Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 2 - Quán Căn, Trần, Thức, Xúc, Thọ

2026-03-03 00:53:37
TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 2

QUÁN CĂN – TRẦN – THỨC – XÚC – THỌ

THÍCH MINH THÀNH

Cảm thọ an tịnh, tưởng an tịnh, hành an tịnh, cảm giác nghĩ tưởng an tịnh, sự rõ biết sáng tỏ, thức sáng tỏ. Rõ biết các sắc ở trước mặt và sáng tỏ, rõ biết âm thanh và sáng tỏ, sự rõ biết thân tiếp xúc sáng tỏ, sự rõ biết các cảm giác nghĩ tưởng bên trong sáng tỏ, sắc; thọ; tưởng; hành an tịnh, thức sáng tỏ, biết rõ con mắt này là vô thường, các sắc pháp đối tượng của con mắt là vô thường, tan hoại. Sự rõ biết các sắc này là vô thường, là duyên sanh, là hoại diệt. Con mắt vô thường, các sắc vô thường, nhãn thức vô thường. Ba loại vô thường này nhóm họp lại, giao thoa với nhau tạo nên sự tiếp xúc vô thường. Nhãn xúc là vô thường, sự tụ tập, sự giao thoa, sự hội tụ tiếp xúc vô thường này sanh ra cảm giác vô thường. Một cảm giác vô thường, cảm giác trống rỗng, một cảm giác duyên sanh. Sự yêu thích, ham đắm trong cảm giác này, ái luyến cảm giác này cũng vô thường, là duyên sanh, là trống rỗng, bại hoại, hủy hoại.

Lỗ tai này vô thường, là duyên sanh, đối tượng của nó là những âm thanh vô thường, duyên sanh, là hoại diệt. Sự rõ biết những âm thanh này là duyên sanh vô thường, là hoại diệt. Lỗ tai, âm thanh, sự rõ biết, 3 loại vô thường này tụ tập, tụ hội, tập hợp, tiếp xúc, giao thoa sanh ra một cảm giác vô thường, biến đổi, trống rỗng. Sự ưa thích cảm giác đó và sự ghét bỏ cảm giác đó cũng vô thường, là duyên sanh và trống rỗng, tiêu hoại, bại hoại.

Lỗ mũi này được làm bằng đất, bằng nước, lửa, gió và cũng vô thường. Mùi hương vô thường. Sự rõ biết được mùi hương kia là vô thường. Tỷ căn, hương trần và tỷ thức, lỗ mũi, mùi hương và sự rõ biết mùi hương, ba thứ này giao thoa, tiếp xúc tạo ra một đống vô thường sanh ra cảm giác vô thường. Cảm giác thích hay không thích mùi hương đó thì cảm giác đó là vô thường, là duyên sanh, trống rỗng. Tham và sân đối với cảm giác đó là vô thường, là trống rỗng.

Cái lưỡi này là đồ lắp ráp, là miếng thịt, trong đó là máu, gân. Cái lưỡi này là vô thường. Những vị của thức ăn là vô thường, là duyên sanh. Sự rõ biết các vị là vô thường, duyên sanh, trống rỗng. Cái lưỡi, vị và sự rõ biết các vị, 3 thứ này là vô thường, là duyên sanh. Ba thứ vô thường này giao thoa để tạo ra một cảm giác vô thường và chúng ta tham, sân trong cảm giác vô thường đó, vui và khổ trong cảm thọ khổ lạc đó, sân và hận trong những cảm giác sanh diệt đó.

Thân này, cái bao máu mủ này, cái bị thịt, cái túi da này chứ đựng bao tử, dạ dày, ruột non, ruột già, tim gan, tùy phế thận, máu mủ, phân và nước tiểu. Đống thịt này, bộ đồ lòng phía trong này là bất tịnh, là hôi dơ, ô uế và cấu bẩn. Cái thân vô thường, duyên sanh và bất tịnh này, những đối tượng mà thân này tiếp xúc như xe cộ, bàn ghế, quần áo, nhà cửa, người vật… cũng là vô thường, biến hoại. Sự rõ biết, sự đụng chạm đó, thân thức là vô thường, duyên sanh. Ba thứ vô thường này kết hợp lại, tiếp xúc với nhau sanh ra cảm giác thì cảm giác này là vô thường. Vậy mà chúng ta say mê, đắm đuối trong cảm giác do thân xúc sanh. Si mê điên đảo trong cảm giác do đụng chạm, do dục tham ái mà quay cuồng điên đảo trong cảm giác, do tiếp xúc sanh khởi nên sầu bi khổ ưu não, hình thành toàn bộ khối khổ uẩn này. Hãy để ý nhìn lại bên trong thì chúng ra sẽ cảm nhận được những cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng, suy nghĩ, và sanh ra sự rõ biết đang có cảm giác đó, đang có nghĩ tưởng đó.

