lễ ngài.
Hôm nay chúng ta mới giải thích một chữ Phật thôi, thật ra có tới 10 đức hiệu, chúng ta mới giải thích sơ lược một chữ Phật có ý nghĩa như vậy, tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, những cấu uế trong đời, tự mình tẩy sạch những cấu uế.
"- Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích chấp giữ, thích thú chấp giữ, hoan hỉ chấp giữ, khi pháp không chấp giữ được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (VIII). Vi Diệu (2))
Phàm phu chúng sanh ưa thích nắm giữ, ưu thích chấp thủ, ưa thích gom góp, tích lũy nhưng khi Đức Phật ra đời giảng pháp buông xả, những chúng sanh nghe pháp này lại chấp nhận, họ lắng tai nghe, họ thành tựu trí tuệ và an trú tâm vào trong sự buông xả. Đây là điều vi diệu chưa từng có, chỉ có Phật mới có thể giúp chúng sanh xả bớt, chúng ta nắm giữ là khổ, chúng ta than khổ mà không chịu buông ra, xả bỏ. Bây giờ mình giận có phải mình nắm không? Bây giờ mình hơn thua có phải nắm chấp không? Nếu buông ra là khỏe rồi, quý vị buông được, xả được thì quý vị làm được việc vi diệu chưa từng có, người không biết tu làm không có được. Cho nên về núi là cứ xả vô lượng tâm, xả tham, sân, si, xả bản ngã, xả chấp thân.
"Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỉ kiêu mạn, khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (VIII). Vi Diệu (2))
Chúng sanh thích cao ngạo trong khi ngài dạy sống khiêm hạ, nhưng chúng sanh nghe pháp của ngài thì chấp nhận an trú tâm. Ai ở ngoài là cái gì không biết, lúc nào cũng phải tính toán kĩ lưỡng sợ thua thiệt nhưng khi vào gặp tượng Phật là chắp tay lạy, ở ngoài ta đây nhưng khi vào gặp Phật đều chắp tay nam mô rồi lạy xuống. Cái đó ngài dạy mình khiêm hạ, cung kính nhưng mình hiểu nhỏ quá, mình chỉ nghĩ là cung kính trước tượng Phật thôi mà mình không biết cung kính là đối với tức cả mọi người. Nhớ kỹ cái này, không phải chỉ cung kính trước bức tượng có tấm hình mà phải cung kính đối với tất cả những con người, khiêm hạ đối với tất cả mọi người, làm được cái này là mình làm được sự vi diệu chưa từng có cho nên trong đạo tràng Nikāya con cho các vị quỳ lạy xin lỗi với nhau, người tu thấy mình có lỗi là tự quỳ xin lỗi giữa đại chúng. Mình có lỗi thì xin lỗi, có gì đâu? Tại sao mình sĩ diện mình nói tôi hay, không thèm xin lỗi thì tới chừng nào hết lỗi? Cho nên phải khiêm cung, khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhã, năm khiêm hai khéo. Khéo suy xét mình, khéo nhìn thấy lỗi mình chứ không phải khéo nhìn thấy lỗi của người ta.
Từ cái khiêm hạ này lần lần mới tu được cái pháp diệt ngã, rồi mới đi tới cái vô ngã được. Cho nên phải sám hối diệt ngã, nếu không tu càng ngày bản ngã càng cao, lúc mới tu thì bản ngã nhỏ, ru riết bản ngã to ra, tu nữa bản ngã cao thẳng đứng luôn, như vậy là trật lất rồi. Đức Phật nói về cái pháp không kiêu mạn là cái pháp khiêm hạ, cái pháp diệt ngã, cái pháp vô ngã nhưng mà mọi người lại thích thú nghe, tâm họ chấp nhận, họ hoan hỉ và họ tu tập theo thì đây là điều mà vi diệu chưa từng có, chỉ có Phật xuất hiện trên thế gian này mới có thể làm được điều đó. Không ai nói nghe hết mà Phật nói lại nghe, không lạy ai hết nhưng vào thấy hình Phật, tượng Phật cũng chắp tay cúi đầu lạy vì công đức của ngài tu tập là chứng đắc vô ngã hoàn toàn cho nên tất cả chúng sanh là quy phục kính ngưỡng.
"Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỉ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (VIII). Vi Diệu (2))
Chúng sanh thích cái lăng xăng dao động lắm, ưa thích dao động, thích thú dao động, hoan hỉ trong dao động. Thế Tôn nói pháp an tịnh, trong khi ghi lại nhà vua đi vào thấy 1000 vị Tỳ-kheo ngồi im ru nên giật mình, nghĩ rằng người hầu ám sát vua vì có rất đông người mà không có nghe tiếng gì hết. Nhà vua bước vào thấy Đức Thế Tôn và Thánh chúng là sụp xuống lạy kính ngưỡng, muốn làm đệ tử.
"- Này khanh Jìvaka, sao ngươi lại yên lặng như vậy?
- Tâu Ðại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'. Ðại vương hãy đến chiêm bái Thế Tôn này. Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Ðại vương được tịnh tín.
- Vậy khanh Jìvaka, hãy cho thắng kiệu voi.
- Vâng, tâu Ðại vương.
Jìvaka Komàrabhacca vâng theo lời dạy của Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, sai người thắng năm trăm con voi cái, và con vương tượng vua thường cởi, rồi tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: 'Tâu Ðại vương, các kiệu voi đã sẵn sàng. Ngài hãy làm những gì Ngài xem là phải thời'. Khi bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha biểu các cung phi leo lên năm trăm con voi cái mỗi người một con, còn mình thì leo lên vương tượng vua thường cởi, xuất hành ra khỏi Ràjagaha, dưới ánh sáng của các ngọn đuốc được cầm cao, với oai nghi của bậc đại vương, thẳng tiến đến vườn xoài của Jìvaka Komàrabhacca.
Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
- Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.
Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà tròn. Khi đến nơi liền nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, Thế Tôn ở tại đâu?
- Tâu Ðại vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Ðại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng Tỳ-kheo.
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nhìn khắp chúng Tỳ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng: 'Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu-đà-di-bạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỳ-kheo này vậy'". (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa-môn quả)
Cho nên ở trong đạo tràng Nikāya là thực tập an tịnh, lắng dịu vì nó rất quan trọng, ở trên núi một trăm mấy chục người tu mà quý vị ở ngoài bước vô là tưởng không có ai hết, rất im lặng. Chừng nào vô thấy tới giờ tu mới nhìn thấy người đông, ngoài ra là im ru, thành ra con rất là thích cái an tịnh, lắng dịu, bởi vì mình lăng xăng, động loạn nên mình dễ tham, sân, si, dễ hơn thua, nói qua nói lại là có chuyện, ở đây ai cũng an tịnh, lắng dịu hết. Cái miệng muốn nói là tác ý an tịnh, lắng dịu xuống, trong nhà êm xui hết, đạo tràng bình an hết, trên dưới thuận hòa hết cho nên phải thuộc câu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào", đừng có quên, lúc nào thấy mình lăng xăng là niệm liền.
