Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thế Tôn Quở Trách Tà Kiến - Chấp Thức Là Thường Hằng - Đại Kinh Đoạn Tận Ái 1 - Trung Bộ Kinh

2026-03-03 00:53:38
Thế Tôn Quở Trách Tà Kiến

Chấp Thức Là Thường Hằng

Đại Kinh Đoạn Tận Ái 1 - Trung Bộ Kinh

Thích Minh Thành

Ngày 02 tháng 03 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Duyên khởi PAGEREF _Toc137054857 \h 1

II. Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc137054858 \h 4

III. Thức do duyên khởi PAGEREF _Toc137054859 \h 6

IV. Nhận diện và chế ngực ác bất thiện pháp PAGEREF _Toc137054860 \h 10

V. Trình pháp PAGEREF _Toc137054861 \h 22

I. Duyên khởi

Bậc tôn quý nhất đời,

Tâm hoàn toàn thanh tịnh,

Sạch hết tham, sân, si

Thấu suốt hết tận cùng,

Thân tâm và thế giới,

Đấng giác ngộ hoàn toàn,

Phật Thích Ca Mâu Ni.

Kính bạch chư tôn hiền đức, các bậc hiền trí.

Nay chúng ta nghe bài kinh Đoạn tận ái, Trung Bộ Kinh tập một, bài kinh số 38:

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau:

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Ý nói Tỳ-kheo Sati, con của người đánh cá khởi lên nhìn nhận sai lầm rất nghiêm trọng gọi là ác tà kiến. Kiến là thấy, tà là lệch lạc, ác là xấu ác. Cái thấy sai lầm, lệch lạc, xấu ác là ác tà kiến.

"Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác".

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Ý nói vị Tỳ-kheo này sanh khởi một nhận định hết sức sai lầm, cho rằng thức có đi đâu, đi lên hay đi xuống trong vòng luân hồi nhưng nó không đổi khác.

Một số đông Tỷ-kheo nghe như sau: "Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác"". Rồi những Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi đến xong liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá như sau:

– Này Hiền giả Sati, có đúng sự thật chăng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng... (như trên) ... nhưng không đổi khác".

– Thật sự là vậy, chư Hiền, theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Tức là sự rõ biết của mắt này, của tai, sự thấy sự nghe, ngửi nếm, xúc, biết, sáu biết của nhận thức này là như vậy hoài, không thay đổi.

Rồi những Tỷ-kheo ấy muốn Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận:

– Hiền giả Sati, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi; không có duyên thì thức không hiện khởi.

Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, dù được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy.

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Ý nói Thế Tôn không nói như vậy, Ngài đã dùng rất nhiều pháp môn nói là thức này do những nhân duyên hội tụ mà sanh khởi. Do duyên có mắt và các sắc khởi lên sự thấy, sự rõ biết các sắc. Do duyên có lỗ tai, có tiếng khởi lên sự rõ biết âm thanh.

Này các Tỷ-kheo, do duyên mà thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên là tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức.

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Duyên sanh pháp: Do duyên có mắt và các sắc sanh khởi nhãn thức. Nhãn thức là sự rõ biết các sắc. Do duyên có tai và các tiếng sanh khởi nhĩ thức. Nhĩ thức là sự rõ biết các tiếng, âm thanh. Do duyên có mũi và các mùi nên sanh khởi tỉ thức. Tỉ thức là sự rõ biết các mùi. Do duyên có lưỡi và các vị sanh khởi thiệt thức. Thiệt thức là sự rõ biết các vị. Do duyên có thân và sự đụng chạm sanh khởi thân thức. Thân thức là rõ biết sự đụng chạm. Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh ý thức. Ý thức là sự rõ biết thọ tưởng hành.

Ví dụ về ý thức:

Ý thức theo con hiểu là mình rõ biết thọ, tưởng, hành trong tâm của mình. Ví dụ, khi ý mình khởi lên những cảm giác dễ chịu hay khó chịu mình rõ biết.

Sư phụ:

Khi Minh Thành nhờ cô may nơ của y, bá nạp, thì lúc đó thọ, tưởng, hành của cô như thế nào?

Phật tử:

Thọ của con hơi bất ngờ vì con cũng chưa nhìn được tấm y mà sư phụ chuẩn bị đưa cho con. Thọ hồi hộp là thọ khổ. Về tưởng, con tưởng đến tấm y mà sư phụ nói. Ý hành của con nói không biết tấm y đó như thế nào, nó đẹp hay xấu. Khi sư phụ đem về thì sẽ nhìn kĩ để mình may cái bằng bà 13:58 cho đẹp.

Sư phụ:

Vậy lúc đó có nhận biết được những thọ, tưởng, hành đó không?

Phật tử:

Thưa sư phụ, lúc đó con rõ biết là cảm giác, hình bóng, suy nghĩ của con là ý thức.

II. Duyên sanh pháp

Sư phụ giảng giải:

Nói vắn tắt là do có căn, có trần khởi lên thức. Căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân làm bằng tứ đại. Đó là duyên sanh pháp.

– Hiền giả Sati, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi; không có duyên thì thức không hiện khởi.

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Ý nói không có duyên thì thức không hiện khởi. Ví dụ mắt bị hư thì không khởi lên nhãn thức. Ví dụ như thầy Pháp An (ông Năm) mắt đã bị hư nên không khởi lên nhãn thức, không có sự rõ biết các sắc. Hoặc chú Kha ở gần bên bị điếc một bên tai, điện thoại thì đời cũ, sóng trong rừng thì yếu nhưng chú thì điếc nên mỗi lần Minh Thành phải nói ba, bốn lần. Vậy nên nó chỉ thiếu duyên là nó sanh khởi yếu hay không sanh khởi nhĩ thức, nhãn thức.

Khi mình bị nhiễm covid, lúc đó vị giác của mình có bị biến đổi không? Mình ăn mùi vị gì mình cũng không biết. Đó là duyên. Thức này có sự rõ biết về các vị là do nhân duyên. Như cái lưỡi bên trong có biết bao nhiêu thần kinh trong đó, biết bao nhiêu tế bào trong đó, biết bao nhiêu những thành phần nhỏ nhiệm trong đó để nó kết hợp thành.

Nên “Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi; không có duyên thì thức không hiện khởi.”

Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, dù được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy.

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Chúng ta thấy trong kinh dùng từ cứng đầu, thời Đức Thế Tôn còn cứng đầu như vậy thì thời này ra sao? Sự cứng đầu không diễn tả hết được nghĩa. Như từ “chấp chặt”.

Khi chúng ta học kinh có nhiều sự kiện mà nhờ đó mình thấy được như tái hiện lại thời Đức Phật, mình xuyên không trở về hai mươi sáu thế kỉ trước để mình được ở sát Thế Tôn, cạnh các bậc Thánh chúng, ở gần các vị Tỳ-kheo. Mình xuyên không, đi ngược về hai mươi sáu thế kỉ trước.

– Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác.

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Tức là ngay lúc Thế Tôn và các bậc Thánh còn tại thế mà bao nhiêu người tới can gián như vậy nhưng vẫn không chịu nghe.