Ý căn và pháp trần sanh khởi ra ý thức. Ba pháp này tụ họp, tiếp xúc, giao thoa lại sanh ra những cảm giác, những nghĩ tưởng tiếp tục. Hết cảm giác, nghĩ tưởng này đến cả giác, nghĩ tưởng khác, Hết cảm giác, nghĩ tưởng khác đến cả giác, nghĩ tưởng nọ, cứ bất tận sanh diệt không ngừng. Chúng nó sanh khởi, sanh diệt không ngừng nên gọi là chúng sanh.

Căn – trần – thức – xúc – thọ, ái và thủ. Hằng ngày mình bị trận đại hồng thủy của những pháp đã nói ở trên nhận chìm, bao vây, buộc chặt, làm sanh khởi lên dục tham ái, sân si, bản ngã mà mình không thấy không biết. Đó gọi là vô minh, không nhận diện được 6 căn, 6 trần, 6 thức, 6 xúc, 6 thọ, 6 tưởng, 6 tư, 6 ái mà lại đồng hóa mình với các pháp đó. Rối bời như cuộn chỉ rồi ở trong đó lại ta đây, hơn thua, nhân ngã, cao thấp đúng sai, vô minh, si mê và chấp ngã, tham sân si rồi sầu bi khổ ưu não. Đó là duyên sanh vận hành trong mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi chốn trong thân tâm của chính mình.

Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi?

Này Tỳ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi. Do biết, do thấy các sắc là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi... nhãn thức... nhãn xúc... Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...

Do biết, do thấy ý là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi... Các pháp... Ý thức... Ý xúc... Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

Do biết như vậy, này các Tỳ-kheo, do thấy như vậy, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, I. Phẩm Vô Minh, 53.I. Vô Minh).

Mọi người đã phân biệt được minh và vô minh chưa? Vô minh là không biết 6 căn, 6 trần, 6 thức, 6 xúc, 6 thọ là vô thường, tưởng đâu nó là tôi, là tự ngã của tôi. Còn khi biết và thấy chúng là vô thường thì vô minh được đoạn tận và minh được sanh khởi. Đây là pháp quán, là sự chứng ngộ của đức Chánh Đẳng Giác chứ không phải lời nói suông, chúng ta cần nhận diện, nhìn thấy, quán xét và thấu triệt chứng ngộ. Hằng ngày khi đi đứng, nói làm hay trong khi ngồi thiền, học pháp đều phải tập nhận diện mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp bên ngoài, 6 thức bên trong, 6 xúc khi tiếp xúc sanh ra 6 loại cảm giác. Phải tập nhận diện và loại bỏ những cái suy nghĩ, những ý tưởng cho rằng nó là tôi, nó là của tôi. Loại bỏ cái cho rằng nó là thường, là bền chắc, là đẹp, còn mãi. Phải tập nhận diện, quán xét, quán chiếu cho sâu sắc. Đó là con đường dẫn đến thánh tri kiến, thể nhập thánh tri kiến, đó là đạo lộ của Nhập lưu dẫn tới trí tuệ thấu suốt được tự thân, tự tâm của chúng ta.

 Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào, các kiết sử được đoạn tận?

Này các Tỳ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô thường, các kiết sử được đoạn tận... Các sắc... Nhãn thức... Nhãn xúc... Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô thường, các kiết sử được đoạn tận.

Do biết như vậy, này các Tỳ-kheo, do thấy như vậy, các kiết sử được đoạn tận (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, I. Phẩm Vô Minh, 54.II Kiết Sử).

Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào, các kiết sử được nhổ sạch?

Này các Tỳ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô ngã, các kiết sử được nhổ sạch... Các sắc... Nhãn thức... Nhãn xúc... Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô ngã, các kiết sử được nhổ sạch.

Do biết như vậy, này các Tỳ-kheo, do thấy như vậy, các kiết sử được nhổ sạch (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, I. Phẩm Vô Minh, 55.III Kiết Sử).

