Tác Ý Hỉ Lạc Tiến Tu 1B
NHẬP THẤT CÔNG PHU
TÁC Ý HỈ LẠC TIẾN TU 1B
THÍCH MINH THÀNH
Thưa đại chúng, phương pháp mà chúng ta thực tập tác ý mấy nay hôm là thuốc đặc trị. Tác ý để nhiếp phục những cái ham muốn, để nhiếp phục sự chấp ngã, ảo tưởng vào một cái bản ngã. Đó là thuốc trị bệnh, còn hôm nay con sẽ đưa thuốc bổ, vì uống thuốc trị bệnh hoài thì tu có vẻ khổ, cứ khóc hoài thành ra trong sự tu thì mình phải khéo tác ý và hỉ lạc. Đây là điều hết sức quan trọng, không phải mình làm mặt lạnh, lúc nào cũng nhìn xuống là tu hay. Mình phải biết lúc nào, khi nào, trong hoàn cảnh nào mở cái tâm mình ra tác ý hoan hỉ, an lạc và hạnh phúc. Đừng để ngoại cảnh tác động nhiều, bất cứ cái gì bên ngoài thì mình điều quay trở lại quán chiếu thân tâm, làm mình sanh khởi sự hân hoan, thích thú trong sự hành trì tu học.
Tại sao 2 ngày nay con mở bài Về Núi? Hôm qua là bài Về núi tuyệt vời, hôm nay là Về núi chuyên tu? Khi mình thấy được cái pháp, nhận rõ được con đường hành trì, thì lúc đó giống như mang bầu, mà đây là bào thai của bậc thánh cho nên gọi là thánh thai. Nếu mình sơ sảy là bể bầu, gọi là xảy thai, mình không cẩn thận bảo vệ thì nó chết nữa chừng, không khai hoa nở nhụy được. Dù cho mình có hiểu biết, nắm vững lý thuyết mà không chịu hành trì, cứ đi theo những cái thói quen phàm phu tục tử thì một thời gian là trí nguyện xuất trần bị mất đi, đó chính là xảy thai. Người ở trong gia đình hay tin là mình có thai, hay là người cha hay tin là vợ có mang thì thường là tin vui, cho nên con tạm mượn hình ảnh chứ còn kinh Nikāya là không dùng cái này, nhưng cái này là những cái thông dụng trong đời sống, nói cho người ta dễ hiểu.
Có những bữa mình thấy buồn chán thì mình phải cho hỉ lạc suốt thời thiền, mình ngồi trên bồ đoàn nhìn thấy viên đảnh phương bào, đầu tròn áo vuông. Mình thấy cái bóng rọi xuống đầu tròn, cái dáng ngồi của người xuất gia, hay người cư sĩ cũng có áo lam giải thoát, chứ người ngoài đời không mặc áo lam. Cho nên cho phép mình hỉ lạc trên cái hình tướng của người xuất gia, hỉ lạc trên hình tướng người cư sĩ, hỉ lạc trên chiếc áo nâu, áo vàng, chiếc y, hỉ lạc trên chiếc áo lam thanh tịnh. Khi ngồi thiền mình mỉm cười nhẹ lên, vui sướng, hạnh phúc, an lạc bởi vì mình được thoát ra, được viễn ly chứ không ngồi nhà thì mấy cô này cũng có 1-2 đứa con, còn mấy cậu này ít nhất cũng 1 đứa không thì cũng chạy ngược xuôi đi làm nuôi vợ. Còn mình bây giờ một thân một mình thảnh thơi, đầu tròn áo vuông, viên đảnh phương bào, y vàng, áo nâu, áo lam thanh thoát. Mình ngồi cho nó sanh khởi lên cảm giác hỉ lạc rồi mình mở tâm rộng mở ra ngoài nghe tiếng chim hót. Cho nên bài đầu tiên của con Về núi tuyệt vời nói chim hót suốt ngày, nghe chim hót, nhìn trúc xanh, mây bay chứ không phải ngồi đó nhắm mắt rồi hiện trong đó là si mê, vô minh, mà phải phóng tầm mắt rộng mở ra, thiền của mình không phải là thiền chết, không phải chỉ có 1 kiểu. Trời đất mênh mông, núi đồi trùng điệp, chim chóc hót ca, đại ngàn bao la, đây là sự vượt thoát, sự thoát ly. Nhớ khi xưa ở nhà đi bán vé số, đi ở đợi, đi bán xôi, chạy xe ôm… là cũng lòng vòng đi tìm cơm áo gạo tiền, giờ mình được xuất ly, được ngồi trên núi rừng thì cho phép mình mỉm cười với núi, với mây, cười với màu xanh của lá, cười với tiếng hót của chim. Đó là thân, là cảnh, là mở rộng ra mình nhìn thấy đại chúng không đông nhưng những con người này có chí nguyện lớn, chí nguyện xuất trần, chí nguyện thánh thiện thanh cao. Đây là những con người đẹp, những người tu đức hạnh với một cái tâm hướng thượng, khi thấy đại chúng ngồi thiền chung với mình là mình mỉm cười lần nữa, bất cứ người nào lên bồ đoàn là đẹp, đó là dáng ngồi đưa đến bất tử, là dáng ngồi cát tường tọa, Chánh Giác tọa. Mình mở rộng tầm nhìn ra hết thiền đường chứ không phải tối ngày sụp mắt xuống không thấy được gì ngoài này, đó gọi là đặt niệm trước mặt. Thân tướng cũng vui, cảnh cũng vui, đại chúng là an lạc, thanh tịnh.
Trong kinh nghiệm con tu tập thì con thấy cái này quan trọng, nếu không khéo là mình rơi rụng, tu một thời gian là thấy rác bẩn không, chỉ toàn dục và bản ngã, cấu bẩn, hoài nghi, tật đố, hơn thua đủ thứ. Hôm nào lên nghe pháp cũng toàn nghe cái này, rồi mình cũng thấy như vậy nữa, nhìn ra đời sống những tin tức cũng vậy thì cuối cùng "ngồi tu được cái gì ta?". Cho nên mình phải có cái nhìn đa diện, bao quát. Thứ nhất mình đã thành tựu trí tuệ, mắt pháp đã mở. Hồi đó mình có thấy cái dục hoạt động không? Mình có thấy cái dục sanh khởi không? Mình không thấy cái dục hành hạ mà mình chỉ ham muốn, yêu cái dục, đồng hóa mình với dục. Còn bây giờ mình tách ra, mình thấy dục sanh khởi "tên này là tên giặc, tên này phá nhà phá cửa", cái sự tách ra được như vậy là trí tuệ. Hồi xưa mình không biết tu thì mình có dám lạy không? Thầy Pháp An với bà Diệu Hiền nếu không lên núi tu được mấy năm nay thì con chỉ là con thì làm sao con bắt cha lạy mẹ? Không đi tu thì dễ gì lạy, con có quỳ kêu lạy cũng không lạy luôn. Đó là bản ngã đã được thấy, bản ngã đã được biết, đã được chiếu soi, được nhận diện. Bản ngã đó bắt đầu hiền, ngoan. Bài diệt ngã mình học chục buổi cũng chưa hết vì nó thâm sâu lắm.
