HỶ VÔ LƯỢNG TÂM
HỶ VÔ LƯỢNG TÂM
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tầm quan trọng của tu tập Bốn Tâm Vô Lượng PAGEREF _Toc71811357 \h 1
II.Tác ý hỷ lạc trong tu tập PAGEREF _Toc71811358 \h 3
III.Thực hành trải tâm hỷ PAGEREF _Toc71811359 \h 11
IV.Bài kinh “Bất Lạc” PAGEREF _Toc71811360 \h 14
V.Hỷ thế gian và Hỷ xuất thế PAGEREF _Toc71811361 \h 17
Tầm quan trọng của tu tập Bốn Tâm Vô Lượng
Kính thưa đại chúng, tâm thức của chúng ta rất cần được nuôi dưỡng, chăm sóc và trị liệu. Cần phải để ý nội tâm, ngồi thiền, thường thường nhìn lại, kiểm tra, xem xét, soi rọi, tìm hiểu, đó gọi là quán tâm trên tâm. Vừa đói bụng một chút là mình kiếm đồ ăn, vừa khát một chút mình tìm nước, vừa khó chịu là mình đi nghỉ, đó là sự chăm sóc cho thân thể, nhưng đối với tâm thức có khi mình lãng quên rất nhiều. Vì vậy, cần phải chăm sóc, tưới tẩm, vun vén, tỉa cành lá, làm cho tâm của mình trở thành một cái tâm khỏe mạnh, tươi tốt, xinh xắn, xinh đẹp, tốt lành, sung mãn, hỷ lạc, từ bi, hỉ xả, rộng mở, lớn lao và bao la.
Cho nên nói sự tu tập về bốn tâm vô lượng là hết sức quan trọng, nếu không có sự tu tập thì tâm tiều tụy, suy nhược, ốm yếu, bệnh hoạn. Ở trong chùa lâu nhưng nhìn mặt không vui, lúc nào cũng buồn, có một nỗi niềm mông lun, xa xăm, không thú vị, không ý vị, không hương vị. Đó là một cái tâm tiều tụy, ốm yếu, bệnh hoạn, suy nhược, và có khi là một cái tâm bệnh trầm kha, bệnh rất nặng. Vì vậy, bốn tâm vô luợng thật sự hết sức quan trọng.
Hằng ngày chúng ta phải biết lúc nào cần tu tập tâm xả, lúc nào cần tu tập tâm hỷ, lúc nào cần tu tập tâm từ, lúc nào cần tu tập tâm bi. Đây là sự thiện xảo, khéo léo của hành giả. Còn không tu thì nhìn mặt khổ lắm, không có hỷ lạc, không có pháp hỷ, không có thiền duyệt. Pháp hỷ là niềm hoan hỷ ở trong pháp, thiền duyệt là niềm vui trong thiền định, thiền tập.
Vì không đánh đuổi được năm triền cái, để nó lưu trú, đóng quân, bành trướng trong nội tâm nên mình lần quần, lẩn quẩn trong cái vòng, một là hôn trầm, hai là tán loạn, lúc nào cũng trong trạng thái như vậy. Khi bắt chân lên bồ đoàn là bắt đầu lơ lơ, gục, khi xả bồ đoàn ra bắt đầu lăng xăng. Đó là hai trạng thái thô nhất của năm triền cái. Cho nên mình phải để ý, để tâm, chú tâm, lưu tâm và quyết tâm – những từ này hết sức ý nghĩa chứ không phải chỉ là ngôn ngữ suông. Sự để tâm, để ý, sự lưu tâm, quyết tâm, sự định tâm để nhìn lại, nhìn thật kỹ, nhìn thật sâu để phát giác, phát hiện, tìm hiểu, biết rõ và có phương pháp đánh đuổi diệt tận năm triền cái. Vì vậy, nếu bắt chân lên bồ đoàn là ngồi lơ mơ, lờ mờ, rồi gục; xả bồ đoàn ra bắt đầu xôn xao, đó là một trạng thái si ám rất nặng. Trạng thái này là chung hết, người nào không quyết tâm, nỗ lực đều bị hết, dù có ở chùa bao lâu, đừng nói là người cư sĩ, ngay cả xuất gia cũng không thể vượt qua được năm cái tên này, khiếp lắm. Một người bị như vậy là một kẻ nô lệ, không được tự chủ, tự do, nên không tỏa ra được tâm thái bình an, thảnh thơi, tự tại. Tâm luôn trong trạng thái hốt hoảng, dao động, lăng xăng, vội vã, lo lắng, sợ hãi, tìm kiếm, truy tầm.
Chính vì vậy, mình phải diệt tận được năm tên đó trước mới có thể vào được sơ thiền, nếm được hương vị ly sanh hỷ lạc địa. Tuyệt vời lắm! Đánh được năm tên đó sẽ có được trạng thái tâm kỳ diệu. Phải đánh gục nó, đánh sạch, đánh tan nát hết. Ngoài ra, còn trạng thái nghi hối, nghi ngờ, hối hận, hoài nghi pháp, không chịu nỗ lực, tha thiết, chân thành, dấn thân để thực tập – đó là nói về hôn trầm, trạo cử, và hoài nghi. Giáo trình năm triền cái không biết có ai đọc không? Soạn ra rồi giảng, pháp đưa tới tay nhưng không biết có người đọc, nghiên cứu không, hay là để trên giá, kệ, tủ cất.
Tham dục, sân, hôn trầm, trạo hối và nghi – đánh đuổi năm tên này thì mình mới có thể an trú tâm trong Bốn Niệm Xứ và thực hành Thất Giác Chi. Đó là pháp truyền thống của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai: diệt tận Năm Triền Cái, an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ và thực hành Thất Giác Chi. Thành ra phải hết sức để tâm diệt tận năm tên đó, tu tập Bốn Niệm Xứ và tu tập Bốn Tâm Vô Lượng.
Tu tập Bốn Tâm Vô Lượng sẽ làm cho mình tươi mát, sung mãn, mới mẻ, hỷ lạc. Tu tập được bốn tâm này, mình có thể thiền định, nghe pháp, tu tập dài lâu mà không bị mệt mỏi, chán nản. Nếu không có pháp hỷ sao mình ngồi nổi 5-7 tiếng hoặc 10 tiếng? Không có thiền duyệt là chịu không nổi, không ngồi lâu được, rồi bị năm cái tên triền cái nó đập quậy bên trong thì sao tu được, cho nên mình phải thực tập và nên chú trọng vào Hỷ Vô Lượng Tâm.
Tác ý hỷ lạc trong tu tập
Mọi người chúng ta đương nhiên đã nhìn thấy tứ đại, ngũ uẩn, vô thường, khổ ải, bệnh hoạn, ung nhọt, nhưng phải biết phát huy tâm của mình thì mới trú được trong pháp hỷ, pháp lạc. Còn nếu chỉ một chiều hướng như vậy thì không khéo sẽ rơi vào trạng thái tiêu cực, cái gì cũng chán, không muốn làm gì hết. Tuy chúng ta nói được nó vô thường, trống rỗng, là đồ giả, không có thiệt, vì vậy càng phải năng nổ liên tục trong thiện pháp, học tu liên tục, thuyết giảng liên tục, làm ra những bài pháp.
Thành ra, nếu chúng ta chỉ học một điều thì giống như con người chỉ có một bộ phận, như vậy thì sao trở thành con người hoàn chỉnh được? Cho nên cần phải viên mãn, đầy đủ tất cả mọi khía cạnh của pháp, chứ mình được một cái là bỏ hết mấy cái khác là không được. Cho rằng cái đó hay nên tu học một cái thôi là mình tu không đầy đủ, không trọn vẹn. Như khi ăn cơm, đâu phải mình chỉ ăn cơm trắng, phải có canh, phải có đồ kho, phải có đồ xào, phải có đồ luộc, phải có rau, rồi ớt… đủ thứ hết. Sự tu của mình cũng vậy, không phải chỉ biết có một cái rồi mình đi theo một cái đó, như vậy không được, cần phải đầy đủ. Đầy đủ mới gọi là Thánh Đạo viên mãn, như vậy mới có thể đưa tới thành quả thật sự mà Đức Phật hướng dẫn cho mình.
Phải làm cho tâm mình bớt sân lại, phát sanh sự hỷ lạc trong đời sống tu tập, trong thiện pháp, có rất nhiều niềm vui trong đời tu. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, nếu không có tác ý thì không sanh ra hỷ lạc. Mở mắt thức dậy là đã hỷ lạc rồi, làm cho phấn khởi, làm cho hân hoan, thấy được một không gian mát mẻ, núi đồi xa vắng, trú xứ mà các bậc Hiền Thánh ưa thích, ái lạc.
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vị không tìm dục lạc.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm A La Hán)
Mỗi bước chân, mỗi khi rửa mặc, súc miệng, đánh răng, mình hãy nhớ rằng có những người không có chân để mà bước, hoặc chỉ có chân một chân, hoặc nằm liệt một chỗ. Mình có chân để bước, để đi tu, khoác áo cà sa để mỉm cười, thật là vô thượng phước điền. Tấm y này là được truyền từ bậc Chánh Đẳng Giác, từ các bậc A-la-hán, bậc Thánh Tăng, các bậc Tổ Sư. Mình cầm tấm y lên là linh thiêng, là thần thánh, là pháp bảo, là cao quý, là pháp khí. Mình đắp nó lên là trang nghiêm, là cung kính. Áo giới, áo tràng cũng vậy, phải trân trọng áo pháp. Ngàn người, vạn người, tỷ người đâu có được cái áo pháp, pháp y này. Bây giờ ta cầm trên tay pháp y này, ta khoác trên mình pháp y này, đây là chuyện hiếm có, khó được, hi hữu ở trên đời. Có tác ý thì pháp mới sanh khởi, mỗi bước chân đi đọc những câu trong Tứ Niệm Xứ:
“Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.”(Trung Bộ Kinh, 10. Đại Niệm Xứ)
Chúng ta đi trong chánh niệm, tỉnh thức, đi trong sự để tâm, chú tâm, đi trong sự hỷ lạc, mỉm cười nhẹ. Giờ này bao nhiêu vẫn người còn mê ngủ, đắm chìm trong ngũ dục, dục lạc, trong đêm tối, vô minh, còn mình đã thức tỉnh. Chúng ta đang đi đến Thánh tượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đọc những lời Thánh ngôn, Thánh kinh, Thánh điển, Thánh trí.
Tác ý như vậy thì đọc mỗi một câu kinh mình đọc đều rúng động khắp châu thân, những người nghe cũng rúng động hết, và không chỉ chấn động đến những người đang ở đó mà tất cả phi nhân, thiên thần, hộ pháp cũng vậy. Chánh Pháp âm, Nhiên âm, Hải Triều âm – âm thanh viên mãn, âm thanh sóng biển, âm thanh Thánh ngôn đó có thể lan tỏa ra khắp không gian này. Mỗi câu kinh mình đọc đều cần phải để tâm, phải có chánh niệm, tỉnh giác, cung kính, tôn trọng, hoan hỷ thì sức mạnh của nó là vô lượng vô biên. Chứ không phải đọc cho có, cho hết tờ kinh, đọc như một cái xác không có hồn thì mở máy nghe người ta đọc Đại Tạng Kinh còn hay hơn.
Hãy để hết tấm lòng vào từng việc mình làm, cầm tấm y lên khoác lên trên vai, móc chéo y, đắp từng nếp, bước từng bước, lễ từng lễ, đọc từng câu. Toàn là thần thánh, thiêng liêng, màu nhiệm, vi diệu. Đó là niệm thân, là hương vị bất tử, chứ không phải đọc mấy câu trong Tứ Niệm Xứ mới là niệm thân, đó chỉ là nói khái quát. Đức Phật thường chỉ nói định lý, nói tổng quát, nói những điều quan trọng, mình vận dụng ra được hết tất cả thì hay lắm.
Trong bài kinh “Thân”, Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4:
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về pháp vô vi và con đường đưa đến vô vi (asankhata). Hãy lắng nghe.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vô vi? Này các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô vi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Thân niệm (kàyagatà sati), này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến vô vi.
