Thánh Trí Về Khát Ái 1
Thánh Trí Về Khát Ái 1
Thích Minh Thành
Ngày 09 tháng 01 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quan sát thân tâm – nhận diện dục ái PAGEREF _Toc188261622 \h 1
II. Diệt trừ tham ái PAGEREF _Toc188261623 \h 13
III. Trình pháp PAGEREF _Toc188261624 \h 23
I. Quan sát thân tâm – nhận diện dục ái
Đảnh lễ Đức Thế Tôn – Bậc A-La-Hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Giáo Pháp Ly Tham Tối Thượng.
Đảnh lễ Bốn Đôi Tám Chúng, Bậc Đạo Sư Pháp Nhãn Thù Thắng.
Đảnh lễ Thánh Giới Tối Thượng.
Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí, chúng ta cần có rất nhiều thời gian quán sát thân tâm của mình thật là nhiều. Quả thật là chúng ta cần rất nhiều thời gian, vì sao? Thì sự nhận diễn ngũ uẩn mà mình đã được học đó, thì cách nhận diện nó rất là hời hợt, cạn cợt, qua loa bước đâu thôi. Thời gian con được ở yên, thì con phát hiện ra rất nhiều thứ rất là đầy lo lắng. Cái tâm này của mình là chỉ cần mình lơ là, lơ đễnh thôi, thì toàn bộ cái tâm hoàn toàn sống trong cái dục, ái, trong cái tầm câu, khao khát, vô minh. Thành ra bốn chữ vô minh và khát ái, đây lại là một đề mục thiền quán vỹ đại của tam giới, lục đạo, tứ sanh, cửu ngũ.
Không phải mà mình dễ thấy được vô minh và khát ái. Nó không có giống như mình học qua loa, phớt phớt trên chữ nghĩa hay là nhận diện sơ xài ở ngoài da, thiển cận. Vì cái gốc khát ái ở bên trong, nó là một cái gốc thâm căn, cố đế, cổ thụ. Không phải là ngàn năm, vạn năm, mà là vô lượng, vô số, vô thỷ kiếp. Khát ở đây nói cho mình dễ hiểu là sự khao khát, thèm khát, đói khát, giống như là mình khát nước, đói bụng vậy đó. Thì ở bên trong mình luôn luôn có một cảm giác khao khát, thèm khát, đói thiếu. Khát ái lúc nào nó cũng có ở trong đó hết trơn đó. Nói cho dễ hiểu thì khát là khao khát, ái là yêu thích. Khao khát được yêu thương, và mình khao khát ở trong cái sự yêu thích ở bên trong, rồi mình khao khát được yêu thích, yêu thương, được đáp lại của đối tượng ở bên ngoài.
Thì ở trong dục chúng ta đã học rồi 7 trí về dục, thì trí tuệ về dục trong bài kinh “Một Pháp Môn Căn Bản”, chúng ta nghe kỹ lại. Ở bên trong là những tu duy ham muốn vè dục ở trên đời, và năm đối tượng là sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, sự xúc chạm là 5 đối tượng dục ở bên ngoài. Còn ở bên trong là những tư duy ham muốn, thì hai cái này đều gọi là dục hết. Thì cái ái cũng vậy, bên trong là sự khao khát, ham muốn, bên ngoài là những đối tượng. Cho nên mình muốn thương, và mình muốn được yêu thương. Thành ra chữ khát ái, dục hỷ và tầm cầu này là đại thiền quán, đại đề mục để thiền quán. Cái ái, cái dục này nó giống như cặp sanh đôi, cặp bài trùng, có ái là có dục, thì nó đi kèm vô trong đó là hỷ và tầm cầu.
Tức là có thích là có mong muốn, có khoái (khoái ở đây là hỷ, nói tiếng Việt cho dễ hiểu). Thích, muốn, khoái thì nó phải đi tìm kiếm, đây là bộ tứ từ cái khát ái thì nó có mong muốn. Nó vui, nó mừng, nó thích, nó khoái, vì nó thích nó khoái thì nó mới đi tìm cầu, tìm kiếm chỗ này chỗ kia. Cho nên chúng ta nhớ trong bài kinh Đức Phật giải thích về chữ khát ái, là đi tìm kím chỗ này chỗ kia. Chạy hết chỗ này nó tìm, tới chỗ kia nó kiếm, tới chỗ nọ để nó truy tầm. Mà truy tầm cái gì? Truy tầm cái mà nó khao khát, nó đói khát, nó thèm muốn. Cho nên khi mà mình chiêm nghiệm, mình quán xét rồi mình thấy nó sâu lắm, ái tận là giải thoát là một câu khẩu huyết.
Bốn chữ “ái tận giải thoát” là mồ hôi, nước mắt, máu, sanh mạng, là cả một thánh đạo giải thoát. Hằng ngày là chúng ta sống trong dục, trong ái. Chúng ta nhìn kỹ và có sự nhận diện sâu sắc trong sự tĩnh lặng, chúng ta mới thấy và hiểu được nó một cách sâu sắc.