Đúng ra cái đặc sản ở trong chùa của mình là an tịnh, lắng dịu, người sau này không biết, cứ tưởng phải làm rầm rầm cho nhiều người chú ý, cái đó ngoài đời, đi vào trong chùa là người ta cần sự an tịnh, lắng dịu, trang nghiêm, thanh tịnh. Cái đó khắp hành tinh tìm không có, chỉ có đặc sản ở trong chùa, ở trong đạo tràng, ở trong thiền môn nghiêm tịnh mới tuyệt diệu. Mọi người phải nhớ điều này quan trọng và đem cái an tịnh, lắng dịu này về tập ở trong nhà, ở trong chỗ mình làm việc, tập luôn ở trong từng hơi thở, trong từng cảm giác của mình, tập luôn trong từng bước chân, trong từng lời nói, trong từng cử chỉ của mình nhẹ nhàng an tịnh, lắng dịu. Nếu làm được thì quý vị sẽ thấy phép lạ đặc biệt, khi cơn giận nổi lên là lập tức mình có sự an tịnh, lắng dịu, mình cho nó xuống liền vì mình đã thuần thục, còn quý vị cứ để cho nó bung ra thì nó cứ việc bung ra, rồi phiền não, sầu đau, bất an, bất hòa, bất trắc. Nhớ đặc sản này, đây là cái pháp vi diệu chưa từng có mà Đức Phật xuất hiện dạy cho chúng ta nên nhớ thực tập.
"Này các Tỳ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện.
Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (VIII). Vi Diệu (2))
Quần chúng đi trong bóng đêm, bóng tối, không thấy không biết gì về ngũ uẩn, không thấy không biết về những cảm thọ, không thấy không biết về tham, sân, si, không thấy không biết về vô minh, dục ái, bản ngã, không thấy không biết sự dao động của thân tâm mình là khổ đau, họ không thấy không biết nên trở thành mù quáng, trở thành bị che đậy, bị trói buộc ở trong cái bóng tối vô minh đó. Nhưng mà Đức Thế Tôn thuyết giảng cái pháp nhiếp phục vô minh thì những vị này này khéo nghe, lắng tai chánh trí an trú tâm. Đức Phật nói về trí tuệ, ánh sáng để soi thấy bóng tối vô minh, để tẩy sạch vô minh, để phá tan vô mình, để thắp lên ngọn đuốc, thắp lên quá ánh sáng, để cho mặt trời Thánh tuệ được chiếu sáng, rực sáng, chói sáng, bừng sáng, tỏa sáng trong thân tâm của mình và tất cả chúng sanh đều thấm nhuần được cái ánh sáng trí tuệ đó. Chúng ta thấy cái công đức của Phật vĩ đại chưa?
Như vậy ngày hôm nay là vào mùa Phật Đản, tất cả chúng ta hướng tâm về thánh tượng, hình tượng tôn kính của Đức Phật để mình nhớ nghĩ, học đức hạnh trí tuệ, từ bi của ngài, ân đức vĩ đại của ngài cho chúng ta và chúng ta cố gắng tinh tấn, siêng năng làm những cái điều gì mà Đức Phật đã dạy. Đó là sự cúng dường tối thượng trong tất cả sự cúng dường đối Như Lai, chính là sự thực hành pháp, thực hành đúng chánh pháp của Đức Phật, đó là sự cúng dường tối thượng trong một Phật Đản này.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.
PHẬT ĐẢN SANH ĐỊA CẦU CHẤN ĐỘNG!
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức, kính thưa toàn thể quý nam nữ Phật tử hiền trí trong đạo tràng, hôm nay chúng ta bước qua tuần lễ Phật đản, chúng ta tất cả hàng đệ tử của Phật trên khắp hành tinh điều hướng niệm về Đức Thế Tôn, bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người. Sự xuất hiện của ngài là sự xuất hiện của mắt, xuất hiện của mắt lớn, sẽ xuất hiện của đại quang đại minh, sự xuất hiện của ánh sáng, sự xuất hiện, của trí tuệ của giác ngộ, của bình minh chân lý. Tất cả hàng con Phật chúng ta trong mùa Phật Đản đều là hướng niệm, nghĩ nhớ, tưởng nhớ, đảnh lễ, nhắc, ôn, nhớ nghĩ về sự xuất hiện của một bậc đại vĩ nhân trên hành tinh này.
Thứ sáu vừa rồi con có chia sẻ về 18 điều chưa từng có hiếm có của Đức Phật trong chương trình Phật học online của ban hoằng pháp Trung Ương. Khi Bồ- tát từ cung trời Đâu Suất dáng thần, là chánh niệm tỉnh giác, tức là ngài biết ngài chọn chỗ ngài đi xuống, ngài chọn ai làm cha làm mẹ của ngài và trong khi ngài đi vào trong bào thai, ngài thấy biết hết, gọi là chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát nhập mẫu thai. Khi ngài đi vào trong bào thai có nhiều cái lạ, nhiều cái đặc biệt, nhiều cái điều hiếm có, hi hữu chưa từng có xuất hiện, từ hào quang ánh sáng cho đến địa cầu này chấn động, rung chuyển. Điều đặc biệt chúng ta nghe nói là địa chấn thì chúng ta sợ nhưng không có ai bị tai nạn, không có vật gì bị đổ, vẫn còn nguyên, chỉ có rung chuyển thôi.
Hôm nay chúng ta sẽ tổng hợp nhiều bài kinh có thể trước giờ chúng ta chưa từng được nghe để chúng ta quán niệm, nhớ nghĩ về ân đức, công hạnh, trí tuệ, tấm lòng đại bi của Đức Thế Tôn. Đầu tiên Minh Thành nhắc lại bài kinh Động Đất cho quý vị thấy có 8 lý do đất này sẽ rung chuyển, trong đó lý do chúng ta muốn nói là lý do lúc Bồ-tát vào thai mẹ và ra khỏi thai mẹ thì quả đất này rung chuyển. Bài kinh này do ngài A-nan thưa hỏi thì Đức Phật mới nói, Đức Phật gợi ý nhiều lần là các bậc Chánh Đẳng Giác có thể ở lại một kiếp, tuổi thọ của ngài có khả năng kéo dài một kiếp trái đất chứ không phải một kiếp của con người 100 năm, tại vì các ngài đã tu tập Tứ Như Ý Túc nên các ngài muốn sống bao nhiêu là các ngài sống. Ngài gợi ý 3 lần nhưng lúc đó tâm ngài A-nan bị che, bị loạn, cho nên không có thỉnh Đức Phật ở lại, chứ Đức Phật gợi ý mấy lần là các Đức Như Lai tu Tứ Thần Túc thành tựu viên mãn có thể, nếu muốn sống một kiếp Trái đất.