Vì các Tỷ-kheo ấy không thể làm cho Tỷ-kheo Sati, con người đánh cá từ bỏ ác tà kiến ấy, nên các vị ấy đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác". Bạch Thế Tôn, chúng con nghe: "Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác"". Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:

"– Này Hiền giả Sati, có đúng sự thật chăng? Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng... nhưng không đổi khác"".

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Ý của người Tỳ-kheo thức không đổi khác là cái biết này là chân thật, thường hằng, không đổi thay. Người ta cho sự rõ biết này là chính mình, chân tâm, tự tánh, tánh biết… Vị Tỳ-kheo này ở trước mặt Thế Tôn vẫn chấp chặt, cứng đầu nói như vậy.

III. Thức do duyên khởi

Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá nói với chúng con như sau:

"– Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu... nhưng không đổi khác. Bạch Thế Tôn, chúng con muốn khiến Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận:

"– Hiền giả Sati chớ có nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên thì thức không hiện khởi.

"Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá dầu cho được chúng con cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy:

"– Thật sự là vậy, theo tôi hiểu, Thế Tôn thuyết giảng..., nhưng không đổi khác". Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên chúng con đến hỏi Thế Tôn ý nghĩa này.

Rồi Thế Tôn cho gọi là một Tỷ-kheo khác:

– Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá: "Hiền giả Sati, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả".

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, sau khi đến, liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:

– Hiền giả Sati, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá đáp lời Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá đang ngồi xuống một bên:

– Này Sati, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác"?

– Thật sư là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

– Này Sati, thế nào là thức ấy?

– Bạch Thế Tôn, chính thức ấy nói cảm thọ, thọ lãnh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động thiện ác.

– Này kẻ mê mờ kia, vì ai mà Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói là thức do duyên khởi, không có duyên, thì thức không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông còn tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.

Chúng ta học thì mới thấy được những điều này ở trong người mình, không chỉ riêng người Tỳ-kheo này.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, có thể khởi lên tia lửa sáng gì trong Pháp, Luật này không?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể có được, không thể được, bạch Thế Tôn.

Được nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, im lặng, hổ ngươi, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng. Rồi Thế Tôn sau khi biết được Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đang im lặng, hổ ngươi, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng, bèn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá.

– Này kẻ mê mờ kia, người ta sẽ biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỷ-kheo.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng giống như Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá này, không những đã xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, mà còn tự phá hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức?

– Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên, thức không hiện khởi.

Đức Thế Tôn xác định lại và làm rõ vấn đề, nhắc nhở cho tất cả trong hàng Tỳ-kheo, cũng là để nhắc nhở cho chúng ta. Bài kinh này có một thông điệp rất lớn, rất vĩ đại, không phải chuyện đơn giản.

– Lành thay, chư Tỷ-kheo, lành thay, chư Tỷ- kheo, các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy! Chư Tỷ-kheo, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi. Không có duyên, thức không hiện khởi. Nhưng Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, không những xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, còn tự pháp hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ mê mờ ấy.

Này các Tỷ-kheo, do duyên mà thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên là tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức.

Này các Tỷ-kheo, do duyên nào lửa sanh và lửa ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên củi, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa củi. Duyên vỏ gỗ bào, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa vỏ bào. Duyên cỏ, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa cỏ. Duyên phân bò, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa phân bò. Duyên trấu, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa trấu. Duyên đống rác, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa đống rác.

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Tức là từ nhiên liệu nào sanh ra lửa thì tên gọi lửa theo nhiên liệu đó, như lửa mạt cưa, lửa rác, lửa đống rác, hay là lửa củi, lửa cỏ khô, lửa trấu.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên, thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên và tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh, và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức.

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Vậy nên khi học duyên sanh pháp thì mình phải học thật kĩ, nhuần nhuyễn, học giống như chú Đại bi, chú Vãng Sanh. Khi mình thực tập quán chiếu thì mình mới quán được, nếu mình không thuộc thì làm sao mình quán được duyên sanh pháp? Không quán được duyên sanh pháp thì không phá ngã được, không phá được nhìn nhận sai lầm ảo tưởng về một cái tôi, không phá vỡ được nếu như mình không học duyên sanh pháp và không quán về duyên sanh pháp.

Bình thường mình nhìn thì nói “Tôi thấy!” Đó là sai, là theo vô minh, phàm phu, thân kiến, chấp thủ, không có cái tôi nào thấy, có mắt, các sắc, khởi lên sự rõ biết các sắc. Không có cái tôi nào thấy, nếu nói “Tôi thấy!” tức là vô minh, là vô văn phàm phu.

Vậy nên để chúng ta học sâu sắc, sát sao, được thực hành là cả một công trình, nên đó là tại sao Đức Phật gọi các đệ tử là Đa văn Thánh đệ tử, đa văn là nghe nhiều, rất nhiều giáo pháp của Đức Phật. Mình thì nghe không đủ, thiểu văn, vô văn, là mình phàm phu. Mình phải hiểu hết những pháp của Đức Phật, những pháp căn bản trí là phải nằm lòng, nhuần nhuyễn, thuộc như cháo.

Khi mình nhìn vào là thấy liền, con mắt, sắc, khởi lên sự rõ biết, sau đó là nhiều vấn đề nữa, tiếp theo là nhãn xúc, thọ do nhãn xúc sanh, tới ái, sân… Ái, sân nó như thế nào và mình phải giải quyết, xử lý nó.

Khi từ giảng đường Minh Thành bước xuống đây thì nhớ lại chữ hôm qua, hai từ “nuông chiều” và “bênh vực mình” Minh Thành thấy những khía cạnh của tham ái rất ghê gớm. Suy nghĩ của mình mà mình dám tách nó ra là cả một sức hạnh. Kiến chấp trong bài kinh này là hành uẩn, là suy nghĩ, không bỏ ra (thủ) nên gọi là hành thủ uẩn. Sự nắm giữ suy nghĩ đó không bỏ ra, dù trời gầm cũng không buông, không nhả thì suy nghĩ của mình còn hơn trời gầm, trời sập không nhả đó. Dù Thế Tôn ở trước mặt nói mà vẫn “Con thấy vậy!”, “Ngài nói nhưng con thì vẫn thấy vậy!”

Nên mình phá được hành thủ uẩn này không phải chuyện đơn giản mà mình ngồi im ru đó mình chờ cho …36:18 Mình phải gỡ dần dần, mỗi ngày một chút, gỡ từng giờ, từng phút, từng giây những suy nghĩ khởi lên mình cũng không cho nó là mình.

Mình không nuông chiều nó, mình không nhận nó là mình, mình gỡ nó ra, tháo ra, cắt thì chúng ta nghĩ công phu cần bao nhiêu? Sự tu của mình cỡ bao nhiêu mới đủ? Từng ý nghĩ khởi lên mình đều không cho nó là mình. Nếu nó là thiện pháp thì “Ta cho ngươi phát triển!” Không phải là mình, dù là thiện pháp cũng không phải mình, đừng nói chi là ác pháp.