“Tâm hoảng hốt dao động
Khó hộ trì khó nhiếp
Người trí làm tâm thẳng
Như thợ tên làm tên
Khó nắm giữ kinh động
Theo các dục quay cuồng
Lành thay điều phục tâm
Tâm đều an lạc đến
Tâm khó thấy tế nhị
Trong các dục quay cuồng
Người trí phòng hộ tâm
Tâm hộ an lạc đến”
Cái chữ “hoảng hốt” ở đây không phải giống như nghĩa tiếng Việt mình đâu, mà hoảng hốt ở đây bất thình lình, bất chợt, bất ngờ, đột ngộ dao động. Tư nhiên nó nhìn thấy một con người, nhìn thấy một món đồ đẹp, cảnh đẹp, người đẹp, bất thình lình, bất chợ nó dao động liền. Rất khó hộ trì, khó nhiếp, khó giữ, khó thâu trở lại, cho ên “khó nắm giữ khinh động”, nó cứ lăn xăn, nó cứ dao động. Tại sao nó lăn xăn, dao động khó nắm giữ, tại sao bất thình lình chạy hoài như vậy? Theo các dục quay cuồng. Cho nên chỗ này là chỗ thâm sâu, tại sao tâm mình không an tịnh, lắng dịu được? Tại sao tâm mình không dễ chịu được? Tại sao tâm mình không định được? Theo các dục quay cuồng.
Cái gốc khát ái ở bên trong, từ trong cảm thọ, cái gốc sâu thẩm ở bên dưới thì nó nung lên. Mình thấy giống như là nồi nước sôi mà nó sôi “ọc ọc”, rồi đẩy cái nắp nó rớt ra là cái “rổn”. Thông thường mình thấy rằng là nước sôi rớt cái nắp ra ngoài, nhưng mà mình nhìn sâu thì là do những thanh củi, lửa phía dưới nung. Thì đa phần chúng sanh không có nhận diện ngũ uẩn, không có thành tựu được thánh trí về dục. Thì ta có những ví dụ những người này như vùa lấy cái miệng thổi, vừa lấy cây quạt để quạt ở phía trên nồi nước sôi. Chừng nào nước nó nguội xuống được ạ? Củi thì cứ đun, lửa thì cứ đốt, trên này thì miệng thổi, lấy quạt để quạt, thì nước sôi nó có lắng dịu xuống được không? Nước có nguội, có lạnh lại được không? Không bao giờ.
Tại vì sao? Vì độ nung ở phía dưới, cái gốc khát ái chưa nhổ, cho nên cái dục này nó vẫn sanh hoài. Cho nên sự tu chúng ta là thánh trí kiến, Chánh tri kiến là phá vô cái gốc khát ái đó. Cái gốc khát ái đó với sắc, với thọ, tưởng, hành, thức. Thì chúng ta nhìn lại sâu sắc lắm thánh trí tuệ của Đức Phật, cái đạo lộ trình bày, tiên thuyết, hướng dẫn cho chúng sanh thâm sâu. Cũng như 5 giới là những cái thô thiển nhất, của cái khát ái, cái dục, chặn đứng được những cái thô đó trước. Cho nên 8 giới bắt đầu rộng rộng ra một chút, cho đến 10 giới Sadi rồi đi vào tới các giới Tỳ-kheo. Rồi cộng những cái giới, cộng những sự nhiếp phục, chế ngự tâm.
Cái sự hộ trì, thâu nhiếp, chế ngự, thiền định, cộng với thánh trí tuệ, thánh tri kiến đánh phá bên trong các mặt như vậy, để nhổ tận gốc khát ái này lên. Tất cả mọi cá là đập vô minh với khát ái, cho nên thành tựu thánh trí là phá vô minh. Các cái giới nhiếp phụ, chế ngự khát ái, cộng với cái thiền định làm cho nó an tịnh, lắng dịu lại. Thân, hành, niệm là phá khát ái, trong phần quán tứ đại, 32 thể trượt, 9 giai đoạn tử thi, cốt tượng, quán bộ xương, niệm tử. Như vậy tất cả mọi sự tu tập chúng ta là nhằm đánh phá vô cái hang ổ, xào quyệt vô minh của khát ái. Tại sao vậy? Bởi vì nó theo các dục, nó quay cuồng.
“Lành thay điều phục tâm
Tâm đều an lạc đến
Khó nắm giữ khinh động
Theo các dục quay cuồng”
Nếu mà chúng ta không có nhận diện sâu sắc, là mình không thấy đâu. Chúng ta suốt ngày theo cái dục quay cuồng, mình tưởng mình tu hay. Hoặc là tổng tư lệnh, khát ái nó nằm bên trong, nên chúng ta chú trọng vô khát ái nhiều, trước nay chúng ta nói vô mình nhiều rồi. Cái bộ mặt vô hình của nó là tổng tư lệnh, tổng đạo diễn giấu mặt, nó điều khiển bên trong. Cho nên mình thích ăn, thích chơi lắm, thích nói không? Thích làm không? Chữ thích này là chúng ta nói diễn tiếng Việt cho dễ hiểu. như vậy bây giờ chúng ta thấy không, tại sao mà chúng ta ngồi thiền rất là khó. Tại vì theo các dục quay cuồng, nhiếp phục, chết ngự nó không muốn.
