Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Hành hương học đạo

2026-03-03 00:53:36
HÀNH HƯƠNG HỌC ĐẠO SINGAPORE

TRÁI TIM TỪ BI

Thích Minh Thành

Mục Lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhĩ thức: PAGEREF _Toc47172150 \h 1

II. Ý nghĩa giây phút hiện tại: PAGEREF _Toc47172151 \h 4

III. Tu hành sâu và rộng: PAGEREF _Toc47172152 \h 5

I. Nhĩ thức:

Kính thưa quý Phật tử, bài viết này được hình thành dựa trên buổi chia sẻ “Hành hương học đạo Singapore – Trái tim từ bi” của Minh Thành giữa núi rừng đơn sơ, mộc mạc với tiếng côn trùng vo ve ngoài ô cửa, với tiếng phong linh trong gió, với tiếng chuông ngân vang… Đối với đại chúng có mặt ngày hôm đó, đây là khoảnh khắc kỳ diệu, nhiệm màu; tuy nhiên đối với một số người với thói quen sống yên tịnh lại cảm thấy những âm thanh nơi đây ồn ào, khó chịu; họ nghĩ rằng những âm thanh côn trùng này làm mất đi sự yên tĩnh nơi đây.

Kính thưa quý Phật tử, rất khó để được nghe những âm thanh thiên nhiên ban sơ của thiên nhiên ngày hôm đó, những thứ âm thanh không thể tìm được ở Sài Gòn, ở nơi phố chợ phồn hoa hay những đô thị tấp nập; thậm chí có những người tha thiết được nghe những âm thanh này đến mức phải tìm kiếm (thu âm) rồi phát lại trong khi ngủ, lúc thư giãn. Chẳng hạn trong các bài nhạc thiền có những đoạn phải lồng ghép vào đó tiếng nước chảy, tiếng ruối reo, tiếng chim hót; bởi vì đối với những người không được tiếp cận, những âm thanh này mang lại một vẻ tự nhiên, ban sơ và thư thái. Tuy nhiên cũng có người sống ngay cạnh dòng suối lại cảm thấy khó chịu, muốn rời xa. Các hành động này đều không phải là trung đạo, không phải là tùy duyên. Những âm thanh của thiên nhiên này, nếu thực tâm lắng nghe ta sẽ cảm giác được sự đặc biệt, du dương, ban sơ, thuần khiết…

Ngoài âm thanh của côn trùng, còn có tiếng phong linh theo gió, tiếng chuông ngân vang của thiền đường; những âm thanh này trầm bổng du dương vang vọng giữa núi đồi, có khả năng mang lại sự bình an, thư thái cho tâm hồn. Có câu tại nhĩ thức (sự nghe) của mỗi người chúng ta đã chứa đựng cả một thế giới, chứa đựng cả càn khôn (trời đất).

Một cá nhân không có sự thực tập tu dưỡng, sự nghe của họ đôi lúc (hay thường thường) đưa đến sự khó chịu từ đó sinh tâm chống đối, chống cự, bài xích. Một người hiểu và biết lắng nghe trong sự chánh niệm, tỉnh thức thì tại sự nghe này của họ mở ra một thế giới, “thế giới của thực tại”. Có câu “Nhất diệp nhất thế giới, nhất hoa nhất Như Lai.”; chính vì vậy mà nếu chúng ta biết lắng nghe thật tâm, biết quán sát như thực thì có thể nhận ra trong mỗi chiếc lá chứa đựng một thế giới, mỗi đóa hoa là một vị Như Lai, mỗi hình sắc, mùi hương đều chứa đựng trong đó sự thật.

