Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Độc Cư Và Khổ Hạnh Của Đức Phật 4

2026-03-03 00:53:35
ĐỘC CƯ VÀ KHỔ HẠNH CỦA ĐỨC PHẬT 4.

ĐĐ. Thích Minh Thành giảng

Trong Tương Ưng Bộ kinh, tập 2, bài kinh "Tên trưởng lão", có một Tỳ-kheo tên là Theranàmaka sống độc trú, tức là ở một mình, vị này khen ngợi cái hạnh ở một mình. Đi vào làng khất thực một mình, đi về một mình, ngồi vắng lặng một mình, đi kinh hành một mình, lúc nào cũng một mình. Các vị Tỳ-kheo khác thấy như vậy mới đi đến bạch với Thế Tôn, Thế Tôn cho gọi vị ấy đến hỏi có đúng như vậy không thì vị này mới nói "Bạch Thế Tôn, đúng như vậy", Đức Thế Tôn nói tiếp:

Đấy là sống độc trú, này Thera, Ta không nói đấy không phải vậy. Này Thera, có một cách làm viên mãn độc trú với các chi tiết. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

Ở đây, này Thera, cái gì đã qua được đoạn tận; cái gì sắp đến được từ bỏ; đối với những tự ngã, lợi đắc hiện tại, dục tham được khéo nhiếp phục. Như vậy, này Thera, là độc trú được làm viên mãn với các chi tiết.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Ai chiến thắng tất cả,

Ai hiểu biết tất cả,

Ai là bậc Thiện trí,

Mọi pháp không ô nhiễm.

Ai từ bỏ tất cả,

Ái tận được giải thoát,

Ta nói chính người ấy,

Thật là vị độc trú. (Tập II.Thiên Nhân Duyên, Chương X.Tương Ưng Tỷ-Kheo, X.Tên Trưởng Lão)

Những câu này rất thâm sâu. "Cái gì đã qua được đoạn tận; cái gì sắp đến được từ bỏ; đối với những tự ngã, lợi đắc hiện tại, dục tham được khéo nhiếp phục", đại chúng hiểu câu này như thế nào? Lợi đắc là những cái lợi, mình nhiếp phục được dục và tham đối với những cái lợi mình có trong hiện tại. Cái gì đã qua rồi thì mình đoạn dứt hẳn. Cái gì sắp đến là mình từ bỏ, còn đối với cái gì trong hiện tại thì mình không tham muốn nữa. Như vậy mới gọi là sống một mình. Ai giải thích được chi tiết hơn?

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con xin phép trả "cái gì đã qua được đoạn tận; cái gì sắp đến được từ bỏ", hai câu này con thấy giống trong phần quán của Tứ Niệm Xứ. Cái gì đã trải qua rồi thì không truy cầu vào quá khứ, không mang những niềm hận, không sân si, ái dục, những cái này cần từ bỏ.

Nói cụ thể thì vợ; con; nhà là những cái đã qua, những cảm giác vui sướng khi mình ở bên gia đình là những cái đã qua thì phải đoạn tận. Đó là độc trú, là viễn ly. Mình không nuôi dưỡng những cái này nữa, những hình ảnh, suy nghĩ khởi lên, những cảm giác hiện về là sắc; thọ; tưởng; hành; thức của quá khứ, tất cả đều phải chặt đứt không còn gốc rễ. Còn các chú chưa có vợ thì hình ảnh người yêu hiện lên, những cảm giác khi nắm tay hiện về, lúc nói chuyện vui sướng… đều phải từ bỏ, vì mình biết nó là quá khứ. Này các Tỳ-kheo, phàm sắc; thọ; tưởng; hành; thức gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần là vô thường, là khổ, là vô ngã, là từ bỏ, đoạn diệt thì mới đi đến thắng trí giác ngộ Niết-bàn. Còn nếu những cái đó nó hiện về mà mình chìm vào đó, mình bị trói vào đó thì nó sẽ lôi kéo mình trở lại, làm cho mình phải thối đọa và ra khỏi chùa. Mình biết nó là sắc; thọ; tưởng; hành; thức của quá khứ, là những cái đã qua thì phải đoạn tận. Phải xóa tất cả từ điện thoại đến Facebook, tu rồi còn gì nữa mà đăng Facebook và Zalo, mình còn muốn trở lại đời nữa hay sao?