Thân niệm, niệm thân, thân hành niệm, đi đứng phải biết rõ, nói đứng phải biết rõ, cử chỉ phải biết rõ, thân thể sử dụng như thế nào phải biết rõ, luôn luôn biết, không lúc nào không biết, đó là con đường đưa đến an lạc.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta thuyết về vô vi, Ta thuyết về con đường đưa đến vô vi.
Này các Tỷ-kheo, những gì một bậc Ðạo sư cần phải làm cho những đệ tử, vì hạnh phúc, vì lòng từ mẫn, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với họ; tất cả, Ta đã làm cho các Ông.
Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần IV. Năm Mươi Kinh Thứ Tư, Chương IX. Tương Ưng Vô Vi, bài kinh Thân)
Như vậy, an lạc là sự đoạn tận tham, sân, si. Trong khi chánh niệm tỉnh giác, trong khi thân hành niệm, thấy rõ có tham, có sân, có si thì mình phải đoạn; còn không có tham, sân, si thì mình biết là không có. Đó là quán tâm trên tâm, quán thân trên thân, quán tất cả các cảm thọ, quán pháp đang vận hành. Như vậy, con đường đưa đến an lạc là Thân Niệm. Mỗi một câu kinh mình đọc lên trong tạng kinh Nikāya thì phải lạy xuống, vì sự tuyệt vời, kỳ diệu, thiêng liêng, thần thánh này. Một ngàn tỷ kiếp vừa qua, chưa được đọc câu kinh này nên mình mới lận đận, khốn khổ cho tới ngày hôm nay. Bây giờ được đọc nên phải vui sướng, thích thú, hân hoan, hoan hỉ, cung kính, tha thiết, chân thành trong khi mình đọc, đọc như vậy thì hết sức tuyệt với. Chứ không phải đọc cho có xác, chứ không có hồn. Đọc câu này nhớ, câu sau quên, lộn xộn, nhảy bỏ mất chữ, phát âm không rõ ràng, vậy là không cung kính Pháp. Người cung kính Pháp không như thế, sự tu này vi tế tới mức độ như vậy.
Mỗi lần mình ngồi lên bồ đoàn là điều tuyệt diệu, thiêng liêng, quý báu. Tới giờ phút này, một tỷ chúng sanh đang mê loạn, còn mình được ngồi trước toà giác ngộ. Nếu tác ý như vậy thì làm sao mà ngủ, làm sao chạy theo những dục tham; vô minh làm sao xâm chiếm, ngũ cái làm sao tấn công được? Tất cả thiện pháp được sanh khởi, tràn ngập và ác pháp không còn chân đứng. Còn đối với tâm trống rỗng, không thực hành pháp, không niệm thân, không niệm pháp, không niệm thọ, không sanh khởi hỷ lạc, cứ niệm trống trơn thì sẽ ngồi sụp mắt xuống, như là một cái xác không hồn. Các pháp vận hành như vậy, đó là niệm pháp trên pháp.
Vì vậy, từ lúc ngồi xuống cho tới lúc xả thiền không được chút nào lơ đãng, lơ là, không lúc nào để cho vô minh, hôn trầm xâm chiếm. Phải luôn luôn biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Dù tỉnh táo nhưng mình còn biết không kịp ngũ uẩn, những cái tưởng, hành nó rất là nhanh huống chi là hôn trầm. Thường khi mình biết ngũ uẩn là chỉ biết cái đuôi, nó chạy qua rồi mới biết. Hoặc có những điều mình biết không kịp vì bị ngũ cái che, khi ấy tham dục, sân giận, si mê, trạo cử khởi lên, lúc đó giống như sương mù nên mình không thấy đằng trước có gì, như vậy là bị vô minh và si. Cho nên trí huệ là sự thấy biết rõ ràng, không có gì không thấy, những gì xâm phạm, đang diễn biến và chấm dứt trong nội tâm ta đều thấy hết, biết hết. Khi thấy biết như vậy thì vui lắm, vì trước giờ mình không thấy, không biết.
Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.
Ôi ! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Đòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)
Khi thấy được kẻ làm nhà này, ta phải đánh gục nó, đoạn tận tham ái. Khi đó mình vui lắm, trí tuệ sanh ra hỷ lạc, thiền định sanh ra hỷ lạc, giới đức sanh ra hỷ lạc. Tu hỷ vô lượng tâm mới sanh ra hỷ lạc. Phải thường tác ý, lúc nào hỷ quá thì tu xả; lúc nào bất lạc – không vui thì mình tu hỷ. Đây là một điều rất khéo léo, không phải dễ biết, khi buồn chán thì mình tu tập, tác ý để sanh hỷ; còn lúc nào vui quá thì xả để lắng dịu, đây chính là lên dây đàn.
Có những điều bình thường lắm nhưng mình chỉ vận dụng trên thế gian pháp chứ không vận dụng cho Chánh Pháp. Cũng như một người nấu cơm, lửa nhiều quá thì bớt lửa, còn lửa thiếu thì thêm vào. Nghe thì rất bình thường, không có gì hay ho, ai cũng biết nhưng đều là biết về thế sự, thế tục, thế pháp, thế nhiễm chứ không vận dụng vào xuất thế pháp, khổ như vậy đó. Cũng như ở ngoài đời làm đủ thứ kiểu vui, nhưng vào tu thì không biết làm cho mình vui, đó gọi là ngu, ngu tu, tu ngu. Ngoài đời biết bày trò, ca nhạc, ăn uống, hát hò, đi đây đi đó, nói chuyện tiếu lâm, chọc cười đủ thứ, làm cho cuộc sống đủ hương vị; còn vào tu thì mình không biết làm mình vui mà cứ buồn bã, chán chường mệt mỏi, suy nhược…
Tâm của mình là một cái tâm bệnh hoạn, bệnh trầm kha, tại vì chúng ta không để tâm, không trân quý sự tu hành, không tha thiết trong sự tu tập. Chúng ta không để ý, không để tâm, không để tất cả tấm lòng vào nghiên cứu mọi cách làm cho tâm được khỏe tươi, sung mãn. Một nhà tâm lý học vĩ đại của Phật giáo là muốn cho tâm bi là bi, muốn cho tâm từ là từ, muốn cho tâm hỷ là hỷ, còn muốn cho tâm xả là xả, bất cứ lúc nào cũng được, thậm chí an trú suốt ngày. Phải tu tập bốn tâm vô lượng này trở thành cổ xe, trở thành căn cứ địa, thành trì vững chắc, kiên cố. Cần tinh tấn, nỗ lực, tinh cần để tu tập bốn tâm này.
Những giây phút Minh Thành ở trên núi này vui lắm, giống như là cảnh trời, trừ lúc bị sâu bắn. Thực sự người tu được bốn tâm này là tâm ngang bằng với Phạm Thiên – Vua Trời. Có nhiều cấp độ, người tu tập bốn tâm này sẽ sanh lên chư Thiên, nếu tu Thánh trí Năm uẩn nữa là Thánh đệ tử Thiên, còn nếu không biết năm uẩn chỉ là phàm phu Thiên.
Chúng ta tiếp tục trở lại vấn đề sinh hoạt mỗi ngày trong việc tu tập tâm hỷ. Kế tiếp là ăn cơm trong chánh niệm, quán chiếu những dục, tham, ái trong cảm giác khi ăn. Lúc thấy được nó mình vui, còn hồi đó không thấy. Cái nào là rác, đồ dơ, bẩn thì vứt ra ngoài, ra khỏi tâm mình, vậy thôi chứ đâu có gì để mà khổ sở. Hồi đó mình để nó lưu trú, tồn kho, chất chứa; còn bây giờ không chất chứa nữa thì phải vui. Hồi xưa mình làm cho nó tăng trưởng, giờ mình làm cho nó giảm thiểu. Hồi xưa mình tích góp, tích lũy, chất chứa; giờ mình giải phóng, đào thải, quăng bỏ, vứt bỏ, từ bỏ… Mỗi khi nhìn thấy được vậy mình vui. Giống như khi chiến thắng được cơn sân, mình cười vui: “Hôm nay sao hay quá, vượt qua được cái bực bội này, chiến thắng được cơn tham, dục. Hỷ lạc quá, hồi đó mình bị nó quật ngã, nay đã có thể thấy được, nhiếp phục được nó đôi phần.” Mỗi ngày có nhiều điều vui như vậy, đó là con người rất tinh tấn, hỷ lạc, hoan hỷ.
Khi nghỉ trưa cũng vậy, lên nghe pháp phải cười lên vì chuẩn bị nghe được Thánh Pháp. Bước vào nghe mặt tươi tắn, vui lắm; còn đằng này mở pháp lên ngồi gục, như vậy thì thảm lắm. Vì không phấn khởi, không phấn chấn, không tha thiết, không nhiệt tình, không mở cánh cửa để đón chờ, Minh Thành nhìn là biết liền. Lúc đó chúng ta không biết tâm chính mình, không niệm thân, không niêm thọ, không niệm pháp nên không thấy các pháp đang diễn ra. Cho nên, mình phải thấy, phải biết, không thể nói không thấy, không biết được, như vậy thì làm sao đoạn trừ các lậu hoặc.
Khi hành thiền, khi nghe pháp, khi tu, khi học, khi làm việc vui vẻ, phụng sự, chúng ta phải làm với tấm lòng biết ơn, tri ân, báo ân, cảm ơn, đền ơn cho tất cả những người có ơn đối với mình. Chỗ nào cũng hỷ lạc, tươi tắn, hân hoan sanh, hỷ sanh, lạc sanh. Niềm vui đó sung mãn từ đỉnh đầu tới gót chân tràn ngập hết. Giống như một người khi tắm, xối nước từ trên đầu xối hết xuống chân, còn tắm chỉ xối nước trên đầu thôi thì người ta gọi là gội đầu. Khi tắm, xối nước từ đỉnh đầu tới gót chân, thấm hết châu thân thì hỷ lạc do pháp sanh, thiền duyệt sanh do sự tác ý sanh, do trí huệ sanh. Phải làm cho sung mãn, thấm đượm hết châu thân, từ thớ thịt, từ lỗ chân lông, từ tế bào của mình được sung sướng. Ở ngoài gọi là sung sức, trong sự tu gọi là sung mãn, hỷ lạc. Cho nên Minh Thành thấy mấy chú nghe pháp mà hoan hỷ là Minh Thành vui lắm, bắt đầu có pháp hỷ. Tuy là nghe gần 3-5 tiếng nhưng vẫn không thấy mệt là bắt đầu có pháp hỷ rồi. Hãy làm sao tới nguyên ngày mà vẫn vui vẻ là bắt đầu có những bước tiến bộ khác. Điều này không thể nào làm dáng, giả bộ được vì người khác nhìn là biết hết.
Các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật thảo luận pháp đàm sáng đêm là chuyện thường. Lúc đó Đức Thế Tôn ngồi giữa chúng Tỳ-kheo rất đông. Canh một, canh hai rồi khuya đã qua mà Đức Phật không nói, gần sáng Phật cũng không nói dù Ngài Ànanda thỉnh Phật thuyết giới ba lần, suốt sáng đêm, cuối cùng Đức Thế Tôn mới nói: “Này Ànanda, hội chúng không được thanh tịnh”, có người ác pháp, bất tịnh. Ngài Mục Kiền Liên tác ý lên, nhìn thấy người đó bằng thiên nhãn, Ngài đi đến và nói:
“Này Hiền giả, hãy đứng dậy. Thế Tôn đã thấy ông. Đối với Hiền giả, không thể chung sống với các Tỷ-kheo.” Kêu ba lần ông không ra, ngài Mục Kiền Liên “nắm lấy cánh tay người ấy, đẩy ra khỏi cửa, đóng chốt cửa lại”. Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy hành trì Uposatha (Bố-tát), hãy đọc giới bổn. Bắt đầu từ nay, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ không đọc giới bổn. Này các Tỷ-kheo, không có sự kiện, không có cơ hội rằng Như Lai có thể đọc giới bổn trong một hội chúng không thanh tịnh.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 8. Chương Tám Pháp , II. Phẩm Lớn, bài kinh Ngày Trai Giới)
Nói điều đó để thấy rằng thời Đức Phật ngồi sáng đêm nói pháp là thường lắm. Còn mình nếu ngồi nghe pháp một chút đã chịu không nổi thì làm sao ngồi sáng đêm. Khi đó, cần nhiếp phục được thọ và vượt qua bằng pháp hỷ, pháp lạc để không còn thấy mệt thân tâm. Bằng hỷ lạc của thiền và pháp mà thấm nhuần, sung mãn, gội rửa hết toàn bộ cơ thể. Bây giờ Minh Thành đang huấn luyện cho đại chúng tập lên 5-6 tiếng, rồi một lúc nào đó làm nguyên ngày, không ngủ trưa, trú trong pháp không biết mệt mỏi. Sau đó tập ngồi thiền, ngồi dài lâu, chứ không phải 1 tiếng, 2 tiếng hoài, tu 20-30 chục năm cũng chỉ nhiêu đó thì không nên. Phải tăng trưởng lên 2 tiếng, 3 tiếng, vượt qua được sự lệ thuộc quá nhiều vào sắc uẩn và các cảm giác này. Giờ ngồi tu học một xíu đã xoa bóp, làm đủ thứ, như vậy lúc bệnh hay tai nạn thì làm sao?