Vì không có sự tu học nên bất kỳ điều gì, từ sự nghe, sự nhìn của họ có khả năng đưa đến khổ đau; vì khổ đau mà họ bài xích vật này, tham đắm vật kia, đứng núi này trông núi nọ, lúc đạt được rồi thì sinh nhàm chán, muốn tìm đến những thứ mới lạ hơn. Chính bởi vì, hình thái vận hành của ý thức, cấu trúc của tâm tưởng chúng sanh không chấp nhận thực tại, luôn nghĩ về quá khứ hay hướng đến tương lai xa xôi. Cả một cuộc đời lẩn quẩn, tất bật tìm kiếm sự thỏa mãn nhưng chưa một lần chạm đến. Cứ mãi hướng ra bên ngoài, lăng xăng đi tìm sự thật nhưng hoài không gặp, không biết rằng điều họ đang mong cầu đang ở ngay trước mắt, ngay trong giây phút hiện tại; người cầu đạo không biết “Đạo, là giây phút hiện tại vậy.”.

Bằng sự chánh niệm tỉnh thức sâu sắc, như thật lắng nghe những âm thanh xung quanh, lắng nghe tiếng côn trùng, phong linh, tiếng chuông ngân, gió lay, lắng nghe âm thanh đung đưa của nhành cây ven đường, tiếng chim hót vang.. mà đi đến chỗ nghe được âm thanh không có tiếng nơi tâm hồn, còn được gọi là “vô thanh”. Bình thường, sự nghe của chúng sanh chỉ nhận ra được những thứ thành tiếng mà thôi, nhưng bằng sự tu tập ta sẽ đi đến nơi nghe được “vô thanh” của nội tâm. Đôi lúc, người thường cũng nghe được điều này, nhưng là âm thanh của phiền não, “vô thanh” của buồn phiền, tức giận, tham muốn; càng nghe càng nhiều sầu, bi, khổ, ưu, não; mục đích của sự tu hành là nghe được “pháp âm”.

Ta cần phải biết trân trọng sự nghe của bản thân nói riêng và tất cả những gì mình đang sở hữu nói chung; nhưng vì không chánh niệm nên ta không biết trân quý những điều này. Cần phải quán chiếu rằng, những người điếc đối với sự nghe là một ao ước không bao giờ chạm đến được, vì nhớ đến sự đau khổ của người điếc mà ta khởi lên lòng thương xót đối với những người này và hạnh phúc đối với sự lành lặn của bản thân. Trân trọng từng âm thanh, tiếng nói, tiếng cười, những gì đang diễn ra ở giây phút hiện tại. Mỗi khi cảm thấy chán nản, hãy nghĩ đến những cảnh mù lòa (do bẩm sinh, do tai nạn hay bệnh tật) cả đời không được thấy hình ảnh một bông hoa, cảm thấy hạnh phúc vì bản thân được nhìn thấy. Cần phải luôn luôn thực tập như vậy.

II. Ý nghĩa giây phút hiện tại:

Khi thường xuyên thực tập quán chiếu sự thật này, ta sẽ cảm thấy hạnh phúc trong từng bước đi, trên môi luôn mỉm một nụ cười biết ơn; hạnh phúc vì bản thân có đôi chân lành lặn, đôi mắt sáng trong, đôi tay vẹn toàn… Từ đây mỗi hành động, giây phút của ta đều trở nên đặc biệt, quý báu; ta biết cảm nhận, biết trân quý giây phút hiện tại. Chính bởi vì điều này mà thiền tông có câu “Ngay đây, chính là đó.”, và hòa thượng Làng Mai đặt trên trang web và tại nơi thiền viện một dòng chữ tiếng anh lớn với đại ý rằng: Xin chào mừng bạn đến với xứ sở của giây phút hiện tại.

Trong kinh tạng Pali cũng có câu “Hiệp pháp lạc trú”, nếu giây phút hiện tại ta không biết trân trọng thì sự tu hành không thể đi đến rốt ráo. Giây phút hiện tại là nơi y cứ, là nơi lập cước, là điểm tựa cho bản thân đặt chân bước tiếp. Giây phút hiện tại có khả năng giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống, nếu ta biết vững vàng, như thực đứng ở giây phút hiện tại; như vậy sự tu hành của ta mới được tiến tới. Nếu không ta sẽ bị đánh lừa bởi chính tâm của mình, ở sự nuối tiếc quá khứ, mong đợi tương lai xa xôi, cứ mãi hẹn gặp “hạnh phúc” ở ngày mai, tuần sau, tháng sau, năm sau; và mãi đến khi già, đến khi mạng chung hay kiếp sau ta vẫn không được thỏa mãn.