“Khó hộ trì, khó nhiếp
Y như cá quăng lên bờ
Vứt ra ngoài thủy giới
Tâm này vùn vẫy mạnh
Phải đoạn thế lực ma”
Vùn vẫy giữ lắm, chúng ta thấy không? Mình mới vừa tu xong, mới vừa kết thúc thời quán là nó vùn vẫy ngay. Mà có nhiều khi nằm trong đó mà nó cà nhốm, cà nhốm lên, coi giờ, nó theo các dục, nó muốn đi ra cho nó thoải mái. Ngồi làm chi? Ngồi mà nhiếp phục các căn nữa, mà an tịnh lắng dịu nó khó chịu. Đó là tâm này vùn vẫy mạnh đó, mình phải nhìn cho nó sâu. Cho nên nhiều khi tại sao con nhắc những cái hết sức là bình thường như vậy đó, mà thật ra trong đó là cả một sự công phu tu tập. Mà tới nay con vẫn chưa thấy để mà làm được vấn đề mà đi qua tu, đi về tu, là đi thiền hành đó, mấy năm trời nay con vẫn chưa làm được.
Con vẫn tha thiết mong đợi làm sao mà bên chư Ni và chư Tăng phải làm được cái này, cứ đi qua tu là đi thiền hành, và khi đi về là đi thiền hành, trừ những người có bổn phận, trách nhiệm công việc. Đó là pháp học, đó cũng là nhiếp phục, chế ngực lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng buông lung phóng dật, tầm cầu ở trong đó, hỷ ở trong đó. Mình thấy không? Buông ra một cái là nó giống như cá gặp nước vậy đó. Nhiều khi vô để mà thiền, hay là vô để mà nghe pháp, trình pháp này kia là nhiều người mặt bí xị à, nhạt nhẽo lắm. Nhưng mà khi buông ra là cái mặt tươi rói à, tươi tắn, tỉnh táo, coi đầy sức sống hết trơn. Đó là dục hoạt động, ái hoạt động, buông lung phóng dật, tầm cầu nó đang hoạt động, đó là nói cái nhỏ cho chúng ta thấy đó.
Mà mình đâu có nhìn thấy được củi nó để vô trong cái lò lửa, cho nó nung lên, cho nó sôi ọc ọc, rồi cái nắp nó rớt ra ngoài mình đâu có biết. Người có quán ngũ uẩn, nhìn cảm thọ, chiếu vào trong dục ái thì mới thấy được. Những cái này nó vi tế, khó thấy được trong cái dục quay cuồng. Chính Đức Thế Tôn nói là: “Tâm khó thấy, tế nhị theo các dục quay cuồng”. Mình học được một chút, mình mới nhận diện ngũ uẩn được một chút mà mình tưởng đâu là rồi, tưởng đâu là ổn rồi đó, là mình chết. Chưa có biết gì hết, mình còn mù lòa dữ lắm, tâm mình bây giờ giống như ánh chớp vậy đó, lâu lâu trời sấm sét xẹt lên thấy mờ mờ sáng sáng vậy rồi là xong, còn lại là tối hù, tối đen, tối mực.
Thành ra mình phải để ý, cái dục, cái hỷ, cái tầm cầu gốc từ dưới khát ái. Nó muốn cái này, thích cái kia, tìm cái nọ. Chữ ái nói theo tiếng Việt cho dễ hiểu, như thích ăn, thích nói, thích mặc, thích chơi, thích làm, thích đi, thích thoải mái. Thoải mái chính là buông lung phóng dật, thả lỏng các căn. Thành ra những chỗ này, là chỗ sâu sắc để chúng ta chiêm nghiệm trong sự tu. Khi mà mình ngồi tu mình không hiểu soát được cái oai nghi của mình, nhất là lúc thiền quán, tức là lúc đó mình hoàn toàn không có thấy gì. Phải có một sự quay lại sát sao, khít khao, miên mật, thường xuyên, liên tục không gián đoạn thiền định, không gián đoạn thiền quán, không có đoạn sự nội soi.
Mình càng nhìn mình mới nhìn ra được, mình nhìn ra rồi mình khiếp sợ, mình quán sợ, mình kinh sợ, mình hãi sợ, mình lo sợ. Và từ trong đó mình có một động lực, sức mạnh để mình nhiếp phục, chế ngự, phòng hộ, bảo vệ để đi đến chỗ đoạn tận. Còn nếu không mình nhìn ra ngoài, mình không có tu gì hết trơn. Mình nhìn ra lỗi người này người kia, mình trách người này, mình hờn người kia, oán người nọ. Thành ra chỗ này là chỗ rất quan trọng, mình quay trở lại nhìn tâm của mình theo các dục quay cuồng mà. Suốt ngày như vậy đó, cứ nói hết chuyện này đến chuyện kia, hết chuyện kia tới chuyện nọ. Nói trong cái thể hiện cái tôi, nói trong cái muốn, cái thích dục, cái ái.