Một kiếp trái đất lâu dài lắm, từ khi trái đất thành lập cho đến tan hoại, Đức Phật gợi ý như vậy mà ngài A-nan không có thỉnh Phật ở lại. Lúc đó tâm ngài cũng c bị che đậy và ác ma, thiên ma cũng quấy nhiễu, ngài A-nan không có thỉnh cho nên Đức Thế Tôn quyết định là thâu thọ mạng lại, tức là sẽ nhập Niết-bàn trong 3 tháng nữa. Khi ngài A-nan không thỉnh thì một lát sau ác ma đến thỉnh, nói với Thế Tôn bây giờ ngài có đệ tử đầy đủ, Tỳ-kheo Ni, Tỳ-kheo, bốn chúng có đầy đủ, giáo pháp của ngài giảng đã đầy đủ hết tất cả rồi, có nhiều bậc Thánh chúng tu thành tựu. Lúc trước ngài nói khi nào ngài có đầy đủ đệ tử, pháp của ngài được lưu bố rộng rãi thì ngài nhập Niết-bàn, Đức Phật thấy cơ duyên cũng tới rồi nên ngày hứa là 3 tháng sau vào Niết-bàn. Lúc ngài vừa hứa thì trái đất rung động, cả cái địa cầu rung chấn hết, ngài A-nan thấy vậy thì đi vào hỏi Đức Phật, lúc đó Đức Phật mới nói tám lý do động đất.
- Này Ananda, có tám nhân, có tám duyên, khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám?
Này Ananda, đại địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở trên hư không. Này Ananda, đến thời gió lớn khởi lên, khi gió lớn thổi lên nước rung động, và khi nước rung động thì quả đất rung động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa chấn động" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Đại địa này thiết lập ở trên nước, đất của chúng ta nằm ở trên nước, nước ở trên gió, phía dưới nước là gió, phía dưới gió là hư không. Đúng thời gió lớn thổi lên, nước rung động thì đất rung động, đó là lý do chúng ta bị động đất, thiên nhãn của ngài nhìn thấy mọi thứ, ngài hiểu tại sao có động đất. Đó là nguyên nhân thứ nhất.
"Lại nữa, này Ananda, có Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được tự tại, hay hàng chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này tu tập địa tưởng có hạn, thủy tưởng vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ hai, duyên thứ hai, khiến đại địa chấn động" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Những vị tu hành có thần thông và chư thiên có thể làm cho trái đất này rung chuyển. Đó là nguyên nhân thứ hai.
"Lại nữa, này Ananda, khi Bồ-tát từ bỏ thân chư Thiên Tusità (Ðâu-suất), chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ ba, duyên thứ ba, khiến đại địa chấn động." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
"Bồ-tát từ bỏ thân chư Thiên Tusità (Ðâu-suất)" nghĩa là ngài mạng chung, qua đời trên cõi trời thì ngài chánh niệm tỉnh giác vào trong thai mẹ, khi đó trái đất này rung động, chuyển động mạnh, đó là nguyên nhân thứ ba khiến cho địa cầu chấn động.
"Lại nữa, này Ananda, khi Bồ-tát, chánh niệm, tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ tư, duyên thứ tư, khiến đại địa chấn động" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Lúc ngài lọt lòng mẹ là ngài biết hết, đây là những điều chưa từng có, hy hữu hiếm có trên đời. Do ngài đã tu tập nhiều kiếp nhiều đời nên ngài không có mê như mình, mình ở đâu chui ra đây mình cũng không biết, nghiệp lôi mình kéo mình chứ mình không biết mình từ đâu đến, mình không biết là mình từ dưới lên hay từ trên trời xuống hay là đi ngang, còn ngài chánh niệm tỉnh giác biết hết từng giai đoạn. Khi mẹ hạ sanh thì lúc đó địa cầu này rung động, chuyển động, chấn động mạnh, điều đặc biệt khi Bồ-tát đản sanh là người mẹ không nằm sanh ngài, không có ngồi sanh mà là đứng sanh. Khi sanh ra ngài không phải loài người đỡ mà là bốn vị thiên tử, bốn vị thái tử ở cõi trời đỡ ngài trước, sau đó mới tới loài người. Khi đỡ ngài xong thì trên trời xuất hiện hai dòng nước, một dòng nóng và một dòng lạnh rót xuống tắm cho ngài, vì ngài là thầy của chư thiên và loài người nên đệ tử lo cho ngài là chuyện bình thường.
Tất cả vua trời đều là đệ tử của ngài, khi ngài sanh ra như vậy thì trên trời xuất hiện hai dòng nước mà sau này người ta gọi là "Cửu long phúng thủy thiên ngoại lai" tuôn xuống tắm cho ngài. Thân thể ngài không dính một chút máu mủ hay nước ối nào cả, đó là điều bất khả tư nghì, hiếm có, chưa từng có, không dính dơ trong bụng mẹ. Khi ngài sanh ra là hai chân đứng vững trên mặt đất, chư thiên cầm lọng báo che trên đỉnh đầu, ngài nhìn về các phương và tuyên bố "ta là bậc tối tôn tối thượng, là bậc cao quý nhất trên đời. Đây là kiếp cuối cùng, không còn một đời sống nào khác nữa". Khi ngài tuyên bố như vậy thì lúc đó địa cầu rung chuyển nhưng không có ai bị tai nạn hay đồ vật bị vỡ, như vậy mới đặc biệt, đó là bậc đại đạo sư của mình.
Khi ngài sinh ra như vậy thì chư thiên cầm cái lọng trắng che trên đỉnh đầu và ngài bước đi bằng hai đôi chân của mình thăng bằng, vững chắc nhìn về phía bắc, sau đó nhìn khắp tất cả các phương và ngài đã là tuyên bố là "ta là bậc tối tôn tối thượng, bậc tôn quý nhất ở trên đời này. Đây là đời sống cuối cùng, sau thân này sẽ không còn một cái thân nào khác nữa", đó là nguyên nhân thứ tư.
"Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ năm, duyên thứ năm, khiến đại địa chấn động" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh khi ngài thành tựu vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Lúc đại giác ngộ, lúc giác ngộ viên mãn thì ngay cái khoảnh khắc đó địa cầu này rung chấn, chuyển động và tất cả chư thiên truyền với nhau là Bồ-tát Tất-đạt-đa đã thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, từ chư thiên ở dưới dục giới truyền lên các tầng trời, rung động hết tất cả 33 tầng trời. Các chư thiên thông báo với nhau với âm ba vang dội.
Và khi Pháp luân này được Thế Tôn chuyển vận như vậy, chư Thiên cõi đất này lớn tiếng nói lên: 'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời'.
Sau khi được nghe tiếng chư Thiên ở cõi đất, Tứ đại Thiên vương thiên lên tiếng nói lên: 'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời'.
Sau khi được nghe tiếng của chư Thiên ở Tứ đại Thiên vương thiên, thời chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba... chư Thiên Yàmà... chư Thiên Tusità... chư Hóa lạc thiên... chư Tha hóa tự tại thiên... chư Thiên ở Phạm thiên giới lớn tiếng nói lên: 'Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận... bất cứ một ai ở đời'.
Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy lên đến Phạm thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng, quảng đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, I. Như Lai Thuyết)
Lúc đó các vị chư thiên có duyên, có pháp duyên, có tâm cầu pháp tập trung lại để chúc tụng. Các vị nguyên thủ quốc gia mới đắc cử tổng thống như Mỹ chẳng hạn, là biết bao nguyên thủ các nước gửi thư chúc mừng, đó là một vị vua bình thường của phàm phu đã vậy thì huống chi một bậc Thiên Nhân Sư thì quý vị tưởng tượng tất cả các tầng trời vang lên "Bồ-tát chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác rồi", vang dội cả mười ngàn thế giới, tất cả các chư thiên, phạm thiên bay xuống dập đầu đảnh lễ dưới chân ngài.
"Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ sáu, duyên thứ sáu, khiến đại địa chấn động"
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ không duy trì mạng sống (thọ hành); khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ bảy, duyên thứ bảy, khiến đại địa chấn động.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai nhập Vô dư Niết-bàn; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ tám, duyên thứ tám, khiến đại địa chấn động.
Này Ananda, có tám nhân này, tám duyên này khiến đại địa chấn động" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Đó là 8 nguyên nhân địa cầu này chấn động, những cái động đất phía sau chúng ta thấy là tốt lành, không có làm tổn hại người với đồ vật. Quý vị có thấy Đức Phật của mình có vĩ đại không? Có thấy tối thượng không? Chính vì vậy mình mới lạy Phật, mình mới kính ngưỡng Đức Phật, mình mới niệm Phật, mình mới tôn thờ Đức Phật. Chúng ta cũng phải hiểu đức hiệu của Phật, cái từ Đức Phật nghĩa là sao? Nhiều khi mình nghe chữ Phật nhưng mình có hiểu nó không?
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc tự mình phát giác
Những cấu uế trong tâm,
Những cấu uế trong đời,
Tự mình thoát cấu uế,
Tự mình tẩy sạch tâm.
Ngài sanh ra trong đời
Ngài lớn lên trong đời
Nhưng Ngài thoát khỏi đời
Không bị đời uế nhiễm.
Vì vậy, Ngài được gọi,
Danh xưng là “Đức Phật”,
Bậc Giác Ngộ Giải Thoát.
Con thật kính phục Ngài,
Con thật kính ngưỡng Ngài,
Con xin quy phục Ngài,
Con xin đảnh lễ Ngài.
Ngài sinh ra trong đời, ngài lớn lên trong đời nhưng ngài thoát khỏi đời, không bị đời uế nhiễm vì vậy ngài được gọi danh xưng là Đức Phật, bậc giác ngộ giải thoát. Đây là bài giải thích ý nghĩa chữ Phật ở trong "Đảnh lễ trí đức Như Lai", giải thích 10 đức hiệu, ở đây là một trong 10 đức hiệu đó. Chữ Phật là bậc giác ngộ mà giác ngộ cái gì? Tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, những cấu uế trong đời rồi tự mình thoát cấu uế, tự mình tẩy sạch tâm mấy cái này, mấy cái này sâu sắc, rất hay và vi diệu. Thứ nhất là tự mình phát giác ra chứ không phải người khác dạy, ngài đi học bao nhiêu vị thầy không, có 6 năm khổ hạnh nhưng sau cùng ngài thấy tất cả các vị thầy dạy cho ngài những cái tầng thiền rất là cao: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ. Tức là ngài tu tập, ngài trải nghiệm và ngài chứng được tứ thiền bát định, cái này sâu lắm nhưng ngài thấy rằng 8 cái loại thiền định này chưa giải thoát được sanh, già, bệnh, chết và sầu, bi, khổ, ưu, não.
Vì thế ngài không hài lòng, các vị thầy của ngài là muốn giữ ngài lại truyền ngôi, giống như bây giờ là trao cho ngôi trụ trì nói cho dễ hiểu, hồi xưa là trao cho ngôi giáo chủ của một giáo phái nhưng ngài không chịu, ngài nói đi tu không phải để làm trụ trì, đi tu không phải để làm giáo chú mà mục đích của người đi tu là giải thoát sanh, già, bệnh, chết và sầu, bi, khổ, ưu, não. Chỗ này là chỗ quan trọng cho nên trong một bài kinh Đức Phật nói là tại sao mà Đức Phật xuất hiện thế gian này, vì thế gian này có sanh, già, bệnh, chết, vì thế gian này có tham sân si, vì thế gian này có khổ đau, có phiền não cho nên Như Lai mới xuất hiện.
"Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp không có mặt ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật được Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Thế nào là ba?
Sanh
Già
Chết.
Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp này không hiện hữu ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, ba pháp này có mặt ở đời, do vậy Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, do vậy, Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng được nêu rõ ở đời. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Ước Nguyện, (VI). Không Thể Tăng Trưởng)
Như vậy sự tầm cầu tìm kiếm, bỏ ngai vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ, bỏ cha già mẹ yếu tức là dưỡng mẫu của ngài, là bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề, bỏ hết lục thân quyến thuộc, ngài không phải đi tìm địa vị, không phải đi tìm danh tiếng, không phải đi tìm những cảnh giới tâm được bình an, được an yên, được khỏe, được nhàn. Ngài đi tìm sự cắt đứt dòng sống chết khổ đau, luân hồi sanh tử, hết sống rồi chết, nhưng nói sống chết là nói gọn, từ sự sống đi đến cái chết thì khoảng giữa đó là lo lắng, bất an, sợ hãi, khổ sầu, tai nạn, bệnh hoạn, hơn thua, nhân nhã bỉ thử, lừa gạt, đấu đá, giành giật, đâm chết, sát hại… Một đống khổ nên Đức Thế Tôn gọi là đại khổ uẩn, nghĩa là một đống khổ lớn. Đức Thế Tôn nhìn thế giới này là một đống khổ to lớn, ngài muốn ra khỏi cái khổ đó.