Mình không biết là mình đồng hóa, say mê, mình chết chìm trong dục vọng. Bây giờ mình nhìn thấy được nó và muốn đi ra khỏi nó. Như vậy là mình đã thành tựu trí huệ, bắt đầu có sự nhiếp phục là mình cười. Mỗi lần mình đánh bắn một thằng nào chết rồi là mình phải cười "mới giết thêm được thằng giặc". Buổi sáng gặp nó, trưa gặp thằng sân, chiều gặp thằng ái, tối gặp thằng tham, nguyên 1 ngày mình tu học, làm việc tới 10h đêm, đóng cuốn kinh lại ngã lưng là "sao mà sung sướng", thì mình phải "cái cảm giác gì đây? Cái suy nghĩ gì đây" là cái này này ái. Mỗi khi mình nhiếp phục, mình đánh trận thắng thì phải sanh khởi hỉ lạc hân hoan, niềm vui của dũng sĩ thắng trận, dù có liệt sĩ cũng không sao. Thanh thiếu niên bây giờ xì ke ma túy, đánh đập, đâm chém, đua xe, bài bạc... tất cả điều vô nghĩa, còn mình ngồi đây là xuất thế. Ngồi trên bồ đoàn cười "đây là xuất thế", cho nên con làm bài này là con đang cho mình uống thuốc bổ mới duy trì ở trong thất được, để cho hỉ lạc sanh khởi rồi cười, hoan hỉ. Có bữa con ngồi thiền suốt 1 tiếng, cảm xúc trào dâng, xuất khẩu thành thơ ra mấy chục bài, buổi sáng ngồi thiền mây bay bồng bềnh, chim hót là con đọc thành thơ luôn. Cứ cho nó hỉ lạc, không sao hết. Vì đang ly sanh hỉ lạc, có cả tầm tứ, mình hướng cái tâm rồi tác ý cho hỉ lạc, cho vui lên "tham dục đã thấy rồi, bản ngã, cái tâm hướng ngoại muốn đi hoài cũng thấy rồi", niềm vui bắt đầu sâu sắc, đó là niềm vui của thành tựu trí năm uẩn. Chính là thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức một cách rành rõ. Hồi xưa một thấy một đống chứ không phải năm đống, một cái tôi, bản ngã khổng lồ, còn bây giờ mình thấy 5 nhóm chứ không có cái tôi, bản ngã nào trong đây. Mình thấy bản ngã hoạt động, cảm giác đang sanh diệt, những hình bóng lờ mờ, những suy nghĩ rù rì, cái thức rõ biết là mình vui thêm cái nữa. Sau khi thấy năm uẩn, phát hiện ra dục ái, bản ngã, vô minh là mình cười thêm lần nữa. Bồ Tát thành tựu 4 thánh trí về năm uẩn, sau đó mới thành tựu 4 thánh trí về lậu hoặc, tiếp theo mới diệt tận hoặc rồi rồi mới chứng Tam minh, đó là tiến trình tu chứng của Bồ Tát, mình phải đi con đường đó chứ không còn con đường nào khác vì ngũ uẩn này trùm hết trời đất. Mình học ngũ uẩn là học cái trí vũ trụ, cái trí bao trùm hết trời đất vạn vật, điều nằm trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Học tiến sĩ ngoài đời, thậm chí là tiến sĩ Phật học mà mình hỏi ngũ uẩn thử xem cái vị đó giải thích ra sao, ú ớ hết. Nếu không gặp thánh pháp, không gặp được bậc thiện tri thức thành tựu chánh tri kiến thì dù cho mình đọc kinh sách suốt đời thì cũng không thấy biết. "Làm cho hiện hành các pháp hữu vi. Sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh…", đọc cái này còn khó hơn cả đọc chú Đại bi thì làm sao mình hiểu nổi. Nếu không có người chỉ một cách tường tận cho mình nhận diện thì làm sao mình hiểu được, cho nên các chú tập sự xuất gia nhất định phải nắm được 3 pháp và phải nhìn ra được năm uẩn, không làm được thì tất cả những cái sau đều không thành tựu, đó là nền móng. Không có nền móng thì không thấy được năm uẩn là không thấy được gì hết, sự tu của mình đặt trên sự suy luận, không thấy pháp thì làm sao tu? Toàn là si tưởng, bữa nào ngồi là tự nhiên hoát nhiên đại ngộ, thành cao nhân chứng đắc cái gì đó thì đó chỉ là điều viễn vong. Lúc trước con chưa vào dòng pháp này là con tưởng như vậy đó, cứ vào đóng cửa ngồi là tự nhiên lọt vào chỗ thanh tịnh hoàn toàn, cái trí tự nhiên bừng lên là biết hết tất cả vạn vật là thành thánh. Tầm bậy, cái đó là phi nhân quả rồi. Mình tu với chánh pháp mới thấy tuyệt diệu, mình nhìn ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức và những thứ cấu nhiễm, rác bẩn, thâm sâu hơn là yêu quái trong đó. Rồi bắt đầu mới diệt từng tên mà diệt có phương pháp rõ ràng. Cái dục là mình quán trong Thân Hành Niệm, tứ đại, bất tịnh, 32 thể trược, 9 giai đoạn tử thi, mình đánh như vậy là nó cũng tê tái rồi, dùng Như lý tác ý thần thánh đánh thêm nữa là nó cũng tê liệt. Mình cứ duy trì sự tu tập, tinh tấn nỗ lực như vậy thì rất mau, ở trong pháp và luật khéo thuyết Như Lai mà người nào tinh tấn thì người đó an lạc, còn ở trong pháp không phải khéo thuyết tức là không phải chánh pháp thì người nào tinh tấn người đó khổ. Mình thấy có nhiều người tu bị thần kinh luôn, con gặp nhiều người lắm, tu thiền hay tịnh độ bị thần kinh, thành ra trong chánh pháp mà tinh tấn thì được hạnh phúc, an lạc còn ở trong tà pháp mà mình tinh tấn là khổ đau.
Cái vui tiếp theo của mình là nhìn thấy lậu hoặc, cái vui thứ nhất là nhìn thấy ngũ uẩn là nhìn thấy thân tâm một cách thiết thực chân chánh. Bao nhiêu bằng cấp cũng không so sánh được, 10 bằng cấp cũng không thấy được năm uẩn nếu không học chánh pháp, không gặp bậc thiện tri thức, nếu không thì các tiến sĩ đã thấy được năm uẩn, các vị đó học tại các nước Phật giáo gốc nhưng không có duyên lành, không đi đúng đạo lộ thì cũng không thấy, chỉ thấy một cách chung chung thôi chứ không thấy rõ được sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Con đi hết 8 đường thiền của Myanmar, Srilanka, Thái Lan mà không có chỗ nào nói đầy đủ năm uẩn. Cho nên khi mình nhận ra cái trí năm uẩn mà mình nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là mình cười thêm lần nữa, vì thế khi nãy lạy con là con quán "Cái đống thịt thối này, mày đừng tưởng mày là sư phụ là ngon nha. Không có ai ở đây hết, trống rỗng", chứ không phải thấy lạy là ngon lành. Chết liền với nó, "cái đống thịt này vài bữa là vào lò thiêu", làm mồi cho giòi, cho chó sói, bên Tây Tạng có tục lệ điểu táng lấy thây người chết làm mồi cho kên kên. Mình ngồi đây sân si, vô minh, bãn ngã, mình làm đủ thứ chứ vài bữa là không còn gì, có vài chỗ người ta làm nương rẫy cuốc trúng bộ xương, chết không ai biết. Mình phải thâm nhập cái trí huệ này, lúc nào cũng phải nghiền ngẫm và quán chiếu, không được quên, cái trí huệ này là hiếm có trên đời. Không phải dễ có được cái trí bộ xương này, không phải dễ thấy được đống thịt thối này, toàn là thấy đẹp, thơm rồi say sưa, mê muộn rồi khổ đau. Cho nên nhiều khi con ngồi thiền ở đây mà trên kia cười nói chụp hình là bi mẫn tràn ra, con thấy thương chứ không giận, không có nghĩ là họ phá giờ ngồi thiền của mình, những cái đó là vui sướng trong đau khổ.
Nhìn sâu vào thấy mỗi một cái trí huệ mình thành tựu là cười, mình quán xong một cái là mình hỉ lạc lên "cái trí này ngay cả người xuất gia cũng chưa chắc có mà bây giờ có người thâm nhập làm cái này", cho nên bộ xương hay là đống thịt, hay là những cái trí huệ này là bảo bối, mình phải xem nó như bí kiếp, đồ quý giá, hễ gặp chuyện là mình lấy ra. Khi nào mình thấy có dục khởi lên, những cái ai, tham khởi lên là mình lấy bảo bối ra, trong thất mà con thấy nó khởi lên là "tao đánh cho mày chết cha", dùng Như lý tác ý đánh cho nó bay mất là cười. "Mày quậy hả? Mày muốn quậy nữa hay sao? Chút xíu là khởi lên, mày làm cái gì vậy?", mở Như lý tác ý chửi cho tan hết dòng cảm thọ đó rồi vừa cười vừa đi thiền hành "Sướng quá, thắng nó rồi", cứ làm như vậy. Mình điện thoại 3-4 cuộc không nghe máy hoặc nhắn tin không trả lời, mà người đó nhỏ hơn mình thì lúc đó thọ; tưởng; hành bắt đầu vận hành là mình phải đánh đuổi nó liền "Ai lớn nhỏ ở đây?Ai cao thấp ở đây? Mày là cái gì hỡi bộ xương, hỡi đống da này? Mày phình bong bóng lên hả?", tác ý mạnh vào là tan hết cảm giác khó chịu của bản ngã, của ta đây sao điện không nghe, nhắn tin không trả lời, rồi thân tâm mình bình thản như không có gì xảy ra, xong là cười "thắng nữa rồi". Làm như vậy sẽ giải tỏa được cảm xúc, cảm giác, cảm thọ, mà giải tỏa được như vậy hoài thì cảm thọ về bản ngã sẽ lắng dịu, cho tới một mức đủ mạnh sẽ diệt tận và chứng nhập cái trí vô ngã. Những cái cảm thọ xấu này như hơi ga, là khí ga, dù cho nó to như thế nào đi nữa mà cứ bị xì riết rồi cũng bị hết hơi, mỗi lần tác ý là mình giải tỏa cái hơi ga, cái khí bực mình, dương dương tự đắc. Con dùng từ tử huyệt, chính là nơi thọ uẩn, đánh thẳng vào tử huyệt là từ từ nó sẽ chết, từ dục, bản ngã, hướng ngoại và bao nhiêu tham ái cũng chết. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ thì đánh vào cảm thọ là sụp đổ hết toàn bộ, miễn sao cái thọ của mình an tịnh nhẹ nhàng là được. Bất cứ bị phiền não gì là cảm giác biến động, nó bực bội, nặng nề, gay gắt, nó chứa đựng đủ thứ thì bây giờ mình giải tỏa cho yên tịnh, lắng dịu thì tức là mình giải phóng cái khí độc ở bên trong thân tâm. Từ từ cái hơi xì ra, tan ra rồi cạn kiệt cái hơi đó, tới một lúc nào đó là hết luôn thì lúc đó là thánh quả, ít nhất là từ nhị quả tới tam quả, làm rốt ráo cái nữa là tứ quả.