Chánh tri kiến của mình được sáng tỏa sẽ thể nhập vào dòng trí huệ thì lúc đó sẽ đoạn tận tất cả. Ai muốn chụp hình, muốn đăng cái gì tùy người ta, mình không cần đăng, không cần chụp. Những gì thuộc về quá khứ thì nên để lại quá khứ, hãy để quá khứ ngủ yên, nếu vẫn còn nhớ nhung thì rất nguy hiểm. Mình phải biết, phải soi rọi, dùng con mắt Dương Tiễn nhìn vào nó, không để nó dẫn dắt mình thì như vậy mới gọi là "cái gì đã qua được đoạn tận". Những câu nói, những hành động đã qua mà nhớ lại cảm thấy bực bội thì cũng phải đoạn tận. Đã qua rồi thì không còn bực tức, không còn tham, không còn nhung nhớ nữa. Đây là nhất đao lưỡng đoạn, là thanh gươm trí huệ, không còn vương vấn nữa chứ nếu không cứ lâu lâu lại nhớ đến thì mình cứ nuôi dưỡng cái thọ đó, nuôi dưỡng những cảm giác, nuôi dưỡng những nghĩ tưởng thì sẽ có lúc nó dẫn mình đi sai đường, phải diệt trừ từ trong trứng nước.

"Cái gì sắp đến được từ bỏ", ví dụ tết sắp tới thì nôn nao, thọ; tưởng; hành hiện khởi tùm lum. Từ bỏ! Xuân đến rồi lại xuân đi, mình không có vẽ vời gì ở đây hết. Có một cô đang tu ở đây, cô này có một người em từ Pháp trở về. Cô này nghĩ thứ ba này thầy về núi thì gọi báo con về cùng thầy nhưng thầy từ chối, lúc trước thì đúng là thứ ba về nhưng sau này chủ nhật với về. Cái pháp nó vô thường mà tại sao lại nghĩ nó thường như vậy. Mình đừng nghĩ lúc trước nó như vậy, bây giờ cũng như vậy và sau này cũng thế, lúc đó còn đi dạy thì thứ ba về còn bây giờ không còn đi dạy nữa thì không còn thứ ba nữa. Nhiều khi các chú đi với thầy được nữa đường gặp trời mưa thì "chết rồi làm sao về tới nơi", thầy bảo "không có chết, còn sống nhăn răng ra đây, về tới nơi rồi tính". Cái gì sắp đến thì từ bỏ, không được tưởng này tưởng nọ, tưởng thầy về la nhưng thật ra thầy tặng quà, rồi tưởng kì này thầy về có quà thì lại bị la, trật lất hết. Không có sống với tưởng mà hãy sống với thực pháp, tới lúc đó thì nó diễn ra. Cái tưởng của mình hay đi theo hướng tiêu cực, làm cái gì cũng nghĩ là làm không được, đây là đại chướng ngại cho mình. Mình phải đổi tư tưởng, không có cái gì làm không được thì mình mới trở nên mạnh mẽ, thầy hỏi các chú bây giờ cho ra thác Dambri hay suối Bát Nhã tắm các chú có làm được không? Đi chơi thì phải được. Hoặc là tối nay ngồi thiền sáng đêm có được không? Có gì đâu mà không được? Phải được hết vì mình biết thầy dạy cho mình những cái tốt, dạy những thiện pháp chứ không dạy cái xấu.

