Trình Pháp Nikaya - Suy Nghiệm - Thực Nghiệm - Trải Nghiệm - Chứng Nghiệm
Trình Pháp Nikāya
Suy Nghiệm – Thực Nghiệm
Trải Nghiệm & Chứng Nghiệm
Thích Minh Thành
Ngày 11 tháng 05 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Phật tử 1 trình pháp PAGEREF _Toc140657302 \h 1
II. Phật tử Pháp Thí PAGEREF _Toc140657303 \h 4
III. Thầy Pháp Lực PAGEREF _Toc140657304 \h 8
IV. Phật tử 3 PAGEREF _Toc140657305 \h 8
V. Phật tử 4 PAGEREF _Toc140657306 \h 9
VI. Phật tử Hiền Trang PAGEREF _Toc140657307 \h 10
VII. Phật tử Hiền Thương PAGEREF _Toc140657308 \h 12
VIII. Phật tử 5 PAGEREF _Toc140657309 \h 13
I. Phật tử 1 trình pháp
Kính bạch chư tôn hiền đức, chiều nay con mời trích pháp về sự tu học, sự quán chiếu từ hôm qua tới nay. Bài học chúng ta đang học “Phá chấp sắc thủ uẩn”, “Phá chấp thọ thủ uẩn”, chúng ta đã thực tập, quán chiếu như thế nào? Không có xung phong thì con xin kêu ạ, các vị mới, sư cô mang mắt kiếng mới hết bệnh đó.
Phật tử 1:
“Chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng. Kính bạch sư phụ, vào thời thiền quán ngày hôm qua con có 1 cảm thọ rất là mạnh. Bài thiền quán sư phụ giảng “sao có khổ?” Sư phụ đọc bài kinh: Sự xuất hiện của con mắt là sự xuất hiện của tham ái, phiền não, khổ đau, vô minh, chấp thủ, bản ngã. Sự xuất hiện của già nua, bệnh tật, chết chóc, tử vong. Con đi theo đó liên hệ bản thân mình, con thấy đúng là có con mắt mới có cận thị, loạn thị, viễn thị, có mù, có viêm, có đau mắt đỏ. Vì có có mắt mình mới có lo lắng, mới phải đeo mắt kiếng, nhỏ mắt. Sáng hôm qua con đã nhờ thầy Pháp Nghĩa copy bài phân loại Nikāya, vào trong máy đọc sách, kinh đồ cho con. Tại vì mắt con nó kém, nên con đọc trên điện thoại thì nó nhức mắt, con muốn cho con mắt được thoải mái, dễ chịu.
Khi con nghe sư phụ nói dục tham đối với con mắt, chính là phiền não của tâm, là 1 khối buồn lo luôn luôn đi theo mình. Con thấy bản thân con bảo vệ, bảo dưỡng con mắt này quá chừng, nhưng mà cuối cùng con mắt này cũng đi đến giai đoạn mờ đục, hủy hoại, tàn hoại. Và đối với con mắt nó như vậy, đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý, toàn là những mối buồn lo. Con tác ý tới 1 câu chuyện mà con được đọc, được nghe ở đâu đó trong kinh mà con cũng không nhớ chính xác. Đại khái là có 1 ông Bà-la-môn bị mất đàn bò, ông đi ngang qua gặp Đức Phật và chúng Tỳ-kheo của Đức Phật. Ổng chạy tới hỏi Đức Phật là nãy giờ có thấy đàn bò của tôi đâu không? Đức Phật trr lời không thấy. Và Ông Bà-la-môn đó vò đầu, bứt tai, đấm ngực, than khóc, vừa đi vừa chạy nói là: “Gia sản của tôi chỉ có đàn bò, mất đàn bò rồi tôi sống làm sao đây?”
Sau khi ổng đi rồi Đức Phật mới hỏi Tỳ-kheo: “Vì sao người đó lại khổ sở như vậy?” Vị Tỳ-kheo mới trả lời do ổng bị mất bò. Đức Phật mới nói 1 câu:
“Chúng ta đâu có con bò nào để mất”. Con rất là thấm thía câu nói này, chính vì có chúng ta mới sợ mất. Giờ ngồi thiền sau đó con nhận diện ngũ uẩn, con tác ý lời của sư phụ. Con tập phân chia, tách mình ra, đặt xuống từng nhóm của 5 uẩn. Đây là đồng sắc uẩn, đây là nhóm các cảm thọ, đây là 1 nhóm cùng những hình bóng, đây là 1 nhóm những suy nghĩ, kia là 1 sự rõ biết. Khi con tập tách mình ra như vậy, con xem những tổ hợp, năm uẩn đó là những người dưng, người lạ, nó là nó, không phải là mình.
Con cảm giác không có cái bản ngã, cái ngã này trống rỗng, trồng không. Trong phút giây chỉ là ngắn ngủi đó, con cảm nhận được 1 niềm hạnh phúc, sự bình an, kinh an vô cùng tận. Cảm nhận có 1 niềm hỷ lạc dâng trào, cảm giác nó vi diệu mà trước giờ con chưa bao giờ có. Con thấy con mới thực tập được đôi chút, mà con đã cảm nhận được niềm hạnh phúc. Và con tự hỏi là những vị đã chứng đạt Tư-đà-đoàn, Tư-đà-hàm, A-la-hàm, A-la-hán, thì trạng thái của các vị phải đến cỡ nào nữa. Dạ con xin hết ạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phải quán sát, phải làm bài tập, phải thực nghiệm, phải trải nghiệm, chứng nghiệm, suy nghiệm, chiêm nghiệm. Có nhiều người nghe pháp, nghe 1 cách hời hợt, nghe cho có nghe. Có nhiều người nghe pháp, nghe để hiểu, để biết thêm kiến thức Phật học. Có nhiều khi mình nghe pháp, nghe trong trạng thái cái tâm si, tâm không có sáng, không có rõ, không có tỏ, không có tinh anh. Nghe trong trạng thái 1 cái tâm loạn động, dao động. Nghe trong trạng thái của 1 cái tâm phân vân, nghi ngờ, phán xét. Hoặc là nghe trong trạng thái 1 cái tâm khó chịu, năm triền cái xuất hiện trong khi mình nghe pháp.
Mình không có nhận diện cho nên mình không có thấy biết được, năm triền cái chính là thức ăn của vô minh. Dục tham sanh khởi trong tâm mà mình không phát giác, phát hiện, nhiếp phục, chế ngự. Thì nó làm cho lớn vô minh, sân hận sanh khởi trong cảm giác của mình. Nó xâm chiếm, áp đảo mà mình vẫn dung túng, nuôi dưỡng, vẫn cho nó có chỗ đứng không tâm mình, tức là mình đang nuôi lớn vô minh. Dao động, loạn động, thô động, nó sanh khởi, xuất hiện, đàn vận hành. Mà mình không thấy, không biết, không nhiếp phục, chế ngự, không làm cho nó an tịnh, lắng dịu. Lúc đó là đồng thời mình đang cho vô minh nó ăn, tâm mình nó trạo hối, ray rứt, hối tiếc đối với những cái ác và bất thiện pháp.
Mình không có nhận thức được, không thấy biết được, như vậy là mỗi ngày mình đang cho vô minh nó ăn. Thậm chí là nghe pháp, mà mình không có nhìn ra được 5 triền cái, vô minh nó lấn mặt mà mình không có biết. Cho nên Thế Tôn nói thức ăn của vô minh là gì? Là năm triền cái. Khi mình nghe pháp, mình thấy rõ nếu nó có sanh khởi triền cái hôn trầm hay gì đó, thì mình tác ý, đánh đuổi nó, làm cho mình được chuyên tâm, được tinh cần, tinh anh, sáng suốt. Lúc đó là mình đang phá vô minh trong ngay cái lúc mà mình được nghe pháp, chứ không phải là lúc ngồi thiền mình mới phá vô minh, mà trong tất cả mọi lúc.
Thí dụ như ngày xưa con đi xe mà ngồi chung bậc đạo sư, không bao giờ Ngài ngủ trên xe hết, dù con biết là rất mệt. Con để ý thì con thấy, tức là Ngài không có cho vô minh nó ăn. Trừ khi nào cho tới lúc rất là mệt mỏi, không còn chịu được nữa thầy mới ngủ. Thành ra mức độ tĩnh giác và Chánh niệm càng nhiêu chừng nào, dài chừng nào, thì cái vô minh bị phá nhiều chừng đó. Trở lại vấn đề ở đây là sự chiêm nghiệm, suy nghiệm, thực nghiệm, trải nghiệm và chứng nghiệm là hết sức cần thiết. Vừa rồi sư cô trình pháp là sư cô nghe, rồi cô có thực tập, có quán chiếu, rồi cô mói tăng trưởng lên cái tư tuệ. Còn chỉ nghe không mà nghe 1 cách hời hợt nữa, cho nên chúng ta thấy có rất là nhiều người nghe hoài, nhưng mà trí tuệ không có tăng trưởng. Tại vì khi nghe không có để tâm, không có toàn tâm, không tập trung tất cả, chú ý lắng tai nghe pháp, đây là 1 trong 7 đặc tính của bậc dư lưu.
