Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Giới Hạnh Người Xuất Gia 2

2026-03-03 00:53:36
GIỚI HẠNH NGƯỜI XUẤT GIA 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thực hành nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc112943709 \h 1

II.Phòng hộ các căn PAGEREF _Toc112943710 \h 1

III.Dốc sức tiến tu PAGEREF _Toc112943711 \h 7

Thực hành nhận diện ngũ uẩn

Chúng ta không biết cảm giác, nghĩ tưởng của chính bản thân mình mới là điều quan trọng, đó là trạng thái của vô minh. Bình thường chúng ta sẽ ở trong trạng thái của vô minh nếu không học ngũ uẩn. Do không nhận biết rõ được tâm đang có gì hoạt động, vận hành nên có lúc nghĩ rằng mình đang không có suy nghĩ gì hết, điều này không đúng, đó là vì mình không đọc được tâm chứ không phải là không nghĩ. Chúng ta chưa đủ sức định tĩnh, trong sáng để nhìn thấu được tâm chứ không phải là tâm mình trống rỗng, không suy nghĩ gì hết.

Nhận diện ngũ uẩn là nhận diện về chính mình chứ không phải nhận diện của người khác. Nhận diện sắc uẩn chính là thân tứ đại của mình, chứ không phải sắc uẩn là thầy đang ngồi trên bục, hay các bạn đồng tu trong lớp. Minh Thành sẽ nhận diện ngũ uẩn của mình. Sắc là thân Minh Thành đang ngồi đây. Cảm giác là thọ uẩn, đang lo sợ, cảm giác này thuộc về khổ thọ. Hình bóng trong tâm khi ngồi thiền là nhớ là điều gì đó ở chùa hay hoặc là hình bóng của mình hay hình bóng của sư phụ hiện lên lờ mờ, đây là tưởng uẩn. Suy nghĩ không biết hôm nay học bài gì, đây là hành uẩn. Thức là cái biết được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó. Như vậy, nhận diện ngũ uẩn tức là đọc được những cảm giác, nghĩ, tưởng chính mình. Thọ; tưởng; hành nói đơn giản là những cảm giác, nghĩ tưởng. Chẳng hạn, bây giờ tôi đang có cảm giác dễ chịu vì ngồi trong phòng có máy lạnh mát mẻ, có suy nghĩ không biết hôm nay học bài gì, hình bóng là chiều ăn về chùa được ăn ngon, rất đơn giản.

Chúng ta cần thực tập nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và liên tục, nếu không đọc được ngũ uẩn thì sẽ không biết gì về bản thân, mình sẽ sống trong vô minh, vì tâm mình mà mình không biết gì hết, có thể chúng ta sẽ lẫn lộn vì không quen nhận diện. Trước giờ nhiều vị chỉ quen niệm Phật chứ chưa quen nhìn lại thân tâm nhưng phải cố gắng. Đây là giáo pháp nguyên chất của Đức Phật, khi Đức Thế Tôn còn tại thế Ngài dạy những điều này chứ không phải như mình bây giờ, cho nên học pháp này là mình học trực tiếp với Thế Tôn và các bậc A-la-hán.

Phòng hộ các căn

Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh. Sanh hoạt trong sạch giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, và biết tri túc (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa Môn Quả).