Nói trong cái hỉ hả thích thú, cười ha hả vậy đó, sướng lắm. Tưởng đâu cái đó là tốt, tưởng đâu cái đó là hỷ. “Duyệt hỷ tiêu tận” thì mới đạt được cái tâm thanh tịnh, bất động, giải thoát. Hỷ là cái tâm vui sướng, khoái, thích thú, hỷ hả đối với ngũ dục, ngũ uẩn. Thành ra trong Tương Ưng có từ “duyệt hỷ tiêu tận”, chữ “duyệt” đó là vui mừng, vui thích, hỷ hả. Cái này nó sâu sắc, nó vi tế lắm, thí dụ như mình nhìn thấy một cảnh đẹp, lúc đó mình có thấy thích thú không? Đó là hỷ đó, vừa có hỷ ái luôn đó. Rồi mình muốn chụp hình nó có dục trong đó không? Rồi mình muốn tìm thêm cảnh đẹp nữa thì đó là tầm cầu đó. Cái cảnh cũng vậy, mà món đồ cũng vậy nữa.
Mình nhìn thấy là: “Ồ, cái này tốt quá ha, cái này đẹp ha, cái này xịn he”. Là mình khoái, mình thích, mình muốn, mình tìm. Nhiều lắm, đầy dẫy hết trơn, vừa nhìn một cái thôi là thích, là muốn, là tìm kiếm. Vừa nghe một cái, vừa cảm thọ, vừa nhận thức một cái là nó dẫn chạy dài dài, chạy có cờ theo các dục quay cuồng mà, suốt ngày nó quay cuồng ở trong dục. Thành ra cái này là đề tài thiền quán, rất là sâu sắc cho chúng ta. Trước khi ăn, trong khi ăn, sau khi ăn, quán chiếu. Trước khi nói, trong khi nói, sau khi nói, mình xem nói bằng cái cảm thọ gì. Trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm, coi làm bằng cảm thọ, suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng gì. Trước khi đi, trong khi đi, sau khi đi, xem đi bằng cái gì.
Có đi bằng cảm thọ an tịnh, lắng dịu không? Hay đại bộ phận, đại đa số, 80%, 90% hay hơn nữa là đi trong dục, đi trong hỷ, đi trong tầm cầu, đi trong buông lung phóng dật. Trước khi nghĩ, trong khi nghĩ và sau khi nghĩ, xem suy nghĩ này có trong cái ái, cái dục, cái tham điều khiển, dẫn dắt, lôi kéo không. Hay là cái nghĩ trong cái ham, cái thích, cái muốn, cái khoái không à, không có cái trí soi rọi trong suy nghĩ đó. Mọi hình bóng trong tâm hiện lên thì mình xem hình bóng đó có dục, có ham, có thích, có khoái, có cho là mình, là của mình, là tự ngã của mình không. Nhận thức, rõ biết cũng vậy, mình coi cái rõ biết này nó có thích, có khoái không.
Những cái này là những chỗ sâu sắc, luôn luôn lấy dục, tham, ái làm đại thiền đề, tại tông án, đại đề mục để thiền quán mỗi ngày. Nếu mình quán chiếu được những cái này, thì tự động sự an tịnh, lắng dịu nó sẽ xuất hiện. Tự động mình sẽ ăn chậm lại, nói có chánh niệm lại, làm có sự an tịnh lại, đi có sự nhẹ nhàng, thong dong. Mình nghĩ cũng nghĩ từ từ, có sự soi xét trong suy nghĩ, nói tiếng Việt cho mình dễ hiểu. Mình yêu thích, ham muốn, khoan khoái và tìm cầu, phá được những cái này là mình tu đó. Như bài hôm trước con có đọc cho chúng ta, yêu thích là đau khổ. Cứ thích cái gì là mình diệt cái nấy, khoái cái gì là mình dập cái nấy, muốn cái gì là nhiếp phục, chế ngự cái nấy.
Mình tu riết như vậy rồi mình sẽ thấy phép mầu nó xuất hiện, sự tu của mình tiến bộ, tăng thượng. Thành ra trong trí tuệ này mình đọc trong kinh Đức Phật, thì mình thấy nó siêu khủng lắm. Những câu trong phẩm “Tâm Này Là Khiếp Đảm”:
“Chạy xa sống một mình
Không thân ẩn hang sâu
Ai điều phục được tâm
Thoát khỏi ma trói buột
Ai tâm không an trú
Không biết chân diệu pháp
Tịnh tính bị rúng động
Trí tuệ không kiên định”
Ta đi cho xa cái tâm này nè, tâm sống một mình trong ham, trong thích, trong muốn, trong khoái đó. “Đừng có ai mà đụng vô thích, muốn, khoái đó được, đừng có đụng tui à. Không ai mà đụng vô được hết, đụng vô là có chuyện à”. Nó ẩn trong cái hang rất là sâu, hang sâu thẩm cảm thọ đó. Bởi vậy cho nên tại sao mình phải nghe pháp, và tại sao mình phải thiền quán, để mình phá dòng cảm thọ đó. Chính là nó nung ở phía dưới đó, ở cái củi phía dưới, mới có cái lửa ở trên. Rồi xong tới nồi, tới nước, tới cái lớp phía trên sôi ọc ọc, nó văng phía trên mới đẩy rớt cái nắp nồi xuống. Mà cao hơn cái nắp nồi nữa là những luồng khói bốc lên trên, thì mình nhìn mình thấy khói ở trên đó, hoặc mình nhìn thấy cái nắp nồi rớt ra à.