Trong thất thì sức mạnh của con là đi thiền hành, một ngày con đi 6-7 tiếng. Vừa đi vừa dùng Như lý tác ý, tung chưởng làm cho tất cả các cảm thọ xả ra để được an tịnh. Xong là mình cười, hân hoan "Vui quá, sáng nay mình thắng trận nữa". Có biết bao nhiêu thể loại, đủ các dạng thức cảm thọ nên mình mới định vị, định dạng nó thuộc dạng nào. Mình phải hoan hỉ vì càng ngày mình đi càng sâu vào pháp, vào hỉ lạc, trong khinh an giác chi, hỉ giác chi, khi nãy là mình niệm giác chi, trạch pháp giác chi. Mình có hết các thất giác chi, đều vận dụng hết 7 giác chi này. Phải có chánh niệm mình mới thấy, khi thấy rồi mới trạch pháp, xem tên này là tên gì, thiện hay ác, thuộc loại nào. Nếu là thiện pháp thì mình tăng trưởng còn ác pháp là diệt tận, tẩy sạch, làm cỏ nó. Muốn làm những cái này thì phải có tinh tấn giác chi, khi tinh tấn thắng được nó rồi thì hỉ giác chi, khinh an giác chi sanh khởi, mà khinh an thì phải có định, xả cái tâm. Tuần tự các pháp sẽ tự động vận hành để sanh khởi, mình phải nhận diện các pháp, đó gọi là quán pháp trên pháp và mình phải biết lúc nào nên cho hỉ giác chi tăng trưởng một cách mạnh mẽ. Đức Phật dạy khi nào cái tâm thụ động, lười biếng, nhàm chán thì lúc đó hỉ giác chi phải sanh khởi, phải vận động đi thiền hành, tới giờ tu mà buồn ngủ mà ngồi thì ngủ là phải đi kinh hành, miễn sao tu được thôi, không quan trọng quá vào hình tướng và kiểu cách mà làm sao phải có hiệu quả, cái này mới quan trọng. Đừng đặt nặng vào việc lúc ngồi thiền là phải ngồi mới được, còn lúc đi kinh hành là bắt buộc phải đi, làm sao miễn đánh được giặc là được, miễn sao giải thoát tất cả cảm giác được là thành công.
Khi nãy tới giờ biết bao nhiêu là cái vui, chánh niệm cũng vui nữa. Hôm nay sao mình thấy tâm rõ quá, trạch pháp cũng vui nữa "Bây giờ mình trạch pháp rồi, thiện ác, nhiễm tịnh, mê ngộ, hữu vi vô vi đều thấy rõ hết. Vui nha, lúc trước không thấy", đó là nhờ ngồi thiền, ngồi nhập thất yên tịnh trên núi mới thấy còn dưới phố thị là không thấy. Mình thấy suy nhược, yếu đuối là phải uống thuốc bổ, để mình làm việc, để mình tu thì cái tâm mình cũng cần thuốc bổ tâm linh, đó là hỉ lạc. Nguyên một thời thiền cứ tác ý cho hỉ sanh, cứ cho nó sanh, thậm chí là mình cho nó sanh suốt ngày luôn, nếu mình tu khéo là mình muốn cho nó sanh khởi bao nhiêu là nó sanh khởi bấy nhiêu. Đó là mình nuôi dưỡng pháp quy, kích hoạt những cảm giác hỉ lạc trong sự tu tập chứ còn tu riết nhìn mặt sao thấy giống hết thời, nhìn muốn bệnh, nhìn mặt muốn bái bai. Trong pháp, trong sự hành và trong trí tuệ không có hỉ lạc thì tìm dục lạc, bày ra nấu ăn, đi chơi… cuối cùng là đồng hóa với thế gian, tới chùa không thấy tu, không thấy pháp thì dân vào chơi y như ngoài đời, lấy hình thức, âm thanh, sắc tướng làm cái vui. Vì người đó không có hỉ lạc, không có pháp lạc, thiền lạc, tuệ lạc, không có xuất ly lạc, không có xuất thế lạc, không có thánh lạc, thiên lạc cho nên mình phải biết khéo léo phát huy và thực tập. Ví dụ như sư cô mà lạy đứa cháu thì đó là sự chiến thắng, ở ngoài đời không thực tập thánh pháp diệt ngã thì có lạy nổi không? Con không thấy sư cô nào lạy cháu mình, cha mẹ còn không lạy nữa mà, chết chỉ thắp nhang thôi "tôi xuất gia rồi không lạy ai hết á", cứ khóc đã rồi lạy xong là về cười "bữa nay mình chiến thắng được bản ngã, mình là cô, dì mà lạy cháu, mình lại xuất gia nữa nên đẹp vô cùng". Hôm qua ông Năm với bà Năm lạy xong có cười không? Về suy nghĩ lại phải vui, những gúc mắc được tháo mở ra, bà Diệu Hiền sau khi lạy có thấy gỡ bỏ được những cái bên trong không? Ít nhất cũng được phần nào, đó là thánh pháp, là thánh đạo, giải phá các sự u uất, khuất tất, những áp lực đè nén bên trong mấy chục năm được tan ra. Đó là trực diện đánh thẳng vào năm uẩn, giải phá tất cả. Mọi người đừng có sợ, thiện pháp là không có sợ, kêu nói là nói, vì nói thì cảm thọ mới sanh còn không cứ ở trong thân không ra được, hoa nở ra thì người ta mới thấy, phải cho thiện pháp tỏa ra thì thiện pháp mới sanh khởi từ đó mới viên mãn, chín muồi. Vì vậy mình đánh xong là mình cười, hoan hỉ, mình làm được việc có khi suốt cuộc đời những cặp vợ chồng khác cũng không làm được. Sau khi hoan hỉ rồi thì đừng nghĩ vậy là xong, sau này phải sửa đổi theo những lời mình đã nói chứ không phải "tôi lạy xong rồi đó nha, đừng có thắc mắc nữa nha", mình phải tiếp tục nuôi dưỡng nó mà thậm chí sau này thuận lợi thì làm nữa. Những lời nói, suy nghĩ, hành động phải luôn luôn xứng hợp với điều mình đã làm như phải biết ơn, tôn trọng, cung kính nhau thì mới được lâu dài chứ không phải lạy để làm màu, để đóng phim mà nó phải chân thật, chân thành, thiết tha. Như vậy là thành con người mới, đó là sự chuyển đổi làm mới, sự thể nhập vào thiện pháp, nói bình thường là mình trở thành người mới, một người tươi tắn, đó là chết với ác pháp và sống lại với thiện pháp, chết cái uế để sống lại cái tịnh. Có biết bao nhiêu cái để mình sanh khởi hỉ lạc mà mình không biết tác ý, cứ trơ trơ, kêu lạy rồi xúc động lúc đó là xong, như vậy là thiện pháp không được tăng trưởng lớn mạnh, không được ban rộng ra, lợi lạc chỉ có 5 phần mà mình khéo tác ý nữa thì lợi lạc tăng thêm 7-8 phần, thậm chí nuôi dưỡng những cái thiện pháp tăng thêm 10 phần, còn này 5 là 5. Cho nên tác ý hỉ lạc làm cho thiện pháp tăng trưởng lớn mạnh lên, khi mình tác ý như vậy thì cảm thọ được kéo dài, lâu tàn còn không là sớm nở tối tàn. Phải khéo duy trì các cảm thọ, mình đã biết chỗ tổng hành dinh điều hành cho nên mình tập trung vào tu ngay chỗ đó, giữ được cảm thọ cung kính hoài, giữ được cảm thọ hỉ lạc ly tham, an tịnh lắng dịu hoài. Đó là sự thiện xảo, khéo léo tác ý trong sự tu tập hành trì. Mình lên núi tu, ra vô gặp ai là mình cười hoan hỉ, vì gặp được hiền nhân, gặp toàn người hiền, người tu, đừng nhớ cái xấu của người ta, lỡ người ta có xấu cũng đừng nhớ cái xấu mà hãy nhớ cái tốt để cho cái tâm được rộng mở, cảm thông. Bây giờ 10 phần mà người ta hết 7 phần xấu rồi, nhưng mình cũng đừng nhớ 7 phần xấu đó mà hãy nhìn vào 3 phần tốt thì mình mới thương, cảm thông. Còn mình 8 phần xấu, 2 phần tốt thì mình lo giải quyết 8 phần xấu này chứ đừng nhớ phần tốt rồi gặp ai cũng nói 2 phần tốt đó còn 8 phần xấu kia giấu mất. Phải phanh phui, vạch trần và phơi bày tội lỗi ra "con thấy bản ngã của con còn nhiều quá. Con thấy cái sân của con cũng lớn lắm, không biết bây giờ thầy hay cô, sư huynh chỉ con phương pháp để con dẹp cái sân đó", còn này cứ nói cái hay của mình còn cái xấu là che mất, khen mình chê người, tốt khoe xấu che. Trong