Những điều này khi học kĩ sẽ rất nhiều, đây là tổng cương lĩnh của giới học trong kinh Nikāya. Giới không chỉ riêng những giới mình đã thọ mà giới là sống chế ngự, chế phục, tự mình kiềm chế mắt; tai; mũi; thân; ý, phòng hộ các căn và luôn ở trong sự chế ngự. Ví dụ khi mình nhìn thấy một điều gì mà nó có thể làm cho mình sanh khởi tâm dục tham ái thì thu con mắt lại không nhìn nữa, đó gọi là chế ngự con mắt. Khi mình mới mở mắt tiếp xúc món đồ hay một người nào đó mà mình thấy ưa thích, có cảm giác thích thú, khoan khoái thì mình thu con mắt lại, thì đây là chế ngự mắt. Nếu mình không chế ngự thì giới sẽ không thành tựu, tâm không yên định được. Vì nếu không thu thúc lục căn thanh tịnh giới. Thu là thâu lại, thúc là buộc lại, cột lại. Con mắt được gọi là cửa sổ tâm hồn, nó là cánh cửa để ở ngoài đi vô và ở trong đi ra, cho nên con mắt rất quan trọng và cần phải được phòng hộ, tu là ở chỗ phòng hộ, canh chừng, chế ngực con mắt. Một số người hiểu lầm tư tưởng, nghĩ rằng tu là làm cái lớn lao chứ mấy cái nhỏ nhặt thì không cần quan tâm, chính vì suy nghĩ này nên không có nền tảng trong sự tu học, tu là ở chỗ phòng hộ mắt.

Lành thay, phòng hộ mắt!

Lành thay, phòng hộ tai.

Lành thay, phòng hộ mũi,

Lành thay, phòng hộ lưỡi.

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỷ Kheo, kệ 360)

Lành thay, phòng hộ thân!

Lành thay, phòng hộ lời,

Lành thay, phòng hộ ý.

Lành thay, phòng tất cả.

Tỷ kheo phòng tất cả.

Thoát được mọi khổ đau.

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỷ Kheo, kệ 361)

Đức Phật dạy sự tu này rất thiết thực, cụ thể, rõ ràng. Nhìn vào là biết người đó tu hay không tu chứ không phải nói "bên ngoài như vậy nhưng tâm tôi tu", đây là nói dóc. Cái tu của Đức Phật dạy từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, đầy đủ hết tất cả giới hạnh – thiền định – trí huệ chứ không phải nói một chiều, một hướng hay một góc cạnh, không phải nói theo kiểu thân không tu nhưng tâm tu. Thân không tu được thì làm sao tâm tu được?

Vì vậy giáo pháp của Đức Phật là đại viên mãn, đi từ bên ngoài vào trong. Bên ngoài là căn cứ vào việc chế ngự, phòng hộ, hộ trì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, nó lý thuyết là vậy nhưng thực tập có hay không thì tự bản thân mình biết và người sống chung với nhau nhìn vào sẽ biết. Tức là người này có giữ giới hạnh, giới luật, có phòng hộ, chế ngự hay không thì nhìn vào sẽ biết, một người tu mà nhìn ngang nhìn dọc, gặp ai là nhìn làm người đó thấy ngượng luôn, đó không phải là con mắt của người tu. Người tu là phải nhìn thẳng phía trước, chánh niệm trước mặt thì đây mới là cái nhìn của người tu. Khi ngồi thiền phải mở mắt nhìn xuống về phía trước còn nhắm mắt mình sẽ rơi vào tưởng và tâm sẽ si, ngồi thiền buổi trưa mà nhắm mắt rồi thở ra thở vào là sẽ ngủ gục, mở mắt có khi còn không thấy được chứ đừng nói gì đến nhắm mắt. Khi ngồi thiền là tuyệt đối không nhắm mắt, vì nhắm mắt có khi đi vào trạng thái của tưởng uẩn, hiện lên đủ thứ hình bóng, hoặc đi vào trạng thái của si, lờ đờ, tỉnh không phải tỉnh, ngủ không phải ngủ, đến khi xả thiền thấy mình đi đủ thứ nơi, đó là do ngủ gục nằm chiêm bao. Cảm giác không biết, những hình bóng trong tâm không biết, suy nghĩ, nhận thức cũng không biết cho nên đó là ngủ chứ không phải thiền.

