Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tầm Quan Trọng Của Tâm Hiền Trí 1 - Tôn Giả Xá Lợi Phất

2026-03-03 00:53:37
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

TẦM QUAN TRỌNG CỦA TÂM HIỀN TRÍ 1

TÔN GIẢ XÁ-LỢI-PHẤT

–Thích Minh Thành–

Kính bạch trên chư tôn đức, hôm nay con được sự chỉ dạy chia sẻ cùng quý thầy, quý cô trong lớp đào tạo Trung cấp giảng sư. Minh Thành nghe chư tôn đức chia sẻ chúng ta chỉ có ba buổi cho nên trong ba buổi này mình sẽ gói gọn những phần pháp học, pháp hành cốt lõi trong kinh tạng Nikāya. Về kinh nghiệm giảng pháp thì Minh Thành nghĩ quý thầy, quý cô đã nghe chư tôn đức giảng rất nhiều cho nên ở đây Minh Thành muốn cúng dường pháp bảo đến các thầy, các cô là phần pháp hành. Vì người ta gọi mình là người tu, tu thì phải có thực hành mà bây giờ chúng ta học quá nhiều lý thuyết nhưng không nắm vững phương pháp thực hành thì chúng ta rất khó thấy được pháp, nếu không thấy pháp thì không thực hành được pháp, nếu không thực hành pháp, không thành tựu pháp thì làm sao có thể hoằng pháp. Muốn hoằng pháp thì phải có pháp mới hoằng được, chữ "hoằng" nghĩa là làm cho rộng lớn ra, nghĩa là đem giáo pháp của Phật phổ biến, truyền bá rộng rãi, rộng lớn, nhưng muốn được vậy thì trước tiên phải biết pháp là gì, thấy được pháp, thực tập được pháp, có sự thành tựu đôi phần trong đó thì mình mới đem cái thấy, cái học đó để chia sẻ đến mọi người, đó mới là hoằng pháp, giảng pháp, truyền pháp. Ở đây chúng ta sẽ nương trong tạng kinh Nikāya để chia sẻ những lời dạy gốc của Đức Phật từ ngàn xưa, chúng ta gom lại ba phần là pháp học, pháp hành và pháp thành. Pháp học chính là năm bộ tạng kinh Nikāya: Trường Bộ, Trung Bộ, Tăng Chi Bộ, Tương Ưng Bộ và Tiểu Bộ, riêng phần này Minh Thành mong chư Tăng Ni để tâm thật nhiều vào tạng kinh Niikāya vì hiện giờ khi chúng ta chia sẻ, dẫn chứng thì thường dẫn chứng của thi sĩ này, thi sĩ kia hoặc là triết gia này, triết gia nọ, điều này sẽ không đi sâu vào Thánh trí giải thoát của Đức Phật. Riêng bản thân Minh Thành sẽ lấy tạng kinh Nikāya làm chỗ y cứ tu học và thực hành cho nên chúng ta cần để tâm thật nhiều vào năm bộ kinh Nikāya, lấy đó làm pháp học vì những lời dạy trong đây là những lời dạy từ kim khẩu của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, mình y cứ vào lời dạy bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tức là sự thấy biết chân lý một cách rốt ráo, cùng cực, viên mãn tất cả mọi khía cạnh, góc độ của các pháp. Ngài là bậc pháp chủ nghĩa là chủ của pháp, ngài là bậc pháp bổn nghĩa là gốc của pháp, ngài là bậc pháp nhãn nghĩa là con mắt của pháp, ngài là chỗ tất cả pháp từ đó có ra, là chỗ y cứ của pháp, chỗ sản sanh, khai diễn ra pháp cho nên khi học chúng ta phải y cứ vào pháp của Đức Phật chứng ngộ, đây là điểm thứ nhất rất quan trọng các Tăng Ni sinh cần lưu ý để thực tập để trở thành giảng sư. Nếu trong nội điển của pháp mà chúng ta không nắm vững, không đi sâu, không thấy được cốt lõi mà chúng ta quá lan man ngoài ngoại điển thì gốc không vững nên dễ bị nghiêng ngã, ngã đổ. Trong bài kinh Cột trụ Đức Phật nói người có niềm tin không dao động trong pháp, thấy được pháp sẽ giống như cây cột trụ bằng đá chôn sâu xuống đất.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỳ-kheo.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'. Vì sao? Vì bốn Thánh đế được khéo thấy, này các Tỳ-kheo". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IX. Cột Trụ) 

