Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh NIKAYA Giảng Giải - Sinh Hoạt Hằng Ngày Của Tỳ Kheo A

2026-03-03 00:53:38
Kinh Nikāya Giảng Giải

SINH HOẠT HẰNG NGÀY CỦA TỲ KHEO A

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tiểu kinh Rừng Sừng Bò PAGEREF _Toc112625625 \h 1

II.Hạnh cung kính PAGEREF _Toc112625626 \h 3

III.Hạnh thiểu dục tri túc PAGEREF _Toc112625627 \h 5

IV.Thân khẩu ý từ hòa với các đồng phạm hạnh PAGEREF _Toc112625628 \h 6

Tiểu kinh Rừng Sừng Bò

Hôm nay chúng ta học bài kinh Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò (Trung Bộ Kinh, Bài số 31). Bài kinh này nói cho người tu nghe về sinh hoạt hằng ngày của người xuất gia, sinh hoạt thường nhật của Tỳ-kheo.

Có ba thầy Tôn giả, (Tôn giả là bậc đáng tôn kính, đáng kính, bậc tôn quý, người đáng được tôn trọng) là ngài Anuruddha (A-na-luật-đà), ngài Nandiya và ngài Kimbila ở trong rừng Sừng Bò. Đức Thế Tôn buổi chiều từ thiền định Ngài đứng dậy, đi đến khu rừng đó, khu rừng này có rất nhiều cây ta-la. Người giữ vườn thấy Thế Tôn đến nói rằng:

-Bạch Sa-môn, chớ có vào khu vườn này. Có ba Thiện nam tử đang trú tại đây, rất ái luyến tự ngã. Chớ có phiền nhiễu các vị ấy.

“Ái luyến tự ngã” tức là rất thương mình. Những vị này tự độ, tự giác, tự lợi. Các vị này đang tinh chuyên, tinh cần, tinh tấn tu tập, tu hành.

Tôn giả Anuruddha nghe người giữ vườn nói chuyện với Thế Tôn như vậy liền nói với người giữ vườn:

-Này người giữ vườn, chớ có ngăn chặn Thế Tôn. Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của chúng tôi đã đến.

Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Tôn giả Nandiya, Tôn giả Kimbila và nói:

-Chư Tôn giả hãy đến, chư Tôn giả hãy đến. Thế Tôn, bậc Đạo Sư của chúng ta đã đến.

Một người cầm y bát của Thế Tôn, một người sửa soạn chỗ ngồi, một người đặt sẵn nước rửa chân. Các vị này đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi xuống một bên:

- Này các Anuruddha, các Ông có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực có khỏi mệt nhọc không?

- Bạch Thế Tôn, chúng con được an lành; bạch Thế Tôn, chúng con sống yên vui; bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.

- Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?

- Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.

- Này các Anuruddha, như thế nào các Ông sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm?

- Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con nghe như sau: "Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng phạm hạnh như vậy. Bạch Thế Tôn, do vậy, đối với các vị đồng phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy, chúng con nghĩ như sau: "Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này". Bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con, và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm. Bạch Thế Tôn, như vậy chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.

- Lành thay, lành thay, này Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không?

- Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

- Này các Anuruddha, như thế nào, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần?

- Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, ai đi làng khất thực về trước, thì người ấy sắp đặt các chỗ ngồi, soạn sẵn nước uống, nước rửa chân, soạn sẵn một bát để bỏ đồ dư. Ai đi làng khất thực về sau, thì người ấy, còn đồ ăn thừa nếu muốn thì ăn, nếu không muốn thì bỏ vào chỗ không có cỏ xanh hay đổ vào nước không có loài côn trùng và người ấy xếp dọn lại các chỗ ngồi, cất đi nước uống, nước rửa chân, cất đi cái bát để bỏ đồ dư và quét sạch nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước rửa chân, hay ghè nước trong nhà cầu hết nước, trống không thì người ấy sẽ lo liệu (nước). Nếu ai làm không nổi với sức bàn tay của mình, thì người ấy dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai: "Chúng ta hãy lo liệu (nước)". Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không vì vây mà gây ra tiếng động. Và đến ngày thứ năm, bạch Thế Tôn, suốt cả đêm, chúng con ngồi đàm luận về đạo pháp. Như vậy, bạch Thế Tôn chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

(Trung Bộ Kinh, 31. Tiểu kinh Rừng Sừng Bò)