sự tu tập mà mình khéo là rất hay, nhìn thấy cái tốt của người kia là mình hoan hỉ "huynh đó tốt". Tất cả huynh đệ trong chùa là phải tập chứ không đợi ra trước đại chúng có thầy, mà bất cứ khi nào mình thấy có lỗi là quỳ xuống lạy, không ai cười đâu mà sợ ngược lại còn kính nể mình, tỷ muội trong thất tu mà mình thấy có lỗi là quỳ lạy "con thấy ngày hôm nay con có lỗi sai, con lạy sám hối, cô tha thứ cho con", phơi bày cái sai đó ra, phát lồ cái sai đó, đánh vào ngay cảm thọ đó để nó tan ra luôn "con thấy cái đó là hỗn hào, đó là cái ích kỷ, con thấy cái này là khuyết tật trong nội tâm, con muốn trị cái bệnh này cho hết, con muốn làm con người khỏe mạnh, không bệnh hoạn, sư cô chứng minh cho con để con hết cái này, trị cho hết, làm cho nó sạch sẽ, mới mẻ". Chị em với nhau có lỗi là quỳ xuống lạy, vì mình tu vô ngã nên lạy là bình thường, tất cả là ngũ uẩn nên không có cao thấp ở đây, còn mình nói tôi là chị, tôi là thầy thì không thấy ngũ uẩn, cái đó là thấy danh tướng, địa vị còn ngũ uẩn không có cao thấp. Sự tu phải đi đến chỗ đó, đây là giai đoạn đầu để nhiếp phục bản ngã, khi nhiếp phục xong là phải hỉ lạc, lạy xong là vui "hôm nay mình làm được thiện pháp, mà thiện pháp này lại hi hữu hiếm có tuyệt vời, đó là mình chưa biết, các sư cô ngang lứa mình có ai dám làm đâu mà mình lạy được. Vui quá, hạnh phúc quá, đây là thiện hạnh, diệu hạnh, chân chánh hạnh”. Đây là những đức hạnh để tác thành một bậc ruộng phước vô thượng trên đời, đây mới xứng đáng là thánh đệ tử, mới xứng đáng là bậc xuất trần, đây mới xứng đáng là những bậc đi trên con đường của những bậc vô thượng sĩ. Cho nên suốt ngày mình cứ sanh hỉ liên tục, nghe tin hôm nay được nghe pháp là phải vui "hôm nay mình thêm được thiện pháp, tích lũy thêm diệu pháp", còn không "sao học hoài vậy trời? Tính hôm nay ở nhà nghĩ ngơi mà bị kêu đi học", phải diệt ngay cái ý hành đó "mày ưa ngủ lắm phải không, ưa làm biếng để được cái gì?", cứ đánh vào cho nó tê liệt rồi cuối cùng là diệt tận. Tới giờ con học pháp là không biết mệt mỏi, con học cay đắng lắm chứ không được như quý vị ngồi êm ái để nghe đâu, con học là phải bị tra khảo, đánh phá vào bản ngã nhưng con cầu học và thích học, không ngừng lại trong cái địa vị này.
Mỗi khi mình được một chút thiện pháp là mình vui lên rồi mình học nữa, hành nữa rồi vui lên, cứ như vậy mà thăng tiến lên. Phải nhớ chữ Tăng Thượng, danh từ bây giờ là nâng cao, luôn luôn nâng cao, thêm lên, đừng hài lòng với những cái mình đang cái. "Cảm giác toàn thân, 3 pháp, nhận diện năm uẩn mình đã biết, lậu hoặc cũng nhìn thấy nên từ từ làm, gấp gì, mình còn trẻ", những cái ý hành đó giết mình, không cho mình tiến lên, mình bằng lòng là coi như mình chấm hết, không thêm được gì nữa. Cả cuộc đời tu của mình tới đó là xong, còn chưa nói đến việc thối đọa. Đức Thế Tôn không tán thán với người đứng lại trong các thiện pháp, vì vậy mình hỉ lạc để tiến lên chứ không phải hỉ lạc để hài lòng với cái mình đang có.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ. Kính bạch trên quý thầy. Kính bạch trên quý sư cô. Kính thưa toàn thể đại chúng. Con xin trình bày về quá trình tu học trong hai mươi mấy ngày vừa qua. Khi bước đến con có xin sư phụ là con sẽ ở lại 2 tuần nhưng khi con tu tập về sự sách tấn của sư phụ con thấy hoan hỉ với cảnh núi rừng, những lúc tâm con bị buông lung phóng dật thì con nhớ lại lời sách tấn của sư phụ để làm động lực cho con tiến tu. Con luôn nhìn nhận thân tâm con trong quá trình vừa qua thì lòng dục vọng, ham muốn, đòi hỏi, cái tâm hướng ngoại, ngã mạn sanh khởi liên tục, không lúc nào dừng nghỉ. Những lúc con chánh niệm nhớ lại thầy dạy thì con tác ý, làm lắng dịu chút xíu rồi con sanh hỉ lạc, nhất là những buổi chiều con ngồi nhìn cảnh núi rừng con trải tâm hiền và tâm hỉ, con thấy thật là hạnh phúc khi mình được ngồi ở một không gian yên tĩnh, thanh vắng thì tâm hỉ lạc của con hướng về tất cả mọi người, con thấy hạnh là hạnh phúc. Con khắc ghi câu:
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vì không tìm dục lạc
Kinh Pháp Cú 07 – Phẩm A-la-hán
Con thấy nơi cảnh núi rừng thanh vắng này thật yên tịnh làm con người ta viễn ly được những ham muốn dục vọng, có được thời gian soi rọi lại thân tâm để nhìn ta những cấu uế, phiền não, tham ái, bản ngã, sự chấp thủ và tâm hướng ngoại. Lần nhập thất này con thấy có sự hoan hỉ trong pháp, tâm con hân hoan và có sự tinh tấn tu tập hơn. Tuy quá trình nhìn nhận ngũ uẩn của con còn thiếu sót và chưa rõ ràng nhưng những lúc con nhận diện được thì con thấy rất hoan hỉ, còn những lúc con chiến đấu với tâm si vào buổi sáng thì con nghe thầy nói khi buồn ngủ phải đi kinh hành hoặc đi thiền hành, khi nào con bị hôn trầm con sẽ áp dụng đi kinh hành và không chấp vào sự đang ngồi thiền, những lúc buồn ngủ con sẽ mở những câu tác ý của thầy để con chửi cái tâm lười biếng, thụ động "cái đồ biếng nhác, mày ham ăn, ham ngủ sẽ thành con heo", con chửi thì nó tỉnh nhưng một chút xíu là lại buồn ngủ nên con cứ cố tác ý nhưng đôi lúc cái tâm si, sự vô minh dẫn dắt làm con thua trận thì con cảm thấy rất xấu hổ, nhục nhã, hạ liệt "đê tiện làm sao, phàm phu làm sao khi mình thua trận như thế" nên con quyết tâm tu tập, quyết tâm đoạn trừ. Một lần nữa con xin thành kính tri ân thầy đã chỉ dạy những câu Như lý tác ý diệt dục, diệt bản ngã và diệt tâm hướng ngoại, con luôn nhớ lời của thầy để làm tư lương trên con đường tiến đến giải thoát, không phụ lòng của thầy, của đấng đạo sư đã đưa ra đường lối tu tập hết sức viên mãn, không phụ lòng quý thầy, quý sư cô và tất cả Phật tử đã hỗ trợ cho con tu tập trong thời gian vừa qua. Con xin thành kính đảnh lễ thầy, quý sư cô và quý Phật tử.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
TÁC Ý HỈ LẠC TIẾN TU 1B
THÍCH MINH THÀNH
Thưa đại chúng, phương pháp mà chúng ta thực tập tác ý mấy nay hôm là thuốc đặc trị. Tác ý để nhiếp phục những cái ham muốn, để nhiếp phục sự chấp ngã, ảo tưởng vào một cái bản ngã. Đó là thuốc trị bệnh, còn hôm nay con sẽ đưa thuốc bổ, vì uống thuốc trị bệnh hoài thì tu có vẻ khổ, cứ khóc hoài thành ra trong sự tu thì mình phải khéo tác ý và hỉ lạc. Đây là điều hết sức quan trọng, không phải mình làm mặt lạnh, lúc nào cũng nhìn xuống là tu hay. Mình phải biết lúc nào, khi nào, trong hoàn cảnh nào mở cái tâm mình ra tác ý hoan hỉ, an lạc và hạnh phúc. Đừng để ngoại cảnh tác động nhiều, bất cứ cái gì bên ngoài thì mình điều quay trở lại quán chiếu thân tâm, làm mình sanh khởi sự hân hoan, thích thú trong sự hành trì tu học.