Thực hành trải tâm hỷ
Có những bài kinh hay lắm, tuyệt diệu lắm, nghe đã và sung sướng lắm:
Không nói lời phù phiếm, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này; Không nói lời vô ích, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này, thanh tịnh, an lập trên căn bản. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo; hội chúng như vậy khó tìm được ở đời!
Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng như vậy, đáng được tôn trọng, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy dầu cho ít, được lợi nhiều, còn cho nhiều, lại được lợi nhiều hơn nữa.
Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo! Hội chúng này như vậy, nếu phải đi do một tuần để được yết kiến cũng nên đi, dầu có phải mang theo trên vai túi đựng đồ ăn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chúng Tỷ-kheo này.
Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị chư Thiên.
Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị Phạm Thiên.
Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị Bất động.
Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được Thánh vị. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ , II. Phẩm Lớn, bài kinh Ngày Trai Giới)
Nghĩa là, một hôm Đức Thế Tôn ngồi yên tịnh trước khoảng năm trăm đến cả ngàn vị Tỳ-kheo. Ngài mỉm cười nói: “Ta rất hài lòng, trong đại chúng này có những vị ngang bằng với Chư Thiên, địa vị ngang bằng Phạm Thiên, các vị tu bốn tâm vô lượng, tâm trú trong từ, bi, hỷ, xả vô lượng. Ở trong chúng ta đây có những vị địa vị ngang bằng Phạm Thiên, vua trời. Trong chúng Tỳ-kheo đây có những vị là những bậc giới hạnh, thanh tịnh; có những bậc Hướng Dự Lưu, Nhất Lai, Hướng Bất Lai; những vị hướng A-la-hán, những bậc A-la-hán. Thánh chúng này, đại chúng này, hội chúng này xứng đáng cho những người đi bộ hằng mấy chục cây số để vác một bao lương thực trên vai để đến dâng lên, đảnh lễ, chắp tay, cung kính cúng dường.”
Nghe đến chỗ này Minh Thành rúng động, da gà nổi lên hết, giống như Đức Phật, Thánh chúng đang hiện ra ở trước mặt. Lúc đó thọ, tưởng, hành, thức sanh ở trong Thiện Pháp, Chánh Pháp, tưởng về hình ảnh của Đức Phật, Đức Thế Tôn, các bậc A-la-hán, Thánh chúng, hải chúng thanh tịnh. Cho nên khi thấy Phật tử vác bao gạo, bao nước tương, bao đồ ăn lên, nhìn lại bản thân mình thì thấy hổ thẹn, xấu hổ khi chưa vào Giới – Định – Tuệ, ít nhất là Hướng Dự Lưu. Tối ngày lòng vòng buồn, giận, thương, ghét, đúng, sai, hay, dở, phải quấy, hơn thua, toàn méc chuyện xấu, chuyện này nọ của người ta. Tâm đó là tâm phàm phu, hạ liệt, thấp hèn, bệnh hoạn, ốm yếu, suy nhược; một cái tâm không được tu tập, không được huấn luyện, không được thanh lọc và tẩy sạch.
Cho nên phải tu nhiều, phải chăm sóc tâm mình làm sao thật là nhẹ nhàng, an lạc; tấm lòng mình luôn luôn rộng mở đối với mọi người; tình thương, sự cảm thông, bao dung, luôn luôn hướng về nhau trong luật hòa kính của đời sống phạm hạnh; luôn thương mến, quý trọng, cung kính nhau. Đó mới là tâm của người tu, gọi là tâm hướng thượng, hướng đến chỗ cao thượng, tâm đó rất tuyệt với, chưa nói đến Thánh quả. Từ ái, dễ thương, dễ nghe, dễ bảo, dễ nuôi, dễ huấn luyện, dễ tu tập thì an trú niệm – an trú vào chánh niệm rất dễ.
Còn cái tâm không tu tập, không huấn luyện cho nó an trú, niệm thân không được nên cứ lăng xăng hoài, ngồi định không được, cứ bị trạo cử, hoài nghi. Ly tham, ly dục không được, cứ ám ảnh hoài những hình bóng trong nội tâm, không có cách thoát, giải pháp. Đi tới đâu cũng vác bản ngã, sân hận, vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn theo như một cái núi Tu-di. Thấy vậy nên phải thương chính mình nhất, thương cho một cái tâm không biết tu tập, thương cho một cái tâm ốm yếu, bệnh hoạn, suy nhược, suy mòn, suy hao, suy lão. Phải tu tập tâm, phải chăm sóc tâm mình cho thật là tươi đẹp, thật là mới mẻ, thật là xinh xắn, thật là tuyệt vời; một cái tâm tràn đầy hỷ lạc, từ bi, bao dung, đức độ; một cái tâm đem đến sự mát dịu, từ ái. Mình phải tu tập tâm như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm cùng khởi với từ - biến mãn một phương và an trú … với tâm cùng khởi với bi … với tâm cùng khởi với hỷ … với tâm cùng khởi với xả, biến mãn một phương và an trú. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên thế giới, vị ấy biến mãn với tâm cùng khởi với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Phạm Thiên. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ , II. Phẩm Lớn, bài kinh Ngày Trai Giới)
Chúng ta đang nói về tâm hỷ, xin đại chúng thực tập tâm hỷ ngay từ giờ. Hãy mở cảm giác hoan hỷ, hỷ lạc, tươi vui, làm cho cảm giác này từ lồng ngực lan tỏa hết lên vai, cổ, mặt, đầu; lan tỏa xuống bụng, chân, bàn chân, tay, cánh tay, bàn tay; làm cho lan tỏa sự hỷ lạc của pháp khắp từ đỉnh đầu tới gót chân, đến toàn bộ châu thân của mình. Mỉm cười nhẹ, mở rộng cảm giác hoan hỷ này về phía trước mặt, rộng ra hết không gian của giảng đường, lan tỏa ra khắp núi đồi, trên, dưới, bề dọc, bề ngang.
Mở rộng tâm hoan hỷ ra khắp hư không bao la, trải niềm hỷ lạc này đến người thân thương nhất, cha mẹ, ông bà, cô bác. Cầu mong cho họ cũng được tâm hỷ, vui tươi trong pháp. Trải tâm hỷ này đến tất cả những người xa lạ, trải tâm hỷ này đến khắp tất cả những người đang khổ đau, mong là họ sẽ có được niềm hỷ lạc trong Chánh Pháp. Trải tâm hỷ đến muôn loài để được bình an, hạnh phúc. Hãy có tâm hoan hỷ đối với Chánh Pháp, đối với sự thực hành pháp, đối với sự thể nghiệm và chứng nhập Thánh pháp. Để cho tâm hỷ này lan rộng cùng khắp mười phương hư không, mỉm cười làm cho cảm giác hoan hỷ sanh khởi lên, quảng đại, vô biên, biến mãn, cùng khắp, không hận, không sân.
Bài kinh “Bất Lạc”
Đức Phật dạy rằng có ba pháp: bất lạc, hại và phi pháp hành.
Bất Lạc: tức là không vui.
Hại: tức là nghĩ đến hại người khác. Trong lúc bực bội, khó chịu, không vui, sân hận, tuy không nói, không làm nhưng trong ý mình nghĩ muốn hại người ta. Hồi xưa, Minh Thành nghĩ rằng đi tu sao lại muốn hại người ta, nhưng bây giờ nhận diện năm uẩn mình mới thấy là có. Do không nhìn kỹ nhưng khi bực bội lên thì mình có suy nghĩ hại, vì vậy không thể không có mà Đức Phật nói được.
Phi Pháp Hành: tức là làm những việc phi pháp..
Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này. Để đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, ba pháp cần phải tu tập.
Thế nào là ba?
Để đoạn tận bất lạc, hỷ cần phải tu tập.
Để đoạn tận hại, bất hại cần phải tu tập.
Để đoạn tận phi pháp hành, pháp hành cần phải tu tập.
Để đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, ba pháp này cần phải tu tập. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp , XI. Phẩm Ba Pháp, bài kinh Bất Lạc)
Như vậy một là không vui, hai là hại, ba là làm những việc phi pháp. Để đoạn tận không vui – bất lạc, hỷ càng phải tu tập. Để đoạn tận hại, bất hại cần phải tu tập, nghĩ về việc không hại. Để đoạn tận phi pháp hành, pháp hành cần phải tu tập. Giờ muốn phá cái gì không vui thì mình tu hỷ. Hồi đó buồn mình không biết làm sao để phá, giờ có rồi, như Minh Thành hướng dẫn đã tác ý để sanh khởi hỷ lạc.
Thí dụ, gặp sư huynh Pháp Từ, mình cười, tác ý: “Đâu dễ có được sư huynh hiền lành, đẹp trai, dễ thương, nhẹ nhàng, có nhiều sư huynh khó chịu lắm.” Thấy vậy, mình mỉm cười và tác ý là có niềm hoan hỷ. Rồi khi gặp Pháp Nghĩa, mình nói: “Đâu phải dễ có người siêng năng, hiền lành, hay khóc như vậy. Chuyên môn lo cho thiên hạ, ai vất vả ai khó khăn kêu là có mặt trên từng cây số” – thấy hạnh này hay, mình vui và hoan hỷ. Gặp sư huynh Pháp Giới cũng vậy: “Hoan hỷ quá, đâu phải dễ kiếm người cổ lỗ sĩ, đồ cổ, hàng hiếm, lo tu, lo giới hạnh, thiền định, ai làm gì làm, không quan tâm. Lù khù vậy nhưng lo tu, không cần sửa soạn, không cần đồ đạc, lượm cái áo tràng cũ xì, xấu hoắc để mặc.” Về thành phố mà mặc cái áo như vậy, thấy rất là thương, không chú trọng vào hình thức, không hưởng thụ vật chất. Cho nên phải hoan hỷ, đâu dễ có sư huynh như vậy. Nhiều người tu rồi mà quần áo ủi láng cón, thậm chí mặc quần trắng nữa. Vì thế, có một sư huynh như vậy là một sự tuyệt vời, phải vui và hoan hỷ. Đó chính là hỷ trị bất lạc, trị cái không vui, tác ý là hỷ sanh khởi, phải biết tác ý, còn mình tác ý ngược lại là xong.
Chẳng hạn như giờ bà Diệu Hiền tác ý: “Ông Pháp An bệnh nặng, thập tử nhất sinh nên lên đây tu. Giờ nhờ ông mà bà mới được tu. Nếu không có ông, bà bị bệnh như vậy, ông mất rồi thì chưa chắc gì bà được lên đây tu. Cho nên, phải cảm ơn ông, biết đâu ông nói chuyện này nọ như vậy mà giúp cho mình rèn luyện sự nhẫn nại, bao dung, tha thứ. Cùng một nghiệp với nhau nên tha thứ, lo tu, để được thảnh thơi, tâm nhẹ nhàng.” Tác ý như vậy nên mình được hoan hỷ, còn tác ý không đúng thì sẽ đi xuống núi. Tác ý không đúng nên dù có thầy lành, bạn tốt, có Chánh Pháp nhưng mình không hạnh phúc, thấy khó chịu, bực bội, vào thất ở một mình, không chơi với ai. Bởi vì tác ý bậy, Phi Như Lý Tác Ý thành ra hư hết cả một sự nghiệp tu hành.