Khi ngài đi tìm con đường để đi ra khỏi đống khổ đó thì không ai chỉ cho ngài con đường rốt ráo để đi ra khỏi. Bởi vì các cái tầng thiền định nó được rồi nhưng khi trở ra hết cái định thì cũng còn tham, sân, si, khổ đau nữa, cũng còn tái sanh nữa, cũng còn ở trong một cái thân kiến, cái kiến chấp, cái ngã chấp, một cái tôi cái ta. Ngài thấy như vậy là không được, ngài không có hài lòng, không có thỏa mãn cho nên ngài quyết định là bỏ hết, không đi theo thầy nào nữa hết, tự đi tìm. Khi ngài tự đi tìm thì đó là bậc tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, ngài thấy được năm thủ uẩn, thân này là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức, ngài nhìn thấy bên trong hình hài là những cái cảm giác, bên trong nữa là những cái hình bóng, tưởng, bên trong nữa là những lời nói lầm thầm, suy nghĩ là hành, sâu xa nữa là sự rõ biết nhận thức. Ngài nhìn thấy được đây là năm cái thứ sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Khi đã nhìn thấy được thì ngài mới đào sâu vào năm thứ này, ngài thấy rằng cái xác này đó là do tinh cha huyết mẹ, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành, vô thường, bệnh hoạn, nhiều vi khuẩn, vi trùng, vi rút, nhiều bệnh tật, già nua, chết chóc, bất ăn, tai họa. Ngài thấy cái này đâu có gì hạnh phúc trong này, chúng sanh vì tham đắm cái sắc này cho nên bao nhiêu là tranh đấu, ganh ghét, hại, lừa dối nhau, thậm chí người thân thương mà cũng gian dối với nhau cho nên Đức Thế Tôn nói cái sắc này là vô thường, là khổ đau, là trống rỗng. Cuối cùng còn một nắm tro hoặc là đi ra nghĩa địa.
Những cái cảm giác vui, buồn hay là không vui không buồn có tham, sân, si trong này. Những cảm giác dễ chịu, vui là tham, những cảm giác khó chịu, bực là sân, những cảm giác thường thường, mình nói tôi làm mình cũng si mê. Đức Thế Tôn nói những cái cảm giác này là duyên sanh, vô thượng, một chút cũng mất hết. Những hình bóng trong tâm ám ảnh, hết hình bóng này tới hình bóng kia, hết hình bóng kia tới hình bóng nọ nhưng đều là tham, sân, si, hờn trách, oán hận, buồn phiền, những hình bóng trong tâm khổ, vô thường. Những cái suy nghĩ là khỏi nói, hết cái này tới cái kia, hết cái kia tới cái nọ, hết cái nọ tới cái khác, vô nằm ngủ mà không cho ngủ, nó kêu mình phải suy nghĩ, trong tâm bất an, nhiều căng thẳng. Sau mùa dịch có rất nhiều căng thẳng xảy ra, không những trong nước mình mà toàn cầu, căng thẳng, áp lực, trầm cảm, thậm chí đi tới vấn đề thần kinh, điên loạn. Trong cái nhận thức cũng vậy, nhận thức tôi hơn, tôi bằng hay là tôi thua, nhận thức theo bản ngã, theo vô minh, theo chấp thủ.
Đức Thế Tôn nhìn thấy được năm thủ uẩn là khổ, ngài đi sâu vô năm thủ uẩn thì nhìn thấy những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là tham, sân, si, hơn thua, bản ngã, làm khổ cho nhau không. Cho nên ngài được gọi là bậc tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, chỗ thâm sâu là vô minh và tham ái. Vô minh là không thấy ngũ uẩn, cho là mình, vì không thấy không biết ngũ uẩn vô thường, khổ, vô ngã cho nên mình tưởng nó thường, tưởng nó vui, tưởng nó là mình là tôi cho nên mình yêu thích, từ vô minh đi kèm chung với tham ái. Tức là không hiểu biết cho nên nó khoan khoái, nó yêu thích, như vậy từ cái không hiểu biết cho nên nó ham muốn, nó yêu thích, nắm giữ rồi nó khổ đau. Ngồi đây có ai từ lúc sinh ra không có bệnh gì giơ tay lên? Mới có nói một cái thân thôi đó, nếu mà kể là bao nhiêu bệnh, viêm bao tử, huyết áp, mắt, tai, mũi, họng, tiểu đường, ung thư xương khớp, gout đó vậy mà ham khoái cái thân này lắm, yêu thích nó lắm, nắm giữ lắm cho nên khổ đau. Thế Tôn là đoạn tận hữu ái tức là ngài từ bỏ yêu thích sự hiện hữu trong cái thân này cho nên ngài không còn trở lại cái thân nữa.
Mình tuy là nó khổ nhưng mình còn khoái, mình muốn đời sau có cái ngon ngon hơn cái này, nhưng mà đâu phải muốn là được, mình tạo nghiệp. Thành ra được là phải tương xứng cái nghiệp thiện của mình, ví dụ mình có 100 đồng thì mình mua món đồ vừa 100 đồng, chứ mình có 100 mình đòi có món đồ cả triệu thì làm sao được? Mình thiếu nợ người ta mà mình đòi xài kiểu triệu phú là sao? Không hề được, cho nên Thế Tôn cắt đứt cái hữu ái, sự yêu thích cái này phải cắt đứt, đây là chỗ thâm sâu, chỗ này mới gọi là giải thoát sinh tử. Từ đó giờ mình học có thể không hiểu giải thoát khỏi sanh tử là gì, tức là Đức Phật khi nhập Niết-bàn là không trở lại cái thân ruột, gan, phèo, phổi, mủ máu, một thân nước tiểu như mình nữa thì mới gọi là giải thoát sinh tử, không còn sanh ra để chết nữa.