Sự chế ngự, hộ trì căn là hết sức quan trọng. Đây là giới hạnh, giới đức, đạo hạnh của người xuất gia. Bất cứ khi nào đối diện với ai mà người đó lăng xăng, mắt nhìn xung quanh, ăn nói không cẩn trọng là người này không giới hạnh nên không được thân cận. Dù cho người đó là ai đi chăng nữa thì cũng phải lấy giới – định – tuệ làm chuẩn tắc, chuẩn mực trong sự tu học, phải gần gũi với người có giới. Nếu mình gần gũi với người không giữ giới, không có đạo hạnh thì mình cũng lây bệnh, đi theo người đó, cũng sống buông lung phóng dật, thả lỏng các căn không có sự hộ trì, phòng hộ như ông bà ta nói gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Không phải trong giờ học thì mới chế ngự, hộ trì các căn còn giờ ra chơi là buông thả, đó là người không có tu. Phải trong tất cả mọi lúc đều phải giữ đạo hạnh, đức hạnh, nết hạnh của người tu, lâu ngày như vậy sẽ thuần thục trong giới, thuần thục trong đức hạnh, như vậy đạo hạnh mới tăng trưởng theo năm tháng trong giáo pháp, còn bây giờ cứ nghĩ còn học trò thì cho phép mình buông lung, một lần cho phép thì lần sau cũng cho phép, nhiều lần cho phép buông lung như vậy suốt đời cũng không thu thúc được lục căn.

Chúng ta là những người xuất gia, là bậc khất sĩ với lý tưởng cao thượng, thánh thiện chứ không phải là người học trò, phải xác định rõ ràng như thế. Chính những suy nghĩ, những ý hành vô minh này mới mở cửa xả càng để đi vào con đường đọa lạc, thối đọa. Nếu không có chánh tư duy và đặt tâm sai hướng thì đời tu đi xuống vực sâu, cho nên tất cả những ý nghĩ phải có chánh kiến dẫn đường, cái thấy đúng của mình mới dẫn đường suy nghĩ chánh tư duy được, muốn thấy đúng thì phải có thời gian nghe pháp Nikāya thật nhiều và nắm được cương lĩnh giáo pháp thì mới thành tựu được chánh kiến.

Chánh kiến không đơn giản như mình đọc vài bài kinh là xong mà chánh kiến rất thâm sâu, người thành tựu chánh kiến là sơ quả Tu-đà-hoàn, là người đã đắc pháp nhãn tịnh, là bậc kiến đế. Thánh quả thứ nhất mới là bậc thành tựu chánh tri kiến cho nên Bát Chánh Đạo rất khủng khiếp, chỉ cần bước được vào cửa đầu tiên của Bát Chánh Đạo đã thành tựu thánh quả thứ nhất, chứ không phải như mình nghĩ học 3 năm, 5 năm, 10 năm rồi thành tựu chánh kiến là không phải. Người thành tựu chánh kiến là người thấy đầy đủ hết tất cả ngũ uẩn trong mọi khía cạnh, mọi góc độ, mọi ngõ ngách thâm sâu của ngũ uẩn, tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, tất cả mọi sắc chất của cơ thể từ đâu hình thành, nó vận hành, an trú và chấm dứt như thế nào thì người này thấy rõ hết trong mọi trường hợp, đó là bậc chánh kiến Tu-đà-hoàn, minh nhãn và mắt sáng. Còn tất cả chúng ta bị mù, không thấy được thân tâm, mình chỉ thích hướng ngoại nhìn người này người kia rồi phê phán, cho nên bị sầu bi khổ ưu não chồng chất, dù tu nhưng cứ nhìn người ta thì chỉ tu trên hình thức, tu trong cái tâm hướng ngoại, tu theo danh lợi bản ngã chứ không phải nhìn thấy rồi phát giác ra ngũ uẩn bên trong mình, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức trong tâm mình đều không biết, không thấy.