Hôm trước chúng ta học bài kinh: “Những chúng sanh chết ngay trong tư tưởng, trong suy nghĩ”. Mình không có trí huệ để biết được tư tưởng đó là thiện hay bất thiện; không biết những suy nghĩ, hành đó là thiện hay bất thiện. Mình không biết tưởng nào đưa đến thối đọa, tưởng nào đưa đến an trú, tưởng nào đưa đến thắng giải, tưởng nào đưa đến thể nhập… Hễ có tưởng nào khởi lên là mình nhập cuộc vào, rốt cuộc cuối cùng mình bị ma nhập, cho nên tưởng uẩn đó là ma, suy nghĩ rất là ma. Cứ nhập vô đó rồi cuối cùng mình đi theo ma, mà mình nói là tu hay, thậm chí là mình phê phán thầy bạn, điều này hết sức nguy hiểm, đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh như chơi chứ không phải chuyện giỡn.
Điều này kinh khiếp lắm, thậm chí có người phỉ báng các bậc Hiền Thánh, như vậy vĩnh viễn kiếp không bao giờ có nhân duyên để gặp Chánh Pháp nữa. Những chuyện này diễn ra đầy rẫy nhưng mình không biết, cho nên khi nghe thì mình thấy ghê sợ, nhưng không nói thì không biết, vì vậy phải nói. Bây giờ dù cho Phật, A-la-hán, Thánh Tăng ở kế bên mà mình chấp vào tham, sân, si, bản ngã thì mình không thể thành tựu được.
Thời Đức Phật còn tại thế, Đề Bà Đạt Đa và rất nhiều người phỉ báng Đức Phật. Có hai bên đang tranh cãi nhau, Đức Phật ra, một thầy nói: “Như Lai ngồi xuống nghỉ đi, để tự tụi con giải quyết, Thế Tôn đừng có can thiệp gì vô chuyện của chúng con hết”. Rồi Đức Phật đi vô rừng, lúc đó có con khỉ đầu đàn và voi chúa bị bầy đàn quậy quá nên cũng bỏ vô rừng, chúng dâng trái cây mỗi ngày lên cho Đức Phật. Trong lúc đó, các hàng cư sĩ bàn tính kế với nhau, không cúng dường nữa cho những vị đã nói Thế Tôn như vậy, vì họ bất hiếu với Đức Thế Tôn, cứng đầu, ương ngạnh. Thế là không ai cúng dường, sớt bát nữa, những vị này đói meo, lấy sức đâu mà cãi nữa. Sau đó, họ vào rừng thỉnh Đức Phật về, không có Đức Thế Tôn thì không thể thành lập Tăng đoàn. Bậc Chánh đẳng Chánh Giác mà còn bị như vậy, cho thấy tâm chúng sanh kinh khiếp thế nào. Có người còn bày kế xô đá đè Phật cho chết: “Ngài già rồi, hãy giao địa vị lại, để tôi làm Phật.” Kinh hồn, tâm chúng sanh thật sự khủng khiếp, Phật mà còn bị vậy thì mình là cái gì?
Cho nên phải nghe chửi, nghe phỉ báng, nghe khen chê, nghe nói xấu thì cũng bình thường, nhưng tai họa sẽ rất khủng khiếp cho những người phỉ báng Chánh Pháp, điều này không phải bình thường, hậu quả của nó khủng khiếp lắm. Hậu quả của nó không dám nói, không thể nói. Đề Bà Đạt Đa đến giờ mới chỉ có mấy ngày ở dưới địa ngục Sen Hồng, cho nên vô minh, si mê gây ra hậu quả vô cùng khủng khiếp, nếu như biết rồi thì sợ lắm. Phi Như Lý Tác Ý sẽ đẩy mình xuống vực thẳm, không có Chánh Tri Kiến thì đành phải chịu như vậy. Không ai có thể sửa được suy nghĩ của mình trừ khi tự mình thành tựu thấy biết đúng đắn, thế nên ân đức của bậc giúp ta thành tựu Chánh Tri Kiến là vạn kiếp không thể đền. Mình phải học về địa ngục để trải nghiệm và biết trước, như vậy mới sợ mà tránh, chứ không biết làm sao mà tránh? Ví dụ đó là những bậc Hiền Thánh, bậc thành tựu Chánh Tri Kiến, Hướng Dự Lưu, Dự Lưu hay Nhất Lai chẳng hạn, mình phỉ báng pháp như vậy thì không biết chừng nào ra khỏi địa ngục, sợ lắm, rất sợ.
Hãy tu tập cái tâm bất hại, để đoạn tận tâm hại; cần phải tu tập, thực hành Chánh Pháp để đoạn tận hành động theo phi pháp.
Hỷ thế gian và Hỷ xuất thế
Đức Phật dạy mình “hỷ liên hệ đến tại gia” và “hỷ liên hệ đến xuất ly”, tức là cũng là hỷ, nhưng cần phân biệt được hỷ nào là của thế gian, hỷ nào là của xuất thế.
Có một ông đó diễn hài kịch đi đến hỏi Thế Tôn, ông diễn hài kịch giúp cho người ta vui vẻ như vậy sau khi chết có được lên cõi trời không? Hỏi ba lần nhưng Đức Phật không trả lời. Ông này năn nỉ, Đức Phật mới nói: “Làm cho người ta buông lung, phóng dật, theo những cái dục tham, ái sau khi chết đọa vào địa ngục”. Người này khóc nức nở, Đức Phật nói: “Khi nãy là Ta không muốn nói cho nghe, ông cố tình năn nỉ nên Ta mới nói ra.” Người này nói: “Con khóc không phải vì Thế Tôn nói, mà khóc vì tổ tiên gạt con, họ nói con làm cho người ta vui sướng sau khi chết con được sanh lên cõi trời hỷ lạc. Con khóc vì con bị gạt.” (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần IV. Năm Mươi Kinh Thứ Tư, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, bài kinh Puta (S.iv,306))
Điều này hết sức sâu sắc, nếu làm người ta hoan hỷ về pháp, về sự ly tham, diệt tận sân si, đau khổ thì đó là phước đức, công đức. Còn nếu là cái vui thế gian, cái vui buông lung phóng dật, như mấy quán bar, quán nhậu, mấy chỗ xì ke ma túy thì sẽ đưa đi đâu? Cho nên rõ ràng phải phân biệt được hỷ liên hệ với tại gia và hỷ liên hệ với xuất ly.
Hỷ liên hệ với gia đình là do mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, những gì đáng yêu, vui thích, khoan khoái, vừa lòng… liên hệ đến thế vật hoặc do nhớ lại những gì đã nhận được từ trước, đã qua, đã chấm dứt, đã biến hoại mà vui thì những loại vui này được gọi là hỷ liên hệ tại gia. Thứ nhất là những cái mình thấy, nghe, tiếp xúc, vừa lòng, thích ý, khoan khoái, đẹp đẽ, hấp dẫn, liên hệ đến thế vật của thế gian. Thứ hai là nhớ lại, hồi tưởng, hồi ức, liên tưởng lại những gì đã từng tiếp xúc, đã thấy, đã nghe và mình hoan hỷ. Tuy những cái đó đã qua, là quá khứ rồi, nhưng hồi tưởng lại những loại vui đó gọi là hỷ liên hệ tại gia (Trung Bộ Kinh, 137. Kinh Phân Biệt Sáu Xứ).Ví dụ, ngồi đây mà nhớ lại lúc ở nhà đi chơi banh, đá gà, đánh bài rồi cười, đó là hỷ liên hệ với gia đình. Hoặc ai cho mình ăn gì đó, mình vui; hoặc được khen khiến mình thích thú thì đó gọi là hỷ liên hệ tại gia, thế gian, vật chất.
Hỷ liên hệ đích xuất ly là: “Sau khi biết các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: "Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại". Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly” (Trung Bộ Kinh, 137. Kinh Phân Biệt Sáu Xứ).
Điều này hết sức sâu sắc và tuyệt vời. Tất cả phải đặt trên nền tảng Chánh Tri Kiến, rời Chánh Tri Kiến ra là tất cả sự tu hành của mình không có gì hết. Sau khi biết các sắc pháp là vô thường, biến hoại thì không còn tham muốn, lìa tham vì nó là đồ biến diệt. Nghĩ rằng tất cả các sắc pháp xưa kia hay là sắc pháp hiện nay tất cả là vô thường, khổ, biến hoại. Sau khi thấy thật như vậy, chánh trí huệ khởi lên, hỷ đó là hỷ liên hệ với xuất ly.
Như vậy, không biết điều gì đó là vô thường, khổ, biến hoại mà còn vui thích thì đó là vui của thế gian. Còn với chánh trí huệ là biết tất cả đều là vô thường, biến hoại thì niềm hỷ lạc được sanh khởi, vì mình không còn tham đắm nữa mà sẽ xa lìa nên chúng ta vui. Chứ không phải vô thường là khổ, ngoài thấy khổ ra mình không biết gì nữa hết là không phải. Mình phải vui, phát khởi sự hoan hỷ với trí huệ về sự vô thường; hoan hỷ với sự xuất ly thoát ra khỏi các sắc pháp; hoan hỷ với sự thật; hoan hỷ trong cởi mở, tháo mở, cắt đứt, từ bỏ, chấm dứt, rời xa những thứ vô thường.
Cho nên, định lý giải thoát là phải khắc cốt ghi tâm, ghi ở trong tim. Bất cứ lúc nào cũng phải liên hệ đến ly tham, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến từ bỏ, liên hệ đến chấm dứt. Đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều như vậy, đó gọi là hỷ liên hệ tới xuất ly. Phải hiểu như vậy, chứ không thôi mình lẫn lộn, không biết cái nào là hỷ tại gia, hỷ gia đình, hỷ thế gian, hỷ xuất thế và hỷ xuất ly.
Như vậy, chúng ta phải tu tập sự hỷ lạc trong tu học. Phải biết rằng tâm mình rất cần chăm sóc, nuôi dưỡng và trị liệu. Đừng bỏ quên tâm của mình, biết thương nó, tội nghiệp nó, tội nghiệp cho những người chỉ biết lo cho thân thể, chỉ biết lo cho cục thịt, bong bóng da này mà không biết lo cho một thứ hết sức quan trọng là tâm của chính mình. Cho nên mình phải hết sức để tâm, để ý, lưu tâm, lưu ý, chú ý cho nội tâm đau thương của chính mình – một nội tâm bệnh hoạn, ốm yếu, suy nhược. Phải biết chăm sóc nội tâm, cho nó ăn uống điều độ bằng sự nhận thức giáo pháp.
Nuôi lớn sự hoan hỷ, hạnh phúc trong đời sống phạm hạnh bằng những phương pháp cụ thể: quán chiếu, như ý tác ý, chánh tư duy mỗi khi thức dậy, đắp y, mặc áo, lễ Phật, ngồi thiền, tụng kinh, ăn cơm, tiếp xúc với huynh đệ, với mọi người trong một môi trường thù thắng, a lan nhã. Mình tác ý rộng hơn nữa, phải trị liệu những tâm không vui, hại, những hành động phi pháp, trị liệu tật sân hận, bực bội, khó chịu. Chúng ta không được chấp nhận, phải đánh đuổi, đẩy sập, từ bỏ, chấm dứt chúng. Hãy làm cho tâm trở thành khỏe mạnh, tươi mới, đẹp đẽ, xinh xắn bằng cách thực tập xả vô lượng tâm, thực tập hỷ vô lượng tâm mỗi ngày.
Đó là thức ăn tâm linh, tinh thần cho đời sống tu hành, nó làm cho mình sung mãn, sự hỷ lạc được nhuần thấm khắp chấu thân giống như xối nước từ trên đỉnh đầu xuống tới gót chân. Phải làm cho niềm hỷ lạc dào dạt, sung mãn trong sự tu học, dần dần chúng ta phát triển nó trở nên rộng rãi vô lượng vô biên, không hận không sân cùng khắp vô biên giới. Đó là một người biết tu tập tâm, biết thông minh, trí huệ, tự tạo cho chính mình chỗ dựa trong đời sống tâm linh để tiến thẳng tới chánh giác.