Khi thực tập nhận biết một cách bình tĩnh, chú tâm thời ta có thể cảm nhận được nhiều phương diện, khía cạnh (mà bao lâu nay ta quên lãng) ngay trong giây phút hiện tại, tiếp cận với suối nguồn an lạc của đời sống. Dù đi đến đâu đi chăng nữa, sự tu học của chúng ta cũng phải luôn luôn như vậy; để rồi nhận ra rằng, giây phút hiện tại là duy nhất, dù ở Mỹ, Tàu hay Úc, không bám chấp vào bất cứ điều gì ở quá khứ hay tương lai; bất kỳ ở đâu cũng chỉ có giây phút hiện tại là chân thực; không nơi nào lìa khỏi giây phút hiện tại, chúng ta phải quyết tâm nắm lấy giây phút này, như thực sống trong đó.

III. Tu hành sâu và rộng:

Ở trên là bàn về chiều sâu của sự tu hành, ở phần này Minh Thành mạn phép bàn về sự tu học một cách rộng rãi. Với 100 quyển đại trí độ luận của Bồ Tát Long Thọ chú giải kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa được cố Hòa Thượng Thiện Hạ Siêu phiên dịch; các vị cao đức tóm thâu tất cả trong bốn chữ “Thâm quán quản hạnh”; tức nhìn sâu làm rộng. Từ câu kệ cốt lõi này, bàn về sự tu học, chúng ta cần phải quán chiếu sâu sắc để nhận rõ được bản chất rỗng không của vạn pháp, chỉ có giây phút hiện tại này mà thôi, đây là “Thâm quán”; “Quản hạnh” tức hành động của chúng cần phải được thực hiện một cách rộng rãi, bao la.

Trong chuyến thỉnh giảng tại Singapore, Minh Thành đến chùa Phật Nha (tức chùa răng Phật), ngôi chùa cao lớn, tầm vóc nhất ở trung tâm của nước này, nằm kế bên phố Tàu (China Town). Khi lên đến tầng cao nhất, có bốn chữ Linh Quang Bảo Điện, đây là nơi Minh Thành cảm thấy ấn tượng nhất, nơi tôn trí xá lợi là răng của Đức Thế Tôn được đựng bằng mâm vàng nạm ngọc, có người đứng canh giữ; rất trang nghiêm, lại có chỗ cho du khách ngồi thiền; cực kỳ linh thiêng, sáng suốt.

Cũng trong chuyến đi này khi đến Hội Từ Tế, để lại một ấn tượng cực kỳ sâu sắc, khi quý Tăng vừa bước đến, tất cả những người nơi đây, từ người quản lý đến những vị Phật tử xếp thành một hàng lạy xuống dưới chân quý thầy ngay tại nền đất dơ bẩn với một thái độ cung kính, hết sức chân thành. Các vị này tiếp đại chúng tăng tận tình không rời một giây phút nào, luôn luôn có người hướng dẫn, giải thích mãi đến lúc quý thầy lên xe mới thôi. Quý Phật tử cần phải hiểu một điều rằng, ở các nước phát triển, thời gian của mọi người rất được xem trọng và quý gá nhưng họ vẫn nhiệt tình tiếp đãi quý thầy bằng nhiều thời gian như vậy; ấy thế mà ngay tại Việt Nam, mỗi khi có khách đến chúng ta vẫn không thể tiếp đón bằng một nửa sự chân thành của những người ở Hội Từ Tế. Ta cần phải học hỏi ở những vị này sự chu đáo, đạo tiếp đãi khách hay tiếp khách chi đạo. Ở Việt Nam, lắm lúc khi khách đến tìm nhưng ta lại lánh mặt đi nơi khác, ngại nhọc công, ngại phiền phức, đứng trên phương diện của thế gian, hành động này đã được xem là thất bại thì không thể bàn trên phương diện của người tu hành.