Hạnh cung kính

Qua bài kinh, chúng ta thấy hình ảnh các Tôn giả ở một khu vườn cây, trong khu rừng ta-la, có ba vị tĩnh tu. Đây là mô phàm mẫu vật, sinh hoạt thường nhật của Tỳ kheo. Chúng ta nên học từng chút để chiêm nghiệm. Buổi chiều Đức Thế Tôn ngồi thiền, các vị Thánh chúng đều như vậy. Ngài A-nan, ngài A-na-luật-đà, ngài Xá-lợi-phất, ngài Ca-diếp, ngài Mục-kiền-liên, tất cả các Tôn giả đều ngồi thiền buổi chiều. Mình cố gắng giống các Ngài. Đức Thế Tôn ngồi thiền xong, từ thiền định đứng dậy, đi đến chỗ các vị này. Người giữ vườn không cho Ngài vào, bảo đừng tới làm phiền. Chỗ này chúng ta học được nhiều điều lắm. Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác như Đức Thế Tôn, người thấp kém thường không biết, không có trí huệ để nhìn ra đó là ai.

Nhiều khi mình đến chùa, hòa thượng thì dễ nhưng thị giả thì khó hơn. Cái này mình phải chiêm nghiệm. Hòa thượng chủ tịch bây giờ là Hòa thượng Thượng Thiện Hạ Nhơn. Hồi xưa, lúc Ngài về, Ngài chưa làm chủ tịch, vẫn còn chức tương đối lớn. Ngài đi đến những đạo tràng, đến những chùa để chứng minh những buổi lễ. Ngài lẻn đi vào chứ không cần chuông trống bát nhã, bê tích, khai lễ. Có lần Ngài từ Sài Gòn về miền Tây, chùa đó sáng sớm làm lễ, Ngài đến chùa là nửa khuya, khoảng 1-2h, Ngài không dám gõ cửa chùa. Sáng dậy, mấy thầy, mấy chú mở cửa ra thấy có thầy nằm quèo trên băng đá ngủ. Tưởng đâu ai mấy thầy khều dậy, nhìn thấy Hòa thượng mới hết hồn. Có nhiều thầy lớn, Hòa thượng mặc áo nhật bình của chú tiểu, lên tới Thượng tọa vẫn mặc áo đó. Một lần Minh Thành có về thăm Hòa thượng chùa Phước Đức, Hòa thượng xưng “con” với Minh Thành làm Minh Thành giật mình. Cho nên, chúng ta phải nhìn thấy được nhiều điều:

Thứ nhất, những bậc đức độ, từ bỏ danh lợi, không phô trương, không khoe khoang, không thể hiện mình. Đó là đức hạnh.

Thứ hai, người nhỏ hay muốn làm lớn, người thấp thì muốn làm cao.

Người cao thì họ oằn xuống giống như bông lúa chín oằn xuống. Khi mới vừa có bông thì nó dựng thẳng lên, khi chín rồi thì oằn xuống. Cho nên, điểm đầu tiên là phải tập Hạnh Cung Kính. Chưa vào cửa chùa là đã học được bài học này rồi. Mình phải cung kính đối với tất cả, phải biết nhìn người, kính trên nhường dưới. Chỉ một hành vi rất nhỏ đó đem lại bất lợi rất lớn cho người giữ vườn. Vô tỉ kiếp mới gặp được bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đâu phải chuyện thường. Chính vì sự không cẩn thận, không quán sát, không cung kính, không tôn trọng, nói chuyện với Đức Thế Tôn như vậy, rằng: “Đừng vào đây, làm phiền người ta tu”. Một chuyện nhỏ xíu như vậy nhưng khi chiêm nghiệm mình sẽ học được nhiều, chứ không phải như đọc kinh là chỉ đọc phớt qua. Vì hành động nhỏ đó mà người này mất đi lợi ích vĩ đại. Ví dụ, người này mà hỏi trước khi từ chối, đuổi đi, không cho vào rằng: “Dạ thưa, Ngài là ai?” thì Đức Thế Tôn sẽ nói. Khi ấy người đó chỉ cần sụp xuống lạy là phước đã sanh lên bao nhiêu tầng trời, thậm chí là đi vào Thánh quả. Cho nên tâm cung kính vô cùng tuyệt diệu, là suối nguồn của tất cả công đức.