./.
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tầm quan trọng của tu tập Bốn Tâm Vô Lượng PAGEREF _Toc71811357 \h 1
II.Tác ý hỷ lạc trong tu tập PAGEREF _Toc71811358 \h 3
III.Thực hành trải tâm hỷ PAGEREF _Toc71811359 \h 11
IV.Bài kinh “Bất Lạc” PAGEREF _Toc71811360 \h 14
V.Hỷ thế gian và Hỷ xuất thế PAGEREF _Toc71811361 \h 17
Tầm quan trọng của tu tập Bốn Tâm Vô Lượng
Kính thưa đại chúng, tâm thức của chúng ta rất cần được nuôi dưỡng, chăm sóc và trị liệu. Cần phải để ý nội tâm, ngồi thiền, thường thường nhìn lại, kiểm tra, xem xét, soi rọi, tìm hiểu, đó gọi là quán tâm trên tâm. Vừa đói bụng một chút là mình kiếm đồ ăn, vừa khát một chút mình tìm nước, vừa khó chịu là mình đi nghỉ, đó là sự chăm sóc cho thân thể, nhưng đối với tâm thức có khi mình lãng quên rất nhiều. Vì vậy, cần phải chăm sóc, tưới tẩm, vun vén, tỉa cành lá, làm cho tâm của mình trở thành một cái tâm khỏe mạnh, tươi tốt, xinh xắn, xinh đẹp, tốt lành, sung mãn, hỷ lạc, từ bi, hỉ xả, rộng mở, lớn lao và bao la.
Cho nên nói sự tu tập về bốn tâm vô lượng là hết sức quan trọng, nếu không có sự tu tập thì tâm tiều tụy, suy nhược, ốm yếu, bệnh hoạn. Ở trong chùa lâu nhưng nhìn mặt không vui, lúc nào cũng buồn, có một nỗi niềm mông lun, xa xăm, không thú vị, không ý vị, không hương vị. Đó là một cái tâm tiều tụy, ốm yếu, bệnh hoạn, suy nhược, và có khi là một cái tâm bệnh trầm kha, bệnh rất nặng. Vì vậy, bốn tâm vô luợng thật sự hết sức quan trọng.
Hằng ngày chúng ta phải biết lúc nào cần tu tập tâm xả, lúc nào cần tu tập tâm hỷ, lúc nào cần tu tập tâm từ, lúc nào cần tu tập tâm bi. Đây là sự thiện xảo, khéo léo của hành giả. Còn không tu thì nhìn mặt khổ lắm, không có hỷ lạc, không có pháp hỷ, không có thiền duyệt. Pháp hỷ là niềm hoan hỷ ở trong pháp, thiền duyệt là niềm vui trong thiền định, thiền tập.
Vì không đánh đuổi được năm triền cái, để nó lưu trú, đóng quân, bành trướng trong nội tâm nên mình lần quần, lẩn quẩn trong cái vòng, một là hôn trầm, hai là tán loạn, lúc nào cũng trong trạng thái như vậy. Khi bắt chân lên bồ đoàn là bắt đầu lơ lơ, gục, khi xả bồ đoàn ra bắt đầu lăng xăng. Đó là hai trạng thái thô nhất của năm triền cái. Cho nên mình phải để ý, để tâm, chú tâm, lưu tâm và quyết tâm – những từ này hết sức ý nghĩa chứ không phải chỉ là ngôn ngữ suông. Sự để tâm, để ý, sự lưu tâm, quyết tâm, sự định tâm để nhìn lại, nhìn thật kỹ, nhìn thật sâu để phát giác, phát hiện, tìm hiểu, biết rõ và có phương pháp đánh đuổi diệt tận năm triền cái. Vì vậy, nếu bắt chân lên bồ đoàn là ngồi lơ mơ, lờ mờ, rồi gục; xả bồ đoàn ra bắt đầu xôn xao, đó là một trạng thái si ám rất nặng. Trạng thái này là chung hết, người nào không quyết tâm, nỗ lực đều bị hết, dù có ở chùa bao lâu, đừng nói là người cư sĩ, ngay cả xuất gia cũng không thể vượt qua được năm cái tên này, khiếp lắm. Một người bị như vậy là một kẻ nô lệ, không được tự chủ, tự do, nên không tỏa ra được tâm thái bình an, thảnh thơi, tự tại. Tâm luôn trong trạng thái hốt hoảng, dao động, lăng xăng, vội vã, lo lắng, sợ hãi, tìm kiếm, truy tầm.
Chính vì vậy, mình phải diệt tận được năm tên đó trước mới có thể vào được sơ thiền, nếm được hương vị ly sanh hỷ lạc địa. Tuyệt vời lắm! Đánh được năm tên đó sẽ có được trạng thái tâm kỳ diệu. Phải đánh gục nó, đánh sạch, đánh tan nát hết. Ngoài ra, còn trạng thái nghi hối, nghi ngờ, hối hận, hoài nghi pháp, không chịu nỗ lực, tha thiết, chân thành, dấn thân để thực tập – đó là nói về hôn trầm, trạo cử, và hoài nghi. Giáo trình năm triền cái không biết có ai đọc không? Soạn ra rồi giảng, pháp đưa tới tay nhưng không biết có người đọc, nghiên cứu không, hay là để trên giá, kệ, tủ cất.
Tham dục, sân, hôn trầm, trạo hối và nghi – đánh đuổi năm tên này thì mình mới có thể an trú tâm trong Bốn Niệm Xứ và thực hành Thất Giác Chi. Đó là pháp truyền thống của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai: diệt tận Năm Triền Cái, an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ và thực hành Thất Giác Chi. Thành ra phải hết sức để tâm diệt tận năm tên đó, tu tập Bốn Niệm Xứ và tu tập Bốn Tâm Vô Lượng.
Tu tập Bốn Tâm Vô Lượng sẽ làm cho mình tươi mát, sung mãn, mới mẻ, hỷ lạc. Tu tập được bốn tâm này, mình có thể thiền định, nghe pháp, tu tập dài lâu mà không bị mệt mỏi, chán nản. Nếu không có pháp hỷ sao mình ngồi nổi 5-7 tiếng hoặc 10 tiếng? Không có thiền duyệt là chịu không nổi, không ngồi lâu được, rồi bị năm cái tên triền cái nó đập quậy bên trong thì sao tu được, cho nên mình phải thực tập và nên chú trọng vào Hỷ Vô Lượng Tâm.
Tác ý hỷ lạc trong tu tập
Mọi người chúng ta đương nhiên đã nhìn thấy tứ đại, ngũ uẩn, vô thường, khổ ải, bệnh hoạn, ung nhọt, nhưng phải biết phát huy tâm của mình thì mới trú được trong pháp hỷ, pháp lạc. Còn nếu chỉ một chiều hướng như vậy thì không khéo sẽ rơi vào trạng thái tiêu cực, cái gì cũng chán, không muốn làm gì hết. Tuy chúng ta nói được nó vô thường, trống rỗng, là đồ giả, không có thiệt, vì vậy càng phải năng nổ liên tục trong thiện pháp, học tu liên tục, thuyết giảng liên tục, làm ra những bài pháp.
Thành ra, nếu chúng ta chỉ học một điều thì giống như con người chỉ có một bộ phận, như vậy thì sao trở thành con người hoàn chỉnh được? Cho nên cần phải viên mãn, đầy đủ tất cả mọi khía cạnh của pháp, chứ mình được một cái là bỏ hết mấy cái khác là không được. Cho rằng cái đó hay nên tu học một cái thôi là mình tu không đầy đủ, không trọn vẹn. Như khi ăn cơm, đâu phải mình chỉ ăn cơm trắng, phải có canh, phải có đồ kho, phải có đồ xào, phải có đồ luộc, phải có rau, rồi ớt… đủ thứ hết. Sự tu của mình cũng vậy, không phải chỉ biết có một cái rồi mình đi theo một cái đó, như vậy không được, cần phải đầy đủ. Đầy đủ mới gọi là Thánh Đạo viên mãn, như vậy mới có thể đưa tới thành quả thật sự mà Đức Phật hướng dẫn cho mình.
Phải làm cho tâm mình bớt sân lại, phát sanh sự hỷ lạc trong đời sống tu tập, trong thiện pháp, có rất nhiều niềm vui trong đời tu. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, nếu không có tác ý thì không sanh ra hỷ lạc. Mở mắt thức dậy là đã hỷ lạc rồi, làm cho phấn khởi, làm cho hân hoan, thấy được một không gian mát mẻ, núi đồi xa vắng, trú xứ mà các bậc Hiền Thánh ưa thích, ái lạc.
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vị không tìm dục lạc.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm A La Hán)
Mỗi bước chân, mỗi khi rửa mặc, súc miệng, đánh răng, mình hãy nhớ rằng có những người không có chân để mà bước, hoặc chỉ có chân một chân, hoặc nằm liệt một chỗ. Mình có chân để bước, để đi tu, khoác áo cà sa để mỉm cười, thật là vô thượng phước điền. Tấm y này là được truyền từ bậc Chánh Đẳng Giác, từ các bậc A-la-hán, bậc Thánh Tăng, các bậc Tổ Sư. Mình cầm tấm y lên là linh thiêng, là thần thánh, là pháp bảo, là cao quý, là pháp khí. Mình đắp nó lên là trang nghiêm, là cung kính. Áo giới, áo tràng cũng vậy, phải trân trọng áo pháp. Ngàn người, vạn người, tỷ người đâu có được cái áo pháp, pháp y này. Bây giờ ta cầm trên tay pháp y này, ta khoác trên mình pháp y này, đây là chuyện hiếm có, khó được, hi hữu ở trên đời. Có tác ý thì pháp mới sanh khởi, mỗi bước chân đi đọc những câu trong Tứ Niệm Xứ:
“Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.”(Trung Bộ Kinh, 10. Đại Niệm Xứ)
Chúng ta đi trong chánh niệm, tỉnh thức, đi trong sự để tâm, chú tâm, đi trong sự hỷ lạc, mỉm cười nhẹ. Giờ này bao nhiêu vẫn người còn mê ngủ, đắm chìm trong ngũ dục, dục lạc, trong đêm tối, vô minh, còn mình đã thức tỉnh. Chúng ta đang đi đến Thánh tượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đọc những lời Thánh ngôn, Thánh kinh, Thánh điển, Thánh trí.
Tác ý như vậy thì đọc mỗi một câu kinh mình đọc đều rúng động khắp châu thân, những người nghe cũng rúng động hết, và không chỉ chấn động đến những người đang ở đó mà tất cả phi nhân, thiên thần, hộ pháp cũng vậy. Chánh Pháp âm, Nhiên âm, Hải Triều âm – âm thanh viên mãn, âm thanh sóng biển, âm thanh Thánh ngôn đó có thể lan tỏa ra khắp không gian này. Mỗi câu kinh mình đọc đều cần phải để tâm, phải có chánh niệm, tỉnh giác, cung kính, tôn trọng, hoan hỷ thì sức mạnh của nó là vô lượng vô biên. Chứ không phải đọc cho có, cho hết tờ kinh, đọc như một cái xác không có hồn thì mở máy nghe người ta đọc Đại Tạng Kinh còn hay hơn.
Hãy để hết tấm lòng vào từng việc mình làm, cầm tấm y lên khoác lên trên vai, móc chéo y, đắp từng nếp, bước từng bước, lễ từng lễ, đọc từng câu. Toàn là thần thánh, thiêng liêng, màu nhiệm, vi diệu. Đó là niệm thân, là hương vị bất tử, chứ không phải đọc mấy câu trong Tứ Niệm Xứ mới là niệm thân, đó chỉ là nói khái quát. Đức Phật thường chỉ nói định lý, nói tổng quát, nói những điều quan trọng, mình vận dụng ra được hết tất cả thì hay lắm.
Trong bài kinh “Thân”, Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4:
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về pháp vô vi và con đường đưa đến vô vi (asankhata). Hãy lắng nghe.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vô vi? Này các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô vi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Thân niệm (kàyagatà sati), này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến vô vi.