Càng gặp gỡ, tiếp xúc, thỉnh giảng nhiều nơi Minh Thành càng cảm nhận sâu sắc hơn sự cao quý cùng cực của Bồ Đề Tăng; với tâm mong cầu giác ngộ, mong cầu sự hạnh phúc đến tất cả mọi người; đây quả thực là “thế gian chí bảo”, tấm lòng quý báu nhất hành tinh, với những ai có tấm lòng này thời người đó đang sở hữu báu vật lớn nhất, hơn mọi kho tàng. Chính vì vậy, mỗi người chúng ta cần phải tác ý để phát khởi tâm này, tưới tẩm, nuôi dưỡng tâm này cho lớn mạnh cùng cực. Tất cả mười phương Chư Phật đều có Bồ Đề Tâm này, đây là chúa tể của tất cả công đức, phước lành.

Trong Phật Quang Thái Căn Đàm, Hòa Thượng Tinh Vân viết rằng: Người bỏ qua sự lợi ích của người khác là tiểu nhân. Người xem trọng lợi ích của chính mình là phàm nhân. Người vượt khỏi lợi ích riêng tư của mình là vĩ nhân. Và người quên đi lợi ích của chính mình là thánh nhân.

Theo đó, người nhỏ nhen là người bỏ qua lợi ích của người khác, xem thường lợi ích của người khác, không quan tâm đến cảm nhận, suy nghĩ của những người xung quanh. Phàm nhân là những người chỉ chú trọng lợi ích của bản thân mình. Vĩ nhân là người bỏ qua lợi ích bản thân, hướng đến lợi ích chung, an vui của mọi người; đây là người có tầm vóc lớn lao, nhất định họ sẽ lãnh đạo, gánh vác cho đạo tràng, đại chúng. Cuối cùng, thánh nhân là người bỏ lại đằng sau, không màng đến lợi ích của chính mình; không còn tự ngã của bản thân nữa; để làm được điều này, ta cần phải quán chiếu rằng không có gì là tôi, không có gì là tự ngã của tôi, thường thường quán chiếu như vậy thời ta đạt được đến chỗ chí cùng chí cực này của sự tu hành. Nếu chưa đến thì ít nhất cũng đạt đến nơi bỏ qua lợi ích riêng tư của bản thân, nghĩ đến lợi ích chung, là bậc vĩ nhân vậy.

Không phải tự dưng mà một người được tôn là thánh nhân, tất cả đều bắt đầu từ chỗ quên mình giúp người, luôn luôn nghĩ đến mọi người mà bỏ qua lợi ích của bản thân. Cũng vậy, Bồ Tát không tự tuyên bố rằng “Tôi là Bồ Tát” mà chính nằm ở lời nói, hành động, tấm lòng luôn nghĩ đến lợi ích, an vui cho mọi người thời được chúng sanh tán thán là Bồ Tát, là cha lành, mẹ hiền của nhân loại.

Quay lại vấn đề của Hội Từ Tế, khu nhà của hội ở Singapore chỉ là một chi nhánh nhỏ vừa được thành lập vài năm; trụ sở bản sơn đạo tràng nằm tại Đài Loan. Hội Từ Tế có một lịch sử khởi nguồn cực kỳ bất ngờ, khi hội được thành lập từ tiền tích góp trong ống tre của 30 bà nội trợ. Từ 30 ống tre với đầy những đồng tiền lẻ này mà bây giờ hội đã phát triển, trải rộng đến hơn 90 quốc gia trên thế giới. Khi bước đến cổng Từ Tế, mọi người được xem một đoạn phim ngắn trong đó là hình ảnh từng giọt nước nhỏ trên mặt hồ nước lan tỏa một sóng nước lớn; với ý nghĩa rằng tất cả những sự lớn lao đều được bắt đầu từ những điều nhỏ nhất, nhiều giọt nước nhỏ có thể tạo thành một hồ nước lớn; từng hạt cơm tuy là ít nhưng sau khi gom góp có thể cứu khổ khắp những nơi đói khổ trên hành tinh này.