"Đối với những tự ngã, lợi đắc hiện tại, dục tham được khéo nhiếp phục". Chữ "khéo" này rất thâm sâu, phải có trí huệ để nhận ra lúc đó có dục tham không ngay trong cái pháp hiện tại. Đối với tự ngã là đối với chính mình, những cái mình được lợi trong hiện tại thì phải khéo nhiếp phục được dục và tham. Vì đây là văn của Pali khác với ngữ pháp Việt Nam, mình đọc phải đảo lại mới dễ hiểu "đối với chính mình những cái được lợi trong hiện tại thì mình khéo léo nhiếp phục dục và tham". Những cái gì mình được lợi trong hiện tại thì mình phải xem có dục tham không để mình nhiếp phục vì dục tham là khổ. Mình có dục tham đối với cái đó mà cái đó bị hư hao hay biến đổi là mình khổ. Mình nói thực tế ngoài đời sống, bây giờ mình thích đôi dép mới nhưng bị mất ngay đôi dép đó hoặc là mình rất thích cái áo mà có ai lấy mất thì mình có khổ không, đây chỉ mới nói những cái nhỏ nhỏ ngoài thân, đừng nói chi đến con người, nếu mất người đó có thể mình sẵn sàng chết theo người đó, cho nên có dục tham ái đối với cái gì là mình khổ với cái đó. Vì thế mới gọi đây là cái pháp ly tham tối thượng, nghĩa là mình không còn tham muốn đối với bất kì cái gì thì còn gì làm mình khổ nữa? Tất cả những cái đó biến hoại vô thường thì mình vẫn bình thường, mình còn tham một cái gì thì cái đó sẽ làm mình khổ. Thành ra đây là định lý ngàn đời thiên thu, ly tham của đạo Phật bằng trí huệ khác với ly tham của ngoại đạo. Ly tham của ngoại đạo là ráng kiềm lại để không còn ham muốn nữa nhưng vẫn thấy cái đó là đẹp, là tốt. Ly tham của đạo Phật là bằng trí huệ hiểu biết, từ trí huệ đó làm cho mình không còn ham muốn, nhàm chán, rồi ly tham. Cho nên cái lìa tham này rất rốt ráo, triệt để, như vậy mới giải thoát. Còn cái kia là ráng ép xác khổ để đừng thấy ai, đừng gặp ai hết, bởi vì gặp là tiếp xúc, mà tiếp xúc sẽ sanh thọ rồi từ thọ sanh ái, ái sanh ra thủ rồi khổ cho nên không gặp một ai. Không phải như vậy, đúng là giai đoạn đầu thì đúng như vậy nhưng giai đoạn sau là cần quán chiếu để thấy được bản chất mình tiếp xúc là cái gì. Chính là tứ đại, là ngũ uẩn, cho nên cần chánh tri kiến để quán chiếu, để thấy được bản chất của nó, khi mình tiếp xúc nhưng có phòng hộ trong ngoài, tu nhều cách như tám mặt của Bát Thánh Đạo, từ đó mới có thể thành tựu thánh quả. Còn cái kia chỉ có một cách đối trị là tránh duyên thì không đủ, tránh duyên nhưng trong tâm còn yêu thích, còn khao khát, còn muốn thì làm sao giải quyết được vấn đề? Cho nên phương pháp quán bất tịnh là tuyệt vời, mình xuyên thủng và phá được vô minh, đi đến tận cùng của tuệ giác thì mới ly tham triệt để.

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kích bạch sư phụ, quý thầy cùng toàn thể đại chúng. Mỗi ngày con được nghe pháp của sư phụ thì thấy mình càng phải học nhiều hơn, tu nhiều hơn, sự hổ thẹn càng lúc càng tăng. Con thấy mình cần có những thời pháp tinh tấn hơn nữa để mình không hối tiếc như sư phụ nói không biết mình chết lúc nào, tuổi nào, và chết như thế nào nên giờ mình phải cố gắng hơn nữa, tu hết mức có thể để có thể đạt được trí tuệ mà Đức Phật đã truyền trao và gửi gắm vào pháp.