Sau đây chúng ta sẽ bước qua cánh cửa lớn của thánh tri kiến. Thánh tri kiến, chánh tri kiến, thấy đúng cũng chung một nghĩa. Tất cả những cái này đều chỉ cho mình thấy được năm uẩn, cái này tuyệt đối quan trọng và chúng ta sẽ còn thực tập nhiều lần về năm uẩn này. Mọi người nghĩ thử thế giới này còn cái gì ra ngoài năm uẩn này không? Sắc uẩn đã bao trùm hết tứ đại, từ thân người, đồ vật, sơn hà đại địa, hành tinh, địa cầu. Bên trong tinh thần là những cảm giác, nghĩ tưởng. Như vậy ngoài năm uẩn ra không còn gì nữa mà mình không biết. Cho nên vô minh là không biết trong tâm đang có gì, bị si ám nên không thấy được tự thân, còn thấy được rõ ràng trong tự thân thì gọi là tự giác, chánh giác. Chánh giác là biết đúng, biết chính xác, biết một cách chân chánh, biết một cách trọn vẹn đầy đủ tất cả mọi khía cạnh, góc độ của thân tâm hoặc còn gọi là Chánh Biến Tri nhưng tất cả những cái này đều chỉ sự nhìn thấy được ngũ uẩn, vì vậy vấn đề nhận diện năm uẩn là tuyệt đối quan trọng, nếu không học được cái này thì tất cả những cái sau này cũng đều không học được.

Phải giữ gìn lỗ mũi, miệng. Trong bốn giới thì nói dối, nói thiêu dệt, nói lời hung ác, nói lời phù phiếm đều từ miệng mà ra. Nói lời phù phiếm cũng là khẩu nghiệp vì nói không có nghĩa lý gì hết, không có lợi ích. Ngồi café rồi nói 3-4 tiếng, ngồi sáng đêm rồi nói năm châu bốn biển nhưng không đâu vào đâu, nhiều khi nói một hồi có cự cãi, đánh nhau. Cho nên việc hộ trì và chế ngự cái miệng là cực kì quan trọng. Minh Thành hay nói tu nhiều hay ít nhìn miệng là biết, không cần nhìn đâu xa. Nếu nói pháp thì tốt nhưng ngay cả nói pháp cũng phải hợp thời, đây cũng là biết chế ngự và phòng hộ miệng.

Ở đây chỉ mới nói đến việc nói chuyện, ngoài ra còn cái ăn, uống cũng phải tập trong giờ học tuyệt đối không uống nước, chỉ uống trong giờ giải lao, trong giờ học là toàn tâm chú ý vào pháp, đó là sự đầy đủ giới, sống với sự chế ngự hộ trì các căn trong khi mình nghe pháp. Khi Minh Thành nhắc tắt chuông điện thoại không phải là khó mà là hộ trì cho đại chúng, vì chỉ cần một tiếng chuông sẽ làm động niệm hết tất cả đại chúng và người chủ chiếc điện thoại đó sẽ bị tổn phước, mất đức. Đó gọi là sự hộ trì, chế ngự cái dục muốn xem, muốn nghe điện thoại của mình. Dù điện thoại đã cất rồi nhưng cái dục bên trong thân tâm thúc giục khi nghe reng nhưng vẫn lấy ra xem thì đây là sự không chế ngự. Tu là ở ngay chỗ này, nếu nhiếp phục được thì mình chiến thắng các cảm giác ở bên trong, chiến thắng cái dục muốn xem điện thoại. Còn nếu không nhiếp phục được cái muốn này thì tất cả những cái muốn khác mình cũng không nhiếp phục được.

Tối ngồi thiền mà trong tâm giục muốn ăn thêm mì gói, nếu mình nhìn ra cái dục này "cái này giờ tu chứ không phải giờ ăn, đây là giờ nghe pháp ngồi thiền", dùng Như lý tác ý cho mạnh mẽ để đánh cái dục cho tan ra để nghe pháp cho an ổn thì đó là mình đã chiến thắng, đã chế ngự, nhiếp phục được dục. Cho nên sự tu rất vi tế, nó nằm bên trong thúc giục thuộc về thọ uẩn, hình bóng của tô mì có rau hiện lên thì đó là tưởng uẩn, "giờ này có tô mì thì ngon lành" là hành uẩn. Như vậy thọ; tưởng; hành vận hành dẫn dắt cái thân đi theo vậy là bỏ giờ ngồi thiền, bỏ giờ nghe pháp đi ăn, ăn xong thì ngồi thiền, nghe pháp không nổi rồi ngủ luôn. Cứ một lần buông lung như vầy thì sẽ có lần thứ 2, lần thứ 3, lần thứ n rồi thành thói quen, trong khi ăn là đã là một đều xấu hổ vì bị phạm giới, mà giờ tối còn ăn thêm nữa thì cái này là không biết nhục nhã, tàm quý gì hết.