Tâm bất kính, khinh thường, không coi ai ra gì là hiểm họa, đại họa, tai họa. Tâm xem thường, khinh thường, khinh thị, xem nhẹ tất cả mọi người, không xem ai ra gì sẽ giết mình chết trong vô lượng, vô biên kiếp. Chỉ cần người này hỏi: “Dạ thưa cho con hỏi Ngài là ai? Ngài cần gì mà vào đây?”.

Mấy chú bảo vệ, mấy chú giữ cửa cũng cần để ý, gặp ai đến thì nên thưa hỏi: “Ngài là ai, Ngài cần gì, con xin thưa”. Nhiều khi có người tới mà mình trả lời: “Thầy con bận nhập thất rồi” hay “Thầy con đi công việc rồi”. Thất bại không? Điều này rất dễ xảy ra. Nhiều khi người đó chính là Hòa thượng pháp chủ, Sư ông nữa. Tâm khiêm hạ, cung kính, cẩn trọng hay lắm. Nhiều khi mấy thầy, mấy sư cô hỏi chuyện nhưng mình không muốn trả lời, nói “bận tu rồi”, tỏ ra lạnh lùng, tỏ ra mình tu. Chưa chắc làm vậy là đúng, coi chừng là sai lầm, âm thầm trong đó là một bản ngã. Khi được hỏi, không chỉ là mấy thầy, mấy cô, mà bạn đạo ngang hàng hay thậm chí người nhỏ hơn, mình cũng phải chia sẻ một cách ân cần. Chứ không phải mình tỏ ra mình tu, mình đang trang nghiêm. Lúc bình thường mình dụng công, còn khi có người hỏi thăm hay muốn chia sẻ với mình, mình phải tỏ ra sự cung kính, mở lòng, lắng nghe, học hỏi.

Hạnh thiểu dục tri túc

Khi ngài A-na-luật-đà nghe Đức Thế Tôn như vậy, Ngài mới ngăn người giữ vườn lại. Ngài mời Đức Thế Tôn vào và cho các vị kia hay. Một người sửa soạn chỗ ngồi, người sửa soạn nước rửa chân. Chúng ta thấy là Đức Thế Tôn đi chân không. Khi đến để ngồi thì phải rửa chân sạch rồi mới lên ngồi. Bây giờ nhiều khi có dép mà còn phải chọn lựa nữa. Khi người ta cúng dường người ta cho thì không mang, phải mua, lựa đôi nào vừa ý mới mua, đôi nào đẹp. Nhiêu đó thôi thấy nhục không? Thấy xấu hổ không? Cái này không biết có không? Người ta cho thì không mang, phải đi lựa đôi vừa ý. Đó là dục, là ái, là tham. Đôi mà người ta cho: một là để đó, hai là đem đi cho người khác. Mà đem đi cho người khác không phải vì lòng từ mà vì đôi này không mang nên cho. Cũng là bố thí, cúng dường như phước khác nhau xa lắm. Cho nên khi tu, mình thấy ra được những cái nhỏ nhiệm như vậy. Ở đây, chúng ta mang hết mấy đôi dép của mình mòn đi rồi mai mốt đồng loạt mang hết dép tổ ong màu nâu đơn giản, đơn sơ, khỏi sợ mất dép.

Có nhiều chùa để “cẩn thận mất dép” nhưng để thêm chữ “hàng hiệu”. Mấy người mang đôi dép quý như vậy đi vào lạy Phật, tụng kinh cũng không yên. Lâu lâu quay ra nhìn xem không biết đôi dép, đôi giày còn không, tâm luôn bất an. Từ những cái nhỏ đó, mình phải để ý rồi tu. Nếu mình mang đôi dép mũ, dép tổ ong thì cũng không ai lấy, tâm mình an để vào ngồi thiền, đọc kinh, nghe pháp. Cho nên hãy tập dùng những gì mà không có giá trị. Đó là “Thiểu dục tri túc – An bần lạc đạo”. Đừng xài đồ có giá trị, đồ quý. Xài đồ không có giá trị, rẻ mạt, không ai để ý, mình khỏi lo lắng gì hết. Đừng đắp y lụa, lụa Ấn, lụa Mỹ gì, hãy đắp vải kate bình thường. Bởi vì đắp y tốt rồi có lo không, có sợ mất không? Càng đơn giản, càng không có giá trị thì không ai thèm dòm tới, không cần cất, không cần giấu, không cần khóa, không cần gài cửa, không có gì hết. Nhìn thấy Đức Thế Tôn đi chân không, thì hãy nhìn lại đôi dép của mình.