Có một câu chuyện đã trở thành lịch sử của hội Minh Thành mạn phép kể ra ở đây: Ngày trước khi vác gạo từ thiện, người khuân vác vô tình để rơi xuống đất vài hạt; lúc bấy giờ có một vị trong hội nhặt những hạt gạo rơi vãi này lên bỏ vào nồi cơm đang nấu của đại chúng. Lúc bấy giờ, vị này bị nhắc nhở rằng tuy hành động nhặt gạo là đúng, nhưng bỏ vào nồi cơm của đại chúng là sai; vì gạo này là gạo từ thiện, gạo cứu trợ cho người nghèo chứ không phải thứ gạo mà đại chúng có thể dùng; làm vậy là vi phạm giới luật. Kể từ đó, để nhắc nhớ câu chuyện này, hội Từ Tế đặt ở nơi đó hình ảnh một thúng gạo; nhắc nhở người học đạo kỹ lưỡng, thận trọng trong từng hành động của mình.

Từng hạt gạo, từng giọt nước có thể làm nên kỳ tích vĩ đại, Hội Từ Tế từ 30 ống tre có thể đi đến hàng trăm quốc gia như ngày nay. Chiêm nghiệm điều này để nhận ra rằng, trong công phu tu tập của mỗi người chúng ta, cần phải chú trọng những điều dù là nhỏ nhặt nhất; bởi chính những thứ đơn giản này mà ta không làm được thì không thể nào có đủ năng lực, nghị lực để hoàn thành những điều lớn lao.

Trong sự tu hành, có rất nhiều người lánh nặng tìm nhẹ, tiêu xài hoang phí, trông thấy huynh đệ cực khổ nhưng vẫn trơ mắt ngồi nhìn; những hành động này vô tình hủy hoại phước đức, không thể nào đưa đến rốt ráo thành tựu. Có câu con đường vạn dặm bắt đầu từ bước chân đầu tiên, cũng vậy thành tựu to lớn bắt nguồn từ những thành tựu nhỏ; chỉ cần quan sát cách một người ứng xử hằng ngày có thể biết được tương lai, sự tu dưỡng cả đời của họ. Ta cần phải biết trân trọng những thứ nhỏ nhặt, trân quý từng giây phút của bản thân; không để phí phạm bất cứ một chút nào.

Chẳng hạn về buổi trò chuyện với thầy Từ Bi Nguyệt, sau một ngày dài dẫn dắt đại chúng trong chương trình bắt đầu từ ba giờ sáng, đến lúc chiều Minh Thành thưa hỏi với thầy Từ Bi Nguyệt (năm nay đã hơn 40 tuổi) rằng thầy có cảm thấy mệt không; thời bấy giờ thầy trả lời với đại ý rằng: bây giờ không biết bản thân còn sống được bao lâu nữa, quỹ thời gian còn lại rất ngắn, chỉ biết cống hiến hêt sức mình. Thật vậy, chúng ta dành 1/3 cuộc đời mình để nghỉ ngơi và ngủ; những vị năm nay 50, 60 tuổi thì đã đi qua hơn 8 phần cuộc đời; nên quỹ thời gian còn lại của mỗi người chúng ta không còn nhiều, ngày càng rút ngắn, càng cạn kiệt; thật đáng tiếc nếu đến lúc nhắm mắt xuôi tay mà ta vẫn còn trong vô minh chưa tỉnh ngộ; vậy nên chúng ta cần dốc lòng tu hành, dốc hết tâm lực, sức lực, trí lực, nguyện lực của bản thân chuyên tâm tinh tấn tiến tu; thường thường quán chiếu rằng cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào.