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bái bạch sư phụ, con kính thưa quý thầy cùng toàn thể đại chúng. Cứ sau mỗi bài pháp của sư phụ thì con lại thấy sự vi diệu của pháp, nó thúc đẩy mọi mặt, từ sự tinh tấn, sự chuyển đổi đến những cái tưởng, cái hành cũng được tích cực hơn. Con thấy bài pháp ngày hôm nay sư phụ nói nhiều về mọi mặt vấn đề của quá trình tu tập, từ việc từ bỏ những việc trong quá khứ mà trước đây ta đã cho rằng nó là của ta, thuộc về ta cho đến việc không hoan hỉ với sắc của tương lai, không hoan hỉ với thọ; tưởng; hành của tương lai, phải luôn có chánh niệm tỉnh giác trong giây phút hiện tại. Ngoài ra còn quán xét lại sự tu tập của mình đã đúng hay chưa, đã nhiệt tâm tinh cần hay chưa, hay vẫn buông lung phóng dật, nên từ bỏ việc hơn thua, không cõng theo thù hận mà cần phải đoạn diệt nó. Cần phải sử dụng các công cụ, các phương diện để đoạn trừ tham sân si. Đặc biệt sau mỗi bài pháp của sư phụ, bản thân con thấy vi diệu hơn trong cách đối nhân xử thế. Trước đây tâm bồ đề, tâm giải thoát, tâm tiến đến đạo quả vô thượng bị gập gềnh vì các nghiệp duyên đến nhưng giờ đây mình phải trực tiếp đối diện với nó thì mới không phụ công ơn của sư phụ đã dày công chỉ bảo và truyền trao chánh pháp cho con cùng các huynh đệ.

Những gì mình được lợi trong hiện tại mình phải khéo nhiếp phục dục tham. Đều này rất quan trọng. Thông thường mình sẽ nghĩ quá khứ đã đi qua, tương lai thì chưa đến, còn ngay trong hiện tại có dục tham không thì mình phải khéo léo thu phục. Ví dụ mình thấy lên núi không khí mát mẻ, núi đồi bao la, trà xanh trúc biếc, mây trắng bay, cơm này 3 bữa, giờ ngủ thì ngủ, giờ học thì học, giờ thiền thì thiền vậy là mình hài lòng mà không biết rằng trong sự hài lòng này có ái. Nếu mình an tâm, hài lòng với những điều đã có thì cái chí nguyện mãnh liệt để mong cầu ra khỏi năm uẩn bị thui chột, vì vậy đối với những cái lợi ích của chính mình ngay trong hiện tại thì phải khéo nhiếp phục. Nếu mình ưa thích, bằng lòng thì mình đang bị dục tham và ái điều khiển, chính cái ái, cái dục tham làm mình chững lại không tiến lên được trong pháp và luật của Như Lai. Đó là lý do trong Bát Chánh Đạo có chánh tinh tấn, nghĩa là người tu phải tiến lên chứ không được đứng lại, tiến lên chỗ dọn sạch các lậu hoặc, "này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một trong các thiện pháp" (Tăng Chi Bộ, Chương X.Mười Pháp, VI.Phẩm Tâm Của Mình, III.Đứng Một Chỗ). Mình không được dừng lại, đứng yên một chỗ đối với thiện pháp, tuy rằng đây là thiện pháp so với với mình lúc chưa xuất gia nhưng vẫn là bất thiện pháp vì mình chưa thanh lọc sạch hết các lậu hoặc, các kiết sử, chưa tháo gỡ được các ràng buộc trong nội tâm của mình. Mình nhìn lại trong tâm mình vẫn còn những cấu uế thì như vậy không phải là thiện pháp rốt ráo, mà đây chỉ là một phần của thiện pháp, vậy thì tại sao mình lại hài lòng?