IV. Nhận diện và chế ngực ác bất thiện pháp

Nhưng đầu tiên mình phải nhận diện được ác pháp, kế đến là nhiếp phục, chế ngự ác pháp. Một mặt mình nhiếp phục, chế ngự ác pháp, một mặt mình tăng trưởng thiện pháp. Giờ thiện pháp phát triển lên, ác giảm xuống cho tới lúc ác hết, thuần thiện thôi là từ bỏ thiện đó, vì thiện đủ thì tâm thanh tịnh, không còn trạo hối, ray rứt. Vì cái ác, tội lỗi, xấu ác làm cho mình ray rứt, mình có làm gì sai thì tâm mình ray rứt, bất an nên khi mình làm thiện hết rồi thì tâm mình an, sẽ đi tới chỗ lạc, khinh an, đi đến hỷ, định thì xả thiện, tâm mới đi đến chỗ bất động giải thoát.

Tức là không nhận bất cứ sắc, thọ, tưởng, hành, thức nào dù cho một tí xíu cũng không nhận đó là mình, lúc đó mới từ bỏ được trọn vẹn sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc, thọ, tưởng, hành dễ nhưng thức rất thâm sâu.

Nên mình không học nhận diện về sáu thức thì mình không biết, cái nào mình thấy là mình tin. Thấy là “Tôi thấy!”, nghe là “Tôi nghe!” mình tin vào ngay. Mình có cảm giác là mình cũng tin, nếu có cảm giác gì sanh khởi lên là “Tôi cảm giác! Cảm giác này của tôi.” Mình cũng biết được những cái đó thì mình cũng tin cái biết được là biết đúng nhưng cuối cùng là ảo thuật gia. Thức giống như nhà ảo thuật, trò ảo thuật, ảo thuật sư.

Như hôm qua thầy Nghĩa có gửi cho Minh Thành một tin nhắn, lúc sáng vừa nói từ bỏ những chấp là trưa có tin nhắn ngay. Về chuyện đất kế bên chùa có làm đường, làm trên đất chùa thêm một mét. Những người cư sĩ qua nói thì chửi lại, đất của họ nhưng họ không làm mà làm trên đất của chùa. Khi Minh Thành nhìn thấy thì diệt thức, không cần thấy gì nữa, không nghe, không cảm xúc gì, vô diệt thọ tưởng không sanh khởi, chỉ sanh khởi nhẹ lên là từ bỏ luôn, không trả lời.

Vì thọ, tưởng, hành sanh khởi lên, cũng có khó chịu nên diệt luôn, để cho những người cư sĩ đó làm, mặc kệ họ. Hay cây tùng mình trồng mấy chục thướt mà họ đổ thuốc độc cho chết chỉ vì che mặt tiền của họ. Minh Thành bước ra nhìn thấy thì khởi lên khó chịu, lúc đó Minh Thành quán “Mày khó chịu thôi mày chết luôn đi. Đừng nhìn thấy nữa, mày mù luôn đi.” Và từ đó về sau không bước ra đó nữa.

Minh Thành hỏi “Mày chết rồi mà tại sao lại mày còn khó chịu được ở đây nữa? Mày chết mất rồi, mày còn ở đây nữa đâu? Đâu có gì là của mày?” Rồi nó im, diệt tận, xem như nhổ tận gốc nên giờ đã hết.

Như câu chuyện Đức Thế Tôn đã từng hỏi có người bẻ cây, bẻ cành, bẻ lá để đốt vậy thì người ta có nghĩ người ta đốt ông không? Người ta chặt cây, chặt cành thì mấy ông có nghĩ người ta chặt tay, chặt chân mấy ông không? Được trả lời là không có dính dáng gì tới họ.

Cũng vậy, sắc, thọ, tưởng, hành, thức này không dính dáng gì tới vì đó không là gì của ai, nên chặt, nhất đao lưỡng đoạn, đao hạ không lưu tình. “Vậy giờ muốn tâm nhẹ nhàng, thảnh thơi hay muốn lấy một thước đào hố chôn ở đó?” Như vậy thì tâm thoát ra ngay, tâm mình thoát khỏi thọ, tưởng, hành đó.

Vậy nên thức này rất ghê gớm, thâm sâu. Nên mình nhìn thấy là chết hay nghe là chết, mình ngửi hay nếm gì cũng chết, một ngày chết không biết bao nhiêu lần? Nếu mình cảm xúc thì mình chết chìm trong đó nữa. Vậy nên đầu tiên mình phải nhận diện được sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhận diện ngũ uẩn, kế đó với sự theo dõi sát sao, khít khao, miên mật, điệp viên, bám sát, theo dõi nó, xem sự vận hành của nó, mô típ, cấu trúc của nó, xem đường đi, nước bước của nó vận hành như thế nào. Mình phải xem cốt lõi ở chỗ nào để đánh vào đó, diệt nó. Mình xem hồng tâm chỗ nào, đánh thẳng vào chỗ sào huyệt của nó, cho sập hết.

Thức này rất ghê gớm, nên mình phải tập thấy như không thấy, tập nghe như không nghe, có những cái mình diệt thức, không thèm thấy, nghe, nhận thức nữa, diệt hết, không tiếp xúc nữa.

Giờ Minh Thành thấy họ tham, sân, si thấy ngao ngán vô cùng. Như hôm qua Minh Thành có nói với các Ngài là “Lẹ lẹ, xong rồi chết cho khỏe, đi, thôi mệt lắm!” Đi đâu cũng thấy tham, sân, si, giờ đi vào rừng, vào núi cũng thấy tham, sân, si, đừng nói chi là ở giữa phố thị.

Nên để tách ra được những suy nghĩ, những cảm thọ, những hình bóng trong tâm mình, để mình có thể nhàm chán, từ bỏ, thoát ra nó là cả một sức mạnh bên trong, là nội lực thâm hậu, đạo lực thâm sâu và một pháp lực hết sức mạnh mẽ, không phải yếu yếu là được.

Khi mình biết tu thì đỡ nhiều việc, từ đó giờ có biết bao nhiêu vấn đề lớn trên ngọn núi này, nhưng giờ mình tu rồi thì mình thoát ra dễ dàng. Giống như chiếc xe đang chạy vù vù, mình thấy con gà có thể chết, nhưng khi xe tới và lách qua thì mình thấy “Con gà này hay!” Mình tu cũng giống như con gà đó thì cũng giỏi, chỉ cần lách nhẹ là thoát nguy hiểm ngay, còn không là chết.

Tham, sân, si bên trong đã mệt mà cộng với tham, sân, si bên kia, nếu hai bên nhập lại với nhau thì bùng nổ. Mình suốt ngày chỉ đi kiện, không chỉ người dưng mà anh em ruột, vợ chồng đi kiện nhau. Nếu như mình thì những người luật sư thất nghiệp hết, không có nghề đó vì có gì để phải tranh giành? “Giành chỗ để chôn?” Mình nói vậy là xong, tâm mình từ bỏ.