Chữ thấy biết là tuệ tri, tức là thấy biết bằng trí tuệ chứ không phải chỉ nghe mà còn tư huệ và tu huệ, thật sự chứng ngộ cái thấy biết đó. Muốn vậy phải có sự nghe, sự tư duy quán chiếu liên tục và thực tập liên tục không gián đoạn, không chấp nhận những cảm giác nghĩ tưởng về tôi, về của tôi, về thường, vui, đẹp, sạch. Phải phá vỡ 4 cái điên đảo kiến, 4 cái thấy lộn đảo là thường; lạc; ngã; tịnh. Thường là còn, lạc là vui sướng, bản ngã và sạch đẹp. Phải chuyển đổi cái thấy trở thành vô thường, khổ, bất tịnh và vô ngã, thì đó là con đường dẫn đến Nhập lưu, đạo lộ đưa đến sự thành tựu thể nhập sự thấy biết của bậc thánh, thể nhập thánh tri kiến.

Qua bài kinh này mình sẽ thấy được sự chứng ngộ của các bậc thánh Tăng ngày xưa là như thế nào:

 Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).

Lúc bấy giờ, một con rắn độc rơi trên thân Tôn giả Upasena.

Rồi Tôn giả Upasena gọi các Tỳ-kheo:

Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.

Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:

Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, 69. VII. Upasena).

Tức là tôn giả Upasena này bị con rắn độc cắn nhưng vị này bình tĩnh giống như không có chuyện gì và kêu gọi các thầy Tỳ-kheo đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm. Ngài Xá-lợi-phất nói rằng chúng tôi không thấy thân thể ngài có đổi khác gì hay các căn mắt; tai; mũi; lưỡi không bị biến hoại.

Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:

Này chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây bị phân tán như một nắm rơm...

Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: "Tôi là con mắt", hay: "Con mắt là của tôi"... "Tôi là cái lưỡi", hay: "Cái lưỡi là của tôi"... "Tôi là ý", hay: "Ý là của tôi", thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: "Tôi là con mắt", hay: "Con mắt là của tôi"... "Tôi là cái lưỡi", hay: "Cái lưỡi là của tôi"... hay: "Tôi là ý", hay: "Ý là của tôi", thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.

Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: "Tôi là con mắt", hay: "Con mắt là của tôi"... hay: "Tôi là cái lưỡi", hay: "Lưỡi là của tôi"... hay: "Tôi là ý", hay: "Ý là của tôi".

Rồi các Tỷ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.

Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm.

Ngài nói với Xá-lợi-phất người nào mà chấp ngã, cho rằng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là tôi và của tôi, khi thân bị biến đổi thì người đó mới có sự lo lắng, sợ hãi, biến hoại. Còn đã từ rất lâu, một thời gian dài ngài đã khéo nhổ tận gốc cái thấy, cho rằng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là tôi và của tôi, ngài không còn tư tưởng tôi là con mắt hay con mắt này là của tôi, tôi là lỗ tai hay lỗ tai này là của tôi, không còn tư tưởng mũi; lưỡi; thân này là tôi và của tôi.

Trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc… Đây là thánh trí, đó là sự tu tập văn tư tu quán chiếu, phá vỡ tất cả những chấp thủ trong căn; trần; thứ; xúc; thọ; ái, vô minh và bản ngã được phá sập, phá nát. Như thế thân của ngài phân tán rã ra như một nắm rơm vì chất độc phát tán bởi con rắn cực độc. Bài pháp này là sự chứng đắc, đắc đạo của một bậc thánh nhân. Đây cũng là chỗ hướng đến của tất cả chúng ta, chúng ta phải loại bỏ dần dần, từ bỏ những suy nghĩ về tôi và của tôi để khi một ngày nào đó chúng ta ra đi thì chúng ta hoàn toàn nhổ tận gốc rễ các ngã kiến, là cái thấy về một bản ngã, về cái của tôi, cái ngã mạn tùy miên ngủ ngầm bên trong cũng phải nhổ sạch. Đó là đại công cáo thành, sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã xong và bậc này là những bậc thánh giả từ Bất lai đến A-la-hán, không còn sự vô minh và khát ái chấp thủ trong năm uẩn. Đây mới là thánh trí Đức Phật truyền trao cho mình, đây là chỗ để mình hướng tới, tức là hướng Dự lưu, Nhập lưu là nhập vào chỗ này, chứng quả là chứng chỗ này, đắc đạo là đắc chỗ này. Đắc được cái trí nhìn thấy rõ năm uẩn không phải tôi, không phải của tôi, đó gọi là đắc đạo, đây là chỗ tuyệt diệu của thánh pháp, đó là chấm dứt luân hồi, xuất ly đạo lộ. Một cái thân rã rời do chất độc phát tán mà ngài không đổi sắc, không bị biến sắc, cho đến ngài Xá-lợi-phất còn bất ngờ, đó là đại định của Bát Chánh Đạo chứ không phải định là lên bồ đoàn ngồi xếp bằng, đó chỉ là tiểu định. Đại định là trước cái già, bệnh, chết xảy ra trên thân, chất độc phát tán như vậy mà vẫn bất động tâm giải thoát. Đó là thành quả tối thượng của sự tu tập.