Bảy pháp thù diệu rất là đặc biệt, cho nên mình phải cố gắng học, đừng bao giờ có tư tưởng "Học bao nhiêu đó đủ rồi, học nhiêu đó tu còn chưa xong thì học nhiều làm gì nữa". Không được suy nghĩ như vậy mà phải học thật nhiều thì cái thấy của mình mới viên mãn, mới thâm sâu và toàn diện thì khi mình ngồi quán hoặc tiếp xúc với cảnh bên ngoài thì mình mới có đầy đủ phương tiện, có nhiều cách thức quán chiếu để vận dụng tâm. Vì thế sự tu học của mình phải thâm sâu và rộng lớn.

Này các Tỳ-kheo, có bảy sự thù diệu này. Thế nào là bảy?

Tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp; tha thiết quán Pháp và trong tương lai khát vọng quán Pháp; tha thiết nhiếp phục lòng dục, và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục; tha thiết Thiền tịnh, và trong tương lai khát vọng Thiền tịnh; tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn; tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ; tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến.

Này các Tỳ-kheo, đây là bảy căn bản để được tán thán (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VII.Bảy Pháp, II.Phẩm Tùy Miên, VIII.Sự Thù Diệu).

"Tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp". Học cũng phải tha thiết và hành cũng phải tha thiết chứ không phải lên bồ đoàn ngồi một cách nặng nề, mệt mỏi, ngồi cho xong giờ. Mình phải yêu thích giờ ngồi thiền, hân hoan và mong đợi được ngồi thiền, mong được được nghe pháp, mong đợi được hành trì pháp học và pháp hành. Hành trì học pháp là mình thực tập những cái mình đã học. Không những khao khát mà còn phải khát vọng nữa, đây chính là dục như ý túc, là sự khao khát, thích thú trong sự tu học.

"Tha thiết quán Pháp và trong tương lai khát vọng quán Pháp". Ngay trong hiện tại đã tha thiết quán pháp nhưng khát vọng trong tương lai cũng được quán pháp. Quán chiếu những cái pháp mà mình đã học.

"Tha thiết nhiếp phục lòng dục, và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục". Phải tha thiết mới nhiếp phục được lòng dục, còn không tha thiết là làm không nổi vì cái dục rất mạnh, nó là con thú vật hành hạ, sai khiến mình. Phải khao khát, khát vọng diệt tận được nó, phải làm cho nó nghe lời mình, bắt nó khuất phục mình.

"Tha thiết Thiền tịnh, và trong tương lai khát vọng Thiền tịnh". Tha thiết được yên tịnh.

"Tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn". Tinh cần, tinh tấn tu học, vượt qua mọi cái tê nhức, mỏi mệt của bản thân.

"Tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ". Có chánh niệm về trí huệ, suy niệm về trí huệ, quán niệm về trí huệ. Nghiềm ngẫm cái vô thường, khổ, vô ngã của năm uẩn để xuất ly khỏi nó, suy tầm về sự thoát ra.

"Tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến". Phải tha thiết làm sao cho mình thể nhập được cái tri kiến của bậc thánh, cái thấy biết của Đức Phật, cái thấy biết của trí huệ. Phải thiền, phải nghe pháp, phải học thuộc kinh tạng. Vì thế khi xả thiền lúc 8h30, là phải học kinh đến 9h30, mạnh ai nấy cầm cuốn kinh học thuộc lòng. Khao khát, tha thiết, khát vọng để thể nhập được tri kiến của bậc thánh mới giải quyết được mọi vấn đề, không thành tựu chánh tri kiến là cuộc đời này không có gì đáng giá, một khi mình ra đi chỉ có nghiệp quả theo mình. Phải học cho tới nơi, tối thiểu phải hướng Dự lưu hoặc Dự lưu quả, phải xác quyết con đường này. Thấy biết chân chánh về thân tâm, về cuộc đời này, không còn yêu thích bất kì cái gì trên đời này nữa, nếu lỡ còn những tập khí này thì từ từ nó sẽ lụi tàn. Cứ học kinh, nghiềm ngẫm, và quán chiếu liên tục thì nó cũng sẽ tàn rụng. Đây là bảy sự thù diệu của người tu.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.