Khi đang ngồi nghe pháp, đang ngồi thiền hoặc tụng kinh mà cái thân muốn giao động thì mình nhiếp phục không cho nó động, tất cả những cái này phải tập chứ không phải muốn động là động. Khi nghe một tiếng gì sau lưng vang lên mà mình quay lại nhìn liền thì đó là không có phòng hộ căn, không có chế ngự thân căn. Nếu vì một tiếng gì đó mà thân tâm mình giao động thì nếu có tiếng chửi thì chắc chắn mình sẽ không thể nào bình thản, một âm thanh bình thường mà mình còn chịu không nổi, còn bị giao động thì âm thanh của tiếng chửi, tiếng chỉ trích hay tai nạn đến thì mình sẽ hốt hoảng, kinh sợ và mình sẽ chết trong cái tâm hoảng loạn, giao động đó.

Vì vậy tất cả những sự chế ngự này có đầy đủ giới – định – tuệ, vì tâm mình có sức mạnh thì mới kiềm chế sự giao động đó lại thì mình mới chiến thắng, còn không là sẽ thua, muốn chơi là cứ dắt xe đi chơi, muốn ăn là ăn, muốn nói là nói thì như vậy tu cái gì? Tu trên hình thức cái miệng nói chứ thân tâm không có tu. Phải nhiếp phục, chế ngự, hộ trì những cảm giác và nghĩ tưởng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Phải hộ trì, nhiếp phục, chiến thắng cái thân, chừng nào cho nó động thì mới được giao động, còn không cho nó động thì phải ngồi yên, khi ngồi thiền là bắt cái thân yên phăng phắc suốt 1 tiếng, chừng nào đã cố gắng hết sức không chịu nổi thì mới động thân, phải tập như vậy thì mới gọi là sự chế ngự, chiến thắng thân tâm.

Còn đằng này hở chút là mỏi, hở chút là gãi, không thì quay qua xem người kia ngồi ra sao, có ngủ gục không rồi cười một mình thì thiền cái gì? Tu mà tâm hướng ngoại cứ nhìn người ta, nhìn bên ngoài đã phiền não với chồng con, anh em, bạn bè… còn giờ vào chùa tu cũng nhìn huynh đệ, ngồi thiền cũng nhìn người ta, học cũng nhìn người ta để so bì, ganh tỵ thì suốt ngày cái tâm cứ hướng ngoại thì tu cái gì? Sự tu chân chánh là quay lại nhìn cảm giác, nghĩ tưởng bên trong tâm của nhìn, xem trong đó có dục không, có sự thúc giục bên trong không, có ái, có thích cái gì không và nếu đó là ác, bất thiện pháp thì phải diệt trừ?

Cảm giác thúc giục là dục. Cái thích thú, khoan khoái là ái. Cái muốn thêm nữa, có rồi vẫn muốn nữa, ăn no rồi nhưng vẫn muốn gắp thêm nữa là tham. Phải nhìn ra được những thứ này, chiến đấu với nó rồi nhiếp phục, chế ngự thì mới gọi là tu, còn đằng này khi nó khởi lên là đi theo nó thì làm sao gọi là tu? Ví dụ chủ nhật ở nhà mình suy nghĩ là sẽ vào trang linhquyphapan.vn để nghe những bài nhập thất chia sẻ vì những bài này là cánh cửa để vào tạng kinh Nikāya, hứa với lòng như vậy nhưng tới trưa có người điện thoại rủ đi chơi, nghe theo đi chơi thì vậy là thua cuộc.