Thân khẩu ý từ hòa với các đồng phạm hạnh

- Này các Anuruddha, các Ông có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực có khỏi mệt nhọc không?

- Bạch Thế Tôn, chúng con được an lành; bạch Thế Tôn, chúng con sống yên vui; bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.

- Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?”

Mấy câu này thường là tiêu chí, mình phải ghi lại để treo bảng lên: “Sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm”. Đây là thanh quy, nội quy, là phương châm, là kim chỉ nam phát xuất từ lời của Đức Phật. Đó là chuẩn để mình tu học. Các vị này thưa có, Đức Phật hỏi có như thế nào, các vị này thưa: “Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con nghe như sau: "Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng phạm hạnh như vậy"”. Câu này nghe rồi, mình cũng phải tác ý như vậy mỗi khi lên Thiền đường:

Thật là lợi ích quá, lợi ích thay, thật là hạnh phúc thay, vui sướng thay, thật là tuyệt vời thay, vi diệu thay cho ta! Ta được sống với các vị hiền thiện như vậy, tu tập tinh tấn như vậy. Ngồi một thời 4-5 tiếng đau nhức, thoái hóa cột sống, bệnh nặng, già 80 tuổi như vậy, người ốm yếu, bệnh hoạn mà tu 4-5 tiếng mưa gió, bão bùng, lạnh lẽo như vậy. Lợi ích thay cho ta, hạnh phúc thay cho ta, vui sướng thay cho ta, phúc lạc thay cho ta, hoan hỉ thay cho ta khi ngồi chung với nhau nhờ buổi thiền sáng nay! Cái lạnh này của chúng ta chẳng là gì hết so với cảnh cơ hàn những bà cụ, ông cụ già, những đứa trẻ đi lượm ve chai, phế liệu thâu đêm. Cái lạnh này của ta chẳng là gì hết so với những người lính canh biên ải, biên cương, biên phòng. Cái lạnh này của chúng ta chẳng là gì hết so với những người bị lũ lụt cuốn trôi mất nhà, mất cha, mất mẹ, mất con, mất vợ, mất chồng. Cái lạnh này chẳng là gì hết so với những nước phương Tây âm 30-50℃ mà người ta còn phải đi kiếm sống, đi làm thuê. Cái lạnh này chẳng là gì hết so với cái lạnh hàn băng trong địa ngục. Phúc lạc cho ta, vinh hạnh cho ta, phúc lành thay cho ta! Giờ này những bạn bè của ta có chồng, mấy đứa con, phải vật vã, tất bật, khổ sở, nhất là trong mùa dịch thất nghiệp, không có cơm ăn, đói thiếu. Phúc lạc thay cho ta, giờ này y khăn 3,4 lớp quấn cổ, có thầy, có đại chúng tu học Thánh pháp. Thật là phúc báo! Thật là phúc lạc! Thật là phúc lành!

Mỗi khi thấy mình thoái thất, chán nản, bệnh yếu thì hãy tác ý thật nhiều. Đó là con mới gợi ý một phương diện tác ý, mình phải tác ý nhiều phương diện khác. “Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng phạm hạnh tu hành thanh tịnh, trong sạch như vậy. Bạch Thế Tôn, do vậy, đối với các vị đồng phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng”. Những hành động xuất phát từ tình thương. Làm gì cũng nghĩ đến tình thương các huynh đệ, tỷ muội cùng tu với mình. Ví dụ, thấy vị đó có bệnh, lâu lâu mình đến hỏi thăm, thấy thuốc gì liên hệ tới bệnh thì mình gửi đến. Thấy người đó bệnh mình quan tâm, hỏi han. Đó là Từ Khẩu Nghiệp – lời nói xuất phát từ tình thương. Suy nghĩ rằng: “Thật là khó khăn cho sư tỉ. Mình khỏe mà còn thấy mệt như vậy, các sư tỉ, các vị lớn tuổi 70-80 tuổi thì khó khăn lắm. Họ đi thì mình đỡ đần, mình vịn, đưa”. Đó là Từ Thân Nghiệp, Từ Khẩu Nghiệp, Từ Ý Nghiệp dầu cho trước mặt hay sau lưng. Thấy sư tỉ của mình còn sân, còn bản ngã thì mình thương, thông cảm, đó là tập khí, thói quen. Hay khi thấy sư muội của mình, những người cư sĩ mới vào, mình cũng thương, nói lời từ ái, có những hành động quan tâm bằng tâm từ bi. Huynh đệ của mình cũng vậy, thấy người đó tập khí quá nhiều mình thương, họ tu rất khó khăn, thương cho họ, mong họ vượt qua. Mình đã học Chánh Tri Kiến, đã thấy được nội tâm cấu nhiễm của mình. Nội tâm cấu bẩn, rác bẩn, xú uế, hôi hám, ngũ uẩn của người kia cũng vậy. Ngũ uẩn nào cũng vậy, nên phải thương mình, thương người. Thường thường tác ý tâm từ dầu trước mặt hay là sau lưng. Không phải chỉ thương trước mặt rồi sau lưng là nói xấu. Không phải chỉ làm hình, làm thức, làm dáng, cung kính trước mặt rồi phía sau là một bản ngã, là tâm sanh, cảm thọ chất chứa.