Vô văn phàm phu là họ thấy khói ở trên, và cái nắp nồi rớt ra. Còn người tu học mới mới là thấy được nước sôi ùn ụt, không thấy được cái nồi nữa, giỏi lắm thấy được cái nồi và nước sôi. Còn người tu sâu sắc mới nhìn ra được củi, lửa phía dưới. Mà nhìn sâu hơn nữa là cái kẻ đã châm củi rồi, thì kẻ châm củi phía dưới này là vô hình, giấu mặt. Kẻ châm củi này thì vô làm sao? Mỗi một suy nghĩ của mình mà mình không nhìn ra, không thấy được dục, ái, khoan khoái, thích thú và tìm cầu trong đó. Thì mỗi một suy nghĩ đó về dục thì nó tăng trưởng cái dục, cái này là trong kinh Đức Phật nói đó, Tăng Chi Bộ kinh, Tương Ưng Bộ.
Mỗi một cảm thọ khoan khoái, thích đó, mà mình không nhìn, không thấy, không quán, không chiếu, không rọi, không soi. Thì như vậy mỗi một cảm thọ đó là cái ái, cái dục, cái hỷ, cái tầm cầu nó lớn thêm chút nữa. Mỗi một suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức mà mình không soi, không rọi, không quán, không chiếu, không trừ, không diệt, không nhiếp, không phục, không tẩy, không đoạn thì nó cứ lớn lên. Như cứ bỏ thêm thanh củi vô, bỏ vô lặng lẽ, âm thầm. Một gương mặt vô hình, mà nó rất là khủng khiếp. “Tâm khó thấy, tế nhị, khó nắm giữ khinh động”, bất thình lình là như vậy, khó hộ trì khó nhiếp là như vậy, vùng vẫy mạnh.
Ẩn dưới hang sâu mà, “không thân ẩn hang sâu” mà, chúng ta thấy nó ghê gớm cái tâm. Chúng ta nhớ là bao nhiêu lớp? Khói ngùn ngụt ở phía phía trên, kế đó là nắp nồi rổn rổn ha, kế đó là nước sôi ọc ọc, bong bóng trào ra là 3 lớp rồi. Cái nồi nữa là 4, lửa ở dưới là 5, củi là 6, rồi cái tay của mộ người giấu mặt nữa là 7 lớp. Rồi sao mình nhìn ra, mình tu sơ sơ, mình tu lơ tơ mơ, mình tu phớt phớt thì làm sao mình nhìn ra. Rồi làm sao mình đánh phá được kẻ giấu mặt mà đun củi vô, giấu mặt không thấy được là vô minh, nung củi vô là khát ái. Còn kẻ vô văn phàm phu, hay là người không thành tựu chánh tri kiến thì họ tu bằng cách dùng cái miệng thổi phù phù, lấy cây quạt họ quạt phía trên. Thì làm sao mà nó hết sôi được, làm sao mà nó mát lạnh, tịch tịnh được.
Đó là sự khác biệt ở người tu chánh kiến, và người tu khôn có chánh kiến, thấy và không thấy. Cho nên: “Này các Tỳ-kheo, ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết để đoạn tận các lậu hoặc. Chứ không phải ta nói cho người không thấy, không phải ta nói cho người không biết”. Cái sự đoạn tận ngũ uẩn này là nói cho người thất biết, thấy biết là thấy biết ngũ uẩn, thấy biết cảm thọ, thấy biết được sự vô minh, khát ái. Thấy biết được sự vận hành, sự tập khởi, sư an trú, sự đoạn diệt, sự xâm chiếm, áp đảo, mô giới cho giặt của nó. Chúng ta thấy trong sự tu là cả một công trình vĩ đại, hơn các nhà khoa học. Vừa buông ra một cái là mình hướng ngoại, cái tâm buông lung, làm sao mình thấy.
Mình chăm chăm nhìn vô hoài, suốt ngày đêm, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ thời gian nào, bất cứ nơi nào, bất cứ chỗ nào. Mình dòm hoài, phát giác, phát hiện, là mình nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, diệt tận nó. Mình không thấy thì mỗi cái ý nghĩ, cảm thọ, hình bóng, tư tưởng trong tâm, nhận thức đều là trong khát ái vận hành, điều khiển, chỉ đạo, chỉ huy không à. Mỗi một ngôn ngữ, lời nói, hành động, cử chỉ, ứng xử của mình toàn là ở trong dục, trong ái, trong tham, trong tầm cầu. Nói chuyện ra là người ta biết mình muốn gì rồi, mình không có nhận diện sâu sắc là mình không có thấy. Cho nên những từ này là quan trọng để mình thiền quán, “khát ái, dục, hỷ, tầm cầu”. Khi mình nói chuyện mình coi thử coi cái gì đang nói, nói bằng cái gì.