Tại sao 2 ngày nay con mở bài Về Núi? Hôm qua là bài Về núi tuyệt vời, hôm nay là Về núi chuyên tu? Khi mình thấy được cái pháp, nhận rõ được con đường hành trì, thì lúc đó giống như mang bầu, mà đây là bào thai của bậc thánh cho nên gọi là thánh thai. Nếu mình sơ sảy là bể bầu, gọi là xảy thai, mình không cẩn thận bảo vệ thì nó chết nữa chừng, không khai hoa nở nhụy được. Dù cho mình có hiểu biết, nắm vững lý thuyết mà không chịu hành trì, cứ đi theo những cái thói quen phàm phu tục tử thì một thời gian là trí nguyện xuất trần bị mất đi, đó chính là xảy thai. Người ở trong gia đình hay tin là mình có thai, hay là người cha hay tin là vợ có mang thì thường là tin vui, cho nên con tạm mượn hình ảnh chứ còn kinh Nikāya là không dùng cái này, nhưng cái này là những cái thông dụng trong đời sống, nói cho người ta dễ hiểu.
Có những bữa mình thấy buồn chán thì mình phải cho hỉ lạc suốt thời thiền, mình ngồi trên bồ đoàn nhìn thấy viên đảnh phương bào, đầu tròn áo vuông. Mình thấy cái bóng rọi xuống đầu tròn, cái dáng ngồi của người xuất gia, hay người cư sĩ cũng có áo lam giải thoát, chứ người ngoài đời không mặc áo lam. Cho nên cho phép mình hỉ lạc trên cái hình tướng của người xuất gia, hỉ lạc trên hình tướng người cư sĩ, hỉ lạc trên chiếc áo nâu, áo vàng, chiếc y, hỉ lạc trên chiếc áo lam thanh tịnh. Khi ngồi thiền mình mỉm cười nhẹ lên, vui sướng, hạnh phúc, an lạc bởi vì mình được thoát ra, được viễn ly chứ không ngồi nhà thì mấy cô này cũng có 1-2 đứa con, còn mấy cậu này ít nhất cũng 1 đứa không thì cũng chạy ngược xuôi đi làm nuôi vợ. Còn mình bây giờ một thân một mình thảnh thơi, đầu tròn áo vuông, viên đảnh phương bào, y vàng, áo nâu, áo lam thanh thoát. Mình ngồi cho nó sanh khởi lên cảm giác hỉ lạc rồi mình mở tâm rộng mở ra ngoài nghe tiếng chim hót. Cho nên bài đầu tiên của con Về núi tuyệt vời nói chim hót suốt ngày, nghe chim hót, nhìn trúc xanh, mây bay chứ không phải ngồi đó nhắm mắt rồi hiện trong đó là si mê, vô minh, mà phải phóng tầm mắt rộng mở ra, thiền của mình không phải là thiền chết, không phải chỉ có 1 kiểu. Trời đất mênh mông, núi đồi trùng điệp, chim chóc hót ca, đại ngàn bao la, đây là sự vượt thoát, sự thoát ly. Nhớ khi xưa ở nhà đi bán vé số, đi ở đợi, đi bán xôi, chạy xe ôm… là cũng lòng vòng đi tìm cơm áo gạo tiền, giờ mình được xuất ly, được ngồi trên núi rừng thì cho phép mình mỉm cười với núi, với mây, cười với màu xanh của lá, cười với tiếng hót của chim. Đó là thân, là cảnh, là mở rộng ra mình nhìn thấy đại chúng không đông nhưng những con người này có chí nguyện lớn, chí nguyện xuất trần, chí nguyện thánh thiện thanh cao. Đây là những con người đẹp, những người tu đức hạnh với một cái tâm hướng thượng, khi thấy đại chúng ngồi thiền chung với mình là mình mỉm cười lần nữa, bất cứ người nào lên bồ đoàn là đẹp, đó là dáng ngồi đưa đến bất tử, là dáng ngồi cát tường tọa, Chánh Giác tọa. Mình mở rộng tầm nhìn ra hết thiền đường chứ không phải tối ngày sụp mắt xuống không thấy được gì ngoài này, đó gọi là đặt niệm trước mặt. Thân tướng cũng vui, cảnh cũng vui, đại chúng là an lạc, thanh tịnh.
Trong kinh nghiệm con tu tập thì con thấy cái này quan trọng, nếu không khéo là mình rơi rụng, tu một thời gian là thấy rác bẩn không, chỉ toàn dục và bản ngã, cấu bẩn, hoài nghi, tật đố, hơn thua đủ thứ. Hôm nào lên nghe pháp cũng toàn nghe cái này, rồi mình cũng thấy như vậy nữa, nhìn ra đời sống những tin tức cũng vậy thì cuối cùng "ngồi tu được cái gì ta?". Cho nên mình phải có cái nhìn đa diện, bao quát. Thứ nhất mình đã thành tựu trí tuệ, mắt pháp đã mở. Hồi đó mình có thấy cái dục hoạt động không? Mình có thấy cái dục sanh khởi không? Mình không thấy cái dục hành hạ mà mình chỉ ham muốn, yêu cái dục, đồng hóa mình với dục. Còn bây giờ mình tách ra, mình thấy dục sanh khởi "tên này là tên giặc, tên này phá nhà phá cửa", cái sự tách ra được như vậy là trí tuệ. Hồi xưa mình không biết tu thì mình có dám lạy không? Thầy Pháp An với bà Diệu Hiền nếu không lên núi tu được mấy năm nay thì con chỉ là con thì làm sao con bắt cha lạy mẹ? Không đi tu thì dễ gì lạy, con có quỳ kêu lạy cũng không lạy luôn. Đó là bản ngã đã được thấy, bản ngã đã được biết, đã được chiếu soi, được nhận diện. Bản ngã đó bắt đầu hiền, ngoan. Bài diệt ngã mình học chục buổi cũng chưa hết vì nó thâm sâu lắm.