Cây cột này không nghiêng ngã mà vững chắc trước gió, còn người không nắm vững pháp, không thấy rõ pháp, không thực hành và thành tựu pháp thì Đức Phật nói giống như bông gòn để trước gió ở ngã năm, ngã bảy, gió thổi chiều nào nó bay theo chiều đó.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỳ-kheo.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt'. Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'. Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỳ-kheo".(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IX. Cột Trụ) 

Đó là Đức Phật lấy hai hình ảnh cột trụ và bông gòn ví dụ cho người chưa thấy rõ pháp, chưa đi sâu vào pháp và một người thấy pháp, thành tựu pháp. Làm sao để trở thành cột trụ, có lòng tịnh tín bất động đối với pháp? Chúng ta phải kiến địa thâm hậu, kiến địa là chỗ thấy, thâm hậu là sâu sắc, sâu dày, thâm sâu về pháp, muốn được vậy thì phải chuyên công, chuyên tâm, chuyên chú vào tạng kinh, đây là kinh nghiệm khi Minh Thành còn là Tăng sinh cho đến ngày hôm nay Minh Thành thấy rất quan trọng, phải chuyên sâu vào nội minh, Minh Thành học bốn năm về chuyên khoa Cao đẳng nội minh ở chùa Vĩnh Nghiêm, các bậc tôn đức thượng thủ bây giờ như Hòa Thượng chủ tịch, Hòa Thượng hiệu trưởng trường trung cấp hoặc Hòa Thượng trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm, Hòa Thượng phó pháp chủ Thượng Đức Hạ Nghiệp, Hòa Thượng Thượng Trí Hạ Quảng là giảng dạy về cái này, chuyên tâm vào nội điển thì gọi là cao đẳng nội minh, lớp đó tốt nghiệp ra có rất nhiều vị đang đảm trách công việc hoằng pháp. Đây là điều đầu tiên Minh Thành muốn gửi đến các Tăng Ni sinh của chúng ta nhất là trong thời điểm này rất thích hợp để chúng ta thực hành pháp học và pháp hành.

Toàn bộ sự thực hành của tạng kinh Nikāya là sự thực hành giúp mình thấy rõ được thân tâm vì nếu không thấy rõ thân tâm thì làm sao nhiếp phục được nó. Thân tâm chính là ngũ uẩn, mà ngũ uẩn là sắc; thọ; tưởng; hành; thức.

Thân người là sắc.

Cảm giác là thọ.

Hình bóng là tưởng.

Suy nghĩ là hành.

Rõ biết là thức.

Định nghĩa thứ hai:

Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.

Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.

Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.

Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.

Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.