Bậc dư lưu khi nghe pháp là tập trung toàn tâm ý, lắng tai nghe pháp. Chúng ta nghe lại 7 trí của bậc dự lưu đi: Chuyên tâm, toàn tâm, chú tâm và tập trung tâm ý trong khi nghe pháp. Thì cái nghe như vậy nó phá vô minh, tăng trưởng Chánh kiến, làm lớn mạnh cái minh, để giải thoát. Cho nên nghe mà thực tập như vậy rất là tốt, khi đang nghe mà thực tập luôn ngay tại chỗ. Những buổi thiền quán là như vậy đó, nó kết hợp vừa văn huệ, tư huệ và tu huệ trong đó, tam tuệ tập hợp. Tức là khi mình nghe đó là Thánh trí tuệ của Đức Phật, thì mình chiêm nghiệm theo lời nói đó là cái sự tư duy, quán chiếu của mình. Trong tư duy, quán chiếu của mình mình nhìn thấy được nó đúng là như vậy. Và cái cảm thọ của mình chấp nhận cái cảm xúc, cảm động, cảm chánh, thì nó trở thành tam tuệ đồng thời (văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ).
Đó là công dụng mà người khéo léo hành trì, sẽ cảm nhận được điều đó. Pháp Thí hổm rày nằm bệnh, tư duy, thiền quán như thế nào. Đâu cả chục ngày nằm bệnh mà được cái quả gì?
II. Phật tử Pháp Thí
Phật tử Pháp Thí:
“Chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Con kính bạc trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Thưa sư phụ, khoảng thời gian mà con bị bệnh, con nằm, thì lúc đó là khoảng thời gian mà con nhìn lại tự thân của mình, con quán chiếu. Quả thật là như Đức Phật đã nói: “Sắc là vô thường”, con quán chiếu về sắc, con nhìn thấy thật sự là nó vô thường. Mới đó sức khỏe còn đó, tuổi trẻ còn đó, một sự vô thường nó đến bất chợt, nó không báo trước 1 điều gì hết. Đó cũng là 1 cái nghiệp quả dị thục nó đến với con, con cảm thấy mình chấp vào cái sắc này, mình sẽ thật là đau khổ. Con quán chiếu con thấy được, sắc này nó gặp cái chuyện gì đó, thì cái cảm thọ nó sẽ cuốn theo, nhập cuộc theo.
Lúc đầu cảm thọ con rất là khó chịu, lúc đó con nhức, con đau. Mà lúc đó con vô minh, con chưa tỉnh táo để con tách rời ra, con thấy là con nhập chung với nó, rất là khó chịu. Sau con bình tâm lại, con quán chiếu, con nhận diện ngũ uẩn, con nhận là: “Ờ đây là cái cảm thọ, mà cái cảm thọ này là vô thường, sanh rồi diệt, nó không có trường tồn. Cho nên nếu như mình chấp vào nó, sẽ không thể nào mình tách ra được, không thể nào mình quán chiếu được”. Cho nên trong khoảng thời gian con nằm bệnh, con nhận ra 1 cách sâu sắc: “Thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, trống rỗng, trống không, không nên chấp vào nó.”
Khi con được khỏe lại, con lên học cùng đại chúng, trong con khởi lên 1 cái tưởng, thấy cuộc đời này thật là ngao ngán, không có gì để mình chấp vào hết. Lúc đó con nghĩ là ráng làm công đức, tích phước, sau 1 khoảng thời gian nếu mà đủ duyên. Con sẽ xin sư phụ kiếm cho con cái xó nào đó, con chui vô trong đó để con cùng với 4 bộ kinh Nikāya để tu tập. Cho đến khi nào con nhìn thấy được Chánh pháp thật sự. Trong khoảng thời gian đó con ngồi thiền quán chiếu, thọ rất là hoan hỉ, hỷ lạc. Cái tưởng của con tương ra được hình bóng mà sau con đủ duyên, con được nhập thất, được tu tập ở trong thất. Và con có thể nhận diện được rõ ràng, học tập được Chánh pháp.
Lúc đó cái hành của con bắt đầu nhận diện lại, có nói: “Tưởng này là cái tưởng vô thường thôi, quá khứ đã qua, hiện tại ta đang sống, vị lai chưa tới. Nếu mà tưởng nhiều quá, chấp vào cái tưởng này, thì đến 1 ngày nào đó mà cái duyên của mình chướng ngại. Thì lúc đó mình sẽ đau khổ, quằn quại, không đúng như ý muốn của mình. Và lúc đó hành nói là: “Sắc, thọ, tưởng là vô thường, hãy sống với thực tại. Để tốt nhất là mỗi 1 ngày là học 1 bản kinh, và chiêm nghiệm trong bài kinh đó. Cho đến thời gian nào đó đủ duyên, tự động sẽ được như ý muốn. Đừng bao giờ tưởng ra rồi chấp chước vào nó, sẽ khổ đau”. Và con nhận rõ biết được thọ, tưởng, hành và con kính trình lên sư phụ, quý thầy, sư cô cùng đại chúng. Thời gian tu học của con còn yếu kém, con kính trên sư phụ hoan hỉ, từ bi, hỷ lạc cho con. Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
- Thầy: Trong thời gian chú bệnh, chú con nghe chuyên đề “Làm an tâm người bệnh” không?
- Dạ mô Phật, thật sự là con bệnh con chỉ đọc pháp. Thời gian sư phụ giảng pháp trực tuyến con không có xem được, tại vì điện thoại con gửi chú Tân đi để quay phim”.
- Thầy: Chú đọc cái gì?
Dạ các bài pháp mà con tâm đắc nhất là bài khổ pháp, con đọc tới đọc lui, và con chiêm nghiệm nó rất là hay”.
- Thầy: Chú nhớ không, chú đọc coi, cái trí chú nhớ được cái gì trong bài kinh đó.
“Thưa sư phụ trong bài kinh đó, Đức Phật có giảng cho các Tỳ-kheo về sắc, thọ, tưởng, thức tập khởi và đoạn diệt. Đức Phật cho nhiều ví dụ trong bài kinh đó, ví dụ là con nghe con rất là hoan hỉ là có 1 đoạn Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, sông Hằng này hướng về phía đông, nghiêng nghạch về phía đông. Thời có 1 đám dân đến cầm cuốc cầm xẻng và nói: “Hãy làm cho sông Hằng này nghiêng về phía tây, nghiêng ngạch về phía tây”. Dạ thưa sư phụ con không nhớ rõ.
-Thầy: Rồi tiếp theo sao?
“Dạ sau đó Đức Phật nói: “Sự kiện này không xảy ra, vì rằng sông Hằng này xuôi về hướng đông, nghiêng nghạch về hướng đông. Thì các người dân này không thể làm cho sông Hằng này xuôi về hướng tây, và nghiêng nghạch về hướng tây được”. Điều đó con mới cảm thấy rằng: “Khi mà mình nghe được Chánh pháp, mình có lòng tin tịnh tính bất động đối với Chánh pháp, với Đức Phật, và với chúng Tăng. Thì không có 1 cái gì, có thể làm cho lay động được sự tịnh tính bất động đó. Và lấy đó làm hành trang cho con, khi có 1 vấn đề nào xảy ra, thì con lại nhẩm lại lời Đức Phật ví dụ ra. Thì con giác rất là hoan hỉ, dạ mô Phật con kính trình lên sư phụ.”
-Thầy: Khổ pháp là cái gì chú biết không?
“Dạ con chưa biết hộ pháp là cái gì, xin sư phụ hoan hỉ chỉ dạy cho con.”
-Thầy: Chú hỏi sư huynh Pháp tịnh khổ pháp là gì.
-Pháp Tịnh: Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con cũng chưa biết khổ pháp là gì, xin sư phụ hoan hỉ chỉ dạy.
-Phật tử 2: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cùng các bậc hiền trí. Kính thưa sư phụ, bài kinh “Khổ pháp” này con cũng có chiêm nghiệm, Đức Phật cũng có nêu lên: “Này các Tỳ-kheo, thế nào là khổ pháp? Ở đây này các Tỳ-kheo, đây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Đây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Đây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành đoạn diệt. Đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là khổ pháp”. Dạ kính bạch trên sư phụ.”
Cho quán từ hôm qua tới nay, bây giờ hỏi khổ pháp không biết. Khổ pháp là cái thân này, chú bệnh, chú nghe bài “Khổ pháp”, mà chú không biết khổ pháp là cái gì. Khổ pháp chính là cái thân bệnh đó, cho nên từ nay trở về sau phải nổ lực nhiều hơn nữa. Thiếu thực hành, nó làm mình học mà như chưa học, thậm chí là cái pháp. Mình chỉ mới học ở trên chữ nghĩa, trên kinh sách, chứ mình chưa thấy cái pháp trong thân của mình. Khổ pháp chính là cái thân này, cái thân mà đang bệnh đó. Cái thân mà chống gậy khi cụp xương sống, cái thân nằm 1 đống, nó là khổ pháp. Những cảm giác nó thúc giục, thèm muốn, khao khát, tìm kiếm, đó là khổ pháp. Những hình bóng ám ảnh trong tâm mình, sanh khởi liên tục, đó là khổ pháp. Những lời nói lầm thầm, suy tư nghĩ ngợi, hơn thua, ta đây, đó là khổ pháp.
Thầy Pháp Lực học tới nay mà không biết khổ pháp là gì là làm sao? Trong lúc trả lời có Chánh niệm không? Có trả lời trong sự thúc giục không?