Thân niệm, niệm thân, thân hành niệm, đi đứng phải biết rõ, nói đứng phải biết rõ, cử chỉ phải biết rõ, thân thể sử dụng như thế nào phải biết rõ, luôn luôn biết, không lúc nào không biết, đó là con đường đưa đến an lạc.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta thuyết về vô vi, Ta thuyết về con đường đưa đến vô vi.
Này các Tỷ-kheo, những gì một bậc Ðạo sư cần phải làm cho những đệ tử, vì hạnh phúc, vì lòng từ mẫn, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với họ; tất cả, Ta đã làm cho các Ông.
Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần IV. Năm Mươi Kinh Thứ Tư, Chương IX. Tương Ưng Vô Vi, bài kinh Thân)
Như vậy, an lạc là sự đoạn tận tham, sân, si. Trong khi chánh niệm tỉnh giác, trong khi thân hành niệm, thấy rõ có tham, có sân, có si thì mình phải đoạn; còn không có tham, sân, si thì mình biết là không có. Đó là quán tâm trên tâm, quán thân trên thân, quán tất cả các cảm thọ, quán pháp đang vận hành. Như vậy, con đường đưa đến an lạc là Thân Niệm. Mỗi một câu kinh mình đọc lên trong tạng kinh Nikāya thì phải lạy xuống, vì sự tuyệt vời, kỳ diệu, thiêng liêng, thần thánh này. Một ngàn tỷ kiếp vừa qua, chưa được đọc câu kinh này nên mình mới lận đận, khốn khổ cho tới ngày hôm nay. Bây giờ được đọc nên phải vui sướng, thích thú, hân hoan, hoan hỉ, cung kính, tha thiết, chân thành trong khi mình đọc, đọc như vậy thì hết sức tuyệt với. Chứ không phải đọc cho có xác, chứ không có hồn. Đọc câu này nhớ, câu sau quên, lộn xộn, nhảy bỏ mất chữ, phát âm không rõ ràng, vậy là không cung kính Pháp. Người cung kính Pháp không như thế, sự tu này vi tế tới mức độ như vậy.
Mỗi lần mình ngồi lên bồ đoàn là điều tuyệt diệu, thiêng liêng, quý báu. Tới giờ phút này, một tỷ chúng sanh đang mê loạn, còn mình được ngồi trước toà giác ngộ. Nếu tác ý như vậy thì làm sao mà ngủ, làm sao chạy theo những dục tham; vô minh làm sao xâm chiếm, ngũ cái làm sao tấn công được? Tất cả thiện pháp được sanh khởi, tràn ngập và ác pháp không còn chân đứng. Còn đối với tâm trống rỗng, không thực hành pháp, không niệm thân, không niệm pháp, không niệm thọ, không sanh khởi hỷ lạc, cứ niệm trống trơn thì sẽ ngồi sụp mắt xuống, như là một cái xác không hồn. Các pháp vận hành như vậy, đó là niệm pháp trên pháp.
Vì vậy, từ lúc ngồi xuống cho tới lúc xả thiền không được chút nào lơ đãng, lơ là, không lúc nào để cho vô minh, hôn trầm xâm chiếm. Phải luôn luôn biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Dù tỉnh táo nhưng mình còn biết không kịp ngũ uẩn, những cái tưởng, hành nó rất là nhanh huống chi là hôn trầm. Thường khi mình biết ngũ uẩn là chỉ biết cái đuôi, nó chạy qua rồi mới biết. Hoặc có những điều mình biết không kịp vì bị ngũ cái che, khi ấy tham dục, sân giận, si mê, trạo cử khởi lên, lúc đó giống như sương mù nên mình không thấy đằng trước có gì, như vậy là bị vô minh và si. Cho nên trí huệ là sự thấy biết rõ ràng, không có gì không thấy, những gì xâm phạm, đang diễn biến và chấm dứt trong nội tâm ta đều thấy hết, biết hết. Khi thấy biết như vậy thì vui lắm, vì trước giờ mình không thấy, không biết.
Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.
Ôi ! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Đòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)
Khi thấy được kẻ làm nhà này, ta phải đánh gục nó, đoạn tận tham ái. Khi đó mình vui lắm, trí tuệ sanh ra hỷ lạc, thiền định sanh ra hỷ lạc, giới đức sanh ra hỷ lạc. Tu hỷ vô lượng tâm mới sanh ra hỷ lạc. Phải thường tác ý, lúc nào hỷ quá thì tu xả; lúc nào bất lạc – không vui thì mình tu hỷ. Đây là một điều rất khéo léo, không phải dễ biết, khi buồn chán thì mình tu tập, tác ý để sanh hỷ; còn lúc nào vui quá thì xả để lắng dịu, đây chính là lên dây đàn.
Có những điều bình thường lắm nhưng mình chỉ vận dụng trên thế gian pháp chứ không vận dụng cho Chánh Pháp. Cũng như một người nấu cơm, lửa nhiều quá thì bớt lửa, còn lửa thiếu thì thêm vào. Nghe thì rất bình thường, không có gì hay ho, ai cũng biết nhưng đều là biết về thế sự, thế tục, thế pháp, thế nhiễm chứ không vận dụng vào xuất thế pháp, khổ như vậy đó. Cũng như ở ngoài đời làm đủ thứ kiểu vui, nhưng vào tu thì không biết làm cho mình vui, đó gọi là ngu, ngu tu, tu ngu. Ngoài đời biết bày trò, ca nhạc, ăn uống, hát hò, đi đây đi đó, nói chuyện tiếu lâm, chọc cười đủ thứ, làm cho cuộc sống đủ hương vị; còn vào tu thì mình không biết làm mình vui mà cứ buồn bã, chán chường mệt mỏi, suy nhược…
Tâm của mình là một cái tâm bệnh hoạn, bệnh trầm kha, tại vì chúng ta không để tâm, không trân quý sự tu hành, không tha thiết trong sự tu tập. Chúng ta không để ý, không để tâm, không để tất cả tấm lòng vào nghiên cứu mọi cách làm cho tâm được khỏe tươi, sung mãn. Một nhà tâm lý học vĩ đại của Phật giáo là muốn cho tâm bi là bi, muốn cho tâm từ là từ, muốn cho tâm hỷ là hỷ, còn muốn cho tâm xả là xả, bất cứ lúc nào cũng được, thậm chí an trú suốt ngày. Phải tu tập bốn tâm vô lượng này trở thành cổ xe, trở thành căn cứ địa, thành trì vững chắc, kiên cố. Cần tinh tấn, nỗ lực, tinh cần để tu tập bốn tâm này.
Những giây phút Minh Thành ở trên núi này vui lắm, giống như là cảnh trời, trừ lúc bị sâu bắn. Thực sự người tu được bốn tâm này là tâm ngang bằng với Phạm Thiên – Vua Trời. Có nhiều cấp độ, người tu tập bốn tâm này sẽ sanh lên chư Thiên, nếu tu Thánh trí Năm uẩn nữa là Thánh đệ tử Thiên, còn nếu không biết năm uẩn chỉ là phàm phu Thiên.
Chúng ta tiếp tục trở lại vấn đề sinh hoạt mỗi ngày trong việc tu tập tâm hỷ. Kế tiếp là ăn cơm trong chánh niệm, quán chiếu những dục, tham, ái trong cảm giác khi ăn. Lúc thấy được nó mình vui, còn hồi đó không thấy. Cái nào là rác, đồ dơ, bẩn thì vứt ra ngoài, ra khỏi tâm mình, vậy thôi chứ đâu có gì để mà khổ sở. Hồi đó mình để nó lưu trú, tồn kho, chất chứa; còn bây giờ không chất chứa nữa thì phải vui. Hồi xưa mình làm cho nó tăng trưởng, giờ mình làm cho nó giảm thiểu. Hồi xưa mình tích góp, tích lũy, chất chứa; giờ mình giải phóng, đào thải, quăng bỏ, vứt bỏ, từ bỏ… Mỗi khi nhìn thấy được vậy mình vui. Giống như khi chiến thắng được cơn sân, mình cười vui: “Hôm nay sao hay quá, vượt qua được cái bực bội này, chiến thắng được cơn tham, dục. Hỷ lạc quá, hồi đó mình bị nó quật ngã, nay đã có thể thấy được, nhiếp phục được nó đôi phần.” Mỗi ngày có nhiều điều vui như vậy, đó là con người rất tinh tấn, hỷ lạc, hoan hỷ.
Khi nghỉ trưa cũng vậy, lên nghe pháp phải cười lên vì chuẩn bị nghe được Thánh Pháp. Bước vào nghe mặt tươi tắn, vui lắm; còn đằng này mở pháp lên ngồi gục, như vậy thì thảm lắm. Vì không phấn khởi, không phấn chấn, không tha thiết, không nhiệt tình, không mở cánh cửa để đón chờ, Minh Thành nhìn là biết liền. Lúc đó chúng ta không biết tâm chính mình, không niệm thân, không niêm thọ, không niệm pháp nên không thấy các pháp đang diễn ra. Cho nên, mình phải thấy, phải biết, không thể nói không thấy, không biết được, như vậy thì làm sao đoạn trừ các lậu hoặc.
Khi hành thiền, khi nghe pháp, khi tu, khi học, khi làm việc vui vẻ, phụng sự, chúng ta phải làm với tấm lòng biết ơn, tri ân, báo ân, cảm ơn, đền ơn cho tất cả những người có ơn đối với mình. Chỗ nào cũng hỷ lạc, tươi tắn, hân hoan sanh, hỷ sanh, lạc sanh. Niềm vui đó sung mãn từ đỉnh đầu tới gót chân tràn ngập hết. Giống như một người khi tắm, xối nước từ trên đầu xối hết xuống chân, còn tắm chỉ xối nước trên đầu thôi thì người ta gọi là gội đầu. Khi tắm, xối nước từ đỉnh đầu tới gót chân, thấm hết châu thân thì hỷ lạc do pháp sanh, thiền duyệt sanh do sự tác ý sanh, do trí huệ sanh. Phải làm cho sung mãn, thấm đượm hết châu thân, từ thớ thịt, từ lỗ chân lông, từ tế bào của mình được sung sướng. Ở ngoài gọi là sung sức, trong sự tu gọi là sung mãn, hỷ lạc. Cho nên Minh Thành thấy mấy chú nghe pháp mà hoan hỷ là Minh Thành vui lắm, bắt đầu có pháp hỷ. Tuy là nghe gần 3-5 tiếng nhưng vẫn không thấy mệt là bắt đầu có pháp hỷ rồi. Hãy làm sao tới nguyên ngày mà vẫn vui vẻ là bắt đầu có những bước tiến bộ khác. Điều này không thể nào làm dáng, giả bộ được vì người khác nhìn là biết hết.
Các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật thảo luận pháp đàm sáng đêm là chuyện thường. Lúc đó Đức Thế Tôn ngồi giữa chúng Tỳ-kheo rất đông. Canh một, canh hai rồi khuya đã qua mà Đức Phật không nói, gần sáng Phật cũng không nói dù Ngài Ànanda thỉnh Phật thuyết giới ba lần, suốt sáng đêm, cuối cùng Đức Thế Tôn mới nói: “Này Ànanda, hội chúng không được thanh tịnh”, có người ác pháp, bất tịnh. Ngài Mục Kiền Liên tác ý lên, nhìn thấy người đó bằng thiên nhãn, Ngài đi đến và nói:
“Này Hiền giả, hãy đứng dậy. Thế Tôn đã thấy ông. Đối với Hiền giả, không thể chung sống với các Tỷ-kheo.” Kêu ba lần ông không ra, ngài Mục Kiền Liên “nắm lấy cánh tay người ấy, đẩy ra khỏi cửa, đóng chốt cửa lại”. Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy hành trì Uposatha (Bố-tát), hãy đọc giới bổn. Bắt đầu từ nay, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ không đọc giới bổn. Này các Tỷ-kheo, không có sự kiện, không có cơ hội rằng Như Lai có thể đọc giới bổn trong một hội chúng không thanh tịnh.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 8. Chương Tám Pháp , II. Phẩm Lớn, bài kinh Ngày Trai Giới)
Nói điều đó để thấy rằng thời Đức Phật ngồi sáng đêm nói pháp là thường lắm. Còn mình nếu ngồi nghe pháp một chút đã chịu không nổi thì làm sao ngồi sáng đêm. Khi đó, cần nhiếp phục được thọ và vượt qua bằng pháp hỷ, pháp lạc để không còn thấy mệt thân tâm. Bằng hỷ lạc của thiền và pháp mà thấm nhuần, sung mãn, gội rửa hết toàn bộ cơ thể. Bây giờ Minh Thành đang huấn luyện cho đại chúng tập lên 5-6 tiếng, rồi một lúc nào đó làm nguyên ngày, không ngủ trưa, trú trong pháp không biết mệt mỏi. Sau đó tập ngồi thiền, ngồi dài lâu, chứ không phải 1 tiếng, 2 tiếng hoài, tu 20-30 chục năm cũng chỉ nhiêu đó thì không nên. Phải tăng trưởng lên 2 tiếng, 3 tiếng, vượt qua được sự lệ thuộc quá nhiều vào sắc uẩn và các cảm giác này. Giờ ngồi tu học một xíu đã xoa bóp, làm đủ thứ, như vậy lúc bệnh hay tai nạn thì làm sao?