Chúng ta phải học thuộc lòng định nghĩa này rồi kết hợp pháp học thì mới thực hành được, ngày nào mình cũng đọc "Quán tự tại hành thâm… chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách" mà không thấy ngũ uẩn là gì thì có đọc trăm ngàn năm vẫn là người không thấy đường. Thân tâm mình gồm năm yếu tố, năm nhóm, nhóm thứ nhất là sắc uẩn, gồm có đất, nước, gió, lửa, trong đó thân người, đồ vật, cảnh vật là sắc. Khi nắm vững được năm uẩn và nhận diện bằng con mắt tâm chứ không chỉ học trên chữ nghĩa, từ pháp học ứng dụng qua pháp hành thì chữ quán chiếu ngũ uẩn mà trong tâm kinh Bát-nhã đọc là chiếu kiến ngũ uẩn, chiếu kiến là soi thấy, dùng con mắt tâm soi thấy cảm giác này là cảm giác gì, thấy được trong mình đang có lời nói lầm thầm gì, thấy được trong tâm đang có hình bóng gì, đó gọi là quán chiếu năm uẩn. Toàn bộ pháp hành trong Nikāya là sự quán chiếu, sự nhìn ngó, xem xét, soi rọi lại thân tâm chúng ta, hiện tại bây giờ đang xảy ra đại thảm họa toàn cầu nên rất khổ, trước nay chúng ta đã học Khổ Thánh Đế nhưng bình thường chúng ta thấy khổ là bệnh khổ, nghèo khổ, già khổ, yêu thương mà xa lìa là khổ, oán ghét phải gặp gỡ là khổ hoặc là cảnh chết chóc, sanh ly tử biệt là khổ, trên cả thế giới hiện nay hơn một triệu em bé mồ côi cha mẹ trong đại dịch này, hơn bốn triệu người chết, khi nói khổ mà không quán chiếu ngũ uẩn, không nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì trí tuệ của mình về khổ chỉ nằm trên sắc, tức là chỉ thấy khổ ở vẻ ngoài, ở hình tướng bên ngoài. Ví dụ thấy người đó già bệnh, nghèo không tiền hoặc mồ côi, chia ly hoặc chết thì mình cho là khổ, cho nên đại đa số chúng ta thấy cái khổ ở phạm vi rất nhỏ trên sắc, còn thọ; tưởng; hành; thức phía sau rất sâu xa, nếu không học ngũ uẩn là không biết. Cảm giác khi bị bó buộc một chỗ rất khổ, tù túng, ngột ngạt, muốn ra ngoài, như vậy cảm giác này là khổ, khi tức giận lên thấy khó chịu, bực bội, nhiệt não, thiêu đốt mình, đó là mình đang bị khổ về cảm thọ, nếu không học nhận diện ngũ uẩn chỉ thấy người đó mất cha, mất mẹ nên khổ, đó là thấy ở bên ngoài của sắc chứ không thấy được sâu xa bên trong cái khổ đó là cảm giác đau đớn, cảm giác này đeo đẳng dài lâu suốt cả đời. Cái mong muốn, đòi hỏi, sự bức xúc của dục vọng, tham ái bên trong cũng làm mình khổ cho nên mới nói cảm thọ là đau khổ, cảm giác muốn mà không được, cảm giác nóng bức, khao khát, tìm kiếm làm mình khó chịu, khổ sở. Những hình bóng (tưởng uẩn) của người mình ghét hiện ra trong tâm là mình bực bội, khi hình bóng, cảm giác (thọ uẩn) xuất hiện sẽ có lời nói lầm thầm đi theo, biết bao suy nghĩ (hành uẩn) hiện ra chiếm đóng trong tâm làm mình khổ, cái rõ biết (thức uẩn) có cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm thì cái thức này cũng gây đau khổ. Khi học được quán chiếu ngũ uẩn thì trí tuệ thành tựu là thành tựu toàn diện chứ không phải phiến diện, chỉ có một khía cạnh, bình thường chưa quán chiếu ngũ uẩn mà học về vô thường thì đa số chỉ thấy sắc, thấy sanh, già, bệnh, chết, người mình thương trở thành thù giận gọi là yêu hận tình thù, thân sơ, được mất, khen chê, đa số mình nhìn sự vô thường biến đổi ở ngoài sắc nhưng khi học ngũ uẩn mới thấy sự vô thường, biến đổi diễn ra trong cảm giác, lúc thì dễ chịu, lúc khó chịu, lúc thì không khổ không vui cho nên nhìn sâu vào ngũ uẩn sẽ thấy có biết bao hình bóng sanh rồi diệt, có biết bao suy nghĩ nói lầm thầm, thủ thỉ, thỏ thẻ trong tâm, nhất là trong giờ ngồi thiền suy nghĩ diễn ra liên tục. Cái vô thường đó nằm trong khắp ngũ uẩn, chính vì khổ, vô thường nên nó vô ngã, trống rỗng vì vậy bất kì lúc nào cái sắc này cũng có thể tan rã. Sắc này do tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh ra, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, đó là những lời Đức Phật nói trong kinh Một ung nhọt.

"Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)

Những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức cũng liên tục sanh diệt trong tâm. Chúng ta lấy ba pháp ấn làm ví dụ để thấy tại sao lúc nào cũng nói phải nhận diện ngũ uẩn, phải chiếu kiến ngũ uẩn, phải thực hành ngũ uẩn vì nếu không học ngũ uẩn, không nhìn sâu vào ngũ uẩn, không thấy biết ngũ uẩn thì nhìn tất cả mọi vấn đề không toàn diện, chỉ thấy một góc cạnh chứ không thấy tất cả mọi khía cạnh, góc độ của thân tâm một cách đầy đủ và trọn vẹn, đó là pháp hành còn sau đây là pháp thành.