III. Thầy Pháp Lực
Thầy Pháp Lực:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên sư phụ, khi con trả lời thì ý hành khởi lên nói: “Mình chưa đọc bài kinh này, mình phải nói theo lời Đức Phật dạy, nếu mình chưa đọc qua mà trả lời theo ý của mình là bản ngã. Trả lời không biết để được sư phụ chỉ dạy, chứ chưa đọc bài kinh, chưa hiểu mà trả lời thì mình không đúng pháp, mà cái đó là bản ngã.”
Đưa cái màn hình xuống để con xem các vị xuất gia gieo duyên còn lại, con mời trình pháp. Mời người đầu tiên.
IV. Phật tử 3
Phật tử 3:
“Đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Kính bạch trên sư phụ, quý Tăng, Sư ni, sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin trình pháp, học hỏi của con của kém cỏi, sơ xót, kính mong sư phụ, quý thầy, Sư ni, sư cô và toàn đại chúng chỉ dạy cho con thêm. Bài giảng của sư phụ “Từ đâu có khổ?” Con đang có 1 cảm thọ an tịnh, lắng dịu. Nghe bài pháp của sư phụ ngày hôm quá, nền mống của bài duyên sanh pháp. Suy nghĩ của con về bài pháp này là rất có lợi ích cho sự tu tập, từ đâu có khổ? Là từ vô minh, từ chấp thủ thân ngũ uẩn.
-Thầy: Cô trình bày cho con về ngũ uẩn của cô vận hành, từ đầu khóa tu tới bây giờ,
Dạ con luôn cảm thọ an tịnh lắng dịu, cảm thọ quay vào thân tâm này để biết rõ đang vận hành như thế nào. Mỗi ngày con có sự tác ý, các căn quay vào mà không có phóng dật ra ngoài, con thấy được cái tâm an tịnh, lắng dịu. Và khi thấy được những sanh khởi như thế nào, nếu ác thì con dùng như lý tác ý. Trong công việc hằng ngày, sự tu tập không ra ngoài không việc. Con được các cô dạy cho con làm những công việc, thì cái tâm hoan hỉ, không có sự chống đối, làm rất nhẹ nhàng, tâm được an tịnh, lắng dịu.
-Thầy: Không chống đối 100% luôn không cô?
Dạ con nghĩ là mình làm, ví dụ như nấu cơm thì vì đại chúng mình phụ giúp, quét dọn thì làm với 1 cái tâm hoan hỉ, không có sự chống đối gì hết. Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
V. Phật tử 4
Phật tử 4:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Bạch trên sư phụ, các thầy, sư cô, Ni sư và toàn thể các bậc hiền trí nơi đây. Qua thời gian tu học trong đạo tràng Nikāya, con rất là biết ơn trên sư phụ, quý thầy, quý cô, Ni su và toàn thể đại chúng. Đã tạo điều kiện cho con có được môi trường tu tập rất tốt, ngũ uẩn con đang ngồi nơi đây. Qua bài pháp vừa qua, con nghe kỹ lời giảng của sư phụ, con rất là hân hoan và được cởi mở trong lòng. Cảm thọ của con rất là hoan hỉ, mình biết khổ ở đâu, do có con mắt, do duyên xúc, đưa đến cho mình những cái khổ. Do nhãn xúc sanh, nhĩ xúc sanh, tỷ xúc sanh, thiệt xúc sanh, thân xúc sanh và ý xúc sanh. Sự vận hành của ngũ uần làm cho toàn bộ ý nghĩ của 1 con người, nếu mình chìm đắm vào đó, những tham, sân, si đó sẽ chấp vào, không thoát ra được.
Cho nên nếu muốn thoát ra được, mình phải những cái tham, sân, si có đi. Trong đó sư phụ có nói là cảm giác lạc thọ là khổ, khổ thọ là 1 mũi tên đâm vào tim, không khổ không lạc là vô. Cho nên làm sao cố gắng nhận ra, để có 1 đường đi cho mình. Suy nghĩ của con là như vậy, con mong sư phụ, quý thầy, Ni sư, sư cô và đại chúng chỉ giáo cho con, để con cón bước đường tu tập tiến bộ hơn. Con xin cám ơn quý thầy, Ni sư, sư cô và toàn thể đại chúng.
Sư phụ: Từ khi chú lên núi tới giờ chú tu học được cái gì, chú thấy được lợi ích gì?
Dạ trong con rất là hoan hỉ, cảm thọ của con nhiều cảm xúc dâng trào. Niềm cảm ơn sư phụ đã cho con biết được đường đi cho mình, để sau này thoát khổ.
Sư phụ: Chú nhắc lại các giới thọ xem mình nhớ được mấy giới. Chú nhắc năm giới trước.
Dạ thưa sư phụ không được sát sanh; không tà dâm; không được trộm cắp; không được nói dối, không được nói 2 lời, nói lời hai lưỡi, nói lười không giữ; không được uống rượu, chất kích thích.
Sư phụ: Chú còn nhớ giới nào nữa không? Quý thầy, quý cô phải cho đại chúng tụng giới thường xuyên, nhất là những vị về tu xuất gia gieo duyên. Tụng oai nghi, 10 giới của Sa di và thanh quy. Vào buổi sáng mình ngồi thiền, có bữa mình đổi thành tụng giới, cách 1, 2 ngày là phải tụng giới. Cám on chú, bữa nay chú biết 6 xúc nữa rất tốt, cố gắng học bài nha.”
Bây giờ cho con nhìn xuống dưới tiếp tục, không có người xung phong mình phải nhìn mặt để kêu. Trang Trần hổm rày tu sao?
VI. Phật tử Hiền Trang
Phật tử Hiền Trang:
“- Dạ con xin phép đi lấy tập để trình bày ạ
Sư phụ: Thôi khỏi lấy tập, lấy tâm đi, tập để bữa khác lấy.
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Con cung kính, kính bạch trên sư phụ tôn kính, chu tôn hiền đức, chư Tăng, chư Ni, sư cô cùng các bậc hiền trí. Đệ tử con pháp danh Hiền Trang, con được nói lên cảm thọ hiện tại trong lúc này. Trong con có 1 sự hỷ lạc vì con thấy pháp, thọ trong con thay đổi liên tục. Lúc thì vui khi nhận được pháp, của các bậc hiền trí trình pháp cho sư phụ, có sự tinh tấn trong tu học nhận được pháp. Ví dụ như sư cô nhỏ tuổi nhất, đã nói lên sự khổ về con mắt, sự nguy hại về con mắt. Có con mắt là khổ, bị đau, bị bệnh, không đọc được bài qua điện thoại, đó là 1 sự khổ về khi có con mắt.
Con rất vui khi được cùng nhau tu học và nhận được pháp trên tự thân mình. Khi buồn khi nghe các chư hiền còn chưa nói về pháp chỉnh chu, để cho sư phụ lo. Thì con có ý hành khởi lên nói là: “Có thương sư phụ thì cố gắng tu tập để đền đáp công ơn sư phụ thôi, chứ không có cái gì mà có thể đền đáp công ơn này. Đó là ý hành của con vận hành trong tâm như vậy, và thức con rõ biết là bất kể những sự tu tập trong 10 ngày vừa qua, con đã viết nhật ký từng ngày trong tập. Con sợ cái điện thoại hết pin con chưa sạc, nên con không cầm lên được để trình pháp trong bài vì con đã viết.
Con xin sám hối vì con không có đem tập lên buổi trình pháp, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, xin sư phụ hoan hỉ.
- Sư phụ: Chúng ta sẽ có 1 buổi đọc bài sau, giờ thì chỉ hỏi trực tiếp thôi.”
Bây giờ cho con tiếp tục coi những gương mặt trực tiếp lên núi tu, xem coi những gương mặt có sáng không. Có nhiều vị tốn rất là nhiều thời gian, công sức, tâm huyết để lên núi tu. Nhưng mà có nhiều vị khi mình lên mà mình không có lời hỏi thăm, động viên, cho quý vị chia sẻ. Thì nhiều khi quý vị tủi thân lắm, trừ những vị chưa có đủ duyên chia sẻ thì thôi. Hiền Thương hổm rày tu làm sao? Tâm thương có rộng lớn không?
VII. Phật tử Hiền Thương
Phật tử Hiền Thương:
“Con xin chân thành Đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Kính thưa sư phụ, quý thầy, sư cô và đại chúng. Đệ tử co pháp danh Hiền Thương, con xin trình pháp với sư phụ. Trong khóa tu gieo duyên lần này, con được tu tập cùng đại chúng. Sự cảm nhận của con trong 2 tuần tu học, con cảm nhận được sự năng lượng. Tu tập cùng đại chúng, giúp cho con sự tinh tấn trong sự tu học. Giúp con có thời gian nhìn lại thân tâm của mình, nhìn kỹ lại xem những gì mình được và chưa được. Những gì mình được thì cố gắng phát huy thêm, những gì mình chưa được thì cố gắng học hỏi thêm.
Sư phụ: Mình trình bày cái được và chưa được đi.