Mình không biết là mình đồng hóa, say mê, mình chết chìm trong dục vọng. Bây giờ mình nhìn thấy được nó và muốn đi ra khỏi nó. Như vậy là mình đã thành tựu trí huệ, bắt đầu có sự nhiếp phục là mình cười. Mỗi lần mình đánh bắn một thằng nào chết rồi là mình phải cười "mới giết thêm được thằng giặc". Buổi sáng gặp nó, trưa gặp thằng sân, chiều gặp thằng ái, tối gặp thằng tham, nguyên 1 ngày mình tu học, làm việc tới 10h đêm, đóng cuốn kinh lại ngã lưng là "sao mà sung sướng", thì mình phải "cái cảm giác gì đây? Cái suy nghĩ gì đây" là cái này này ái. Mỗi khi mình nhiếp phục, mình đánh trận thắng thì phải sanh khởi hỉ lạc hân hoan, niềm vui của dũng sĩ thắng trận, dù có liệt sĩ cũng không sao. Thanh thiếu niên bây giờ xì ke ma túy, đánh đập, đâm chém, đua xe, bài bạc... tất cả điều vô nghĩa, còn mình ngồi đây là xuất thế. Ngồi trên bồ đoàn cười "đây là xuất thế", cho nên con làm bài này là con đang cho mình uống thuốc bổ mới duy trì ở trong thất được, để cho hỉ lạc sanh khởi rồi cười, hoan hỉ. Có bữa con ngồi thiền suốt 1 tiếng, cảm xúc trào dâng, xuất khẩu thành thơ ra mấy chục bài, buổi sáng ngồi thiền mây bay bồng bềnh, chim hót là con đọc thành thơ luôn. Cứ cho nó hỉ lạc, không sao hết. Vì đang ly sanh hỉ lạc, có cả tầm tứ, mình hướng cái tâm rồi tác ý cho hỉ lạc, cho vui lên "tham dục đã thấy rồi, bản ngã, cái tâm hướng ngoại muốn đi hoài cũng thấy rồi", niềm vui bắt đầu sâu sắc, đó là niềm vui của thành tựu trí năm uẩn. Chính là thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức một cách rành rõ. Hồi xưa một thấy một đống chứ không phải năm đống, một cái tôi, bản ngã khổng lồ, còn bây giờ mình thấy 5 nhóm chứ không có cái tôi, bản ngã nào trong đây. Mình thấy bản ngã hoạt động, cảm giác đang sanh diệt, những hình bóng lờ mờ, những suy nghĩ rù rì, cái thức rõ biết là mình vui thêm cái nữa. Sau khi thấy năm uẩn, phát hiện ra dục ái, bản ngã, vô minh là mình cười thêm lần nữa. Bồ Tát thành tựu 4 thánh trí về năm uẩn, sau đó mới thành tựu 4 thánh trí về lậu hoặc, tiếp theo mới diệt tận hoặc rồi rồi mới chứng Tam minh, đó là tiến trình tu chứng của Bồ Tát, mình phải đi con đường đó chứ không còn con đường nào khác vì ngũ uẩn này trùm hết trời đất. Mình học ngũ uẩn là học cái trí vũ trụ, cái trí bao trùm hết trời đất vạn vật, điều nằm trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Học tiến sĩ ngoài đời, thậm chí là tiến sĩ Phật học mà mình hỏi ngũ uẩn thử xem cái vị đó giải thích ra sao, ú ớ hết. Nếu không gặp thánh pháp, không gặp được bậc thiện tri thức thành tựu chánh tri kiến thì dù cho mình đọc kinh sách suốt đời thì cũng không thấy biết. "Làm cho hiện hành các pháp hữu vi. Sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh…", đọc cái này còn khó hơn cả đọc chú Đại bi thì làm sao mình hiểu nổi. Nếu không có người chỉ một cách tường tận cho mình nhận diện thì làm sao mình hiểu được, cho nên các chú tập sự xuất gia nhất định phải nắm được 3 pháp và phải nhìn ra được năm uẩn, không làm được thì tất cả những cái sau đều không thành tựu, đó là nền móng. Không có nền móng thì không thấy được năm uẩn là không thấy được gì hết, sự tu của mình đặt trên sự suy luận, không thấy pháp thì làm sao tu? Toàn là si tưởng, bữa nào ngồi là tự nhiên hoát nhiên đại ngộ, thành cao nhân chứng đắc cái gì đó thì đó chỉ là điều viễn vong. Lúc trước con chưa vào dòng pháp này là con tưởng như vậy đó, cứ vào đóng cửa ngồi là tự nhiên lọt vào chỗ thanh tịnh hoàn toàn, cái trí tự nhiên bừng lên là biết hết tất cả vạn vật là thành thánh. Tầm bậy, cái đó là phi nhân quả rồi. Mình tu với chánh pháp mới thấy tuyệt diệu, mình nhìn ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức và những thứ cấu nhiễm, rác bẩn, thâm sâu hơn là yêu quái trong đó. Rồi bắt đầu mới diệt từng tên mà diệt có phương pháp rõ ràng. Cái dục là mình quán trong Thân Hành Niệm, tứ đại, bất tịnh, 32 thể trược, 9 giai đoạn tử thi, mình đánh như vậy là nó cũng tê tái rồi, dùng Như lý tác ý thần thánh đánh thêm nữa là nó cũng tê liệt. Mình cứ duy trì sự tu tập, tinh tấn nỗ lực như vậy thì rất mau, ở trong pháp và luật khéo thuyết Như Lai mà người nào tinh tấn thì người đó an lạc, còn ở trong pháp không phải khéo thuyết tức là không phải chánh pháp thì người nào tinh tấn người đó khổ. Mình thấy có nhiều người tu bị thần kinh luôn, con gặp nhiều người lắm, tu thiền hay tịnh độ bị thần kinh, thành ra trong chánh pháp mà tinh tấn thì được hạnh phúc, an lạc còn ở trong tà pháp mà mình tinh tấn là khổ đau.
Cái vui tiếp theo của mình là nhìn thấy lậu hoặc, cái vui thứ nhất là nhìn thấy ngũ uẩn là nhìn thấy thân tâm một cách thiết thực chân chánh. Bao nhiêu bằng cấp cũng không so sánh được, 10 bằng cấp cũng không thấy được năm uẩn nếu không học chánh pháp, không gặp bậc thiện tri thức, nếu không thì các tiến sĩ đã thấy được năm uẩn, các vị đó học tại các nước Phật giáo gốc nhưng không có duyên lành, không đi đúng đạo lộ thì cũng không thấy, chỉ thấy một cách chung chung thôi chứ không thấy rõ được sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Con đi hết 8 đường thiền của Myanmar, Srilanka, Thái Lan mà không có chỗ nào nói đầy đủ năm uẩn. Cho nên khi mình nhận ra cái trí năm uẩn mà mình nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là mình cười thêm lần nữa, vì thế khi nãy lạy con là con quán "Cái đống thịt thối này, mày đừng tưởng mày là sư phụ là ngon nha. Không có ai ở đây hết, trống rỗng", chứ không phải thấy lạy là ngon lành. Chết liền với nó, "cái đống thịt này vài bữa là vào lò thiêu", làm mồi cho giòi, cho chó sói, bên Tây Tạng có tục lệ điểu táng lấy thây người chết làm mồi cho kên kên. Mình ngồi đây sân si, vô minh, bãn ngã, mình làm đủ thứ chứ vài bữa là không còn gì, có vài chỗ người ta làm nương rẫy cuốc trúng bộ xương, chết không ai biết. Mình phải thâm nhập cái trí huệ này, lúc nào cũng phải nghiền ngẫm và quán chiếu, không được quên, cái trí huệ này là hiếm có trên đời. Không phải dễ có được cái trí bộ xương này, không phải dễ thấy được đống thịt thối này, toàn là thấy đẹp, thơm rồi say sưa, mê muộn rồi khổ đau. Cho nên nhiều khi con ngồi thiền ở đây mà trên kia cười nói chụp hình là bi mẫn tràn ra, con thấy thương chứ không giận, không có nghĩ là họ phá giờ ngồi thiền của mình, những cái đó là vui sướng trong đau khổ.
Nhìn sâu vào thấy mỗi một cái trí huệ mình thành tựu là cười, mình quán xong một cái là mình hỉ lạc lên "cái trí này ngay cả người xuất gia cũng chưa chắc có mà bây giờ có người thâm nhập làm cái này", cho nên bộ xương hay là đống thịt, hay là những cái trí huệ này là bảo bối, mình phải xem nó như bí kiếp, đồ quý giá, hễ gặp chuyện là mình lấy ra. Khi nào mình thấy có dục khởi lên, những cái ai, tham khởi lên là mình lấy bảo bối ra, trong thất mà con thấy nó khởi lên là "tao đánh cho mày chết cha", dùng Như lý tác ý đánh cho nó bay mất là cười. "Mày quậy hả? Mày muốn quậy nữa hay sao? Chút xíu là khởi lên, mày làm cái gì vậy?", mở Như lý tác ý chửi cho tan hết dòng cảm thọ đó rồi vừa cười vừa đi thiền hành "Sướng quá, thắng nó rồi", cứ làm như vậy. Mình điện thoại 3-4 cuộc không nghe máy hoặc nhắn tin không trả lời, mà người đó nhỏ hơn mình thì lúc đó thọ; tưởng; hành bắt đầu vận hành là mình phải đánh đuổi nó liền "Ai lớn nhỏ ở đây?Ai cao thấp ở đây? Mày là cái gì hỡi bộ xương, hỡi đống da này? Mày phình bong bóng lên hả?", tác ý mạnh vào là tan hết cảm giác khó chịu của bản ngã, của ta đây sao điện không nghe, nhắn tin không trả lời, rồi thân tâm mình bình thản như không có gì xảy ra, xong là cười "thắng nữa rồi". Làm như vậy sẽ giải tỏa được cảm xúc, cảm giác, cảm thọ, mà giải tỏa được như vậy hoài thì cảm thọ về bản ngã sẽ lắng dịu, cho tới một mức đủ mạnh sẽ diệt tận và chứng nhập cái trí vô ngã. Những cái cảm thọ xấu này như hơi ga, là khí ga, dù cho nó to như thế nào đi nữa mà cứ bị xì riết rồi cũng bị hết hơi, mỗi lần tác ý là mình giải tỏa cái hơi ga, cái khí bực mình, dương dương tự đắc. Con dùng từ tử huyệt, chính là nơi thọ uẩn, đánh thẳng vào tử huyệt là từ từ nó sẽ chết, từ dục, bản ngã, hướng ngoại và bao nhiêu tham ái cũng chết. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ thì đánh vào cảm thọ là sụp đổ hết toàn bộ, miễn sao cái thọ của mình an tịnh nhẹ nhàng là được. Bất cứ bị phiền não gì là cảm giác biến động, nó bực bội, nặng nề, gay gắt, nó chứa đựng đủ thứ thì bây giờ mình giải tỏa cho yên tịnh, lắng dịu thì tức là mình giải phóng cái khí độc ở bên trong thân tâm. Từ từ cái hơi xì ra, tan ra rồi cạn kiệt cái hơi đó, tới một lúc nào đó là hết luôn thì lúc đó là thánh quả, ít nhất là từ nhị quả tới tam quả, làm rốt ráo cái nữa là tứ quả.