Khi mình làm việc mình coi cái gì nó đang làm, làm bằng cái gì đây. Khi mình ứng xử, cử chỉ, hành động của mình, mình coi sâu vào cảm thọ bên trong. Mình coi xem cái gì? Cái thọ gì, cái tưởng gì đây. Cho nên con thưa chư tôn là việc học nhiều lắm, thậm chí học cho tới chết, học cho đến khi nào đoạn tận tất cả các lậu hoặc. Không phải học được mấy câu, mấy chữ, mấy bài, mấy cuốn như vậy là xong đâu. Cái gì xâm chiếm xâm chiếm và chế ngự người đàn ông và người đàn bà? Tăng Chi bộ tập 1, kinh “Nữ Sắc”:
“Ta không thấy một sắc nào khác xâm chiếm và ngự trị tâm của một người đàn ông như sắc của người đàn bà. Này các Tỳ-kheo, sắc của người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông”.
“Ta không thấy một sắc nào xâm chiếm và ngự trị tâm của người đàn ông, như là tiếng của người đàn bà. Này các Tỳ-kheo, tiếng của người nữ xâm chiếm, ngự trị tâm của người nam”, mình nói như vậy cho dễ hiểu. “Ta không thấy một cái mùi nào, vị nào, sự đụng chạm nào mà xâm chiếm, ngự trị tâm người nam, giống như mùi, vị và sự đụng chạm của người nữ hết. Này các Tỳ-kheo, cái mùi thơm, cái vị, sự đụng chạm của người nữ xâm chiếm và ngự trị tâm của người nam”. Ngược lại cũng vậy, người nam đối với người nữ, người nữ đối với người nam. Nhìn thấy thôi là dục khởi, ái khởi, tham muốn, tầm cầu khởi lên liền. Khủng khiếp không? Đó là tâm hoảng hốt dao động đối với dục quay cuồng đó, bất thình lình là nó động liền.
Hình ảnh đó nó cứ ám ảnh, suy nghĩ đó nó cứ đeo bám, cảm thọ đó nó cứ dào dào dính vô trong đó, triền miên ở trong đó. Nó không dứt ra được cái cảm thọ dễ chịu khi nhìn, khi nghe. Nghe cái giọng nói thôi, nhìn thấy gương mặt, dáng đi, nếu mà xúc chạm nữa thì nó xâm chiếm và thậm chí áp đảo toàn bộ thân tâm. Bởi vậy cho nên con nói đây là dục thánh trí, ái thánh trí, tuyệt vời lắm. Phải chi con có thời giờ nhiều thì con trích những cái này ra, làm thành bộ. Mấy cái này con thấy ở đâu, là trích một phần đoạn thôi cho chúng ta. Cái này là dục thánh trí, thánh trí về dục. Thấy một cái, nghe một cái, hoặc cái mùi phớt ngang là về ám ảnh. Con người cũng vậy, đồ đạc hay cảnh vật cũng vậy.
Mà cái cảnh với món đồ thì nó đỡ hơn một chút, bởi vì nó không biết nói chuyện, nó bất động. Nó khổ nhưng nó cũng đỡ hơn một chút, mà cũng đổ máu đó. Còn con người thì biết nói chuyện, tham, sân, si, dục ái, bản ngã, vô minh. Cho nên mà rước trúng một con người, là ân hận suốt đời. Ám ảnh xâm chiếm, ngự trị, chế ngự, trói buột của người nam, trói buột của người nữ, Tăng Chi Bộ tập 3, kinh “Nam Nhân Trói Buộc”:
“Với tám hình tướng, này các Tỳ-kheo, nam nhân trói buộc nữ nhân, các hình tướng gì?
Người nam trói buộc người nữ với vẻ ngoài là sắc”
Cái hình thể, hình dáng, tướng mạo, dung mạo đó trói buộc người nữ.
“Người nam trói buộc với người nữ với gì? Tiếng cười”
Mình nghe mấy cái này không mình thấy cũng gợn óc rồi, mình dùng cái tưởng mình quán coi trước giờ có nhìn thấy mấy cái này không? Tiếng cười, nụ cười trói buộc tâm của người ta.
“Người nam trói buộc người nữ với lời nói”.
“Tiếng hát”. Cái âm giọng, chất giọng, tại sao người ta phải bỏ rất nhiều tiền vô, để người ta nghe những bản nhạc của người đó hát. Có khi phải bay từ nước này qua nước kia nữa, để nghe được lời nhạc từ người đó hát. Đó là sự trói buộc, cho nên người nam trói buộc người nữ với lời nói, giọng nói, lời ca, tiếng hát.
“Người nam trói buộc người nữ nhân với nước mắt”. Chỉ chảy nước mắt ra thôi, mà người này có thể chết vì người kia, bỏ mạng, bán mạng luôn. Cho nên hồi xưa người ta mới dùng mỹ nhân kế đó, mỹ nam kế, mỹ nữ gì cũng vô trận hết.