Mình còn sanh dài dài, sanh hoài, sanh mãi mãi, nếu sanh ra mà được thân người như này thì cũng chịu nhưng không được con người, được thân con kiến, gián, chuột cống, thân con chó nhưng lại là chó ghẻ, thân con muỗi, con giòi nhưng dù sao vẫn đỡ hơn thân ngạ quỷ, cô hồn, quỷ đói vất vơ vất vưởng, không ai cúng cho ăn nên đói hoài, thậm chí có cúng cũng không ăn được. Cảnh địa ngục là không cần nói nữa, vô lượng vô biên thống khổ, chịu khổ hoài cho nên Thế Tôn mới cắt đứt cái hậu hữu, hữu ái. Hậu hữu là cái thân đời sau được ngài cắt đứt, ngài không yêu thích có thân, không mong muốn có cái thân nữa, ngài muốn chấm dứt, ngài muốn từ bỏ, muốn thoát ra, đây là chỗ thâm sâu mà có thể quý vị ít được nghe, cho nên cần nghe kĩ để biết được Đức Phật giải thoát cái gì.
Chỗ cao nhất của đạo Phật là cái đó, tức là không còn tái sinh trong lục đạo luân hồi nữa. Lục đạo là gì? Trời, người, A-tu-la, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. Mình chịu cái nào? Nói dễ hiểu là dạ xoa A-tu-la là thần đạo, có phước nhưng mà sân si lắm, chúng ta nhớ là trong 6 cái này là nó lòng vòng, không có khi nào chắc hết. Ví dụ bây giờ đang ở đỉnh cao chư thiên, thấy sướng quá, ăn rồi hưởng thụ rồi có khi tạo nghiệp, có khi trụy lạc bởi vì đâu có biết cực khổ, mê hưởng cái phước trong đó, trừ khi Thánh đệ tử Thiên, tức là chư thiên có học giáo pháp của Đức Phật thì gọi là Thánh đệ tử thiên, còn lại là phàm phu thiên, cứ hưởng hết phước rồi rơi xuống chỗ sâu nhất của lục đạo là địa ngục, cho nên trong 6 cái này không có cái nào bảo đảm hết. Thành ra người tu là muốn đi ra khỏi 6 cái này, muốn đi ra khỏi cái đó thì gọi là muốn giải thoát, muốn thoát ra, đi ra khỏi cái đó người ta gọi là viễn ly, muốn xuất ly, muốn thoát ly, muốn giải thoát. Đó gọi là chấm dứt sanh tử, tức là không đi vào 6 cái lòng vòng này
Ở dưới địa ngục bị hành hạ vô lượng, vô số, vô biên kiếp, tới chừng hết cái nghiệp địa ngục ngoi đầu lên thì làm chó, làm súc sanh, làm bò, là phải làm heo cho người ta cân ký, bán, cắt, mổ xẻ, thọc huyết, không thì làm trâu kéo cày, làm bò. Nhiều đời nhiều kiếp hết cái con bò mới ngoi lên, có khi là từ địa ngục lên ngạ quỷ rồi mới lên được súc sanh, có khi từ địa ngục lên thẳng súc sanh. Khi làm súc sanh bị đánh, bị đập rồi kéo xe chở nặng, có một hình ảnh hết sức xúc động là con ngựa kéo đồ nặng trong nó ốm yếu nên nó khụy xuống, ông chủ quất nó để nó đứng lên, nó ráng kéo một chút thì ngã xuống chết luôn. Cái này phản chiếu hình ảnh của mình chứ không phải ai đâu, trong cái vòng luân hồi này không phải tự nhiên ông chủ đánh nó, hồi xưa nó hành hạ ông nên bây giờ quay ngược trở lại nó bị đánh, cái vòng luân hồi cứ quay qua quay lại như vậy.
Mình ăn con gà, con vịt, mình mổ, mình xẻ nó, sau này nó ngoi lên làm người trong khi mình rơi xuống làm những con đó, gặp nhau là nó ngắm ngay mình "con này mới ngon", vài trăm kiếp sau nó thấy mình là "con này mới ngon nè, phải ăn sống, ăn tươi mới ngon". Luân hồi là cái vòng cứ quay tròn liên tục, mình ăn nó, nó ăn mình, mình giết nó, nó giết mình, mình chửi nó, nó chửi mình, mình đánh nó, nó đánh mình, mình mổ nó, nó mổ mình, mình cắt cổ nó, nó cắt cổ mình… cứ làm mãi như vậy thì gọi là luân hồi cho nên ăn chay sẽ tốt cho sức khỏe, rất dinh dưỡng cho nên phải cố gắng ăn chay trường, nếu chưa ăn được thì cố gắng nâng cấp lên để bớt cái nghiệp sát sanh. Con ngựa không đi nổi nữa mà vẫn bị đánh để bắt kéo hàng, cuối cùng chịu hết nổi nó chết ngay trên đường, mọi người đứng nhìn khóc vì thấy tội nghiệp nhưng không phải con ngựa mới vậy, con người cũng y như vậy, bị hành hạ, bóc lột sức lao động, một ngày phải làm việc 14 tiếng, 16 tiếng tới 18 tiếng. Ngày xưa làm nô lên, bây giờ cũng vậy, có điều mình không thấy không biết thôi chứ nó nhiều lắm.
Từ súc sanh ráng trả hết nghiệp làm bò kéo xe, trâu cày, làm thịt cho người ta ăn, bị mổ, bị thọc huyết rồi ngoi lên làm người bị đui điếc, câm ngọng, sanh ra bệnh đau, sanh ra bị ung thư. Cảnh luân hồi đau khổ vậy mà sao cứ mê hoài? Tham, sân, si không có chịu từ bỏ, quý vị đi vô mấy cái trại tâm thần thấy họ đứng chửi, một bà mẹ nuôi mấy đứa con bị bệnh tâm thần hai mươi mấy năm, mỗi ngày đưa thau cơm có trộn thuốc an thần trong đó, mỗi lần đưa cơm vào là những đứa con quăng cái thau đi, nó vừa chửi và đánh, từ những cảnh đó mới ngoi lên từ từ để được ngồi đây nghe pháp là phước báo rất nhiều nên chúng ta phải cố gắng tu tập. Vì vậy mới nói thân người khó được, gặp chánh pháp cũng khó được, quý vị được những cái khó được cho nên tại sao mà Minh Thành lần nào về cũng nhắc quý vị tu nhiều lên, tu nhiều lên, tinh tấn lên, tại vì mình sảy chân rơi xuống 3 đường ác là cả tỷ năm chưa ngoi lên được, đâu có dễ được đâu. Tại vì mình vô minh, si mê, mình không hiểu biết, mình không có con mắt thiên nhãn, Phật nhãn, thánh nhãn, pháp nhãn, tuệ nhãn cho nên con mắt của mình là con mắt thịt, mình thấy cái này là bình thường nhưng nó không có bình thường.