Trong thất thì sức mạnh của con là đi thiền hành, một ngày con đi 6-7 tiếng. Vừa đi vừa dùng Như lý tác ý, tung chưởng làm cho tất cả các cảm thọ xả ra để được an tịnh. Xong là mình cười, hân hoan "Vui quá, sáng nay mình thắng trận nữa". Có biết bao nhiêu thể loại, đủ các dạng thức cảm thọ nên mình mới định vị, định dạng nó thuộc dạng nào. Mình phải hoan hỉ vì càng ngày mình đi càng sâu vào pháp, vào hỉ lạc, trong khinh an giác chi, hỉ giác chi, khi nãy là mình niệm giác chi, trạch pháp giác chi. Mình có hết các thất giác chi, đều vận dụng hết 7 giác chi này. Phải có chánh niệm mình mới thấy, khi thấy rồi mới trạch pháp, xem tên này là tên gì, thiện hay ác, thuộc loại nào. Nếu là thiện pháp thì mình tăng trưởng còn ác pháp là diệt tận, tẩy sạch, làm cỏ nó. Muốn làm những cái này thì phải có tinh tấn giác chi, khi tinh tấn thắng được nó rồi thì hỉ giác chi, khinh an giác chi sanh khởi, mà khinh an thì phải có định, xả cái tâm. Tuần tự các pháp sẽ tự động vận hành để sanh khởi, mình phải nhận diện các pháp, đó gọi là quán pháp trên pháp và mình phải biết lúc nào nên cho hỉ giác chi tăng trưởng một cách mạnh mẽ. Đức Phật dạy khi nào cái tâm thụ động, lười biếng, nhàm chán thì lúc đó hỉ giác chi phải sanh khởi, phải vận động đi thiền hành, tới giờ tu mà buồn ngủ mà ngồi thì ngủ là phải đi kinh hành, miễn sao tu được thôi, không quan trọng quá vào hình tướng và kiểu cách mà làm sao phải có hiệu quả, cái này mới quan trọng. Đừng đặt nặng vào việc lúc ngồi thiền là phải ngồi mới được, còn lúc đi kinh hành là bắt buộc phải đi, làm sao miễn đánh được giặc là được, miễn sao giải thoát tất cả cảm giác được là thành công.
Khi nãy tới giờ biết bao nhiêu là cái vui, chánh niệm cũng vui nữa. Hôm nay sao mình thấy tâm rõ quá, trạch pháp cũng vui nữa "Bây giờ mình trạch pháp rồi, thiện ác, nhiễm tịnh, mê ngộ, hữu vi vô vi đều thấy rõ hết. Vui nha, lúc trước không thấy", đó là nhờ ngồi thiền, ngồi nhập thất yên tịnh trên núi mới thấy còn dưới phố thị là không thấy. Mình thấy suy nhược, yếu đuối là phải uống thuốc bổ, để mình làm việc, để mình tu thì cái tâm mình cũng cần thuốc bổ tâm linh, đó là hỉ lạc. Nguyên một thời thiền cứ tác ý cho hỉ sanh, cứ cho nó sanh, thậm chí là mình cho nó sanh suốt ngày luôn, nếu mình tu khéo là mình muốn cho nó sanh khởi bao nhiêu là nó sanh khởi bấy nhiêu. Đó là mình nuôi dưỡng pháp quy, kích hoạt những cảm giác hỉ lạc trong sự tu tập chứ còn tu riết nhìn mặt sao thấy giống hết thời, nhìn muốn bệnh, nhìn mặt muốn bái bai. Trong pháp, trong sự hành và trong trí tuệ không có hỉ lạc thì tìm dục lạc, bày ra nấu ăn, đi chơi… cuối cùng là đồng hóa với thế gian, tới chùa không thấy tu, không thấy pháp thì dân vào chơi y như ngoài đời, lấy hình thức, âm thanh, sắc tướng làm cái vui. Vì người đó không có hỉ lạc, không có pháp lạc, thiền lạc, tuệ lạc, không có xuất ly lạc, không có xuất thế lạc, không có thánh lạc, thiên lạc cho nên mình phải biết khéo léo phát huy và thực tập. Ví dụ như sư cô mà lạy đứa cháu thì đó là sự chiến thắng, ở ngoài đời không thực tập thánh pháp diệt ngã thì có lạy nổi không? Con không thấy sư cô nào lạy cháu mình, cha mẹ còn không lạy nữa mà, chết chỉ thắp nhang thôi "tôi xuất gia rồi không lạy ai hết á", cứ khóc đã rồi lạy xong là về cười "bữa nay mình chiến thắng được bản ngã, mình là cô, dì mà lạy cháu, mình lại xuất gia nữa nên đẹp vô cùng". Hôm qua ông Năm với bà Năm lạy xong có cười không? Về suy nghĩ lại phải vui, những gúc mắc được tháo mở ra, bà Diệu Hiền sau khi lạy có thấy gỡ bỏ được những cái bên trong không? Ít nhất cũng được phần nào, đó là thánh pháp, là thánh đạo, giải phá các sự u uất, khuất tất, những áp lực đè nén bên trong mấy chục năm được tan ra. Đó là trực diện đánh thẳng vào năm uẩn, giải phá tất cả. Mọi người đừng có sợ, thiện pháp là không có sợ, kêu nói là nói, vì nói thì cảm thọ mới sanh còn không cứ ở trong thân không ra được, hoa nở ra thì người ta mới thấy, phải cho thiện pháp tỏa ra thì thiện pháp mới sanh khởi từ đó mới viên mãn, chín muồi. Vì vậy mình đánh xong là mình cười, hoan hỉ, mình làm được việc có khi suốt cuộc đời những cặp vợ chồng khác cũng không làm được. Sau khi hoan hỉ rồi thì đừng nghĩ vậy là xong, sau này phải sửa đổi theo những lời mình đã nói chứ không phải "tôi lạy xong rồi đó nha, đừng có thắc mắc nữa nha", mình phải tiếp tục nuôi dưỡng nó mà thậm chí sau này thuận lợi thì làm nữa. Những lời nói, suy nghĩ, hành động phải luôn luôn xứng hợp với điều mình đã làm như phải biết ơn, tôn trọng, cung kính nhau thì mới được lâu dài chứ không phải lạy để làm màu, để đóng phim mà nó phải chân thật, chân thành, thiết tha. Như vậy là thành con người mới, đó là sự chuyển đổi làm mới, sự thể nhập vào thiện pháp, nói bình thường là mình trở thành người mới, một người tươi tắn, đó là chết với ác pháp và sống lại với thiện pháp, chết cái uế để sống lại cái tịnh. Có biết bao nhiêu cái để mình sanh khởi hỉ lạc mà mình không biết tác ý, cứ trơ trơ, kêu lạy rồi xúc động lúc đó là xong, như vậy là thiện pháp không được tăng trưởng lớn mạnh, không được ban rộng ra, lợi lạc chỉ có 5 phần mà mình khéo tác ý nữa thì lợi lạc tăng thêm 7-8 phần, thậm chí nuôi dưỡng những cái thiện pháp tăng thêm 10 phần, còn này 5 là 5. Cho nên tác ý hỉ lạc làm cho thiện pháp tăng trưởng lớn mạnh lên, khi mình tác ý như vậy thì cảm thọ được kéo dài, lâu tàn còn không là sớm nở tối tàn. Phải khéo duy trì các cảm thọ, mình đã biết chỗ tổng hành dinh điều hành cho nên mình tập trung vào tu ngay chỗ đó, giữ được cảm thọ cung kính hoài, giữ được cảm thọ hỉ lạc ly tham, an tịnh lắng dịu hoài. Đó là sự thiện xảo, khéo léo tác ý trong sự tu tập hành trì. Mình lên núi tu, ra vô gặp ai là mình cười hoan hỉ, vì gặp được hiền nhân, gặp toàn người hiền, người tu, đừng nhớ cái xấu của người ta, lỡ người ta có xấu cũng đừng nhớ cái xấu mà hãy nhớ cái tốt để cho cái tâm được rộng mở, cảm thông. Bây giờ 10 phần mà người ta hết 7 phần xấu rồi, nhưng mình cũng đừng nhớ 7 phần xấu đó mà hãy nhìn vào 3 phần tốt thì mình mới thương, cảm thông. Còn mình 8 phần xấu, 2 phần tốt thì mình lo giải quyết 8 phần xấu này chứ đừng