“Nam nhân trói buộc nữ nhân với quần áo, y phục”
“Nam nhân trói buộc nữ nhân với quà tặng”
“Nam nhân trói buộc nữ nhân với sự xúc chạm”. Sự tiếp xúc, đụng chạm, thì ngược lại người nữ trói buộc người nam cũng giống y như vậy.
“Như vậy tám hình tướng này, này các Tỳ-kheo người nam và người nữ trói buộc lẫn nhau. Các loài hữu tình bị khéo trói buộc bởi các hình tướng ấy, giống như bị trói buộc bởi bẫy sập”. Cái này Đức Thế Tôn đã dùng từ “trói buộc”, mà Ngài còn dùng “khéo bị trói buộc”. Trói buộc một cách rất là khéo, rất là đẹp, tới một cái một là nó túm lại rồi nó xách đi vậy đó. Bị trói buộc bởi bẫy sập, rơi vô một cái bẫy sập, bắt trong đó rồi ra không được, bị bắt rồi muốn làm gì thì làm. Có thời giờ mình phải quán chiếu cái này, nhất là mấy vị xuất gia, giới tử, những vị có một cái tâm muốn xuất gia thì quán chiếu một sự trói buộc, bẫy sập. Trong chúng mình còn trẻ rất là nhiều, phải quán chiếu kỹ.
II. Diệt trừ tham ái
Quán chiếu, chiêm nghiệm, suy tư, viết bài, pháp đàm càng nhiều càng tốt, càng lâu càng tốt, càng sâu chừng nào càng tốt chừng đó, cho nó thấm sâu vào không có mất. Bài kinh này mới là bài kinh khủng khiếp nè, Tăng Chi Bộ tập 3, kinh “Hệ Lụy”. Bài này nó khủng khiếp lắm, hồi xưa con đọc con nổi da gà hết trơn. Con rúng động sụp xuống lạy bài kinh này. Khi bậc đạo sư hướng dẫn pháp cho con, ngài không có nói bài kinh này, nhưng mà nội dung là trong bài kinh này:
“Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các thầy pháp môn về hệ lụy và li hệ lụy, hãy lắng nghe.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp môn hệ lụy?
Một nữ nhân, này các Tỳ-kheo, tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức. Thời nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy, nên tác ý đến nam căn ở ngoài, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức. Và nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nữ nhân ấy muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy khởi lên lạc, hỷ, nên nữ nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy. Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy này các Tỳ-kheo, nữ nhân không có thoát được nữ tánh của mình.
Một nam nhân, này các Tỳ-kheo, tác ý nội nam căn, nam hành, nam y phục, nam loại, nam y phục, nam thanh, nam trang sức, thời nam nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy, nên tác ý đến nữ căn ở ngoài, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức. Và nam nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nam nhân ấy muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy khởi lên lạc, hỷ, nên nam nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy. Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người nữ. Như vậy này các Tỳ-kheo, nam nhân không có thoát được nam tánh của mình.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là không hệ lụy?
Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý đến nam căn ở ngoài, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy.
Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nữ nhân ấy không muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ, nữ nhân ấy không ước muốn lạc, hỷ ấy. Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nữ nhân thoát được nữ tánh của mình.
Một nam nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý đến nội nam căn, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý đến nữ căn ở ngoài, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức mà nam nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên nam nhân ấy không ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ nên nam nhân ấy ước muốn lạc, hỷ ấy.
Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những nữ nhân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nam nhân thoát được nam tánh của mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hệ lụy. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn hệ lụy và ly hệ lụy.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập III – kinh Hệ Lụy)
Bài kinh này khủng khiếp lắm, bài kinh này là bí kiếp thánh pháp để giải thoát. Cái này không có dịch ra rõ, thì cái người đọc sẽ không có hiểu được bao nhiêu hết. Bài kinh này là bài kinh khủng khiếp lắm, bài kinh này giả mã hết giới tính của nhân sinh ở trên hành tinh này. Mà nếu mình đọc vô mình không hiểu được bao nhiêu hết, tại vì ngôn ngữ, nghĩa lý, rồi thánh trí thâm sâu trong đó. Cho nên bài kinh này chúng ta thấy ít có ai giảng, ít có ai đọc, cũng ít có người để ý tới.
“Một nữ nhân, này các Tỳ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ ý phục”, cái này giải kỹ lắm mới được. Chúng ta hiểu như vầy cho dễ hiểu đi, chứ bây giờ con đọc lại chúng ta sẽ ngán đó. ái gọi là không hệ lụy tức là không bị ràng buộc đó, không có tác ý. Không tác ý ở đây không phải là không suy nghĩ đâu, mà là phá cái suy nghĩ ở trước, ở trước là có tác ý, sau thì không tác ý. Rồi bây giờ chúng ta giải thích câu: “Một nữ nhân, này các Tỳ-kheo, tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức. Thời nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy”. Hôm trước chúng ta thường hay quán hình ảnh của mình, gương mặt của mình ở trong gương phải không? Thì cái này nó phá hình ảnh gương mặt phải không?