Nên mình niệm được vô thường, niệm tử được là rất hay, niệm khổ đau hay không bằng bất cứ một điều gì trên đời này có thể so sánh. Bất cứ gì mình đưa Thánh trí huệ khổ lên “Chết mà không lo, suốt ngày sân si, hơn thua hoài.” Xong là tâm thoát ra luôn, tác ý như vậy khoảng mười lần. 47:57- 48:01 “Suốt ngày mày cứ lo sân si hoài.” La mắng như vậy thì tâm sợ, “Chết vô lượng, vô biên kiếp, cha, mẹ, ông, bà chết, mày cũng chết mà ở đây tham, sân, si.”

Vậy nên khi mình quán phân hủy, chín giai đoạn của một tử thi, khi Minh Thành nghe bậc đạo sư chỉ thì Minh Thành lông tóc dựng đứng, giống như trời sập. Minh Thành quán là nằm đó chết, rã ra hết, thành bộ xương. Bậc đạo sư dạy là quán những người xung quanh chết hết, tất cả rã thành bộ xương hết. Minh Thành nghe tới đó giống như quát nhiên đại ngộ 48:54, tất cả mọi chấp thủ rung chuyển, sụp đổ. Tức là không phải mình quán chỉ một mình mình mà trải qua chín giai đoạn của một tử thi nằm chết, những người kia còn sống, còn khóc mà mấy người đó chết hết. Chết giống như mình quán từng người chết hết giống như mình.

Những người nhìn mình khóc là họ chết luôn, họ cũng rã ra thành bộ xương, còn không thì còn ái, mình chết thì những người kia sẽ khóc, thương mình. Nó còn dư tàn, mấy người đó chết hết. Nên nhiều khi Minh Thành ngồi nhìn xuống và thấy như năm mươi nắm tro, năm chục xác chết, năm chục hũ cốt đang hiện diện trước mặt. Những người chết đang nói cho những người chết nghe.

Không có ai, sống với tham, sân, si, vô minh, dục ái, bản ngã, làm gì có con người, làm gì có cái tôi? Thấy như vậy thì sẽ khỏe, không hơn thua gì nữa. 50:12- 50:36. Mình quán 50:37- 50:49. Nó diệt tận tham ái một cách hoàn toàn. Còn nếu mình chết không thì những người kia còn nhớ thương mình, còn sót ái, còn dư tàn ái. Tâm mình thoát ra. Vậy nên pháp quán sâu và hay, nó phá hết tất cả, không còn gì.

Nên thức này là vấn đề, thức này ác độc, bị vô minh phong tỏa. Thọ, tưởng, hành này cũng bị vô minh phong tỏa, bị khát ái bao phủ. Hằng ngày mình phải nhận diện được vô minh và khát ái hằng ngày, hằng giờ, mỗi giây mỗi phút mình phải nhận diện được vô minh của mình, khát ái của mình.

Ví dụ mình thấy người ta xúc phạm, chửi mắng, lấy đồ của mình thì trong đó có vô minh, khát ái không? “Mình ở đâu và ai xúc phạm mình? Mình ở đâu và ai lấy đồ của mình?” Mình chỉ cần hỏi câu hỏi đó thì vô minh tự chạy mất.

Ví dụ khi mình bực mình thì hỏi “Ai bực đây? Mày vô minh mày bực! Mày chấp thủ mày bực. Mày ngu si mày bực.” Còn mình không có bực. Mình là Thánh trí. Nếu mình thấy có mình bị người ta khinh khi, là vô minh, tham ái có mặt, thấy có mình là vô minh, bị người ta khinh khi, người ta không thương là tham ái, chấp thủ. Nên mình hỏi câu hỏi đó mười lần thì nó sẽ tan biến nếu mình có sức mạnh, còn mạnh hơn nữa thì ba lần, mạnh hơn thì nó tan ra hết. Như người ta luyện công tới mức mắt chỉ cần nhìn là nổ hết. Không cần đánh mà chỉ cần vận công từ trong nhãn lực, nhìn ra một cái là nổ ngay.

Mình đạt được Thánh trí huệ cũng vậy, mình nhìn tới đâu là pháp hiện ra sanh diệt tướng ngay, tính chất tàn hoại, diệt tận của nó. Nhìn chuông thì chuông bể, nhìn nhà thì nhà sập, nhìn bông hoa đang nở nhưng nó tàn rụi hết. Nhưng một mình mình thấy, người khác không thấy. Một mình mình thấy, một mình mình biết, đây là bất cộng pháp, pháp này không chung cùng với phàm phu, chỉ có Như Lai và đệ tử của Như Lai mới có thể có được trí tuệ đặc biệt thù thắng, tối thượng, thượng nhân pháp.

Nhìn tới đâu rã tới đó, nát tới đó, hoại tới đó, sập tới đó, tan tới đó thì còn gì nữa để chấp thủ, hơn thua, giành giựt? Mình được một cái mà tất cả thiên hạ không ai được, có bậc Thánh mới được, đó là được một tâm bình an. Tất cả thế gian này mình không được gì hết, mình không được gì bất cứ bên ngoài, mình chỉ cần được nội tâm tịch tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, thương yêu, bao la, rộng lớn. Nhưng tất cả những cái bên ngoài không đem theo được. Còn đây là mình sống tuyệt diệu, mình dùng đồ thật, không dùng đồ giả. Tất cả những đồ giả đó mình cho ai muốn giành giựt thì kệ, không sao vì chỉ là đồ giả. Là thuốc độc, rắn độc. Đức Phật từng kể câu chuyện vàng là rắn độc, tứ đại là rắn độc. Tiền, vàng, đất, nhà đều là tứ đại, đều là rắn độc.

Mình chỉ cầu tâm lắng dịu, xả ly, chỉ mong cầu tâm thoát ra. Đó là tối thượng nhất, ngoài ra cả thế giới này không có gì quý giá, thân này cũng xả, chỉ đạt được một tâm lắng dịu hoàn toàn tịch tịnh. Một tâm xả ly đối với sắc thọ, tưởng, hành, thức này. Tâm đó là tối thượng giữa nhân thiên. Đạt được tâm đó bình an, dù bất ở ở chỗ nào chết cũng bình an, tai nạn xảy ra mình cũng vẫn là an lành.

Mình nhớ đến Ngài Phú-lâu-na từng nói: mấy người đó mới đánh con, chưa giết, họ mới lấy gậy đánh, lấy đá ném con, chưa giết con, họ cũng còn tốt, còn hiền nên chưa giết. Còn nếu giết ông thì sao? Giết thì con khỏe, con được giải thoát khỏi thân đầy bất an, tai họa, khốn khổ, ung thư hai ba loại, giải thoát được thì khỏe. Khi tu tới đó rồi thì còn gì nữa làm cho mình khổ? Không còn gì làm cho mình khổ. Chết mà mình còn không sợ, mình còn khỏe thì còn cái gì nữa để làm cho mình khổ đau?

Mình tu khỏe, sung sướng cuộc đời, không có cái gì của mình, mình là người giàu nhất hành tinh. Mình có một tâm trùm cả Trái đất, xem Trái đất này chỉ là hạt bụi, bong bóng, như vậy thì tỷ phú làm sao bằng mình?