Thực hành trải tâm hỷ
Có những bài kinh hay lắm, tuyệt diệu lắm, nghe đã và sung sướng lắm:
Không nói lời phù phiếm, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này; Không nói lời vô ích, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này, thanh tịnh, an lập trên căn bản. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo; hội chúng như vậy khó tìm được ở đời!
Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng như vậy, đáng được tôn trọng, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy dầu cho ít, được lợi nhiều, còn cho nhiều, lại được lợi nhiều hơn nữa.
Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo! Hội chúng này như vậy, nếu phải đi do một tuần để được yết kiến cũng nên đi, dầu có phải mang theo trên vai túi đựng đồ ăn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chúng Tỷ-kheo này.
Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị chư Thiên.
Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị Phạm Thiên.
Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị Bất động.
Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được Thánh vị. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ , II. Phẩm Lớn, bài kinh Ngày Trai Giới)
Nghĩa là, một hôm Đức Thế Tôn ngồi yên tịnh trước khoảng năm trăm đến cả ngàn vị Tỳ-kheo. Ngài mỉm cười nói: “Ta rất hài lòng, trong đại chúng này có những vị ngang bằng với Chư Thiên, địa vị ngang bằng Phạm Thiên, các vị tu bốn tâm vô lượng, tâm trú trong từ, bi, hỷ, xả vô lượng. Ở trong chúng ta đây có những vị địa vị ngang bằng Phạm Thiên, vua trời. Trong chúng Tỳ-kheo đây có những vị là những bậc giới hạnh, thanh tịnh; có những bậc Hướng Dự Lưu, Nhất Lai, Hướng Bất Lai; những vị hướng A-la-hán, những bậc A-la-hán. Thánh chúng này, đại chúng này, hội chúng này xứng đáng cho những người đi bộ hằng mấy chục cây số để vác một bao lương thực trên vai để đến dâng lên, đảnh lễ, chắp tay, cung kính cúng dường.”
Nghe đến chỗ này Minh Thành rúng động, da gà nổi lên hết, giống như Đức Phật, Thánh chúng đang hiện ra ở trước mặt. Lúc đó thọ, tưởng, hành, thức sanh ở trong Thiện Pháp, Chánh Pháp, tưởng về hình ảnh của Đức Phật, Đức Thế Tôn, các bậc A-la-hán, Thánh chúng, hải chúng thanh tịnh. Cho nên khi thấy Phật tử vác bao gạo, bao nước tương, bao đồ ăn lên, nhìn lại bản thân mình thì thấy hổ thẹn, xấu hổ khi chưa vào Giới – Định – Tuệ, ít nhất là Hướng Dự Lưu. Tối ngày lòng vòng buồn, giận, thương, ghét, đúng, sai, hay, dở, phải quấy, hơn thua, toàn méc chuyện xấu, chuyện này nọ của người ta. Tâm đó là tâm phàm phu, hạ liệt, thấp hèn, bệnh hoạn, ốm yếu, suy nhược; một cái tâm không được tu tập, không được huấn luyện, không được thanh lọc và tẩy sạch.
Cho nên phải tu nhiều, phải chăm sóc tâm mình làm sao thật là nhẹ nhàng, an lạc; tấm lòng mình luôn luôn rộng mở đối với mọi người; tình thương, sự cảm thông, bao dung, luôn luôn hướng về nhau trong luật hòa kính của đời sống phạm hạnh; luôn thương mến, quý trọng, cung kính nhau. Đó mới là tâm của người tu, gọi là tâm hướng thượng, hướng đến chỗ cao thượng, tâm đó rất tuyệt với, chưa nói đến Thánh quả. Từ ái, dễ thương, dễ nghe, dễ bảo, dễ nuôi, dễ huấn luyện, dễ tu tập thì an trú niệm – an trú vào chánh niệm rất dễ.
Còn cái tâm không tu tập, không huấn luyện cho nó an trú, niệm thân không được nên cứ lăng xăng hoài, ngồi định không được, cứ bị trạo cử, hoài nghi. Ly tham, ly dục không được, cứ ám ảnh hoài những hình bóng trong nội tâm, không có cách thoát, giải pháp. Đi tới đâu cũng vác bản ngã, sân hận, vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn theo như một cái núi Tu-di. Thấy vậy nên phải thương chính mình nhất, thương cho một cái tâm không biết tu tập, thương cho một cái tâm ốm yếu, bệnh hoạn, suy nhược, suy mòn, suy hao, suy lão. Phải tu tập tâm, phải chăm sóc tâm mình cho thật là tươi đẹp, thật là mới mẻ, thật là xinh xắn, thật là tuyệt vời; một cái tâm tràn đầy hỷ lạc, từ bi, bao dung, đức độ; một cái tâm đem đến sự mát dịu, từ ái. Mình phải tu tập tâm như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm cùng khởi với từ - biến mãn một phương và an trú … với tâm cùng khởi với bi … với tâm cùng khởi với hỷ … với tâm cùng khởi với xả, biến mãn một phương và an trú. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên thế giới, vị ấy biến mãn với tâm cùng khởi với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Phạm Thiên. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ , II. Phẩm Lớn, bài kinh Ngày Trai Giới)
Chúng ta đang nói về tâm hỷ, xin đại chúng thực tập tâm hỷ ngay từ giờ. Hãy mở cảm giác hoan hỷ, hỷ lạc, tươi vui, làm cho cảm giác này từ lồng ngực lan tỏa hết lên vai, cổ, mặt, đầu; lan tỏa xuống bụng, chân, bàn chân, tay, cánh tay, bàn tay; làm cho lan tỏa sự hỷ lạc của pháp khắp từ đỉnh đầu tới gót chân, đến toàn bộ châu thân của mình. Mỉm cười nhẹ, mở rộng cảm giác hoan hỷ này về phía trước mặt, rộng ra hết không gian của giảng đường, lan tỏa ra khắp núi đồi, trên, dưới, bề dọc, bề ngang.
Mở rộng tâm hoan hỷ ra khắp hư không bao la, trải niềm hỷ lạc này đến người thân thương nhất, cha mẹ, ông bà, cô bác. Cầu mong cho họ cũng được tâm hỷ, vui tươi trong pháp. Trải tâm hỷ này đến tất cả những người xa lạ, trải tâm hỷ này đến khắp tất cả những người đang khổ đau, mong là họ sẽ có được niềm hỷ lạc trong Chánh Pháp. Trải tâm hỷ đến muôn loài để được bình an, hạnh phúc. Hãy có tâm hoan hỷ đối với Chánh Pháp, đối với sự thực hành pháp, đối với sự thể nghiệm và chứng nhập Thánh pháp. Để cho tâm hỷ này lan rộng cùng khắp mười phương hư không, mỉm cười làm cho cảm giác hoan hỷ sanh khởi lên, quảng đại, vô biên, biến mãn, cùng khắp, không hận, không sân.
Bài kinh “Bất Lạc”
Đức Phật dạy rằng có ba pháp: bất lạc, hại và phi pháp hành.
Bất Lạc: tức là không vui.
Hại: tức là nghĩ đến hại người khác. Trong lúc bực bội, khó chịu, không vui, sân hận, tuy không nói, không làm nhưng trong ý mình nghĩ muốn hại người ta. Hồi xưa, Minh Thành nghĩ rằng đi tu sao lại muốn hại người ta, nhưng bây giờ nhận diện năm uẩn mình mới thấy là có. Do không nhìn kỹ nhưng khi bực bội lên thì mình có suy nghĩ hại, vì vậy không thể không có mà Đức Phật nói được.
Phi Pháp Hành: tức là làm những việc phi pháp..
Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này. Để đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, ba pháp cần phải tu tập.
Thế nào là ba?
Để đoạn tận bất lạc, hỷ cần phải tu tập.
Để đoạn tận hại, bất hại cần phải tu tập.
Để đoạn tận phi pháp hành, pháp hành cần phải tu tập.
Để đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, ba pháp này cần phải tu tập. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp , XI. Phẩm Ba Pháp, bài kinh Bất Lạc)
Như vậy một là không vui, hai là hại, ba là làm những việc phi pháp. Để đoạn tận không vui – bất lạc, hỷ càng phải tu tập. Để đoạn tận hại, bất hại cần phải tu tập, nghĩ về việc không hại. Để đoạn tận phi pháp hành, pháp hành cần phải tu tập. Giờ muốn phá cái gì không vui thì mình tu hỷ. Hồi đó buồn mình không biết làm sao để phá, giờ có rồi, như Minh Thành hướng dẫn đã tác ý để sanh khởi hỷ lạc.
Thí dụ, gặp sư huynh Pháp Từ, mình cười, tác ý: “Đâu dễ có được sư huynh hiền lành, đẹp trai, dễ thương, nhẹ nhàng, có nhiều sư huynh khó chịu lắm.” Thấy vậy, mình mỉm cười và tác ý là có niềm hoan hỷ. Rồi khi gặp Pháp Nghĩa, mình nói: “Đâu phải dễ có người siêng năng, hiền lành, hay khóc như vậy. Chuyên môn lo cho thiên hạ, ai vất vả ai khó khăn kêu là có mặt trên từng cây số” – thấy hạnh này hay, mình vui và hoan hỷ. Gặp sư huynh Pháp Giới cũng vậy: “Hoan hỷ quá, đâu phải dễ kiếm người cổ lỗ sĩ, đồ cổ, hàng hiếm, lo tu, lo giới hạnh, thiền định, ai làm gì làm, không quan tâm. Lù khù vậy nhưng lo tu, không cần sửa soạn, không cần đồ đạc, lượm cái áo tràng cũ xì, xấu hoắc để mặc.” Về thành phố mà mặc cái áo như vậy, thấy rất là thương, không chú trọng vào hình thức, không hưởng thụ vật chất. Cho nên phải hoan hỷ, đâu dễ có sư huynh như vậy. Nhiều người tu rồi mà quần áo ủi láng cón, thậm chí mặc quần trắng nữa. Vì thế, có một sư huynh như vậy là một sự tuyệt vời, phải vui và hoan hỷ. Đó chính là hỷ trị bất lạc, trị cái không vui, tác ý là hỷ sanh khởi, phải biết tác ý, còn mình tác ý ngược lại là xong.
Chẳng hạn như giờ bà Diệu Hiền tác ý: “Ông Pháp An bệnh nặng, thập tử nhất sinh nên lên đây tu. Giờ nhờ ông mà bà mới được tu. Nếu không có ông, bà bị bệnh như vậy, ông mất rồi thì chưa chắc gì bà được lên đây tu. Cho nên, phải cảm ơn ông, biết đâu ông nói chuyện này nọ như vậy mà giúp cho mình rèn luyện sự nhẫn nại, bao dung, tha thứ. Cùng một nghiệp với nhau nên tha thứ, lo tu, để được thảnh thơi, tâm nhẹ nhàng.” Tác ý như vậy nên mình được hoan hỷ, còn tác ý không đúng thì sẽ đi xuống núi. Tác ý không đúng nên dù có thầy lành, bạn tốt, có Chánh Pháp nhưng mình không hạnh phúc, thấy khó chịu, bực bội, vào thất ở một mình, không chơi với ai. Bởi vì tác ý bậy, Phi Như Lý Tác Ý thành ra hư hết cả một sự nghiệp tu hành.