Dạ những cái chưa được của con là khi nhìn lại cái tham, sân, si thì cũng chưa được nhiếp phục nhiều. Những cái thô thì có thể mình nhiếp phục được, nhưng những cái vi tế nhỏ nhỏ có thể được, nhưng vi tế hơi thô quá thì không nhiếp phục được. Mỗi khi con có những cái sân khởi trong tâm, thì con nhìn lại, con thấy mình cũng xấu hổ quá. Tu tập mấy tháng nay rồi, cũng còn những cái sân chưa được nhiếp phục nhiều. Mỗi khi sân như vậy nhìn lại những bạn đồng tu, thấy mình xấu hổ, mắc cỡ. Tự mình nói với mình là phải cố gắng nhiều hơn, chứ mình lên đây tu tập mà cái sân nó cứ sanh khởi hoài như vậy là không được.
Những cái bản ngã khi mà nó sanh khởi lên, khi nhìn vào đó con cảm nhận được là những cái bản ngã rất là vi tế. Nhiều khi mình đi cũng có bản ngã, khi mình ngồi thiền mà nhìn kỹ lại cũng thấy có cái bản ngã trong đó. Hoặc khi mình ngồi nói chuyện cũng nhìn lại xem trong đó, trong cái bản ngã là thô hay tế, có lúc có những cái vi tế nhẹ nhẹ ở trong thưa sư phụ. Thì con cũng thường hay để ý khi nói chuyện, hoặc khi con nhìn ai đó cũng nhìn lại xem mình nhìn người ta bằng cái bản ngã, hay nhìn bằng cái tâm bình thường.
Sư phụ: Tâm bình thường là tâm làm sao?
Tâm bình thường là mình nhìn người ta không có sự khó chịu, không có cái sân, nhìn bằng cặp mắt nhẹ nhàng, dễ chịu.
Sư phụ: Có thấy ngũ uẩn không?
Dạ có
Sư phụ: Rồi bây giờ cái được là gì?
Dạ cái được là con nhìn được sự thúc giục bên trong, con cố gắng nhiếp phục được cái dục. Thí dụ như bây giờ đi nhanh, thì con nhiếp phục đi chậm lại. Hoặc là nói chuyện hơi lớn tiến, thô tháo, thì con nhiếp phục nói từ tốn, nói chậm lại. Ở ngoài đời con sống, con nói chuyện cũng hơi lớn tiếng. Với lại con cũng hay trực tính, nói thẳng, đôi lúc cũng làm cho mọi người nói chịu. Thì con cố gắng nói chuyện cho nó nhẹ nhàng lại, cố gắng sống cùng đại chúng cho nó hiền thiện, hòa thuận. Con nhìn lại cái tâm từ, tâm thương của con cũng có sự phát triển về cái tâm thương, tâm từ. Nó cũng bớt đi cái tâm khó chịu, bực mình, cọc cằn. Nói lời nói nhẹ nhàng, dễ nghe, có sự hoan hỉ trong sự tu tập.”
Mời những vị ngồi phía bên kia con không thấy rõ mặt, có các vị giới tử nào ở lại tu không?
VIII. Phật tử 5
Phật tử 5:
“Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Kính chân thành đảnh lễ sư phụ, quý thầy, Ni Sư, sư cô và đại chúng. Con là giới tử Hiền Ánh, con xin trình bày sự tu học của con mấy tuần qua. Thưa sư phụ, hôm qua con có ngồi thiền, khi thiền quán con nhìn xuống chỗ con ngồi, con thấy 1 chúng sanh nhỏ chết. Hằng ngày con tu tập chỉ dạy tâm từ, con không hiểu sao mà ngày hôm qua, con lấy cái tay con cầm con bỏ ra ngoài. Mà con bỏ 1 cách giống như là con quăng ra, xong con nhìn lại thân tâm của mình, con mới nói là: “Sao hằng ngày con tu tâm từ, tâm hiền, hôm nay mình có thái độ như vậy?” Con mới quán chiếu lại, con nghĩ là chúng sanh đó là con, sau khi con chết, con cũng bị quăng ra ngoài nghĩa địa. Con cũng bị những con trùng, bọ, dòi, những các thứ khác rút rỉa ăn.
Con cảm thấy lúc đó thân con rất là xấu hổ, nghĩ sao tâm mình ác. Đáng lý ra hằng ngày con thấy như vậy thì con cầm ra ngoài, con để nhẹ nhàng xuống, mà hôm nay con lại quăng ra như vậy. Con thấy tâm con không có được hiền, trong suốt buổi thiền quán, con thầm cầu nguyện cho chúng sanh đó tha lỗi cho con. Còn bài thiền quán mà sư phụ cho nói về duyên có con mắt, con mắt này là khổ, bệnh hoạn, vô thường, sẽ đi đến hoại diệt. Con cũng quán về cái thân ngũ uẩn của con, con mắt con hằng ngày nó cũng bị bệnh hoạn, hoại diệt. Con thấy ngũ uẩn này nó vô thường, nó đem đến sự khổ đau cho con.
Con nghĩ con ráng phải tu tập để thoát khỏi cái sân si, diệt cái bản ngã mà. Còn sự lợi ích mà con đạt được là con dập được cái si ái, trước khi lên núi tu tập thì con luyến ái gia đình, bịn rịn. Đợt này tu tập con không còn luyến ái nữa, con mạnh dạn lên núi đi theo dòng pháp Nikāya này. Con xin trình lên sư phụ sự tu học của con.
Rất là tốt, mình luôn luôn nhìn lại để mà huấn luyện, giáo dục, đào tạo, tu tập làm cho cảm thọ hiền thiền, hiền hòa như vậy thì rất là tốt. Chúng ta có cái lỗi nhỏ cũng phải lo lắng, quở trách cái tâm mình. Để lần lần làm cho cái tâm này, có 1 tình thương rất là sâu sắc. Lần lần cái tâm này có 1 cái hiểu biết rất là rộng lớn, có cái nhìn rộng khắp, rộng rãi, vô lượng. Tập tâm của mình cho nó lớn, tập tâm hiền hòa, hiền từ, thấu hiểu, cảm thông, tha thứ, bao dung, hoan hỉ, buông xả, xót thương. Tập 4 cái tâm vô lượng này thật là rộng lớn, trú ở trong cái trí ngũ uẩn là được hoan hỉ, hỷ lạc. Thế Tôn nói rằng: “Người luôn luôn Chánh niệm sự sanh diệt các uẩn, được hoan hỉ, hân hoan, chỉ bậc bất tử biết”.
Luôn luôn nhìn lại sắc này, những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm. Nhìn lại những nhận thức để thấy được sự sanh khởi, biến diệt của nó. Thấy được cái nhân duyên sanh diệt của nó, thấy được sự vận hành trong khổ của nó. Chúng ta nhớ vị Thánh Tỳ-kheo Ni, chỉ có khổ được sanh, chỉ có khổ hoại diệt, ngoài khổ không có gì khác. Cho nên sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là khổ pháp, nói tiếng Việt mình là khổ não. Thì mình nghe, chiêm nghiệm, gặp chuyện này chuyện kia, nghe chuyện này chuyện nọ, suy tư. Mình đưa tâm mình trở về an trú Thánh trí về khổ, để mình có sự thấm đẫm, thấm nhuần, thẩm thấu cho nó thâm sâu.
Lần lần những lời kinh đó không còn ở ngoài mình nữa, không phải mở kinh ra, không phải đọc tới bài kinh đó, không phải giở cuốn tập ra lúc đó mới thấy pháp nữa. Mà mình sẽ đi tới chỗ pháp trong cái hơi thở mình, trong cái động mạch của mình, trong cái cảm giác, nhận thức của mình. Pháp trở thành sự sống của mình, trở thành trái tim, mạch máu, sự tuần hoàn trong cơ thể của mình. Sự thật khổ đau này không có quên, luôn luôn mình nhớ sắc này là khổ. Cảm giác này dầu cho cảm giác vui đi nữa, sự mang lại của nó là sự trói cột, ràng buộc. Chứ đừng nói chi cảm giác khổ là mũi tên, cảm giác không khổ, không vui là vô thường.
Nhờ như vậy mình mới lắng dịu được những cái ham thích, ham muốn. Lắng dịu được những tâm hướng ngoại, chạy đuổi theo bên ngoài, những tâm hơn thua, danh lợi, ganh tỵ, tật đố, địa vị. Khổ Thánh tri đánh vỡ nó, đánh sập, phá tan hết. Ở trong khổ Thánh trí mà mình trú vững ở trong đó thì nó rực sáng, bừng sáng, chói sáng, chiếu sáng, tỏa sáng ở trong tim mình, con mắt của minh. Những cái khác, không có đủ sức để công phá Thánh trí trong tâm mình. Cho nên mình thấy nghe, tiếp xúc, nhận thức, nhắc nhở mình bằng khổ Thánh trí. Nhìn với nhao phải nhìn bằng những cái ngũ uẩn này đang khổ đau, đang mắc nạn, là nạn nhân để có thể cảm thông, tha thứ được.
Để mà hỗ trở với nhau trong sự hướng thượng, sự thành tựu Thánh giới uẩn, Thánh định uẩn, Thánh tuệ uẩn, Thánh giải thoát uẩn. Chúng ta hằng ngày, hằng giờ phải để ý cái tâm mình, phải nhận diện. Có được cơ hội trình pháp thì rất là quý báo, hãy năng nổ lên, nhiệt tâm. Tập quán xét mình 1 cách đúng, chân sát, để mình có những cách sử lý thật là tốt, thật là đẹp, thật là gọn gàng. Để đưa mình đến sự hoàn thiện, toàn thiện, đi theo các bậc Thánh thiện.