Vậy nên mình cố gắng tu, nhận diện ngũ uẩn, quán chiếu ngũ uẩn, thể nhập trí huệ, càng thể nhập thì mình càng nhẹ, càng lên cao. Leo lầu cao trí tuệ nhìn kẻ ngu đất bằng. Mình nhìn thấy thương, không giận. Họ lấn đất của chùa như vậy mà thương, họ khổ đau, họ gặp tai họa nên thương. Minh Thành không phải mới bị lần này, lúc mới về còn bị hăm dọa đốt chùa, lúc chưa vào dòng pháp này. Hoặc có khi đòi thuê xã hội đen xử mình, Minh Thành nghĩ thầm “Nếu nghiệp của mình tới rồi thì mình đi.”

Thế gian là vậy. Minh Thành giờ thấy rất ngán ngẩm, ngao ngán, lòng tham sân si, bản ngã, ngu si, vô minh của con người rất khủng khiếp. Như thấy một chú chó còn nhỏ nhưng từ bên trong phóng ra sủa, làm rất dữ thì thấy thật tội nghiệp. Thảm thương, ê chề, não nề thế gian này. Nhiều khi mình đi tu rồi nhưng không biết được cách nhiếp phục tham, sân, si.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sanh vật này không?

– Bạch Thế Tôn, có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sự tác thành sanh vật do món ăn ấy không?

– Bạch Thế Tôn có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy cũng bị đoạn diệt không?

– Bạch Thế Tôn, có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh.

– Sanh vật này có thể không có mặt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Sự tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt hay không bị đoạn diệt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sanh vật này có thể không có mặt.

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sự tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật có thể bị đoạn diệt hay không bị đoạn diệt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sanh vật này có mặt, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sự tác thành của món ăn ấy, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sanh vật này có mặt, (đối với vấn đề này) có phải các Ông khéo thấy, nhờ như thật chánh trí tuệ không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

Ý đoạn trên nói rằng sự sống của mình là do thức ăn.

– Này các Tỷ-kheo, sự hiện hữu của sanh vật ấy là do các món ăn ấy tác thành, có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với vấn đề này), có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?

Đoạn này chủ yếu Đức Phật nói sự sống (sự sanh) của mình là do thức ăn, sau đó Đức Phật giải thích về tứ thực (bốn món ăn).

– Này các Tỷ-kheo, đối với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy, nếu các Ông chấp trước, lấy làm hãnh diện, truy cầu, xem là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy.

– Bạch Thế Tôn, không.

– Nhưng này các Tỷ-kheo, đối với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy, nếu các Ông không chấp trước, không lấy làm hãnh diện, không truy cầu, không xem là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ là của mình (???), thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy.

– Bạch Thế Tôn, có.

– Này các Tỷ-kheo, có bốn món ăn giúp cho an trú các loài hữu tình đã sanh hay phò trợ các loài hữu tình sẽ sanh. Thế nào là bốn? Đoàn thực hoặc thô hoặc tế, thứ hai là xúc thực, thứ ba là tư niệm thực, và thứ tư là thức thực.

Và này các Tỷ-kheo bốn món ăn này, lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân?

Bốn món ăn này lấy ái làm nhân duyên, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm sanh chủng, lấy ái làm nguyên nhân.

(Trung Bộ Kinh, Đại kinh Đoạn Tận Ái)

Ái, sự ưa thích, yêu thích, ái luyến. Về ngũ uẩn, mình ưa thích sắc này, hình hài này, tâm mình ưa thích nhiều, ít hay đã hết ưa thích thì mình có biết không? Thứ hai là mình yêu thích cảm giác, đừng nghĩ rằng giận mình không yêu thích nó thì sẽ không có chuyện anh em ruột giận hai mươi mấy năm không nói chuyện. Như vậy là mình có ưa thích cơn giận nó không? Có ái cơn giận, sân đó không? Nếu không có ái thì làm sao lại giữ cơn giận đó hai mươi mấy năm?

Vậy nên mình ưa thích cảm giác, dù cho là cảm giác khổ đau? Tại sao mình ưa thích cảm giác khổ đau? Vì vô minh nên mình yêu thích cảm giác.

Mình có yêu thích những hình bóng trong tâm, hình bóng ngoài tâm không? Lâu lâu mở ra những hình ảnh mình đã chụp, sau đó hồi tưởng thì như vậy có yêu thích không? Đó là hình bên ngoài, chưa phải là hình bên trong còn vi tế hơn. Nhìn lại hình lúc mới đi tu, có nhiều người đi tu lại để lại hình lúc còn tóc, tức là sâu thẳm bên trong còn luyến tiếc mái tóc đó. Như vậy là đầu cạo tóc như tâm chưa được cạo nên mới để hình còn tóc.

Nếu thật sự trong tâm thích xuất gia thì không để hình còn tóc này, tất cả hình còn tóc đều đã bỏ. Còn không thì khi đã đi tu mà thấy hình này tướng ngồi đẹp, là chưa bỏ được hình bên ngoài, đừng nói chi đến hình bên trong.

Vậy nên mình nhận diện ái này rất sâu sắc: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái và sắc ái, thọ ái, tưởng ái, hành ái, thức ái. Phải thật sâu, không thể được hiểu đơn giản, vì rất sâu sắc bên trong.

Phải nhận diện ái, như câu chuyện về Ngài Ma-ha Ba-xà-ma-đề, Nhị Mẫu hỏi Đức Thế Tôn là Ngài già rồi, không có nhiều thời gian, Thế Tôn dạy giúp pháp nào vắn tắt, gọn nhất để cho con diệt tận tất cả tham, sân, si, lậu hoặc. Thế Tôn trả lời là thấy ái ở đâu thì đoạn đó. Một thời gian sau Ngài bạch Thế Tôn là đã xong việc và trở thành Thánh tổ của ni chúng.

Một câu đơn giản là ái đâu đoạn đó, đoạn riết rồi thì sạch, ái tận giải thoát, như tên bài kinh chúng ta đang học là kinh Đoạn tận ái. Nên chúng ta đang thấy những cái thô ở ngoài, những cái tế mình không thấy.

Đến suy nghĩ, mình ưa thích suy nghĩ của mình rất nhiều. Nhận thức (biết) của mình cực kì vi tế nên người ta tu thích vô biên xứ, khi người ta tới cái biết đó rồi thì người ta sẽ dừng lại, người ta nhận cái biết đó là rốt ráo, đó là thức uẩn.

Chúng ta học bài kinh này để chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về thức thủ uẩn. Trong sâu thẳm bên trong của mình là mình rất ưa chuộng sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Mình rất yêu chuộng sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đã qua rồi, khi hiện khởi lại vẫn còn yêu thích, vẫn còn cho đó là mình, ở sâu thẳm bên trong. Nên để thiền quán thật sự là độc cư thiền định, thật sự nhìn sâu vào bên trong để mình làm việc là cả một ý chí, nghị lực, cả một sự kiên trì, quyết tâm.