Mình phải gieo trồng rất nhiều thiện căn, phước đức, nhân duyên, rất nhiều thiện lành ở trong quá khứ nên bây giờ mình được ngồi đây, được nghe chánh pháp nữa thì quý vị nghĩ rằng cái phước của quý vị nó cỡ nào. Vì vậy phải trân trọng, cố gắng lên nữa, không có phung phí phước, không có hoang phí phước, không có lãng phí phước, không có phí phạm phước, Đức Phật nhìn thấy được cấu uế của cuộc đời này, những cái đó là từ cảm thọ tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái của mình, những cấu uế trong đời. Mình giống vậy, người ta cũng giống vậy, ngũ uẩn nào cũng giống vậy, đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã, hơn thua. Đó là cấu uế của mình rồi cấu uế của chúng sinh, Đức Phật là bậc tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, những cấu uế trong đời, tự mình thoát cấu uế, tự mình tẩy sạch tâm, cái này mới là tối thượng, cái này để cho chúng ta lạy.
Có khi mình nghe thì mình cũng hiểu tham, sân, si là xấu nhưng mình tẩy không nổi, thậm chí có muốn tẩy cũng không nổi, không có nỗ lực, chỉ tẩy một chút rồi bỏ. Ví dụ như bây giờ hết hai trang giấy bị dơ, mình lấy cục gôm lên tẩy tẩy vài cái rồi thôi, còn ngài tẩy sạch hết hoàn toàn cả một cái cuốn sách dày vô lượng vô biên kiếp, mình cứ tính một trang hay là một đời từ dưới này mà lên tới trên nóc chùa được ngài tẩy từng trang. Như vậy có xứng đáng để lạy ngài không?
Ngài sinh ra trong đời, ngài lớn lên trong đời nhưng ngài thoát khỏi đời, không bị đời uế nhiễm, chỗ này là chỗ tối thượng. Trong kinh Đức Phật hay lấy hoa sen làm ví dụ cho nên người ta mới để hoa sen dưới chân của ngài, còn trong kinh Nikāya không có để là ngài bước mỗi bước bông sen nở dưới chân, nhưng ngài giảng ngài hay nói về bông tai giống như hoa sen, sanh ra trong bùn, lớn lên ở trong bùn rồi lên trên mặt nước, vượt ra khỏi nước, hoa sen không có bị ô nhiễm bởi bùn, cũng không bị ướt bị nước nữa cho nên ngài lấy cái đó để ví dụ ngài sanh ra trong đời, ngài lớn lên trong đời mà ngài không bị đời làm ô nhiễm, ngài thoát ra khỏi đời, vì vậy ngày được gọi danh xưng là Đức Phật, bậc giác ngộ giải thoát. Con thật kính phục ngài, con thật kính ngưỡng ngài, con xin quy phục ngài, con xin đảnh lễ ngài.
Hôm nay chúng ta mới giải thích một chữ Phật thôi, thật ra có tới 10 đức hiệu, chúng ta mới giải thích sơ lược một chữ Phật có ý nghĩa như vậy, tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, những cấu uế trong đời, tự mình tẩy sạch những cấu uế.
"- Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích chấp giữ, thích thú chấp giữ, hoan hỉ chấp giữ, khi pháp không chấp giữ được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (VIII). Vi Diệu (2))
Phàm phu chúng sanh ưa thích nắm giữ, ưu thích chấp thủ, ưa thích gom góp, tích lũy nhưng khi Đức Phật ra đời giảng pháp buông xả, những chúng sanh nghe pháp này lại chấp nhận, họ lắng tai nghe, họ thành tựu trí tuệ và an trú tâm vào trong sự buông xả. Đây là điều vi diệu chưa từng có, chỉ có Phật mới có thể giúp chúng sanh xả bớt, chúng ta nắm giữ là khổ, chúng ta than khổ mà không chịu buông ra, xả bỏ. Bây giờ mình giận có phải mình nắm không? Bây giờ mình hơn thua có phải nắm chấp không? Nếu buông ra là khỏe rồi, quý vị buông được, xả được thì quý vị làm được việc vi diệu chưa từng có, người không biết tu làm không có được. Cho nên về núi là cứ xả vô lượng tâm, xả tham, sân, si, xả bản ngã, xả chấp thân.
"Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỉ kiêu mạn, khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (VIII). Vi Diệu (2))
Chúng sanh thích cao ngạo trong khi ngài dạy sống khiêm hạ, nhưng chúng sanh nghe pháp của ngài thì chấp nhận an trú tâm. Ai ở ngoài là cái gì không biết, lúc nào cũng phải tính toán kĩ lưỡng sợ thua thiệt nhưng khi vào gặp tượng Phật là chắp tay lạy, ở ngoài ta đây nhưng khi vào gặp Phật đều chắp tay nam mô rồi lạy xuống. Cái đó ngài dạy mình khiêm hạ, cung kính nhưng mình hiểu nhỏ quá, mình chỉ nghĩ là cung kính trước tượng Phật thôi mà mình không biết cung kính là đối với tức cả mọi người. Nhớ kỹ cái này, không phải chỉ cung kính trước bức tượng có tấm hình mà phải cung kính đối với tất cả những con người, khiêm hạ đối với tất cả mọi người, làm được cái này là mình làm được sự vi diệu chưa từng có cho nên trong đạo tràng Nikāya con cho các vị quỳ lạy xin lỗi với nhau, người tu thấy mình có lỗi là tự quỳ xin lỗi giữa đại chúng. Mình có lỗi thì xin lỗi, có gì đâu? Tại sao mình sĩ diện mình nói tôi hay, không thèm xin lỗi thì tới chừng nào hết lỗi? Cho nên phải khiêm cung, khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhã, năm khiêm hai khéo. Khéo suy xét mình, khéo nhìn thấy lỗi mình chứ không phải khéo nhìn thấy lỗi của người ta.
Từ cái khiêm hạ này lần lần mới tu được cái pháp diệt ngã, rồi mới đi tới cái vô ngã được. Cho nên phải sám hối diệt ngã, nếu không tu càng ngày bản ngã càng cao, lúc mới tu thì bản ngã nhỏ, ru riết bản ngã to ra, tu nữa bản ngã cao thẳng đứng luôn, như vậy là trật lất rồi. Đức Phật nói về cái pháp không kiêu mạn là cái pháp khiêm hạ, cái pháp diệt ngã, cái pháp vô ngã nhưng mà mọi người lại thích thú nghe, tâm họ chấp nhận, họ hoan hỉ và họ tu tập theo thì đây là điều mà vi diệu chưa từng có, chỉ có Phật xuất hiện trên thế gian này mới có thể làm được điều đó. Không ai nói nghe hết mà Phật nói lại nghe, không lạy ai hết nhưng vào thấy hình Phật, tượng Phật cũng chắp tay cúi đầu lạy vì công đức của ngài tu tập là chứng đắc vô ngã hoàn toàn cho nên tất cả chúng sanh là quy phục kính ngưỡng.
"Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỉ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (VIII). Vi Diệu (2))
Chúng sanh thích cái lăng xăng dao động lắm, ưa thích dao động, thích thú dao động, hoan hỉ trong dao động. Thế Tôn nói pháp an tịnh, trong khi ghi lại nhà vua đi vào thấy 1000 vị Tỳ-kheo ngồi im ru nên giật mình, nghĩ rằng người hầu ám sát vua vì có rất đông người mà không có nghe tiếng gì hết. Nhà vua bước vào thấy Đức Thế Tôn và Thánh chúng là sụp xuống lạy kính ngưỡng, muốn làm đệ tử.
"- Này khanh Jìvaka, sao ngươi lại yên lặng như vậy?
- Tâu Ðại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'. Ðại vương hãy đến chiêm bái Thế Tôn này. Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Ðại vương được tịnh tín.
- Vậy khanh Jìvaka, hãy cho thắng kiệu voi.
- Vâng, tâu Ðại vương.
Jìvaka Komàrabhacca vâng theo lời dạy của Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, sai người thắng năm trăm con voi cái, và con vương tượng vua thường cởi, rồi tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: 'Tâu Ðại vương, các kiệu voi đã sẵn sàng. Ngài hãy làm những gì Ngài xem là phải thời'. Khi bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha biểu các cung phi leo lên năm trăm con voi cái mỗi người một con, còn mình thì leo lên vương tượng vua thường cởi, xuất hành ra khỏi Ràjagaha, dưới ánh sáng của các ngọn đuốc được cầm cao, với oai nghi của bậc đại vương, thẳng tiến đến vườn xoài của Jìvaka Komàrabhacca.
Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
- Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.
Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà tròn. Khi đến nơi liền nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, Thế Tôn ở tại đâu?
- Tâu Ðại vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Ðại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng Tỳ-kheo.
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nhìn khắp chúng Tỳ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng: 'Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu-đà-di-bạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỳ-kheo này vậy'". (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa-môn quả)
Cho nên ở trong đạo tràng Nikāya là thực tập an tịnh, lắng dịu vì nó rất quan trọng, ở trên núi một trăm mấy chục người tu mà quý vị ở ngoài bước vô là tưởng không có ai hết, rất im lặng. Chừng nào vô thấy tới giờ tu mới nhìn thấy người đông, ngoài ra là im ru, thành ra con rất là thích cái an tịnh, lắng dịu, bởi vì mình lăng xăng, động loạn nên mình dễ tham, sân, si, dễ hơn thua, nói qua nói lại là có chuyện, ở đây ai cũng an tịnh, lắng dịu hết. Cái miệng muốn nói là tác ý an tịnh, lắng dịu xuống, trong nhà êm xui hết, đạo tràng bình an hết, trên dưới thuận hòa hết cho nên phải thuộc câu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào", đừng có quên, lúc nào thấy mình lăng xăng là niệm liền.
Đúng ra cái đặc sản ở trong chùa của mình là an tịnh, lắng dịu, người sau này không biết, cứ tưởng phải làm rầm rầm cho nhiều người chú ý, cái đó ngoài đời, đi vào trong chùa là người ta cần sự an tịnh, lắng dịu, trang nghiêm, thanh tịnh. Cái đó khắp hành tinh tìm không có, chỉ có đặc sản ở trong chùa, ở trong đạo tràng, ở trong thiền môn nghiêm tịnh mới tuyệt diệu. Mọi người phải nhớ điều này quan trọng và đem cái an tịnh, lắng dịu này về tập ở trong nhà, ở trong chỗ mình làm việc, tập luôn ở trong từng hơi thở, trong từng cảm giác của mình, tập luôn trong từng bước chân, trong từng lời nói, trong từng cử chỉ của mình nhẹ nhàng an tịnh, lắng dịu. Nếu làm được thì quý vị sẽ thấy phép lạ đặc biệt, khi cơn giận nổi lên là lập tức mình có sự an tịnh, lắng dịu, mình cho nó xuống liền vì mình đã thuần thục, còn quý vị cứ để cho nó bung ra thì nó cứ việc bung ra, rồi phiền não, sầu đau, bất an, bất hòa, bất trắc. Nhớ đặc sản này, đây là cái pháp vi diệu chưa từng có mà Đức Phật xuất hiện dạy cho chúng ta nên nhớ thực tập.
"Này các Tỳ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện.
Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (VIII). Vi Diệu (2))
Quần chúng đi trong bóng đêm, bóng tối, không thấy không biết gì về ngũ uẩn, không thấy không biết về những cảm thọ, không thấy không biết về tham, sân, si, không thấy không biết về vô minh, dục ái, bản ngã, không thấy không biết sự dao động của thân tâm mình là khổ đau, họ không thấy không biết nên trở thành mù quáng, trở thành bị che đậy, bị trói buộc ở trong cái bóng tối vô minh đó. Nhưng mà Đức Thế Tôn thuyết giảng cái pháp nhiếp phục vô minh thì những vị này này khéo nghe, lắng tai chánh trí an trú tâm. Đức Phật nói về trí tuệ, ánh sáng để soi thấy bóng tối vô minh, để tẩy sạch vô minh, để phá tan vô mình, để thắp lên ngọn đuốc, thắp lên quá ánh sáng, để cho mặt trời Thánh tuệ được chiếu sáng, rực sáng, chói sáng, bừng sáng, tỏa sáng trong thân tâm của mình và tất cả chúng sanh đều thấm nhuần được cái ánh sáng trí tuệ đó. Chúng ta thấy cái công đức của Phật vĩ đại chưa?
Như vậy ngày hôm nay là vào mùa Phật Đản, tất cả chúng ta hướng tâm về thánh tượng, hình tượng tôn kính của Đức Phật để mình nhớ nghĩ, học đức hạnh trí tuệ, từ bi của ngài, ân đức vĩ đại của ngài cho chúng ta và chúng ta cố gắng tinh tấn, siêng năng làm những cái điều gì mà Đức Phật đã dạy. Đó là sự cúng dường tối thượng trong tất cả sự cúng dường đối Như Lai, chính là sự thực hành pháp, thực hành đúng chánh pháp của Đức Phật, đó là sự cúng dường tối thượng trong một Phật Đản này.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.