Dốc sức tiến tu

Tu là phải đánh giặc, nội công ngoại kích, bên ngoài thì tấn công, còn bên trong thì đánh ra mà mình không có tinh thần dũng sĩ, vô thượng sĩ thì mình thua trắng, mình chỉ có hình thức, là thây chết trong đạo Phật chứ không có sự nỗ lực, không có sự hành trì, sống trong chùa giống ở nhà, cũng tham lam, sân hận, bản ngã, cũng so đo, ganh tỵ, người này được cúng dường, được yêu thương nhiều hơn mình rồi buồn tủi, vậy thì tu cái gì? Mình đi xuất gia để được những đồ cúng dường đó hay sao? Mình bỏ cha, bỏ mẹ vào chùa để đi tìm những đồng tiền lẻ đó hay sao? Như vậy thì vô cùng uổng phí, sự nghiệp đời tu của mình là những khúc vải, bao thư, tiền lẻ người ta bỏ ra hay sao? Không đáng gì hết, tu như vậy nhục lắm, tu như vậy thê thảm lắm, tu như vậy xấu hổ lắm, tu như vậy tồi bại lắm, hèn hạ lắm.

Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng (Tương Ưng Bộ kinh, tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực).

Phải phá tung hết tất cả những thấp hèn trong chùa, phải bước qua nó chứ không có quan trọng những cái nhỏ nhặt, những cái không đáng. Mỗi lần phiền não thì tác ý "mày bỏ cha, bỏ mẹ vào đây để giận hờn hả? Mày bỏ cha, bỏ mẹ vào đây để hơn thua từng tiếng nói như vậy sao? Mày bỏ cha, bỏ mẹ vào đây để buồn thương giận ghét, để so đo vậy đó hả? Mày bỏ cha, bỏ mẹ vào đây để danh lợi thì có nhục không? Đời tu của mày có nhục không? Vào nhìn gương xem mặt mày có phải là người tu không?" Đây là pháp Như lý tác ý của Đức Phật trong kinh Nikāya. Như lý tác ý là sự tác động tâm lý một cách mãnh liệt để đi ra khỏi ác, bất thiện pháp hay còn gọi là thánh tư duy, chánh tư duy. Đây là sự huấn luyện nội tâm của mình.

Tâm này rất cứng cỏi, ương ngạnh, khi nhận diện năm uẩn mình mới thấy nó rất khủng khiếp. Tâm này xảo huyệt, gian trá vô cùng, nó gạt mình trong vô lượng vô biên kiếp, nó rất mánh khóe, cái tâm lậu hoặc qua mặt mình vù vù mà mình không biết gì hết. Mình ngây thơ không khác gì Đường Tăng, còn trí năm uẩn là Tôn Ngộ Không, rất sâu sắc vì có thể nhìn xuyên thấu bản chất con người, nhìn ra được tâm lậu hoặc yêu quái, yêu tinh, những cảm giác, nghĩ tưởng là ác ma, nó sẽ phá hủy sự nghiệp tu hành của mình. Chính những suy nghĩ, cảm giác đó xúi giục mình không thể thành tựu đạo hạnh, nó xúi mình ngủ, xả hơi giải trí vậy là nghe theo rồi xuống vực sâu. Cho nên phải nhìn ra được thì mới trị được nó, không biết tên tuổi, mặt mũi, tánh tình thì làm sao mình trị được nó? Ngũ uẩn này nó môi giới, mai mối cho nhau, nó cấu kết âm mưu trong bên thân tâm rồi mình cứ lòng vòng trong năm uẩn không ra khỏi nó nên không thể giải thoát, mãi mãi chìm đắm trong luân hồi sanh tử.