Tu tập cái này hay lắm. Nếu Minh Thành không tu tập tâm từ thì các thầy, các cô đâu có về đây, ai cũng chạy hết là con ở một mình rồi. Có những chùa có thầy mình quý kính, mình rất thương nhưng không ai ở cùng được hết. Ở một mình thì cứ than nhưng giới thiệu người đàng hoàng đến ở thì người ta chạy hết trơn, không ai ở được. Ở một mình thôi, không ai ở nổi. Những người này thường hay phiền trách rằng số tôi số khổ, cô đơn, cô độc sống một mình. Tại vì người này không thành tựu trí huệ nên không biết, là do không tu tập tâm từ chứ không phải do số gì hết, nghiệp là do mình chuyển. Cố gắng thực tập tâm từ cởi mở, hoan hỷ. Còn lúc nào cũng bản ngã, quyền hành thì ai ở nổi? Phải có những suy nghĩ từ tâm, phải có những lời nói từ ái, phải có những hành động từ hòa, dầu cho trước mặt hay là sau lưng. Sống được như vậy là thần tiên tại thế. Không bao giờ có chuyện cãi lộn, cự lộn, gây lộn, tất cả là nhờ tâm từ, nhờ lời từ ái. Điều này hay lắm, cần phải thực tập, cần phải học nhiều, nghe nhiều, nghiền ngẫm nhiều và tác ý nhiều. Đây là kim chỉ nam trong sinh hoạt của người tu.

Ngày xưa, ở Phật học viện Huệ Nghiêm, lúc đó Hòa thượng Thượng Thanh Hạ Từ của chúng ta vẫn còn, Ngài chăm lo, quản lý trong đó. Một lần, có hai thầy cự cãi rồi rượt nhau, sau đó lên năn nỉ khóc lóc, thầy Bổn sư cũng năn nỉ xin cho và cả ban quản viện trong đó nữa. Hòa thượng nói nếu để cho hai vị đó ở đây thì Hòa thượng sẽ từ chức, Thầy quyết định đuổi hai vị đó ra khỏi Phật học viện. Con cứ nhớ câu chuyện đó hoài. Đúng như vậy, hai vị đó như vậy thì không xứng đáng ở trong Phật học viện. Thật sự, từ ngày xuất gia tới giờ, không biết có nhớ chính xác không nhưng Minh Thành nhớ con không có cãi lộn. Khi tu tâm từ chúng ta sẽ thấy nhiều điều kì diệu, màu nhiệm. Nếu nghe những người nào mà có sự tị hiềm, trục trặc, bất hòa Minh Thành buồn lắm, vì điều đó là điều không nên. Phải tác ý từ bỏ, những điều bất hòa đó là xấu xí, suy nghĩ mọi chuyện bằng tình thương, nói bằng lời thương, hành động bằng tâm từ với nhau.

Làm sao có thể làm được như vậy?

“Bạch Thế Tôn, do vậy, chúng con nghĩ như sau: "Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này"”.