Tất cả những hành vi vụn vặt trong đời của chúng ta, từ cách ăn cơm, cách uống nước, cách đi – đứng – nằm – ngồi, cách lễ phật, học pháp, ngồi thiền đều thể hiện công phu tu tập, thể hiện sự tu dưỡng của bản thân. Tích tiểu thành đa, góp gió thành bão, từng giọt nước góp lại có thể thành cả đại dương, ống tre tiết kiệm có thể cứu giúp cả thế giới; phàm nhân trở thành hiền thánh tăng bắt đầu từ chỗ ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da của ngày hôm nay; Bồ Tát thành đạo cũng bắt đầu từ sự tu tập bố thí, cúng dường, cúng kính Tam Bảo của ngày trước. Từ trong sự khó chịu, vất vả, tinh tấn, siêng năng, nhiệt tâm quán chiếu, từ những điều nhỏ này mà thành đạo.

Một điểm đặc biệt nữa của Hội Từ Tế là cách làm từ thiện của hội; không phải đơn giản là đến nơi gửi quà, gửi bì thư thay vào đó là hành động bố thí tùy thuận chúng sanh; nơi đói thì hội mang đến thực phẩm; nơi bệnh khổ chiến tranh hội mang đến thuốc men, bác sỹ, dược sỹ, y tá; nơi khủng hoảng tâm lý thì hội đưa bác sỹ tâm lý trị liệu đến để an ủi, giãi bày tâm sự, vỗ về theo tinh thần từ bi của Đạo Phật.

Chẳng hạn chỉ từ một tấm hình em bé ở Trung Đông nằm dưới đất khô cứng, không nhà, không phòng, quần áo rách nát khi trời rất lạnh. Vì thương xót hoàn cảnh của em bé này và những người ở Trung Đông, sư bà Chứng Nghiêm đề nghị đại chúng tìm cách đem giường đến cho người dân nơi đây; tuy nhiên với điều kiện phải gọn để tiện di chuyển được nhiều. Vậy là chương trình từ thiện này được hoàn thành với những chiếc giường làm bằng nhựa có thể xếp gọn lên nhau, mở hết cỡ thì thành một chiếc giường, mở một nửa thì thành cái ghế; thêm nữa mọi người cùng đi nhặt rác, tái chế chúng trở thành áo lạnh cho những nơi khổ sở, một công đôi việc là thế. Qua hai sự kiện này, ta mới cảm nhận được công tác từ thiện là cả một tâm huyết, một sự thông minh, trí tuệ, lắng nghe và thấu hiểu.

Học tập điều này, trong cuộc sống hằng ngày chúng ta cần để tâm lắng nghe, thấu hiểu những người xung quanh để hành động của ta mang lại lợi ích thiết thực lớn lao nhất; ví như trông thấy người đang đói ta giúp họ một nắm cơm thì đây là tình thương, là từ bi, là sự bố thí, là Bồ Tát hạnh, Bồ Đề tâm; chỉ một nắm cơm nhưng người thọ dụng có thể nhớ suốt một đời, có câu một miếng khi đói bằng một gói khi no; tùy thuận một chén trà có thể hóa độ chúng sanh. Cũng cần chú ý cẩn thận, vì không thể mang coffee đến cho người bị ốm và mang thuốc cảm cho người đói; bằng sự quan tâm mà ta biết mang thực phẩm cho người đang đói, chăn ấm cho người rét; đây là điểm mà mỗi người chúng ta cần lưu ý kỹ. Đặc biệt là ngành y, không phải tự dưng mà các y bác sỹ phải được đào tạo với thời gian lâu dài nhất; bởi có thể ăn ngọt thêm một chút, đắng hơn một tí cũng không sao; nhưng không thể cho người bị ốm uống nhầm thuốc, hậu quả của việc này có thể là một hay nhiều sinh mạng.