Khi nhận diện ở trong thấy cái nào diệt cái đó, dẹp cái đó, xả ly cái đó, đánh đuổi cái đó hết bên trong là biết bao nhiêu công phu. Mình đã học căn bản trí rồi thì mình có một trí tuệ tương đối để mình nhìn ra được những pháp bên trong để mình thấy được nó khủng khiếp, nó văng bủa mình trùng trùng lớp lớp? Chỉ cái nhìn thôi đã sáu mươi pháp: sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ. Nó làm trùng trùng lớp lớp mà mình không học thì làm sao mình biết là mình vô minh? Không biết gì cả.

Vào học chỉ nói “Tôi thấy cái đó giả!” là xong? Nhưng miệng nói giả mà trong tâm có thấy giả không? Giả thì bậc Thánh quỳ xuống lạy? Không đơn giản như vậy.

Đức Thế Tôn đã bóc, tách, gỡ ra hết. Chỉ cho mình từng cái, cái này làm bằng gì… Bóc tách hết ra, mở tung như vậy nên nhiều lúc trong tâm cũng chống đối. Đó là ngay trong thời Đức Thế Tôn, chưa nói đến bây giờ. Vậy nên giờ mình giảng những cái Chánh pháp mà đánh phá vào những cái dục, tham, ái, bản ngã của người ta thì xem chừng có thể người ta đánh mình trước.

Vậy nên rất cần sự tu, mỗi người phải quay lại từng giờ từng phút, nhìn vào trong mình để nhận diện thật sự mình đang ở đâu, nhận diện dục, tham, ái, sự yêu thích, ưa thích bên trong của mình, các pháp vì nhiều khi bên ngoài mình không thấy, còn bên trong, những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng mình có nhìn ra, thấy hết không? Mình ngồi một mình và bên trong khởi lên thì mình có chấp nhận không? Mình có đẩy nó ra không? Mình có diệt nó không? Hay là kệ, để từ từ?

Như vậy thì trừ các bậc Thánh đọc được tâm, chứng tâm thông thì mới biết lúc đó người đó đang ở trạng thái nào. Còn người thứ hai chính tự thân mình, nhưng tự thân mình thì phải chánh niệm tỉnh giác, quán chiếu, còn nếu không quán chiếu thì cũng không biết.

Giờ nếu mình không nỗ lực tu thì ai tu cho mình? Đức Phật không tu cho mình, đạo sư không tu cho mình, quý thầy, quý cô không tu cho mình. Mà phải tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình phải nương tựa cho chính mình, bằng trí tuệ nhận diện ngũ uẩn, quán sát, như lý giác sát, như lý tác ý, dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, thẩm như ý túc, tư duy như ý túc. Nên để ý xem hoài, xem cái ái bên trong này.

Mình tưởng ái là cái gì lạ, xa ở đâu nhưng ví dụ như giờ mình đang ngồi mỏi thì muốn “Giờ mỏi quá! Xuống nằm một chút thì khỏe biết bao nhiêu!” Suy nghĩ như vậy là có ái cảm thọ bên trong, nó dễ chịu. Ví dụ như “Giờ này mà có ly cà phê sữa nóng, phải là loại mình hay uống!” Đúng loại mình thích thì có ái không?

Chỉ nhỏ nhiệm như vậy thì ai biết được? Ví dụ đang ngồi thiền như vậy thì nghĩ “Hôm nay mệt quá, thôi nghỉ sớm đi!” Nói vậy rồi xá xá, lùi ra sau đi là ái, ái cảm giác dễ chịu, thoải mái, có nhiều pháp như buông lung, giãi đãi. Mình phải đọc ra được như vậy. Hoặc như mình la rầy tâm mình, trong đó có cảm giác khó chịu khởi lên “Tự nhiên rầy mình dữ vậy?” Hoặc lúc lên nghe pháp có chỗ tác ý mạnh thì “Sao tu mà dữ dằn vậy? Tu gì mà khổ vậy?” Là nó chống đối lại hết, là ái và mình phải nhận diện ra được là nó trùm khắp, bao vây mình hết.

Ví dụ thấy cảnh đẹp thì “Cảnh này đẹp quá, chụp một tấm hình đi.” Thì mình phải nhận diện ra được. Hoặc có những trường hợp mình vì mọi người, đại chúng. Như mình chụp cho mọi người khi người ta vui, đi khóa tu thì người ta có tấm hình, nhiều khi suốt đời người ta mới được xuất gia gieo duyên một lần. Đó là phương tiện của mình là khác.

Còn mình ham thích, khoái là khác, mình phải hiểu được không phải chụp hình nào cũng giống nhau, không phải cái ăn nào cũng giống cái nào. Mỗi cái phải tùy theo đối tượng, trình độ, hoàn cảnh, phương pháp sử dụng của người đó. Vậy nên mình phải xem từng chút, xem mức độ tham ái ở trong mình và mình có nhìn ra được nó hay không, có điểm mặt nó chưa, mình có nhiếp phục, chế ngự nó được bao nhiêu chưa? Hiện tại bây giờ nó đang ở mức độ nào? Những phương pháp tác chiến, chiến lược mà mình đưa ra là như thế nào? Phải có vì mình đang đánh giặc tâm.

Từ bước đi, suy nghĩ, cách hành động mình xem nó hoạt động như thế nào. Những tên giặc đó hoạt động ra sao. Phải để tâm thật nhiều vào trong đó. Suốt ngày mình không rảnh, mình thích thú, hứng chí, rất năng động, hoạt động để mình làm việc bên trong, làm việc mà một mình mình biết thôi.

Nên có những vị trình pháp rất tốt, phải cố gắng trình pháp, viết nhật ký tu học, để cho mình lập tới lập lui, tô đậm những thiền quán, trí tuệ của mình. Phải học thuộc lòng căn bản trí, về những trí tuệ căn bản định nghĩa ngũ uẩn, duyên sanh pháp, về sáu pháp, về sắc, thọ, tưởng, hành, thức… Mình đều phải biết. Tối thiểu những phần quan trọng, cốt lõi là mình phải biết. Vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của nó để mình nhìn từ từ ra vì ái đầy từng lỗ chân lông, từng sợi tóc.

Ví như lúc mình cạo tóc, tóc rơi xuống, có người đi ngang đạp lên tóc mình, lúc đó cảm thọ của mình ra sao? Đối với người cư sĩ, mình cạo tóc rồi nhưng có người cư sĩ đi ngang đạp lên thì lúc đó mình ra sao? Thọ, tưởng, hành ra sao? “Có thấy đạp lên tóc tôi không?” Khi mình xuất gia đã bỏ mái tóc rồi, cách đây hàng chục năm, mà giờ mình cạo xuống và nó đã ra khỏi đầu, rơi xuống rồi, người khác đạp lên thì lúc đó thọ, tưởng, hành có ý chấp thủ không? Sắc thủ uẩn không? Những điều nhỏ nhiệm như vậy nên mình phải tập tác ý ngay.

V. Trình pháp

Phật tử số 1 trình pháp:

Con đảnh lễ sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con đệ tử Quảng Tiến, con xin trình pháp với sư phụ về cảm thọ của con trong buổi nghe pháp ngày hôm nay.