Suy Nghiệm – Thực Nghiệm
Trải Nghiệm & Chứng Nghiệm
Thích Minh Thành
Ngày 11 tháng 05 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Phật tử 1 trình pháp PAGEREF _Toc140657302 \h 1
II. Phật tử Pháp Thí PAGEREF _Toc140657303 \h 4
III. Thầy Pháp Lực PAGEREF _Toc140657304 \h 8
IV. Phật tử 3 PAGEREF _Toc140657305 \h 8
V. Phật tử 4 PAGEREF _Toc140657306 \h 9
VI. Phật tử Hiền Trang PAGEREF _Toc140657307 \h 10
VII. Phật tử Hiền Thương PAGEREF _Toc140657308 \h 12
VIII. Phật tử 5 PAGEREF _Toc140657309 \h 13
I. Phật tử 1 trình pháp
Kính bạch chư tôn hiền đức, chiều nay con mời trích pháp về sự tu học, sự quán chiếu từ hôm qua tới nay. Bài học chúng ta đang học “Phá chấp sắc thủ uẩn”, “Phá chấp thọ thủ uẩn”, chúng ta đã thực tập, quán chiếu như thế nào? Không có xung phong thì con xin kêu ạ, các vị mới, sư cô mang mắt kiếng mới hết bệnh đó.
Phật tử 1:
“Chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng. Kính bạch sư phụ, vào thời thiền quán ngày hôm qua con có 1 cảm thọ rất là mạnh. Bài thiền quán sư phụ giảng “sao có khổ?” Sư phụ đọc bài kinh: Sự xuất hiện của con mắt là sự xuất hiện của tham ái, phiền não, khổ đau, vô minh, chấp thủ, bản ngã. Sự xuất hiện của già nua, bệnh tật, chết chóc, tử vong. Con đi theo đó liên hệ bản thân mình, con thấy đúng là có con mắt mới có cận thị, loạn thị, viễn thị, có mù, có viêm, có đau mắt đỏ. Vì có có mắt mình mới có lo lắng, mới phải đeo mắt kiếng, nhỏ mắt. Sáng hôm qua con đã nhờ thầy Pháp Nghĩa copy bài phân loại Nikāya, vào trong máy đọc sách, kinh đồ cho con. Tại vì mắt con nó kém, nên con đọc trên điện thoại thì nó nhức mắt, con muốn cho con mắt được thoải mái, dễ chịu.
Khi con nghe sư phụ nói dục tham đối với con mắt, chính là phiền não của tâm, là 1 khối buồn lo luôn luôn đi theo mình. Con thấy bản thân con bảo vệ, bảo dưỡng con mắt này quá chừng, nhưng mà cuối cùng con mắt này cũng đi đến giai đoạn mờ đục, hủy hoại, tàn hoại. Và đối với con mắt nó như vậy, đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý, toàn là những mối buồn lo. Con tác ý tới 1 câu chuyện mà con được đọc, được nghe ở đâu đó trong kinh mà con cũng không nhớ chính xác. Đại khái là có 1 ông Bà-la-môn bị mất đàn bò, ông đi ngang qua gặp Đức Phật và chúng Tỳ-kheo của Đức Phật. Ổng chạy tới hỏi Đức Phật là nãy giờ có thấy đàn bò của tôi đâu không? Đức Phật trr lời không thấy. Và Ông Bà-la-môn đó vò đầu, bứt tai, đấm ngực, than khóc, vừa đi vừa chạy nói là: “Gia sản của tôi chỉ có đàn bò, mất đàn bò rồi tôi sống làm sao đây?”
Sau khi ổng đi rồi Đức Phật mới hỏi Tỳ-kheo: “Vì sao người đó lại khổ sở như vậy?” Vị Tỳ-kheo mới trả lời do ổng bị mất bò. Đức Phật mới nói 1 câu:
“Chúng ta đâu có con bò nào để mất”. Con rất là thấm thía câu nói này, chính vì có chúng ta mới sợ mất. Giờ ngồi thiền sau đó con nhận diện ngũ uẩn, con tác ý lời của sư phụ. Con tập phân chia, tách mình ra, đặt xuống từng nhóm của 5 uẩn. Đây là đồng sắc uẩn, đây là nhóm các cảm thọ, đây là 1 nhóm cùng những hình bóng, đây là 1 nhóm những suy nghĩ, kia là 1 sự rõ biết. Khi con tập tách mình ra như vậy, con xem những tổ hợp, năm uẩn đó là những người dưng, người lạ, nó là nó, không phải là mình.
Con cảm giác không có cái bản ngã, cái ngã này trống rỗng, trồng không. Trong phút giây chỉ là ngắn ngủi đó, con cảm nhận được 1 niềm hạnh phúc, sự bình an, kinh an vô cùng tận. Cảm nhận có 1 niềm hỷ lạc dâng trào, cảm giác nó vi diệu mà trước giờ con chưa bao giờ có. Con thấy con mới thực tập được đôi chút, mà con đã cảm nhận được niềm hạnh phúc. Và con tự hỏi là những vị đã chứng đạt Tư-đà-đoàn, Tư-đà-hàm, A-la-hàm, A-la-hán, thì trạng thái của các vị phải đến cỡ nào nữa. Dạ con xin hết ạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phải quán sát, phải làm bài tập, phải thực nghiệm, phải trải nghiệm, chứng nghiệm, suy nghiệm, chiêm nghiệm. Có nhiều người nghe pháp, nghe 1 cách hời hợt, nghe cho có nghe. Có nhiều người nghe pháp, nghe để hiểu, để biết thêm kiến thức Phật học. Có nhiều khi mình nghe pháp, nghe trong trạng thái cái tâm si, tâm không có sáng, không có rõ, không có tỏ, không có tinh anh. Nghe trong trạng thái 1 cái tâm loạn động, dao động. Nghe trong trạng thái của 1 cái tâm phân vân, nghi ngờ, phán xét. Hoặc là nghe trong trạng thái 1 cái tâm khó chịu, năm triền cái xuất hiện trong khi mình nghe pháp.
Mình không có nhận diện cho nên mình không có thấy biết được, năm triền cái chính là thức ăn của vô minh. Dục tham sanh khởi trong tâm mà mình không phát giác, phát hiện, nhiếp phục, chế ngự. Thì nó làm cho lớn vô minh, sân hận sanh khởi trong cảm giác của mình. Nó xâm chiếm, áp đảo mà mình vẫn dung túng, nuôi dưỡng, vẫn cho nó có chỗ đứng không tâm mình, tức là mình đang nuôi lớn vô minh. Dao động, loạn động, thô động, nó sanh khởi, xuất hiện, đàn vận hành. Mà mình không thấy, không biết, không nhiếp phục, chế ngự, không làm cho nó an tịnh, lắng dịu. Lúc đó là đồng thời mình đang cho vô minh nó ăn, tâm mình nó trạo hối, ray rứt, hối tiếc đối với những cái ác và bất thiện pháp.
Mình không có nhận thức được, không thấy biết được, như vậy là mỗi ngày mình đang cho vô minh nó ăn. Thậm chí là nghe pháp, mà mình không có nhìn ra được 5 triền cái, vô minh nó lấn mặt mà mình không có biết. Cho nên Thế Tôn nói thức ăn của vô minh là gì? Là năm triền cái. Khi mình nghe pháp, mình thấy rõ nếu nó có sanh khởi triền cái hôn trầm hay gì đó, thì mình tác ý, đánh đuổi nó, làm cho mình được chuyên tâm, được tinh cần, tinh anh, sáng suốt. Lúc đó là mình đang phá vô minh trong ngay cái lúc mà mình được nghe pháp, chứ không phải là lúc ngồi thiền mình mới phá vô minh, mà trong tất cả mọi lúc.
Thí dụ như ngày xưa con đi xe mà ngồi chung bậc đạo sư, không bao giờ Ngài ngủ trên xe hết, dù con biết là rất mệt. Con để ý thì con thấy, tức là Ngài không có cho vô minh nó ăn. Trừ khi nào cho tới lúc rất là mệt mỏi, không còn chịu được nữa thầy mới ngủ. Thành ra mức độ tĩnh giác và Chánh niệm càng nhiêu chừng nào, dài chừng nào, thì cái vô minh bị phá nhiều chừng đó. Trở lại vấn đề ở đây là sự chiêm nghiệm, suy nghiệm, thực nghiệm, trải nghiệm và chứng nghiệm là hết sức cần thiết. Vừa rồi sư cô trình pháp là sư cô nghe, rồi cô có thực tập, có quán chiếu, rồi cô mói tăng trưởng lên cái tư tuệ. Còn chỉ nghe không mà nghe 1 cách hời hợt nữa, cho nên chúng ta thấy có rất là nhiều người nghe hoài, nhưng mà trí tuệ không có tăng trưởng. Tại vì khi nghe không có để tâm, không có toàn tâm, không tập trung tất cả, chú ý lắng tai nghe pháp, đây là 1 trong 7 đặc tính của bậc dư lưu.