Phải kể đến một nhân duyên đặc biệt khi Minh Thành đến Phật Quang Sơn tại Singapore; buổi sáng khi tất cả huynh đệ đã dùng điểm tâm, đáng lẽ mọi người đã rời đi, nhưng vì đợi xe nên một lát sau gặp một Sư Bà lớn tuổi mời dùng cơm, nếu xử lý theo cách thông thường thì mọi người sẽ thưa rằng đã dùng điểm tâm và cáo lui. Tuy nhiên Minh Thành vì kính trọng Sư Bà mà ở lại, nhờ nhân duyên này mà thỉnh được Đại Tạng Kinh, sau khi trao đổi mới biết Sư Bà là phó trụ trù của Phật Quang Sơn, rất ít khi ra khỏi phòng, hôm nay tình cờ đi tìm một cuốn kinh mà gặp gỡ (ở đây rất ít người xuất gia và cũng rất hiếm khi được gặp họ).

Khi đến những nơi trên thế giới, Minh Thành cảm nhận được tầm vóc rộng lớn của Bồ Đề Tăng; Hòa Thượng Tinh Vân là một điển hình tượng trưng cho hình tượng một vị cao tăng với tầm vóc lớn lao của Phật giáo Đài Loan. Ngài đã xây dựng 60 đại học Phật Giáo trên khắp thế giới, thậm chí cả đại học Tây Lai, đại học Phật Giáo duy nhất của người Hoa tại Mỹ quốc, với nguồn tiền xây dựng đến từ công tác hoằng pháp của Hòa Thượng trên toàn thế giới.

Hai mươi năm trước Minh Thành đến Singapore tham dự buổi lễ Hòa Thượng Tinh Vân truyền tam quy ngũ giới và giảng về Tứ Thánh Đế đến Tứ hoằng thiện nguyện; sau hơn 20 năm, trao đổi lại với Sư Bà về buổi giảng của Hòa Thượng, vì trao đổi về đề tài này mà Minh Thành thỉnh được bộ Đại Tạng Kinh kể trên. Lúc này Hòa Thượng đã ngoài 60, sau bài thuyết giảng hơn 2 giờ đồng hồ, mà đến lúc vào thăm Hòa Thượng vẫn hoan hỷ trao đổi với Mình Thành khoảng 10 phút.

Hoà Thượng viết một câu thư pháp khiến bản thân Minh Thành rất xúc động với đại ý rằng: Tôi có thể không có bất cứ một cái gì ở trên cuộc đời này, nhưng tôi không thể không có một trái tim từ bi. Câu này được thể hiện qua từng hành vi, lối sống của ngài chứ không phải là lời tuyên bố suôn, lúc ngài ngoài 70 tuổi phải ngồi xe lăn, khi mắt mờ đục, tay run run, ngài vẫn cầm bút viết thư pháp, không ngơi nghỉ, luôn luôn tinh tấn, nỗ lực, phấn đấu. Thậm chí chữ thư pháp được Hòa Thượng viết là nhất bút tự, tức chữ một nét, vì khi nhấc bút lên thì ngài không còn cảm nhận được nét chữ của mình nữa. Hòa Thượng viết hằng ngày, góp tiền cúng giường từ đây xây dựng nên các Đại Học trên toàn thế giới; đến thời điểm hiện tại, ngài đã ngoài 80 vẫn không dừng lại ngơi nghỉ, vẫn tinh tấn hoằng pháp mang lại lợi lạc cho chúng sinh. Chúng ta cần phải học tập từ ngài, tấm lòng tinh tấn tu hành, tinh thần bồ tát đạo, tinh thần từ bi, phụng sự mọi người.