Lần nào con nghe pháp của sư phụ thì lông tóc con đều dựng đứng, trong lòng con rất hoan hỷ, hạnh phúc, vui sướng vì trước giờ bản thân mình vô minh, tất cả mọi thứ mình không thấy được, không biết được nhưng giờ nhờ mỗi lần nghe pháp của sư phụ, bằng tình thương của sư phụ, bằng tất cả những gì sư phụ chỉ dạy cho chúng con.

Khi nãy sư phụ nói về sự bóc tách từng chút, từng chút, con thấy giống như sư phụ bóc tách từng chút sự vô minh của con. Con thấy mỗi ngày một thấy một con đường rõ ràng, … 84:12 bình yên hơn. Nên con rất muốn tri ân bằng cả tấm lòng của con, tất cả những gì con có con tri ân sư phụ vì điều đó.

Bài giảng của sư phụ hôm nay về đoạn tận ái, về sự chấp thủ của thức, sự chống đối, cũng như trong đó có sự vô minh. Con thấy được rằng có những cái rất hay mà trước giờ nếu mình không được vào dòng pháp này, không được sư phụ giảng những bài pháp hôm nay thì con nghĩ rất nhiều người cũng giống như con là cũng mê lầm trong sự thấy đó, sự biết đó.

Trước giờ ai cũng nói là tánh nghe, tánh thấy khi mình nghe trên mạng về tất cả điều đó thì mình hay chấp và mình tin nó là sự thật như vậy nên khi nãy sư phụ nói về cái đó rồi thì ý hành trong con có sự chống đối khởi lên. Nó nói là “Từ trước giờ trong các bài kinh cũng có nói về điều đó, tánh thấy, tánh nghe này, kể cả trong đó cũng có viết về Đức Phật và Ngài Ananda trong tánh thấy tánh nghe, trong khi …85:34 hay trong bài gõ chuông.”

Ngay lập tức ý hành của con quay trở lại chửi ngay “Bây giờ khi vào dòng pháp này thì chỉ có nghe và tin những gì sư phụ giảng, đó là kim khẩu của Đức Phật nói ra.” Những cái đó con đã từng được nghe nói rằng “Không biết bài kinh đó xuất phát từ đâu? Hay nó từ cái nào không ai chứng thực những điều đó thì bây giờ mình học cái này mình thấy được cái này và sư phụ đang giảng cái này thì chỉ có nghe và tin vào những điều sư phụ đang nói và cứ vậy thực hành.”

Ngay lập tức con phát hiện ra được rằng điều đó và con vượt qua được khi mình thấy, nghe được điều đó.

Có một đoạn sư phụ nói con thấy rất thích là khi sư phụ dẫn chứng bài Đức Phật dẫn chứng cây củi trong bài kinh Không phải của các ông trong Tương Ưng Bộ Kinh tập ba. Con cũng rất thích bài kinh đó và con bệnh thì con quán về bài kinh đó thường trực. Trong bài kinh Đức Phật có hỏi về củi đốt, những cái này có phải của các ông không thì các Tỳ-kheo trả lời là đốt thì đốt nhưng nó không liên quan tới tụi con vì nó không phải là tụi con, cũng không phải là tự ngã của tụi con. Nên khi sư phụ nhắc lại vậy thì bản thân con được sách tấn thêm một điều nữa là: mỗi lần mình cảm giác, hay bất cứ thứ gì trong con người mình khởi lên thì mình đều nói y như Đức Phật nói là “Cái này không phải là của các ông. Hãy từ bỏ! Nếu từ bỏ thì sự an lạc và hạnh phúc sẽ đến với các ông.”

Đó là điều mà ngày hôm nay con lại thêm một lần nữa được sư phụ sách tấn điều đó và con khắc ghi điều đó trong tâm tưởng của mình. Con sẽ luôn luôn ghi nhớ điều này và qua những ví dụ, những lời sư phụ nói về cách diệt những tham ái của sư phụ trong buổi giảng này là một trong những bài học và ví dụ thực tế minh chứng rõ nét nhất cho con. Để mỗi lần thực tập thì con lấy điều đó ra, là một kim chỉ nam dẫn đường cho mình trong quá trình tu tập dù con là một người mới.

Một lần nữa con tri ân khi sư phụ nhắc con học về duyên sanh pháp, từ đó con mới thấy rằng tất cả mọi thứ đều bắt đầu từ duyên sanh pháp này. Cuộc sống này chỉ xoay quanh duyên sanh pháp này từ sự tiếp xúc và từ tất cả những gì nó sanh ra thì trong bài duyên sanh pháp này đã tóm gọn tất cả mọi cái. Con thì còn rất ngu, rất vô minh, nhưng con thấy được điều đó. Con rất tri ân sư phụ đã nhắc nhở con học bài duyên sanh pháp đó để con có được ngày hôm nay.

Con xin tri ân sư phụ.

Phật tử số 2 trình pháp:

Con xin kính bạch trên thầy, quý ni sư, quý thầy, quý sư cô cùng tất cả đại chúng. Con pháp danh là Tâm Đức Viên 89:46. Con xin được trình pháp.

Hôm nay, lúc con ngồi thiền, thọ của con là lạc thọ, tưởng của con nghĩ là thiền đường, trong lúc đang ngồi thiền với đại chúng. Hành của con có lúc không có hành, có lúc nghĩ về những chuyện về ngày hôm qua đã xảy ra, nghĩ về những bài giảng. Thức của con rõ biết thọ, tưởng, hành.

Thầy Pháp Tâm trình pháp:

Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô, quý ni sư cùng toàn thể các bậc hiền trí.

Trong buổi sáng hôm nay, con được trên sư phụ chia sẻ bài kinh Đoạn tận ái. Trong bài pháp hôm nay, cảm thọ trong con cảm thấy rất hoan hỷ, dễ chịu, ở trong tâm, hình bóng của những bài kinh cũng hiện khởi trong con, nhất là bài kinh Đoạn tận ái này con đã đọc thì nó hiện khởi trở lại. Tâm suy nghĩ nói bài kinh này rất sâu sắc, rất thâm sâu, nói về thức rất to lớn, rộng lớn.

Trong con cứ tác ý theo lời dạy trên sư phụ, cảm thấy có sự hoan hỷ và khi được nghe, đặt tâm theo bài kinh thì con cảm nhận bản thân cũng đang ở trong hội chúng, được lắng nghe những lời … 93:41 cũng như lời bằng từ tâm của các vị đồng phạm hạnh. Khi có vị Tỳ-kheo Sati này khởi lên ác tà kiến về thức này nó thường hằng, rong ruổi nhưng không biến đổi. Trong con cảm thấy bản thân đôi lúc chấp chặt vào những cái thấy, biết mà mình cho là của mình cũng sanh khởi lên những ý hành này. Con cũng thấy là mình cũng dễ nhận đó là mình, đôi lúc không chánh niệm, mình đi theo, làm theo hoặc mình có lời nói theo những lời ở trong tâm.