Còn mình chỉ cần một hình sắc, một tiếng nói, một sự đụng chạm chút xíu thôi là tham sân si khởi lên, bản ngã sanh lên. Cần phải có sự nỗ lực và cố gắng nhiều hơn nữa thì mình mới có thể giảm bớt được sầu bi khổ ưu não, nhiếp phục được tham sân si và chặn đứng lại sanh già bệnh chết, từ đó mới có thể thể nhập vào thế giới bất tử, còn không là mãi mãi ở trong sanh tử, sống chết sẽ tiếp nối đối với mình, đau khổ sẽ tiếp diễn. Rất là ghê sợ với những việc hiện tại trước mắt, mới đây thôi, nguyên đám giang hồ hơn 20 người cầm hung khí nhào vào quán chém loạn xạ làm chết một người. Chủ quán không biết chuyện gì đang xảy ra, hỏi ra mới biết do những người này mất thẻ giữ xe, bị bảo vệ quán thu 50 ngàn tiền làm thẻ thì xảy ra cự cãi nên kéo băng nhóm lại quán chém người. Đang ngồi thì tự nhiên trên lầu bị kính bể rơi xuống ngay đầu làm chết người tại chỗ. Đang ngủ trong nhà mà xe tải lạc tay lái tông vào nhà làm chết 2 vợ chồng, đứa con 4 tuổi bị văng ra xa. Bây giờ hở tí là chém giết, đánh nhau. Đang ngồi trên chuyến xe mà nghe ầm một cái là kính bể, máu me đầy người, hành khách bị văng ra khỏi xe mấy chục mét. Hết sức lo lắng và sợ hãi! Đạo đức, lễ nghĩa sụp đổ, con người tàn ác, tàn bạo. Minh Thành đã chứng kiến tận mắt nên hết sức bất ngờ, sáng sớm Minh Thành với các chú đi thiền hành, đã lâu lắm mới bước lên cầu, thấy xa xa có một người nằm giữa đường lộ, Minh Thành nói chú Trí Hòa đến xem người ta có bị gì không, chú Trí Hòa vừa lại hỏi thì người đó bật dậy rút dao ra, may mắn lúc đó có 3-4 thầy đi thì người đó nhìn thấy dáng của thầy tu nên dịu xuống, còn mình thì lặng lẽ âm thầm rút lui. Hết sức nguy hiểm! Định lại xem có bệnh hoạn gì không để giúp đỡ mà tới nơi thì người đó rút dao thủ sẵn trong người. Mọi người đang sống trong nguy hiểm, ách nạn, hiểm nạn, sự sống chết cách nhau trong gang tấc, nếu như hôm đó người đó nhào tới đâm thì chưa kịp xuất gia đã mất mạng. Mình không biết được nghiệp quả trong quá khứ, nhiều khi may mắn có hình tướng của các quý thầy và chú Trí Hòa có tâm hướng xuất gia nên từ cái nặng chuyển thành nhẹ, chứ nếu không người đó nhào tới đâm một nhát là xong, mà mình chưa làm gì hết, chỉ mới tới hỏi thăm. Thành ta phải có sự lo lắng và sợ hãi mà tu tập, để hết thời gian vào việc học kinh pháp và thiền quán, cái chết bất thình lình đến thì mình không đủ sức chánh niệm, chánh định tỉnh giác. Nếu chưa Nhập lưu thì biết đâu đời sau mình còn được cái thấy biết chân chánh nữa hay không, còn ai nói cho mình những pháp này. Sanh ra hưởng một số phước của đời này tu rồi lại đam mê, lún sâu trong đó không đi ra được. (từ phút 51 trở đi là vấn đáp)

./.

https://www.youtube.com/watch?v=JxWMW3wDITY

https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-35b.htm