Bậc dư lưu khi nghe pháp là tập trung toàn tâm ý, lắng tai nghe pháp. Chúng ta nghe lại 7 trí của bậc dự lưu đi: Chuyên tâm, toàn tâm, chú tâm và tập trung tâm ý trong khi nghe pháp. Thì cái nghe như vậy nó phá vô minh, tăng trưởng Chánh kiến, làm lớn mạnh cái minh, để giải thoát. Cho nên nghe mà thực tập như vậy rất là tốt, khi đang nghe mà thực tập luôn ngay tại chỗ. Những buổi thiền quán là như vậy đó, nó kết hợp vừa văn huệ, tư huệ và tu huệ trong đó, tam tuệ tập hợp. Tức là khi mình nghe đó là Thánh trí tuệ của Đức Phật, thì mình chiêm nghiệm theo lời nói đó là cái sự tư duy, quán chiếu của mình. Trong tư duy, quán chiếu của mình mình nhìn thấy được nó đúng là như vậy. Và cái cảm thọ của mình chấp nhận cái cảm xúc, cảm động, cảm chánh, thì nó trở thành tam tuệ đồng thời (văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ).
Đó là công dụng mà người khéo léo hành trì, sẽ cảm nhận được điều đó. Pháp Thí hổm rày nằm bệnh, tư duy, thiền quán như thế nào. Đâu cả chục ngày nằm bệnh mà được cái quả gì?
II. Phật tử Pháp Thí
Phật tử Pháp Thí:
“Chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Con kính bạc trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Thưa sư phụ, khoảng thời gian mà con bị bệnh, con nằm, thì lúc đó là khoảng thời gian mà con nhìn lại tự thân của mình, con quán chiếu. Quả thật là như Đức Phật đã nói: “Sắc là vô thường”, con quán chiếu về sắc, con nhìn thấy thật sự là nó vô thường. Mới đó sức khỏe còn đó, tuổi trẻ còn đó, một sự vô thường nó đến bất chợt, nó không báo trước 1 điều gì hết. Đó cũng là 1 cái nghiệp quả dị thục nó đến với con, con cảm thấy mình chấp vào cái sắc này, mình sẽ thật là đau khổ. Con quán chiếu con thấy được, sắc này nó gặp cái chuyện gì đó, thì cái cảm thọ nó sẽ cuốn theo, nhập cuộc theo.
Lúc đầu cảm thọ con rất là khó chịu, lúc đó con nhức, con đau. Mà lúc đó con vô minh, con chưa tỉnh táo để con tách rời ra, con thấy là con nhập chung với nó, rất là khó chịu. Sau con bình tâm lại, con quán chiếu, con nhận diện ngũ uẩn, con nhận là: “Ờ đây là cái cảm thọ, mà cái cảm thọ này là vô thường, sanh rồi diệt, nó không có trường tồn. Cho nên nếu như mình chấp vào nó, sẽ không thể nào mình tách ra được, không thể nào mình quán chiếu được”. Cho nên trong khoảng thời gian con nằm bệnh, con nhận ra 1 cách sâu sắc: “Thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, trống rỗng, trống không, không nên chấp vào nó.”
Khi con được khỏe lại, con lên học cùng đại chúng, trong con khởi lên 1 cái tưởng, thấy cuộc đời này thật là ngao ngán, không có gì để mình chấp vào hết. Lúc đó con nghĩ là ráng làm công đức, tích phước, sau 1 khoảng thời gian nếu mà đủ duyên. Con sẽ xin sư phụ kiếm cho con cái xó nào đó, con chui vô trong đó để con cùng với 4 bộ kinh Nikāya để tu tập. Cho đến khi nào con nhìn thấy được Chánh pháp thật sự. Trong khoảng thời gian đó con ngồi thiền quán chiếu, thọ rất là hoan hỉ, hỷ lạc. Cái tưởng của con tương ra được hình bóng mà sau con đủ duyên, con được nhập thất, được tu tập ở trong thất. Và con có thể nhận diện được rõ ràng, học tập được Chánh pháp.
Lúc đó cái hành của con bắt đầu nhận diện lại, có nói: “Tưởng này là cái tưởng vô thường thôi, quá khứ đã qua, hiện tại ta đang sống, vị lai chưa tới. Nếu mà tưởng nhiều quá, chấp vào cái tưởng này, thì đến 1 ngày nào đó mà cái duyên của mình chướng ngại. Thì lúc đó mình sẽ đau khổ, quằn quại, không đúng như ý muốn của mình. Và lúc đó hành nói là: “Sắc, thọ, tưởng là vô thường, hãy sống với thực tại. Để tốt nhất là mỗi 1 ngày là học 1 bản kinh, và chiêm nghiệm trong bài kinh đó. Cho đến thời gian nào đó đủ duyên, tự động sẽ được như ý muốn. Đừng bao giờ tưởng ra rồi chấp chước vào nó, sẽ khổ đau”. Và con nhận rõ biết được thọ, tưởng, hành và con kính trình lên sư phụ, quý thầy, sư cô cùng đại chúng. Thời gian tu học của con còn yếu kém, con kính trên sư phụ hoan hỉ, từ bi, hỷ lạc cho con. Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
- Thầy: Trong thời gian chú bệnh, chú con nghe chuyên đề “Làm an tâm người bệnh” không?
- Dạ mô Phật, thật sự là con bệnh con chỉ đọc pháp. Thời gian sư phụ giảng pháp trực tuyến con không có xem được, tại vì điện thoại con gửi chú Tân đi để quay phim”.
- Thầy: Chú đọc cái gì?
Dạ các bài pháp mà con tâm đắc nhất là bài khổ pháp, con đọc tới đọc lui, và con chiêm nghiệm nó rất là hay”.
- Thầy: Chú nhớ không, chú đọc coi, cái trí chú nhớ được cái gì trong bài kinh đó.
“Thưa sư phụ trong bài kinh đó, Đức Phật có giảng cho các Tỳ-kheo về sắc, thọ, tưởng, thức tập khởi và đoạn diệt. Đức Phật cho nhiều ví dụ trong bài kinh đó, ví dụ là con nghe con rất là hoan hỉ là có 1 đoạn Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, sông Hằng này hướng về phía đông, nghiêng nghạch về phía đông. Thời có 1 đám dân đến cầm cuốc cầm xẻng và nói: “Hãy làm cho sông Hằng này nghiêng về phía tây, nghiêng ngạch về phía tây”. Dạ thưa sư phụ con không nhớ rõ.
-Thầy: Rồi tiếp theo sao?
“Dạ sau đó Đức Phật nói: “Sự kiện này không xảy ra, vì rằng sông Hằng này xuôi về hướng đông, nghiêng nghạch về hướng đông. Thì các người dân này không thể làm cho sông Hằng này xuôi về hướng tây, và nghiêng nghạch về hướng tây được”. Điều đó con mới cảm thấy rằng: “Khi mà mình nghe được Chánh pháp, mình có lòng tin tịnh tính bất động đối với Chánh pháp, với Đức Phật, và với chúng Tăng. Thì không có 1 cái gì, có thể làm cho lay động được sự tịnh tính bất động đó. Và lấy đó làm hành trang cho con, khi có 1 vấn đề nào xảy ra, thì con lại nhẩm lại lời Đức Phật ví dụ ra. Thì con giác rất là hoan hỉ, dạ mô Phật con kính trình lên sư phụ.”
-Thầy: Khổ pháp là cái gì chú biết không?
“Dạ con chưa biết hộ pháp là cái gì, xin sư phụ hoan hỉ chỉ dạy cho con.”
-Thầy: Chú hỏi sư huynh Pháp tịnh khổ pháp là gì.
-Pháp Tịnh: Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con cũng chưa biết khổ pháp là gì, xin sư phụ hoan hỉ chỉ dạy.
-Phật tử 2: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cùng các bậc hiền trí. Kính thưa sư phụ, bài kinh “Khổ pháp” này con cũng có chiêm nghiệm, Đức Phật cũng có nêu lên: “Này các Tỳ-kheo, thế nào là khổ pháp? Ở đây này các Tỳ-kheo, đây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Đây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Đây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành đoạn diệt. Đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là khổ pháp”. Dạ kính bạch trên sư phụ.”
Cho quán từ hôm qua tới nay, bây giờ hỏi khổ pháp không biết. Khổ pháp là cái thân này, chú bệnh, chú nghe bài “Khổ pháp”, mà chú không biết khổ pháp là cái gì. Khổ pháp chính là cái thân bệnh đó, cho nên từ nay trở về sau phải nổ lực nhiều hơn nữa. Thiếu thực hành, nó làm mình học mà như chưa học, thậm chí là cái pháp. Mình chỉ mới học ở trên chữ nghĩa, trên kinh sách, chứ mình chưa thấy cái pháp trong thân của mình. Khổ pháp chính là cái thân này, cái thân mà đang bệnh đó. Cái thân mà chống gậy khi cụp xương sống, cái thân nằm 1 đống, nó là khổ pháp. Những cảm giác nó thúc giục, thèm muốn, khao khát, tìm kiếm, đó là khổ pháp. Những hình bóng ám ảnh trong tâm mình, sanh khởi liên tục, đó là khổ pháp. Những lời nói lầm thầm, suy tư nghĩ ngợi, hơn thua, ta đây, đó là khổ pháp.
Thầy Pháp Lực học tới nay mà không biết khổ pháp là gì là làm sao? Trong lúc trả lời có Chánh niệm không? Có trả lời trong sự thúc giục không?