Câu này không phải dễ hiểu. Làm sao để mình từ bỏ tâm của mình để sống thuận theo tâm của các Tôn giả, của các vị đồng phạm hạnh? Câu này phải hiểu như thế nào? Tâm của ta là tâm gì? Tâm của các Tôn giả này là tâm gì? Tâm của mình là ý kiến cá nhân, là những tập khí, của những thành kiến, định kiến, thân kiến, kiến chấp, những nghiệp thức, ttức thói quen nhận thức của mình nhận thức theo chiều của nghiệp, nhiều khi không đúng. Như giọt nước chảy ở máng xối, nước ở đâu cứ dồn về chảy ngay chỗ đó. Hay những con đường núi đồi của mình có những lối mòn xói mòn có nước chảy. Hễ có mưa là có nước chảy ngay chỗ đó. Tâm thức của mình cũng giống vậy, đó là đường mòn của suy nghĩ, nhận thức, quen lối suy nghĩ đó rồi nên cứ suy nghĩ như vậy, không đi ra khỏi lối nghĩ đó. Thọ có những thói quen, cảm giác có những thói quen, tưởng có những thói quen, mình tưởng ra những hình bóng theo chiều hướng quen thuộc. Hành cũng có suy nghĩ, thói quen, thường hay suy nghĩ theo lề thói, khuôn sáo, mô thức đó. Nhận thức cũng vậy. Đó gọi là nghiệp. Quen cảm giác đó, quen ăn món gì đó, quen ngủ giờ đó, quen những cái đã tập quen. Cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, thân thể này cũng vậy, cả ngũ uẩn cũng vậy. Cho nên, tâm của mình đại đa số là cá nhân, là nghiệp, là thói quen, là vô minh, là chấp thủ, là bản ngã, là so đo, là tính toán, là đố kị, là hơn thua. Chúng ta phải bỏ tâm đó.

“Mình sống với tâm của Tôn giả” là tâm gì? “Chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm”. Hiểu câu này như thế nào? Tâm của các Tôn giả tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm. Làm sao có thể đi đến cảnh giới đó được? Đồng một tâm là tâm gì? Là một tâm hướng thượng, một tâm nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã, một tâm tẩy sạch hết các cấu uế, lậu hoặc. Đó gọi là tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm. Ai cũng hướng đến chỗ đó cho nên giống nhau. Ai cũng hướng đến chỗ nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã. Tẩy, rửa, lau, chùi, quét dọn, vệ sinh tâm lậu hoặc. Ai cũng hướng về đó hết nên tâm giống nhau. Cho nên, từ bậc Hướng Dự Lưu trở lên là tâm bắt đầu giống nhau. Nhập Lưu là khỏi nói rồi, giống nhau hết. Khác thân nhưng giống như đồng một tâm là tâm hướng thượng, tâm đi đến sự tẩy sạch dục, tham, ái, sân hận, si mê, bản ngã. Đó là mình bỏ tâm riêng để đi đến tâm chung – tâm của bậc Thánh, tâm của sự hướng thượng. Ai cũng hướng về như vậy thì đại chúng an ổn, tuyệt vời, tuyệt diệu, vi diệu, thần diệu, thù diệu, thắng diệu, tối diệu, thượng diệu, thánh diệu. Mình hướng tới tâm đó, ai cũng nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm, từ ái. Ai cũng thấy tội nghiệp, thương mình thương người, thương cho đống tham, sân, si khủng khiếp, khủng hoảng, khủng bố, kinh hãi này.

Một khi đã nhìn thấy nội tâm của mình thì sẽ thông cảm cho người ta dễ lắm. Không thấy nội tâm của mình thì không thể thông cảm được cho người ta. Thấy được nội tâm mình rồi mình dễ thông cảm cho người, không còn cống cao, ngã mạn, kiêu căng, hống hách, hách dịch, ta đây nữa. Những người như vậy là tại người ta không thấy, khi thấy rồi sẽ không như vậy, sẽ giảm thiểu dần dần. “Bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con, và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm”. Câu này phải treo lên trong Thiền đường, Ni đường, Tăng đường. Đây là đề tài cho mọi người thực tập theo. Khi nào có sự phiền não, bất hòa, trục trặc với ai đó thì nguyên thời ngồi thiền, nguyên ngày đọc cái này hoài, tác ý như vậy. Dùng làm đề tài thiền quán, lên ngồi thiền từ đầu giờ đến cuối giờ cứ đọc rồi tác ý: “Nhà ngươi phải bỏ tâm của nhà ngươi, sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy”. Thậm chí, khi người khác khởi tâm phiền não, sân si nhưng mình lo xả bỏ, nhiếp phục những tâm cấu nhiêm của bản thân thì mình vẫn thương họ. Họ sân si với mình nhưng nếu mình có an trú pháp, thực hành pháp thì mình không sân lại, vẫn từ tâm.

Tuyệt vời lắm, thực tập đi rồi sẽ thấy kỉ lục, kì tích, phép màu, vi diệu chưa từng thấy! Thần diệu chưa từng thấy! Thù diệu, thắng diệu chưa từng thấy!

./.