Pháp thành là sự đoạn tận vô minh và tham ái. Vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn, vô minh là không thấy không biết sự thật đối với năm uẩn, không biết sắc do tứ đại kết hợp, thọ; tưởng; hành; thức là do duyên sanh, vô thường, trống rỗng rồi cho sắc là tôi, là của tôi, mình nhận hết cảm giác, suy nghĩ, hình bóng khởi lên là mình, là của mình, là tự ngã của mình, cái biết cũng cho rằng mình biết, mình nhận thức, như vậy gọi là năm thủ uẩn, tức là sự nắm chặt vào trong năm uẩn. Đức Thế Tôn nói rằng sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, yêu mà xa lìa là khổ, ghét mà phải gặp là khổ, mong cầu mà không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ, câu cuối cùng này là bừng sáng, rực sáng trí tuệ Khổ Thánh Đế của Đức Phật, nếu không có câu sau cùng mà chỉ thấy những thứ ở trên thì cái đó không có gốc rễ, không có chỗ quy nạp, tóm lại sự nắm chặt vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là khổ đau, chính câu này làm rực sáng Khổ Thánh Đế cũng như làm rực sáng tạng kinh Nikāya. Vì mình không thấy không biết sự thật khổ, vô thường, vô ngã của sắc; thọ; tưởng; hành; thức nên yêu thích, ham muốn. Tất cả mọi vấn đề đều nói về ngũ uẩn, vô minh là không thấy không biết, không sáng tỏ về năm uẩn, chính vì không thấy không biết nó là cái thứ vô thường, vô ngã, trống rỗng, tan nát, hoại diệt nên mình yêu thích, ham muốn, đó chính là vô minh và tham ái. Cái pháp thành tựu chính là đoạn tận sự không thấy không biết và đoạn tận sự yêu thích đối với ngũ uẩn, như vậy là xuất ly, giải thoát khỏi ngũ uẩn, cho nên khi nắm vững được ngũ uẩn là nắm được cái lõi của tạng kinh Nikāya. Bây giờ nói tham tiền, tham sắc đẹp thì đó chỉ là một phần nhỏ của sắc uẩn, khi chưa đi vào thực tập trong kinh Nikāya thì nghe chữ hiền rất bình thường nhưng chữ hiền trong kinh Nikāya rất sâu sắc và không hề bình thường, trong kinh Đức Phật và các bậc tôn giả Thánh Tăng gọi nhau là chư hiền, chữ hiền trong kinh Nikāya là hiền thiện, hiền trí, hiền Thánh. Làm thế nào để trở thành người hiền? Chúng ta nghĩ rằng bản thân mình đã hiền chưa? Có nhiều người nói tu thì phải ráng tập tâm hiền thì có người hỏi lại "không thấy tôi hiền thay sao mà còn kêu phải tập tâm hiền", câu nói này đã thể hiện tính dữ của người nói, chỗ trọng tâm trong sự thực tập của kinh Nikāya là nằm ở cảm thọ, xin mời mọi người nghe thêm bốn bài quán chiếu thâm sâu về cảm thọ của Minh Thành đã chia sẻ trên trang linhquyphapan.vn. Trước nay chúng ta tu học chung chung là tu học trên suy nghĩ và trên cái tưởng cũng như ở ngoài lời nói, mình đọc qua rồi thôi hoặc là suy nghĩ qua là xong, còn tu trên cái tưởng là ngồi lại tưởng tượng điều này điều kia, đó là mình chưa chạm được vào cảm thọ trong khi cảm thọ là nơi chứa đựng tất cả pháp.

"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)