nhớ phần tốt rồi gặp ai cũng nói 2 phần tốt đó còn 8 phần xấu kia giấu mất. Phải phanh phui, vạch trần và phơi bày tội lỗi ra "con thấy bản ngã của con còn nhiều quá. Con thấy cái sân của con cũng lớn lắm, không biết bây giờ thầy hay cô, sư huynh chỉ con phương pháp để con dẹp cái sân đó", còn này cứ nói cái hay của mình còn cái xấu là che mất, khen mình chê người, tốt khoe xấu che. Trong sự tu tập mà mình khéo là rất hay, nhìn thấy cái tốt của người kia là mình hoan hỉ "huynh đó tốt". Tất cả huynh đệ trong chùa là phải tập chứ không đợi ra trước đại chúng có thầy, mà bất cứ khi nào mình thấy có lỗi là quỳ xuống lạy, không ai cười đâu mà sợ ngược lại còn kính nể mình, tỷ muội trong thất tu mà mình thấy có lỗi là quỳ lạy "con thấy ngày hôm nay con có lỗi sai, con lạy sám hối, cô tha thứ cho con", phơi bày cái sai đó ra, phát lồ cái sai đó, đánh vào ngay cảm thọ đó để nó tan ra luôn "con thấy cái đó là hỗn hào, đó là cái ích kỷ, con thấy cái này là khuyết tật trong nội tâm, con muốn trị cái bệnh này cho hết, con muốn làm con người khỏe mạnh, không bệnh hoạn, sư cô chứng minh cho con để con hết cái này, trị cho hết, làm cho nó sạch sẽ, mới mẻ". Chị em với nhau có lỗi là quỳ xuống lạy, vì mình tu vô ngã nên lạy là bình thường, tất cả là ngũ uẩn nên không có cao thấp ở đây, còn mình nói tôi là chị, tôi là thầy thì không thấy ngũ uẩn, cái đó là thấy danh tướng, địa vị còn ngũ uẩn không có cao thấp. Sự tu phải đi đến chỗ đó, đây là giai đoạn đầu để nhiếp phục bản ngã, khi nhiếp phục xong là phải hỉ lạc, lạy xong là vui "hôm nay mình làm được thiện pháp, mà thiện pháp này lại hi hữu hiếm có tuyệt vời, đó là mình chưa biết, các sư cô ngang lứa mình có ai dám làm đâu mà mình lạy được. Vui quá, hạnh phúc quá, đây là thiện hạnh, diệu hạnh, chân chánh hạnh”. Đây là những đức hạnh để tác thành một bậc ruộng phước vô thượng trên đời, đây mới xứng đáng là thánh đệ tử, mới xứng đáng là bậc xuất trần, đây mới xứng đáng là những bậc đi trên con đường của những bậc vô thượng sĩ. Cho nên suốt ngày mình cứ sanh hỉ liên tục, nghe tin hôm nay được nghe pháp là phải vui "hôm nay mình thêm được thiện pháp, tích lũy thêm diệu pháp", còn không "sao học hoài vậy trời? Tính hôm nay ở nhà nghĩ ngơi mà bị kêu đi học", phải diệt ngay cái ý hành đó "mày ưa ngủ lắm phải không, ưa làm biếng để được cái gì?", cứ đánh vào cho nó tê liệt rồi cuối cùng là diệt tận. Tới giờ con học pháp là không biết mệt mỏi, con học cay đắng lắm chứ không được như quý vị ngồi êm ái để nghe đâu, con học là phải bị tra khảo, đánh phá vào bản ngã nhưng con cầu học và thích học, không ngừng lại trong cái địa vị này.
Mỗi khi mình được một chút thiện pháp là mình vui lên rồi mình học nữa, hành nữa rồi vui lên, cứ như vậy mà thăng tiến lên. Phải nhớ chữ Tăng Thượng, danh từ bây giờ là nâng cao, luôn luôn nâng cao, thêm lên, đừng hài lòng với những cái mình đang cái. "Cảm giác toàn thân, 3 pháp, nhận diện năm uẩn mình đã biết, lậu hoặc cũng nhìn thấy nên từ từ làm, gấp gì, mình còn trẻ", những cái ý hành đó giết mình, không cho mình tiến lên, mình bằng lòng là coi như mình chấm hết, không thêm được gì nữa. Cả cuộc đời tu của mình tới đó là xong, còn chưa nói đến việc thối đọa. Đức Thế Tôn không tán thán với người đứng lại trong các thiện pháp, vì vậy mình hỉ lạc để tiến lên chứ không phải hỉ lạc để hài lòng với cái mình đang có.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ. Kính bạch trên quý thầy. Kính bạch trên quý sư cô. Kính thưa toàn thể đại chúng. Con xin trình bày về quá trình tu học trong hai mươi mấy ngày vừa qua. Khi bước đến con có xin sư phụ là con sẽ ở lại 2 tuần nhưng khi con tu tập về sự sách tấn của sư phụ con thấy hoan hỉ với cảnh núi rừng, những lúc tâm con bị buông lung phóng dật thì con nhớ lại lời sách tấn của sư phụ để làm động lực cho con tiến tu. Con luôn nhìn nhận thân tâm con trong quá trình vừa qua thì lòng dục vọng, ham muốn, đòi hỏi, cái tâm hướng ngoại, ngã mạn sanh khởi liên tục, không lúc nào dừng nghỉ. Những lúc con chánh niệm nhớ lại thầy dạy thì con tác ý, làm lắng dịu chút xíu rồi con sanh hỉ lạc, nhất là những buổi chiều con ngồi nhìn cảnh núi rừng con trải tâm hiền và tâm hỉ, con thấy thật là hạnh phúc khi mình được ngồi ở một không gian yên tĩnh, thanh vắng thì tâm hỉ lạc của con hướng về tất cả mọi người, con thấy hạnh là hạnh phúc. Con khắc ghi câu:
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vì không tìm dục lạc
Kinh Pháp Cú 07 – Phẩm A-la-hán
Con thấy nơi cảnh núi rừng thanh vắng này thật yên tịnh làm con người ta viễn ly được những ham muốn dục vọng, có được thời gian soi rọi lại thân tâm để nhìn ta những cấu uế, phiền não, tham ái, bản ngã, sự chấp thủ và tâm hướng ngoại. Lần nhập thất này con thấy có sự hoan hỉ trong pháp, tâm con hân hoan và có sự tinh tấn tu tập hơn. Tuy quá trình nhìn nhận ngũ uẩn của con còn thiếu sót và chưa rõ ràng nhưng những lúc con nhận diện được thì con thấy rất hoan hỉ, còn những lúc con chiến đấu với tâm si vào buổi sáng thì con nghe thầy nói khi buồn ngủ phải đi kinh hành hoặc đi thiền hành, khi nào con bị hôn trầm con sẽ áp dụng đi kinh hành và không chấp vào sự đang ngồi thiền, những lúc buồn ngủ con sẽ mở những câu tác ý của thầy để con chửi cái tâm lười biếng, thụ động "cái đồ biếng nhác, mày ham ăn, ham ngủ sẽ thành con heo", con chửi thì nó tỉnh nhưng một chút xíu là lại buồn ngủ nên con cứ cố tác ý nhưng đôi lúc cái tâm si, sự vô minh dẫn dắt làm con thua trận thì con cảm thấy rất xấu hổ, nhục nhã, hạ liệt "đê tiện làm sao, phàm phu làm sao khi mình thua trận như thế" nên con quyết tâm tu tập, quyết tâm đoạn trừ. Một lần nữa con xin thành kính tri ân thầy đã chỉ dạy những câu Như lý tác ý diệt dục, diệt bản ngã và diệt tâm hướng ngoại, con luôn nhớ lời của thầy để làm tư lương trên con đường tiến đến giải thoát, không phụ lòng của thầy, của đấng đạo sư đã đưa ra đường lối tu tập hết sức viên mãn, không phụ lòng quý thầy, quý sư cô và tất cả Phật tử đã hỗ trợ cho con tu tập trong thời gian vừa qua. Con xin thành kính đảnh lễ thầy, quý sư cô và quý Phật tử.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.