Nhiều lúc con nhận ra thì con tách mình ra, con cảm thấy có sự hoan hỷ, cảm thấy mình học pháp ở trong tâm thì những thọ, cảm giác xâm chiếm và chinh phục rất nhanh. Thức rõ biết nhưng không có sự tỉnh giác thì nó bị xâm chiếm, nó dễ chạy theo và nó yêu thích.

Khi sư phụ chia sẻ ở bên ngoài thân thì nó cũng yêu thích. Trong con khi được lên công phu với đại chúng, con thường đắp y, nhất là buổi sáng và buổi tối, thường khi nhìn vào tấm gương ở cánh cửa, nó thường khởi lên ý là “Mặc y vậy được chưa? Có đẹp không?” Nó khởi lên những ý nghĩ đó thì trong con tác động tâm ý để đánh đuổi nhưng cũng có đôi lúc thất niệm thì cũng có cảm giác dễ chịu, cũng có sự ưa thích. Trong con cảm thấy sự dính mắc trong yêu thích đối với các vật ở bên ngoài, cũng như chính tự thân cũng rất sâu vào những cái rõ biết này.

Khi không quán chiếu thì cũng cho là tôi, con cảm thấy nó đi vào trạng thái cho nó là mình chứ không phải là tôi.

Con cảm thấy bài pháp hôm nay rất hoan hỷ, con cảm nhận được những lời chia sẻ trên sư phụ khi sự thấy, sự nghe hay sự rõ biết sanh khởi lên dục, tham, ái, sân si thì nên từ bỏ, quán chiếu chết đi. Con đặc biệt ấn tượng với lời chia sẻ trên sư phụ là không chỉ quán trên sắc thân của mình tan rã, chết đi mà cha, ông, bà, ông nội, ông xơ, con, cháu mình đều quán tất cả đều đi đến chết, tàn hoại, tàn diệt. Điều này rất ấn tượng trong con và con cũng xin được lấy đó để thực tập.

Đó là những cảm giác, suy tư trong con trong thời pháp sáng hôm nay. Con xin kính trình sư phụ, quý thầy, quý ni sư và toàn thể các bậc hiền trí.

Sư phụ giảng giải:

Có khi mình thấy hình bóng ngồi thiền của mình trong gương, hoặc ánh đèn rọi thì có một cái bóng hiện ra từ thân mình, trong tâm mình sẽ có một hình bóng nữa. Thân này là một cái, bóng trong gương là một cái và hình bóng trong tâm.

Ngày xưa khi bậc đạo sư nói với Minh Thành thì rất ngạc nhiên, Ngài nói hình bóng tự thân mình trong tâm đó là thân kiến. Lúc đó Minh Thành sững sờ, lúc đầu chưa chấp nhận được nhưng sau này mình thấy rất thâm sâu, nếu người tu không có một trí tuệ cực kì thâm sâu thì không thể nào nhìn ra nổi. Trong kinh dùng chữ thân kiến mà mình không biết thân kiến là gì, nhưng đó chính là hình bóng của chính mình trong tâm.

Khi mình nói “Chút nữa đi ăn cơm!” Thì có hình bóng mình đi ăn cơm không? Hình bóng trong tâm đó là thân kiến. Vậy nên mình ngồi lại và thấy bóng mình trong gương là “Nay nhìn trang nghiêm! Đẹp!” thì mình sẽ có cảm giác lạc thọ, dễ chịu. Rồi mình nhìn lại thân mình, bóng từ thân hiện ra còn thấy dễ chịu huống chi đây, nhìn vào mình thấy “Hôm nay ngồi dáng đẹp!” Còn sâu thẳm bên trong mình thì mình phải phá nó, ba hình bóng đó đều phá hết. Hình bóng trong tâm, hình bóng ngay thân này và hình bóng dạ ra từ thân này, phải phá hết ba hình bóng đó, tác ý phá hết.

Đầu tiên mình phải nghĩ tới mình là mình thấy mình cúi đầu, chắp tay, quỳ sâu xuống. Nếu mình chưa phá được liền hình ảnh về mình thì đầu tiên mình phải an trú một hình tướng là khi nói về mình thì hình như vậy hiện ra. Cho hình của mình phải hạ đầu xuống, cúi đầu xuống. Khi nói về mình thì con trò Minh Thành, đệ tử Minh Thành, chú tiểu Minh Thành, nùi giẻ Minh Thành. Đầu tiên là mình cho nó xá đầu xuống, kế đó nếu được thì mình cho nó thành cái nùi giẻ. Sau này từ từ thâm sâu thì mình phá luôn hình ảnh khi nói về mình thì không có hình bóng nào trong tâm hết.

Đó là mức độ sâu, trong bài kinh Đại không, tiểu không, Thế Tôn nói: Ta an trú nhiều trong không tánh. Bài kinh đó rất bất ngờ khi Thế Tôn giảng về tánh không, chúng ta nên nghe lại bài kinh đó. Không ở đây là không tham, sân, si, không vô minh, bản ngã, trống rỗng khi nói về mình, không có gì hết, không có hình bóng nào nữa. Không có hình bóng về tự ngã, một ảo tưởng về tự ngã bị phá vỡ một cách hoàn toàn.

Đầu tiên thì mình cho nó cúi đầu xuống, hạ thấp xuống, quỳ lạy, từ từ mình cho nó thành nùi giẻ, bị dậm tan nát rồi trở thành không, nó bị mục rửa, nát ra hết. Khi nói về mình thì trống rỗng, trống không, bản chất thân này là trống rỗng, trống không, là cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không.

Mình phải tác ý như vậy “Mày chẳng là gì trên cuộc đời này hết. Nắm tro của mày rồi cũng bay thành hư không luôn!” Những pháp quán đó phải thực hành, triển khai thường xuyên. Nên chúng ta tu thiền quán rất nhiều, không lúc nào không tu. Mình tu vậy thì tới một lúc mình òa một tiếng thì lúc đó thể nhập trí huệ thật sự. “Òa! Con trở thành nùi giẻ rồi! Thực sự là nùi giẻ rồi thầy ơi! Đúng rồi!” Ngộ đạo nùi giẻ đó thôi, không còn gì cao siêu hơn nữa. “Sư phụ ơi, ni sư ơi, quý thầy ơi, quý cô ơi, giờ con thật sự thấy con là thùng phân, con thật sự thấy con là cầu tiêu. Giờ con thật sự thấy con là một thùng rác thối. Thấy thật sự là như vậy!”

Chỉ nhiêu đó ngộ, không ngộ gì cao siêu hết “Thật sự con là thùng rác! Thật sự con là cầu tiêu. Thật sự con là nùi giẻ! Thật sự con là trống rỗng, trống không, trống trơn! Không có gì hết! Con nhìn ở đây toàn là đống dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã ngày đêm hoạt động. Con thấy con xấu hổ, ngao ngán, nhàm chán! Quyết tâm từ bỏ, tẩy sạch hoàn toàn.” Như vậy là bắt đầu hướng dự lưu, nhập lưu.

Tâm thương này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.