III. Thầy Pháp Lực
Thầy Pháp Lực:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên sư phụ, khi con trả lời thì ý hành khởi lên nói: “Mình chưa đọc bài kinh này, mình phải nói theo lời Đức Phật dạy, nếu mình chưa đọc qua mà trả lời theo ý của mình là bản ngã. Trả lời không biết để được sư phụ chỉ dạy, chứ chưa đọc bài kinh, chưa hiểu mà trả lời thì mình không đúng pháp, mà cái đó là bản ngã.”
Đưa cái màn hình xuống để con xem các vị xuất gia gieo duyên còn lại, con mời trình pháp. Mời người đầu tiên.
IV. Phật tử 3
Phật tử 3:
“Đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Kính bạch trên sư phụ, quý Tăng, Sư ni, sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin trình pháp, học hỏi của con của kém cỏi, sơ xót, kính mong sư phụ, quý thầy, Sư ni, sư cô và toàn đại chúng chỉ dạy cho con thêm. Bài giảng của sư phụ “Từ đâu có khổ?” Con đang có 1 cảm thọ an tịnh, lắng dịu. Nghe bài pháp của sư phụ ngày hôm quá, nền mống của bài duyên sanh pháp. Suy nghĩ của con về bài pháp này là rất có lợi ích cho sự tu tập, từ đâu có khổ? Là từ vô minh, từ chấp thủ thân ngũ uẩn.
-Thầy: Cô trình bày cho con về ngũ uẩn của cô vận hành, từ đầu khóa tu tới bây giờ,
Dạ con luôn cảm thọ an tịnh lắng dịu, cảm thọ quay vào thân tâm này để biết rõ đang vận hành như thế nào. Mỗi ngày con có sự tác ý, các căn quay vào mà không có phóng dật ra ngoài, con thấy được cái tâm an tịnh, lắng dịu. Và khi thấy được những sanh khởi như thế nào, nếu ác thì con dùng như lý tác ý. Trong công việc hằng ngày, sự tu tập không ra ngoài không việc. Con được các cô dạy cho con làm những công việc, thì cái tâm hoan hỉ, không có sự chống đối, làm rất nhẹ nhàng, tâm được an tịnh, lắng dịu.
-Thầy: Không chống đối 100% luôn không cô?
Dạ con nghĩ là mình làm, ví dụ như nấu cơm thì vì đại chúng mình phụ giúp, quét dọn thì làm với 1 cái tâm hoan hỉ, không có sự chống đối gì hết. Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
V. Phật tử 4
Phật tử 4:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Bạch trên sư phụ, các thầy, sư cô, Ni sư và toàn thể các bậc hiền trí nơi đây. Qua thời gian tu học trong đạo tràng Nikāya, con rất là biết ơn trên sư phụ, quý thầy, quý cô, Ni su và toàn thể đại chúng. Đã tạo điều kiện cho con có được môi trường tu tập rất tốt, ngũ uẩn con đang ngồi nơi đây. Qua bài pháp vừa qua, con nghe kỹ lời giảng của sư phụ, con rất là hân hoan và được cởi mở trong lòng. Cảm thọ của con rất là hoan hỉ, mình biết khổ ở đâu, do có con mắt, do duyên xúc, đưa đến cho mình những cái khổ. Do nhãn xúc sanh, nhĩ xúc sanh, tỷ xúc sanh, thiệt xúc sanh, thân xúc sanh và ý xúc sanh. Sự vận hành của ngũ uần làm cho toàn bộ ý nghĩ của 1 con người, nếu mình chìm đắm vào đó, những tham, sân, si đó sẽ chấp vào, không thoát ra được.
Cho nên nếu muốn thoát ra được, mình phải những cái tham, sân, si có đi. Trong đó sư phụ có nói là cảm giác lạc thọ là khổ, khổ thọ là 1 mũi tên đâm vào tim, không khổ không lạc là vô. Cho nên làm sao cố gắng nhận ra, để có 1 đường đi cho mình. Suy nghĩ của con là như vậy, con mong sư phụ, quý thầy, Ni sư, sư cô và đại chúng chỉ giáo cho con, để con cón bước đường tu tập tiến bộ hơn. Con xin cám ơn quý thầy, Ni sư, sư cô và toàn thể đại chúng.
Sư phụ: Từ khi chú lên núi tới giờ chú tu học được cái gì, chú thấy được lợi ích gì?
Dạ trong con rất là hoan hỉ, cảm thọ của con nhiều cảm xúc dâng trào. Niềm cảm ơn sư phụ đã cho con biết được đường đi cho mình, để sau này thoát khổ.
Sư phụ: Chú nhắc lại các giới thọ xem mình nhớ được mấy giới. Chú nhắc năm giới trước.
Dạ thưa sư phụ không được sát sanh; không tà dâm; không được trộm cắp; không được nói dối, không được nói 2 lời, nói lời hai lưỡi, nói lười không giữ; không được uống rượu, chất kích thích.
Sư phụ: Chú còn nhớ giới nào nữa không? Quý thầy, quý cô phải cho đại chúng tụng giới thường xuyên, nhất là những vị về tu xuất gia gieo duyên. Tụng oai nghi, 10 giới của Sa di và thanh quy. Vào buổi sáng mình ngồi thiền, có bữa mình đổi thành tụng giới, cách 1, 2 ngày là phải tụng giới. Cám on chú, bữa nay chú biết 6 xúc nữa rất tốt, cố gắng học bài nha.”
Bây giờ cho con nhìn xuống dưới tiếp tục, không có người xung phong mình phải nhìn mặt để kêu. Trang Trần hổm rày tu sao?
VI. Phật tử Hiền Trang
Phật tử Hiền Trang:
“- Dạ con xin phép đi lấy tập để trình bày ạ
Sư phụ: Thôi khỏi lấy tập, lấy tâm đi, tập để bữa khác lấy.
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Con cung kính, kính bạch trên sư phụ tôn kính, chu tôn hiền đức, chư Tăng, chư Ni, sư cô cùng các bậc hiền trí. Đệ tử con pháp danh Hiền Trang, con được nói lên cảm thọ hiện tại trong lúc này. Trong con có 1 sự hỷ lạc vì con thấy pháp, thọ trong con thay đổi liên tục. Lúc thì vui khi nhận được pháp, của các bậc hiền trí trình pháp cho sư phụ, có sự tinh tấn trong tu học nhận được pháp. Ví dụ như sư cô nhỏ tuổi nhất, đã nói lên sự khổ về con mắt, sự nguy hại về con mắt. Có con mắt là khổ, bị đau, bị bệnh, không đọc được bài qua điện thoại, đó là 1 sự khổ về khi có con mắt.
Con rất vui khi được cùng nhau tu học và nhận được pháp trên tự thân mình. Khi buồn khi nghe các chư hiền còn chưa nói về pháp chỉnh chu, để cho sư phụ lo. Thì con có ý hành khởi lên nói là: “Có thương sư phụ thì cố gắng tu tập để đền đáp công ơn sư phụ thôi, chứ không có cái gì mà có thể đền đáp công ơn này. Đó là ý hành của con vận hành trong tâm như vậy, và thức con rõ biết là bất kể những sự tu tập trong 10 ngày vừa qua, con đã viết nhật ký từng ngày trong tập. Con sợ cái điện thoại hết pin con chưa sạc, nên con không cầm lên được để trình pháp trong bài vì con đã viết.
Con xin sám hối vì con không có đem tập lên buổi trình pháp, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, xin sư phụ hoan hỉ.
- Sư phụ: Chúng ta sẽ có 1 buổi đọc bài sau, giờ thì chỉ hỏi trực tiếp thôi.”
Bây giờ cho con tiếp tục coi những gương mặt trực tiếp lên núi tu, xem coi những gương mặt có sáng không. Có nhiều vị tốn rất là nhiều thời gian, công sức, tâm huyết để lên núi tu. Nhưng mà có nhiều vị khi mình lên mà mình không có lời hỏi thăm, động viên, cho quý vị chia sẻ. Thì nhiều khi quý vị tủi thân lắm, trừ những vị chưa có đủ duyên chia sẻ thì thôi. Hiền Thương hổm rày tu làm sao? Tâm thương có rộng lớn không?
VII. Phật tử Hiền Thương
Phật tử Hiền Thương:
“Con xin chân thành Đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Kính thưa sư phụ, quý thầy, sư cô và đại chúng. Đệ tử co pháp danh Hiền Thương, con xin trình pháp với sư phụ. Trong khóa tu gieo duyên lần này, con được tu tập cùng đại chúng. Sự cảm nhận của con trong 2 tuần tu học, con cảm nhận được sự năng lượng. Tu tập cùng đại chúng, giúp cho con sự tinh tấn trong sự tu học. Giúp con có thời gian nhìn lại thân tâm của mình, nhìn kỹ lại xem những gì mình được và chưa được. Những gì mình được thì cố gắng phát huy thêm, những gì mình chưa được thì cố gắng học hỏi thêm.
Sư phụ: Mình trình bày cái được và chưa được đi.