Hôm trước chúng ta học bài kinh: “Những chúng sanh chết ngay trong tư tưởng, trong suy nghĩ”. Mình không có trí huệ để biết được tư tưởng đó là thiện hay bất thiện; không biết những suy nghĩ, hành đó là thiện hay bất thiện. Mình không biết tưởng nào đưa đến thối đọa, tưởng nào đưa đến an trú, tưởng nào đưa đến thắng giải, tưởng nào đưa đến thể nhập… Hễ có tưởng nào khởi lên là mình nhập cuộc vào, rốt cuộc cuối cùng mình bị ma nhập, cho nên tưởng uẩn đó là ma, suy nghĩ rất là ma. Cứ nhập vô đó rồi cuối cùng mình đi theo ma, mà mình nói là tu hay, thậm chí là mình phê phán thầy bạn, điều này hết sức nguy hiểm, đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh như chơi chứ không phải chuyện giỡn.
Điều này kinh khiếp lắm, thậm chí có người phỉ báng các bậc Hiền Thánh, như vậy vĩnh viễn kiếp không bao giờ có nhân duyên để gặp Chánh Pháp nữa. Những chuyện này diễn ra đầy rẫy nhưng mình không biết, cho nên khi nghe thì mình thấy ghê sợ, nhưng không nói thì không biết, vì vậy phải nói. Bây giờ dù cho Phật, A-la-hán, Thánh Tăng ở kế bên mà mình chấp vào tham, sân, si, bản ngã thì mình không thể thành tựu được.
Thời Đức Phật còn tại thế, Đề Bà Đạt Đa và rất nhiều người phỉ báng Đức Phật. Có hai bên đang tranh cãi nhau, Đức Phật ra, một thầy nói: “Như Lai ngồi xuống nghỉ đi, để tự tụi con giải quyết, Thế Tôn đừng có can thiệp gì vô chuyện của chúng con hết”. Rồi Đức Phật đi vô rừng, lúc đó có con khỉ đầu đàn và voi chúa bị bầy đàn quậy quá nên cũng bỏ vô rừng, chúng dâng trái cây mỗi ngày lên cho Đức Phật. Trong lúc đó, các hàng cư sĩ bàn tính kế với nhau, không cúng dường nữa cho những vị đã nói Thế Tôn như vậy, vì họ bất hiếu với Đức Thế Tôn, cứng đầu, ương ngạnh. Thế là không ai cúng dường, sớt bát nữa, những vị này đói meo, lấy sức đâu mà cãi nữa. Sau đó, họ vào rừng thỉnh Đức Phật về, không có Đức Thế Tôn thì không thể thành lập Tăng đoàn. Bậc Chánh đẳng Chánh Giác mà còn bị như vậy, cho thấy tâm chúng sanh kinh khiếp thế nào. Có người còn bày kế xô đá đè Phật cho chết: “Ngài già rồi, hãy giao địa vị lại, để tôi làm Phật.” Kinh hồn, tâm chúng sanh thật sự khủng khiếp, Phật mà còn bị vậy thì mình là cái gì?
Cho nên phải nghe chửi, nghe phỉ báng, nghe khen chê, nghe nói xấu thì cũng bình thường, nhưng tai họa sẽ rất khủng khiếp cho những người phỉ báng Chánh Pháp, điều này không phải bình thường, hậu quả của nó khủng khiếp lắm. Hậu quả của nó không dám nói, không thể nói. Đề Bà Đạt Đa đến giờ mới chỉ có mấy ngày ở dưới địa ngục Sen Hồng, cho nên vô minh, si mê gây ra hậu quả vô cùng khủng khiếp, nếu như biết rồi thì sợ lắm. Phi Như Lý Tác Ý sẽ đẩy mình xuống vực thẳm, không có Chánh Tri Kiến thì đành phải chịu như vậy. Không ai có thể sửa được suy nghĩ của mình trừ khi tự mình thành tựu thấy biết đúng đắn, thế nên ân đức của bậc giúp ta thành tựu Chánh Tri Kiến là vạn kiếp không thể đền. Mình phải học về địa ngục để trải nghiệm và biết trước, như vậy mới sợ mà tránh, chứ không biết làm sao mà tránh? Ví dụ đó là những bậc Hiền Thánh, bậc thành tựu Chánh Tri Kiến, Hướng Dự Lưu, Dự Lưu hay Nhất Lai chẳng hạn, mình phỉ báng pháp như vậy thì không biết chừng nào ra khỏi địa ngục, sợ lắm, rất sợ.
Hãy tu tập cái tâm bất hại, để đoạn tận tâm hại; cần phải tu tập, thực hành Chánh Pháp để đoạn tận hành động theo phi pháp.
Hỷ thế gian và Hỷ xuất thế
Đức Phật dạy mình “hỷ liên hệ đến tại gia” và “hỷ liên hệ đến xuất ly”, tức là cũng là hỷ, nhưng cần phân biệt được hỷ nào là của thế gian, hỷ nào là của xuất thế.
Có một ông đó diễn hài kịch đi đến hỏi Thế Tôn, ông diễn hài kịch giúp cho người ta vui vẻ như vậy sau khi chết có được lên cõi trời không? Hỏi ba lần nhưng Đức Phật không trả lời. Ông này năn nỉ, Đức Phật mới nói: “Làm cho người ta buông lung, phóng dật, theo những cái dục tham, ái sau khi chết đọa vào địa ngục”. Người này khóc nức nở, Đức Phật nói: “Khi nãy là Ta không muốn nói cho nghe, ông cố tình năn nỉ nên Ta mới nói ra.” Người này nói: “Con khóc không phải vì Thế Tôn nói, mà khóc vì tổ tiên gạt con, họ nói con làm cho người ta vui sướng sau khi chết con được sanh lên cõi trời hỷ lạc. Con khóc vì con bị gạt.” (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần IV. Năm Mươi Kinh Thứ Tư, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, bài kinh Puta (S.iv,306))
Điều này hết sức sâu sắc, nếu làm người ta hoan hỷ về pháp, về sự ly tham, diệt tận sân si, đau khổ thì đó là phước đức, công đức. Còn nếu là cái vui thế gian, cái vui buông lung phóng dật, như mấy quán bar, quán nhậu, mấy chỗ xì ke ma túy thì sẽ đưa đi đâu? Cho nên rõ ràng phải phân biệt được hỷ liên hệ với tại gia và hỷ liên hệ với xuất ly.
Hỷ liên hệ với gia đình là do mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, những gì đáng yêu, vui thích, khoan khoái, vừa lòng… liên hệ đến thế vật hoặc do nhớ lại những gì đã nhận được từ trước, đã qua, đã chấm dứt, đã biến hoại mà vui thì những loại vui này được gọi là hỷ liên hệ tại gia. Thứ nhất là những cái mình thấy, nghe, tiếp xúc, vừa lòng, thích ý, khoan khoái, đẹp đẽ, hấp dẫn, liên hệ đến thế vật của thế gian. Thứ hai là nhớ lại, hồi tưởng, hồi ức, liên tưởng lại những gì đã từng tiếp xúc, đã thấy, đã nghe và mình hoan hỷ. Tuy những cái đó đã qua, là quá khứ rồi, nhưng hồi tưởng lại những loại vui đó gọi là hỷ liên hệ tại gia (Trung Bộ Kinh, 137. Kinh Phân Biệt Sáu Xứ).Ví dụ, ngồi đây mà nhớ lại lúc ở nhà đi chơi banh, đá gà, đánh bài rồi cười, đó là hỷ liên hệ với gia đình. Hoặc ai cho mình ăn gì đó, mình vui; hoặc được khen khiến mình thích thú thì đó gọi là hỷ liên hệ tại gia, thế gian, vật chất.
Hỷ liên hệ đích xuất ly là: “Sau khi biết các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: "Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại". Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly” (Trung Bộ Kinh, 137. Kinh Phân Biệt Sáu Xứ).
Điều này hết sức sâu sắc và tuyệt vời. Tất cả phải đặt trên nền tảng Chánh Tri Kiến, rời Chánh Tri Kiến ra là tất cả sự tu hành của mình không có gì hết. Sau khi biết các sắc pháp là vô thường, biến hoại thì không còn tham muốn, lìa tham vì nó là đồ biến diệt. Nghĩ rằng tất cả các sắc pháp xưa kia hay là sắc pháp hiện nay tất cả là vô thường, khổ, biến hoại. Sau khi thấy thật như vậy, chánh trí huệ khởi lên, hỷ đó là hỷ liên hệ với xuất ly.
Như vậy, không biết điều gì đó là vô thường, khổ, biến hoại mà còn vui thích thì đó là vui của thế gian. Còn với chánh trí huệ là biết tất cả đều là vô thường, biến hoại thì niềm hỷ lạc được sanh khởi, vì mình không còn tham đắm nữa mà sẽ xa lìa nên chúng ta vui. Chứ không phải vô thường là khổ, ngoài thấy khổ ra mình không biết gì nữa hết là không phải. Mình phải vui, phát khởi sự hoan hỷ với trí huệ về sự vô thường; hoan hỷ với sự xuất ly thoát ra khỏi các sắc pháp; hoan hỷ với sự thật; hoan hỷ trong cởi mở, tháo mở, cắt đứt, từ bỏ, chấm dứt, rời xa những thứ vô thường.
Cho nên, định lý giải thoát là phải khắc cốt ghi tâm, ghi ở trong tim. Bất cứ lúc nào cũng phải liên hệ đến ly tham, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến từ bỏ, liên hệ đến chấm dứt. Đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều như vậy, đó gọi là hỷ liên hệ tới xuất ly. Phải hiểu như vậy, chứ không thôi mình lẫn lộn, không biết cái nào là hỷ tại gia, hỷ gia đình, hỷ thế gian, hỷ xuất thế và hỷ xuất ly.
Như vậy, chúng ta phải tu tập sự hỷ lạc trong tu học. Phải biết rằng tâm mình rất cần chăm sóc, nuôi dưỡng và trị liệu. Đừng bỏ quên tâm của mình, biết thương nó, tội nghiệp nó, tội nghiệp cho những người chỉ biết lo cho thân thể, chỉ biết lo cho cục thịt, bong bóng da này mà không biết lo cho một thứ hết sức quan trọng là tâm của chính mình. Cho nên mình phải hết sức để tâm, để ý, lưu tâm, lưu ý, chú ý cho nội tâm đau thương của chính mình – một nội tâm bệnh hoạn, ốm yếu, suy nhược. Phải biết chăm sóc nội tâm, cho nó ăn uống điều độ bằng sự nhận thức giáo pháp.
Nuôi lớn sự hoan hỷ, hạnh phúc trong đời sống phạm hạnh bằng những phương pháp cụ thể: quán chiếu, như ý tác ý, chánh tư duy mỗi khi thức dậy, đắp y, mặc áo, lễ Phật, ngồi thiền, tụng kinh, ăn cơm, tiếp xúc với huynh đệ, với mọi người trong một môi trường thù thắng, a lan nhã. Mình tác ý rộng hơn nữa, phải trị liệu những tâm không vui, hại, những hành động phi pháp, trị liệu tật sân hận, bực bội, khó chịu. Chúng ta không được chấp nhận, phải đánh đuổi, đẩy sập, từ bỏ, chấm dứt chúng. Hãy làm cho tâm trở thành khỏe mạnh, tươi mới, đẹp đẽ, xinh xắn bằng cách thực tập xả vô lượng tâm, thực tập hỷ vô lượng tâm mỗi ngày.
Đó là thức ăn tâm linh, tinh thần cho đời sống tu hành, nó làm cho mình sung mãn, sự hỷ lạc được nhuần thấm khắp chấu thân giống như xối nước từ trên đỉnh đầu xuống tới gót chân. Phải làm cho niềm hỷ lạc dào dạt, sung mãn trong sự tu học, dần dần chúng ta phát triển nó trở nên rộng rãi vô lượng vô biên, không hận không sân cùng khắp vô biên giới. Đó là một người biết tu tập tâm, biết thông minh, trí huệ, tự tạo cho chính mình chỗ dựa trong đời sống tâm linh để tiến thẳng tới chánh giác.
./.