Vì thế khi muốn biết trong thân tâm có gì thì chỉ cần nhìn vào cảm thọ sẽ biết được tâm còn gì trong đó. Mọi người xem xong những bộ phim, những vở kịch, cải lương là đầm đìa nước mắt thì chắc hẳn những bộ phim, vở kịch, tuồng cải lương đó phải hay, một chú bé người Tây Tạng hát "gặp mẹ trong mơ" làm cả thế giới xúc động rơi lệ, như vậy cái gì sâu sắc mới đánh động được cảm xúc mọi người, trong lòng mình nhớ ai nhiều nhất và ghét ai nhiều nhất thì sẽ nhớ mãi người đó không quên được vì nó đi vào và ở trong cảm xúc, nó chất chứa, tồn tại và tích tụ trong đó. Có khi mình nghe "tôi đã đi qua không biết bao nhiêu cảnh đẹp, tôi đã gặp không biết bao nhiêu con người, tôi đã có rất nhiều suy nghĩ nhưng người để lại trong tôi ấn tượng nhiều nhất chính là mẹ, người có trái tim vĩ đại nhất hành tinh này", như vậy suy nghĩ phớt qua rồi mất, cảnh vật đi qua rồi quên nhưng những cảm xúc ấm áp, ngọt ngào, sâu sắc của yêu thương vẫn còn lưu giữ trong tâm không mất đi, có khi đi theo mình suốt đời, đó chính là cảm thọ và đó cũng là lý do Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ. Sự tu của mình chỉ tu trên miệng, đọc ở ngoài hoặc là suy nghĩ phớt qua rồi thôi, hoặc là tu trên tưởng tượng thì sự tu đó không đi đến sâu sắc để có thể nhiếp phục và đoạn tận được tham, sân, si, vô minh và bản ngã cho nên tâm hiền này không đơn giản chỉ là người hiền lành ít nói, sao cũng được, cái đó trong kinh nói là hiền ngu, còn ở đây là hiền trí. Hết giờ học có chuông reng là đứng lên làm bàn ghế xô lệch tạo ra âm thanh là chưa hiền, đóng cửa ầm ầm là chưa hiền, bước đi mà kéo lê dép phát ra tiếng động là chưa hiền, ăn thì làm rớt muỗng đũa, tay áo chạm vào thức ăn thì đó vẫn chưa hiền vì chữ hiền trong kinh là một sự an tịnh và lắng dịu của các căn, chữ hiền ở đây bao trùm cả oai nghi, tế hạnh, sự hộ trì căn cho nên bước đi phải nhẹ nhàng, an tường, ánh nhìn phải từ hòa, lời nói phải dịu dàng, hành động phải dễ thương, đó là cả một công phu tu tập. Tất cả cử chỉ, hành vi, oai nghi, tế hạnh được an tịnh, lắng dịu, mềm mại, nhu nhuyến thì đó là bước đầu của tâm hiền, đó là niệm oai nghi, niệm hành động của Thân Hành Niệm, từ những cái nhỏ của thân hành, khẩu hành, tức là hành động ngoài thân, lời nói trên miệng đi vào cái hiền trong ý hành là những suy nghĩ, khi nghĩ về người nào mà nghĩ về điều xấu ác của người đó cần chuyển hướng nghĩ về điều hiền, điều thiện của người đó. Chúng ta có ba thiện hạnh, ý suy nghĩ điều thiện, miệng nói lời hiền, thân là việc hiền thiện, cái này được thực tập trong tế hạnh, oai nghi, suy nghĩ, hành vi, ngôn ngữ từng chút một, lâu dần mới đi sâu vào tâm ý hoàn toàn là hiền thiện, tôn giả Xá-lợi-phất là biểu tượng, là tấm gương cho hai chữ hiền thiện này, làm chỗ soi sáng cho chúng ta trong hành động của ngài để chúng ta thấy hiền trí trong kinh Nikāya là như thế nào.

"Như vậy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika, rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con đã sống an cư trong mùa mưa tại Sàvatthi. Bạch Thế Tôn, nay con muốn ra đi du hành trong quốc độ.

- Này Sàriputta, nay Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời.

Rồi Tôn giả Sàriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Rồi một Tỳ-kheo, sau khi Tôn giả Sàriputta ra đi không bao lâu, bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con, đã bỏ đi du hành, không có xin lỗi con.

Thế Tôn cho gọi một Tỳ-kheo:

- Này Tỳ-kheo, hãy đến nhân danh Ta, nói với Sàriputta: 'Thưa Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả'.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỳ-kheo ấy, vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta:

- Thưa Hiền giả Sàriputta, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.

- Thưa vâng, này Hiền giả.

Tôn giả Sàriputta vâng đáp Tỳ-kheo ấy. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Moggallàna và Tôn giả Ananda cầm chìa khóa, đi từ tinh xá này đến tinh xá khác nói rằng:

- Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Nay Tôn giả Sàriputta sẽ rống tiếng rống con sư tử trước mặt Thế Tôn.

Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:

- Ở đây, này Sàriputta, một đồng Phạm hạnh có điều bất mãn với Thầy: 'Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con đã bỏ đi du hành, không có xin lỗi con'". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)

Sau đây là chín pháp an trú tâm để thực tập cái hạnh của một bậc hiền trí, hiền thánh.

"- Thật vậy, bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm trên thân, người ấy, ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, trên đất, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không xấu hổ, hay không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như đất, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ bất tịnh, rửa sạch phẩn uế, rửa sạch nước tiểu, rửa sạch nước miếng, rửa sạch máu, rửa sạch mủ; tuy vậy nước không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như nước, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, lửa đốt các đồ tịnh, đốt các đồ bất tịnh, đốt phẩn uế, đốt nước tiểu, đốt nước miếng, đốt mủ, đốt máu; tuy vậy lửa không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như lửa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ bất tịnh, thổi phẩn uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu; tuy vậy gió không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như gió, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)

Đó là phần thứ nhất an trú tâm như tứ đại, bốn tâm rộng lớn vô lượng như tứ đại, sau đây là những phép quán.

"Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, con trai của một người Candàla (Chiên-đà-la: hạ liệt) hay con gái của một người Candàla, với tay cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn, với một tâm trạng hạ liệt. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như con trai của một người Candàla hay con gái của một người Candàla, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, một con bò đực, với sừng bị cưa, hiền lương, khéo điều phục, khéo huấn luyện, đi lang thang từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, không hại một ai với chân hay với sừng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như một con bò đực với sừng bị cưa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, một nữ nhân hay một nam nhân còn trẻ tuổi, thanh niên, ưa thích trang điểm, sau khi gội đầu, sẽ lo âu, xấu hổ, nhàm chán nếu xác rắn, hay xác chó, hay xác người được cuốn vào cổ người ấy. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con lo âu, xấu hổ, nhàm chán với cái thân đầy bất tịnh này. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, có người mang một cái bát đầy mỡ, có thủng nhiều lỗ, thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con mang cái thân này, có thủng nhiều lỗ, có thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)