Dạ những cái chưa được của con là khi nhìn lại cái tham, sân, si thì cũng chưa được nhiếp phục nhiều. Những cái thô thì có thể mình nhiếp phục được, nhưng những cái vi tế nhỏ nhỏ có thể được, nhưng vi tế hơi thô quá thì không nhiếp phục được. Mỗi khi con có những cái sân khởi trong tâm, thì con nhìn lại, con thấy mình cũng xấu hổ quá. Tu tập mấy tháng nay rồi, cũng còn những cái sân chưa được nhiếp phục nhiều. Mỗi khi sân như vậy nhìn lại những bạn đồng tu, thấy mình xấu hổ, mắc cỡ. Tự mình nói với mình là phải cố gắng nhiều hơn, chứ mình lên đây tu tập mà cái sân nó cứ sanh khởi hoài như vậy là không được.
Những cái bản ngã khi mà nó sanh khởi lên, khi nhìn vào đó con cảm nhận được là những cái bản ngã rất là vi tế. Nhiều khi mình đi cũng có bản ngã, khi mình ngồi thiền mà nhìn kỹ lại cũng thấy có cái bản ngã trong đó. Hoặc khi mình ngồi nói chuyện cũng nhìn lại xem trong đó, trong cái bản ngã là thô hay tế, có lúc có những cái vi tế nhẹ nhẹ ở trong thưa sư phụ. Thì con cũng thường hay để ý khi nói chuyện, hoặc khi con nhìn ai đó cũng nhìn lại xem mình nhìn người ta bằng cái bản ngã, hay nhìn bằng cái tâm bình thường.
Sư phụ: Tâm bình thường là tâm làm sao?
Tâm bình thường là mình nhìn người ta không có sự khó chịu, không có cái sân, nhìn bằng cặp mắt nhẹ nhàng, dễ chịu.
Sư phụ: Có thấy ngũ uẩn không?
Dạ có
Sư phụ: Rồi bây giờ cái được là gì?
Dạ cái được là con nhìn được sự thúc giục bên trong, con cố gắng nhiếp phục được cái dục. Thí dụ như bây giờ đi nhanh, thì con nhiếp phục đi chậm lại. Hoặc là nói chuyện hơi lớn tiến, thô tháo, thì con nhiếp phục nói từ tốn, nói chậm lại. Ở ngoài đời con sống, con nói chuyện cũng hơi lớn tiếng. Với lại con cũng hay trực tính, nói thẳng, đôi lúc cũng làm cho mọi người nói chịu. Thì con cố gắng nói chuyện cho nó nhẹ nhàng lại, cố gắng sống cùng đại chúng cho nó hiền thiện, hòa thuận. Con nhìn lại cái tâm từ, tâm thương của con cũng có sự phát triển về cái tâm thương, tâm từ. Nó cũng bớt đi cái tâm khó chịu, bực mình, cọc cằn. Nói lời nói nhẹ nhàng, dễ nghe, có sự hoan hỉ trong sự tu tập.”
Mời những vị ngồi phía bên kia con không thấy rõ mặt, có các vị giới tử nào ở lại tu không?
VIII. Phật tử 5
Phật tử 5:
“Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni
Kính chân thành đảnh lễ sư phụ, quý thầy, Ni Sư, sư cô và đại chúng. Con là giới tử Hiền Ánh, con xin trình bày sự tu học của con mấy tuần qua. Thưa sư phụ, hôm qua con có ngồi thiền, khi thiền quán con nhìn xuống chỗ con ngồi, con thấy 1 chúng sanh nhỏ chết. Hằng ngày con tu tập chỉ dạy tâm từ, con không hiểu sao mà ngày hôm qua, con lấy cái tay con cầm con bỏ ra ngoài. Mà con bỏ 1 cách giống như là con quăng ra, xong con nhìn lại thân tâm của mình, con mới nói là: “Sao hằng ngày con tu tâm từ, tâm hiền, hôm nay mình có thái độ như vậy?” Con mới quán chiếu lại, con nghĩ là chúng sanh đó là con, sau khi con chết, con cũng bị quăng ra ngoài nghĩa địa. Con cũng bị những con trùng, bọ, dòi, những các thứ khác rút rỉa ăn.
Con cảm thấy lúc đó thân con rất là xấu hổ, nghĩ sao tâm mình ác. Đáng lý ra hằng ngày con thấy như vậy thì con cầm ra ngoài, con để nhẹ nhàng xuống, mà hôm nay con lại quăng ra như vậy. Con thấy tâm con không có được hiền, trong suốt buổi thiền quán, con thầm cầu nguyện cho chúng sanh đó tha lỗi cho con. Còn bài thiền quán mà sư phụ cho nói về duyên có con mắt, con mắt này là khổ, bệnh hoạn, vô thường, sẽ đi đến hoại diệt. Con cũng quán về cái thân ngũ uẩn của con, con mắt con hằng ngày nó cũng bị bệnh hoạn, hoại diệt. Con thấy ngũ uẩn này nó vô thường, nó đem đến sự khổ đau cho con.
Con nghĩ con ráng phải tu tập để thoát khỏi cái sân si, diệt cái bản ngã mà. Còn sự lợi ích mà con đạt được là con dập được cái si ái, trước khi lên núi tu tập thì con luyến ái gia đình, bịn rịn. Đợt này tu tập con không còn luyến ái nữa, con mạnh dạn lên núi đi theo dòng pháp Nikāya này. Con xin trình lên sư phụ sự tu học của con.
Rất là tốt, mình luôn luôn nhìn lại để mà huấn luyện, giáo dục, đào tạo, tu tập làm cho cảm thọ hiền thiền, hiền hòa như vậy thì rất là tốt. Chúng ta có cái lỗi nhỏ cũng phải lo lắng, quở trách cái tâm mình. Để lần lần làm cho cái tâm này, có 1 tình thương rất là sâu sắc. Lần lần cái tâm này có 1 cái hiểu biết rất là rộng lớn, có cái nhìn rộng khắp, rộng rãi, vô lượng. Tập tâm của mình cho nó lớn, tập tâm hiền hòa, hiền từ, thấu hiểu, cảm thông, tha thứ, bao dung, hoan hỉ, buông xả, xót thương. Tập 4 cái tâm vô lượng này thật là rộng lớn, trú ở trong cái trí ngũ uẩn là được hoan hỉ, hỷ lạc. Thế Tôn nói rằng: “Người luôn luôn Chánh niệm sự sanh diệt các uẩn, được hoan hỉ, hân hoan, chỉ bậc bất tử biết”.
Luôn luôn nhìn lại sắc này, những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm. Nhìn lại những nhận thức để thấy được sự sanh khởi, biến diệt của nó. Thấy được cái nhân duyên sanh diệt của nó, thấy được sự vận hành trong khổ của nó. Chúng ta nhớ vị Thánh Tỳ-kheo Ni, chỉ có khổ được sanh, chỉ có khổ hoại diệt, ngoài khổ không có gì khác. Cho nên sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là khổ pháp, nói tiếng Việt mình là khổ não. Thì mình nghe, chiêm nghiệm, gặp chuyện này chuyện kia, nghe chuyện này chuyện nọ, suy tư. Mình đưa tâm mình trở về an trú Thánh trí về khổ, để mình có sự thấm đẫm, thấm nhuần, thẩm thấu cho nó thâm sâu.
Lần lần những lời kinh đó không còn ở ngoài mình nữa, không phải mở kinh ra, không phải đọc tới bài kinh đó, không phải giở cuốn tập ra lúc đó mới thấy pháp nữa. Mà mình sẽ đi tới chỗ pháp trong cái hơi thở mình, trong cái động mạch của mình, trong cái cảm giác, nhận thức của mình. Pháp trở thành sự sống của mình, trở thành trái tim, mạch máu, sự tuần hoàn trong cơ thể của mình. Sự thật khổ đau này không có quên, luôn luôn mình nhớ sắc này là khổ. Cảm giác này dầu cho cảm giác vui đi nữa, sự mang lại của nó là sự trói cột, ràng buộc. Chứ đừng nói chi cảm giác khổ là mũi tên, cảm giác không khổ, không vui là vô thường.
Nhờ như vậy mình mới lắng dịu được những cái ham thích, ham muốn. Lắng dịu được những tâm hướng ngoại, chạy đuổi theo bên ngoài, những tâm hơn thua, danh lợi, ganh tỵ, tật đố, địa vị. Khổ Thánh tri đánh vỡ nó, đánh sập, phá tan hết. Ở trong khổ Thánh trí mà mình trú vững ở trong đó thì nó rực sáng, bừng sáng, chói sáng, chiếu sáng, tỏa sáng ở trong tim mình, con mắt của minh. Những cái khác, không có đủ sức để công phá Thánh trí trong tâm mình. Cho nên mình thấy nghe, tiếp xúc, nhận thức, nhắc nhở mình bằng khổ Thánh trí. Nhìn với nhao phải nhìn bằng những cái ngũ uẩn này đang khổ đau, đang mắc nạn, là nạn nhân để có thể cảm thông, tha thứ được.
Để mà hỗ trở với nhau trong sự hướng thượng, sự thành tựu Thánh giới uẩn, Thánh định uẩn, Thánh tuệ uẩn, Thánh giải thoát uẩn. Chúng ta hằng ngày, hằng giờ phải để ý cái tâm mình, phải nhận diện. Có được cơ hội trình pháp thì rất là quý báo, hãy năng nổ lên, nhiệt tâm. Tập quán xét mình 1 cách đúng, chân sát, để mình có những cách sử lý thật là tốt, thật là đẹp, thật là gọn gàng. Để đưa mình đến sự hoàn thiện, toàn thiện, đi theo các bậc Thánh thiện.