Xưa nay trong sự tu hành của mình, chúng ta rất dễ đi đến chỗ lầm tưởng, nghĩ rằng tu là dẹp bỏ hết mọi thứ, không cần làm gì hết, thậm chí người kế bên mình gặp chuyện cũng không quan tâm, tuy nhiên đây là hành động đưa đến nghèo cùng không phước tuệ, chúng ta cần phải xem lại sự tu hành của bản thân từ trước đến nay. Ngay cả bản thân Minh Thành ngày trước cũng từng có suy nghĩ này, nghĩ rằng sự tu hành là cao siêu; tuy nhiên sau này nhận ra càng vô ngã vị tha chừng nào, càng thể hiện tấm lòng từ bí trí tuệ của Bồ Đề Tâm chừng đó của Đạo Phật. Chính vì vậy mà mới có câu “Thâm quán quản hạnh”, cần phải quán chiếu sâu sắc và hành động rộng lượng, vậy mới được trọn vẹn, viên mãn; ngược lại thì ta mãi tu ở ngoài da, trong những lý thuyết cao siêu mà ở bên trong thì lại rỗng không, đầy dẫy tham – sân – si, vô minh và bản ngã.

Với tinh thần chân chính của đại thừa, ta cần phải chấp nhận hy sinh bản thân, buông bỏ sở thích, lợi ích cá nhân, gạt bỏ bản ngã để vì mọi người vì chúng sanh. Bản thân Minh Thành may mắn được có cơ hội đi đó đây, mỗi lần như thế là bồ đề tâm càng lớn mạnh, chẳng hạn có hôm ngồi trên xe trông thấy một bà cụ đi nhặt ve chai, phía sau có một cô trông lam lũ đẩy theo xe phế liệu giữa trời nắng nóng, trong tâm liền khởi lên sự xót xa, đau nhói tim gan không hiểu lý do (thuở nhở Minh Thành đã có những cảm giác này). Tuy ta không thay đổi được điều gì, nhưng với tấm lòng xót xa chúng sanh, quán chiếu sâu sắc sự đau khổ của mọi người; ta dốc lòng làm điều thiện, siêng năng tu học, phụng sự Tam Bảo, gieo trồng phước huệ, công đức, không so đo, tính toán, hơn thua, ganh ghét; bỏ lại đằng sau những điều nhỏ hẹp, nghĩ đến những điều lớn lao, vì Phật Pháp, vì chúng sanh, phát tâm rộng lớn, bao la. Cơ hội tu hành chỉ đến một lần trong trăm đời vạn kiếp, muôn kiếp nhân sinh ta mới có cơ hội tao ngộ với Chánh Pháp, nên cần phải nắm lấy cơ hội đó một cách chặt chẽ, để từ đây làm hạt giống cho Bồ Đề Tâm nảy nở, phát triển.

Nếu trực tiếp trông thấy hình ảnh Hòa Thượng Tinh Vân hai mắt mù lòa ngồi viết chữ để hoằng pháp, cứu giúp chúng sanh, xây dựng chùa, trường để tăng ni tu học. Ta mới cảm thấy hổ thẹn khi bản thân còn trẻ mà không bằng một người lớn tuổi, thua ở cái tâm lười biếng, không biết phấn đấu, một tâm hồn già nua. Trong khi hòa thường tuy xác thân già nhưng tâm hồn đầy năng lượng, tinh tấn, vĩ đại, không ngừng cố gắng vượt qua hoàn cảnh. Chúng ta không được thỏa mãn với những gì đang có, nhìn xa hơn để thấy những điều này hết sức nhỏ bé, thấp kém với Bồ Tát đạo vô thượng, vĩ đại bao la như biển cả, vạn hạnh của Bồ Tát, để cảm thấy bản thân mới chỉ là một hạt cát trong sa mạc rộng lớn, một giọt nước của bốn biển. Dùng hết sức trẻ, trí lực, tâm lực, nguyện lực để tinh tấn tu hành trong chánh niệm tỉnh giác, thay đổi từng hành vi vụn vặt để đặt nền móng cho thành tựu to lớn sau này.

./.