Khi Đức Phật nghe một điều gì đó là ngài sẽ xác nhận lại xem có đúng như vậy không, còn mình nhiều khi nghe ai nói là sôi sục lên vì cái thọ của mình chưa hiền, chưa an tịnh, lắng dịu, vẫn còn sôi nổi, cho nên chỉ cần tai nghe tiếng là thọ do nhĩ xúc sanh, tức là mới nghe là sanh khởi ra cảm thọ ngay nên dễ bị tham sân, tham ưu ở đời, nghe là yêu thích, khoan khoái, nghe là bực bội, khó chịu chứ không có cái tâm trầm tĩnh, an tịnh, lắng dịu. Ngài Xá-lợi-phất nói người nào không thực tập Thân Hành Niệm mới có thể xúc phạm người khác rồi bỏ đi không xin lỗi, người nào không niệm thân trên thân, không dò xét thân này, không quán chiếu thân này mới xúc phạm người khác rồi bỏ đi không xin lỗi, còn ngài Xá-lợi-phất đã thành tựu tứ vô lượng tâm, không còn sân hận với bất kì đối tượng nào dù cho người đó hủy nhục, chê bai, phỉ báng cho nên trong tâm hiền này có cả bốn tâm vô lượng. Khi chia sẻ chúng ta có ba phần, phần thứ nhất là Minh Thành đọc kinh theo nghĩa tiếng việt cho dễ hiểu, phần thứ hai là giải thích những từ khó, thứ ba là đem lời kinh ứng dụng vào đời sống thực tế. Ngài thực tập đã lâu ngày tâm hiền hậu, hiền lương, hiền đức như tấm vải rách để mọi người có thể chà đạp lên, chùi lên nhưng vẫn không sân giận, khó chịu với bất kì ai. Ngài đã lâu ngày thực tập thiền quán Thân Hành Niệm, đã quán chiếu thâm sâu và thành tựu bất tịnh quán, ngài đã y theo lời dạy của Thế Tôn nên chỉ sau nửa tháng xuất gia đã thành tựu cứu cánh phạm hạnh, thành tựu bốn vô ngại giải, tứ biện tài, chỉ sau hai tuần lễ xuất gia ngài đã diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã, cho đến ngày nay đối với trí tuệ bất tịnh quán, đối với xác thân xú uế, bẩn thỉu, đối với tim, gan, phèo phổi, tùy phế thận này ngài đã nhàm chán, nhàm chán với bộ xương này, nhàm chán đối với phân, nước tiểu, nước bọt và máu này, ngài thấy lo âu, nhàm chán, xấu hổ, chẳng khác nào một người đẹp bị quàng lên cổ xác con rắn chết, bị quàng lên cổ xác con chó chết, bị quàng lên cổ xác một người chết. Ngài đã thành tựu và thể nhập trí tuệ bất tịnh quán này, bất cứ lúc nào ngài nhìn lại tấm thân ung nhọt chín lỗ rỉ chảy những thứ bất tịnh đều thấy nhàm chán, xấu hổ, đã lâu ngày ngài đã thành tựu trí tuệ Thân Hành Niệm này thì làm sao ngài có thể xúc phạm bạn đồng tu mà không xin lỗi được. Cái thân ung nhọt chín lỗ được ví dụ như cái bát đựng mỡ bị lủng chín lỗ nên rỉ chảy ngày đêm những thứ bất tịnh, tanh hôi, xú uế, trong thân tâm lại chứa biết bao sự thúc giục, tham muốn, đòi hỏi, khao khát, thèm thuồng, dục vọng, sân hận, tức giận, bản ngã, vênh váo, hống hách nên thật là ngao ngán, nhàm chán với thân ngũ uẩn vô thường, bất tịnh, đầy rẫy những cảm xúc hơn thua, khen mình che người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc này. Ngài an trú tâm như đất, nước, gió, lửa, rộng lớn vô lượng vô biên, bao la của sự từ, bi, hỷ, xả, ngài an trú tâm như miếng nùi giẻ rách, như kẻ thấp kém nhất trên đời này, như con bò đực bị cưa hai sừng, ngài lo lắng, xấu hổ, nhàm chán tấm thân bất tịnh này, ngài thấy nó như xác rắn chết, xác chó chết, ngài mang tấm thân này bị thủng nhiều lỗ nên bị rỉ chảy nhiều thứ hôi dơ, bất tịnh. Ngài an trú tâm hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền trí của bậc hiền Thánh, rộng lớn, bao dung như hư không, vô lượng vô biên không giận, không sân với bất kì một ai, ngược lại còn hiền hòa, từ ái với hữu tình, với chúng sanh, với vạn loại.

"Rồi Tỳ-kheo ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện. Con đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Mong Thế Tôn chấp nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn đón về tương lai.

- Này Tỳ-kheo, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Thầy đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Này Tỳ-kheo, vì Thầy đã thấy tội ấy là một tội, đã phát lộ đúng pháp, Ta chấp nhận tội ấy cho Thầy. Ðây là một sự tiến bộ, này Tỳ-kheo, trong Pháp Luật của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, phát lộ đúng pháp, và ngăn đón trong tương lai.

Rồi Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta:

- Này Sàriputta, hãy tha thứ kẻ ngu si này, trước khi ở đây, đầu nó sẽ bị vỡ tan làm bảy mảnh.

- Bạch Thế Tôn, con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: 'Hãy tha thứ cho', và cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)

Một người đi vu khống cho bậc đại Thánh thì nghiệp quả vô cùng khủng khiếp, đầu vỡ tan thành bảy mảnh giống như bây giờ bị tai biến mạch máu não và thậm chí còn hơn thế nữa, chúng ta nhớ Đề-bà-đạt-đa sau khi nhiều lần tìm cách hãm hại Phật thì cuối cùng trên đường đến Tinh Xá bị đất nứt ra rơi vào địa ngục nên không thể gặp được Đức Thế Tôn, đó là nghiệp quả của người tìm cách hãm hại Thế Tôn. Ngài Xá-lợi-phất bị người ta vu khống nhưng sau khi ngài tha thứ cho người đó thì ngài cũng mong vị tôn giả đó tha thứ cho ngài, đó là tâm đại hiền trí, đại hiền Thánh.

Hôm nay Minh Thành chỉ mới giới thiệu cho các thầy, các cô một chữ là tâm hiền, Minh Thành trùng tiên lại và diễn đọc theo nghĩa tiếng việt để thầy cô dễ \shiểu, đây là những cảm giác hiền thiện quý báu của bậc Thánh Tăng.

./.