Thánh trí của Đức Phật là ra khỏi năm uẩn, Đức Phật chỉ cho mình thánh đạo ra khỏi năm uẩn, đó mới là tu trong kinh Nikāya, là giáo pháp chánh thống nguyên chất của Đức Phật. Chúng ta chỉ cần nhìn thấy một cái sắc đẹp đẽ thì sẽ bị dính mắc, tham ái, chấp thủ, trong khi sự tu của Đức Phật dạy là ly tham đối với sắc uẩn, đó mới là con đường của Thế Tôn. Thái tử Tất-đạt-đa đã bỏ sự quyền uy cao nhất đứng trên đỉnh của thiên hạ, tiền tài, vật chất, tài sản, danh tiếng, sức khỏe, sắc đẹp… tất cả mọi thứ đỉnh cao của sắc uẩn Ngài đều bỏ vì Ngài muốn ra khỏi sắc uẩn vì sắc này bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, bị sầu bi khổ ưu não.

Còn chúng ta không biết tính chất vô thường, khổ não, trống rỗng của sắc uẩn là do sự vô minh, không có quán chiếu, không thường xuyên nghe pháp, chứng nhập, chỉ nghe phớt bên ngoài, chỉ có kiến thức trên chữ nghĩa. Phải có sự chứng nhập thâm sâu vào trí huệ, có 7 trí về sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tổng cộng có 35 loại trí huệ đối với ngũ uẩn. Muốn phá được sắc uẩn này phải có đủ 7 loại trí huệ chứ không phải đơn giản như mình nghĩ quên sắc đi là được.

Ví dụ, nằm chiêm bao thấy đi Đà Lạt thì có hình bóng của mình trong đó, khi mình nghĩ đi về quê cũng có hình bóng mình thì hình bóng đó là thân kiến, tức là kiến chấp về thân. Không những mình bám chặt vào mấy chục kí lô thịt này, không những mình bấu víu, yêu thích, say mê trong sắc thân này mà mình còn bị ám ảnh trong hình bóng về tự thân của mình trong tưởng uẩn này. Khi nằm chiêm bao, hay nghĩ về việc đi đâu, làm gì thì gương mặt sẽ hiện ra trong cái tưởng này, dù gương mặt này xấu xí, không đẹp bằng ai nhưng khi mình nhìn vào gương thì tự huyễn hoặc gương mặt này đẹp. Còn nếu gương mặt đẹp đẽ, sáng láng thì còn chấp thủ nặng nề hơn nữa. Nhiều người đi tu rồi nhưng khi nhìn vào gương thì con mắt của mình, lỗ mũi của mình, gương mặt mình nay đẹp hơn lúc trước, đó gọi là sắc thủ uẩn. Thủ là nắm chặt vào, ghì chặt vào trong hình hài này, sự vô minh chấp thủ này rất khủng khiếp.

Tu thường thường là không thể nào phá được cái này, phải dùng bom hạng nặng mới công phá được. Sự tu học của mình bây giờ không thấm vào đâu, không khéo còn tăng thêm bản ngã. Ngày xưa còn nhỏ, còn là cư sĩ thì người ta gọi mình là ‘con’ thấy không sao, còn giờ là Tỳ-kheo mà gọi mình là ‘con’ thì thấy thế nào? Trừ những thầy lớn gọi thì không sao chứ còn cư sĩ gặp mình mà gọi ‘con’ thì trợn mắt lên nhìn người ta "tôi là sư cô, đã thọ Tỳ-kheo sao dám gọi tôi bằng con?". Chỉ với một từ xưng hô đã không vượt qua được chứ đừng nói gì đến những chuyện khác, vậy thì làm sao mình có thể giải thoát? Chỉ với một chữ xưng hô mà còn không đi ra khỏi nổi thì làm sao giải thoát? Tu cái gì? Tu để được bản ngã, để được cái ta lớn hơn lúc trước. Đau lòng lắm vì đã đi sai đường, thánh đạo không có thì làm gì có thánh quả? Sự nghiệp của mình đầu tư vào thứ bậc cao thấp, chữ xưng hô cho nên những bậc chân tu thường ở ẩn trong núi rừng, viễn ly xứ, nơi xa vắng vì thời đại bây giờ như vậy.

./.