Rồi trong tứ niệm xứ dạy mình phá hình thể này, 32 thể trượt, hình dáng này nó ra bộ xương. Còn chỗ này rất thâm sâu, bậc đạo sư dạy cái này con nghe con sốc hết trơn. Mà ngài không có nói bài kinh này, nhưng mà ý chính là chỗ này nè. Mình yêu thích bộ phận sinh dục, cho nó là tôi, là của tôi. Mình thích ở trong đó, vui ở trong đó, khoan khoái ở trong đó. Chính vì đó, cái sự tác ý của mình, cảm thọ của mình như vậy, suy nghĩ của mình như vậy và nhận thức của mình như vậy. Rồi sao? Mình thích, mình khoái, mình bằng lòng, mình hài lòng với những hành động của nữ tánh. Cái sự mềm mại, cái sự dễ thương, có khi là ẻo lả trong cử chỉ, hành động của một nữ tánh.
Rồi cái quần là, áo lụa, nữ y phục, nữ loại, mà đây nói từ bình dân 1 chút là “giống cái”. Rồi những tham muốn, âm thanh của nữ tánh, những trang sức của người nữ. Rồi người nữ này tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Rồi chúng ta qua từ “tham ái, dục, hỷ và tầm cầu”. Mình vui, mình thích, mình khoái, tham đắm trong đó, tức là ái và hỷ đó. Với một sự thích thứ, tham đắm, khoan khoái như vậy, trong một cái, mà đây gọi là nội nữ căn, tức là bộ phấn sinh dục của người nữ, còn bên nam là bộ phận sinh dục của người nam. Rồi mình tham đắm ở trong vóc dáng, hình hài, cử chỉ, hành động: “Tui là đàn ông, tui mạnh mẽ, anh hùng như vầy nè. Tôi là phải như vầy vầy nè”. Đó là mình tham đắm, mình thích thú ở trong đó, mình chấp thủ ở trong đó.
Hay là lửng lửng ở giữa, không nam không nữ cũng vậy luôn. Thích thú, khoan khoái, chấp nhận trong đó, rồi khổ đau trong đó. Tất cả mọi hình thái của dục ái đều như vậy hết. Nam tánh, nữ tánh hay là đồng tính đều như vậy hết, rồi họ đau khổ trong đó, chấp nhận cái đó là họ. Tham đắm ở trong cử chỉ hành động, ở trong y phục, trang sức của mình. Tham đắm ở trong cái giống của mình, cái chủng loại, cái dục, cái ham muốn của mình, ở cái giới tính đó. Tham đắm ở trong âm thanh, trang sức đó, thích thú ở trong đó. Cho nên chỗ này mình phải nói là nổi da gà, nó thấm thía, “ái tận giải thoát”, đoạn tận ái.
Bây giờ chẳng hạn một người phụ nữ, mà người ta lại người ta chê, người ta nói: “Phụ nữ gì mà ăn nói, cử chỉ thô tháo như đàn ông vậy”. Thì như vậy là buồn, là phiền não, giận à. Nhưng có những người phụ nữ muốn mình là đàn ông, thích người ta khen mình là đàn ông. Thì tùy theo sự chấp thủ trong đó, mà họ đau khổ, họ tham đắm, họ thích thú trong đó. Người nam cũng vậy, bị người ta chê là yếu đuối giống đàn vậy, rồi cũng sân si, khó chịu, khổ đau. Người có những người không muốn, thân là đàn ông mà muốn làm đàn bà, đi phẫu thuật. Họ đau khổ ở trong đó, tại vì sao? Tại vì họ tham đắm, thích thú, chấp thủ, dính mắc vô trong đó.
Họ dính vô trong cái hình hài, cảm giác, suy nghĩ, trong cái tưởng, cái suy nghĩ trong tâm và ở trong nhận thức này. Những cái đó nó dày vò ở bên trong, nó dằn xé, đau đớn, đau khổ, đau buồn, đau lòng. Mà tất cả những cái đó là gì? Mình gạch dưới chữ “tác ý”, tác ý này ý nghĩa nó sâu lắm. Tức là ở trong cái suy nghĩ này chấp nhận mình là người nữ, chấp nhận mình là người nam. Mình tham đắm, thích thú ở trong đó, cho nên đây là một loại trí tuệ phá thân kiến. Rồi chút nữa tới ở ly hệ lụy là phá mấy cái này hết trơn. “Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy, nên tác ý đến nam căn ở ngoài”. Vì mình tham đắm, thích thú ở trong bộ phận sinh dục của người nữ, cho nên mình nghĩ đến bộ phận sinh dục của người nam.
Do thích thú, tham đắm trong đó, nên mình thích những hành động, cử chỉ của người nam, thích y phục của người nam, thích giống của người nam, thích cái dục, thích âm thanh, thích trang sức của người nam. Thì người nữ này tham đắm, thích thú đối tượng đó ở bên ngoài. Vì mình tham đắm, thích thú cái tự thể ái, yêu thương hình dáng này, bộ phận dục đó, rồi những cái y phục, tánh tình, âm thanh, trang sức, mình yêu cái tự thể của mình, mình ái, rồi xong mình thích đối tượng đó. “Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nữ nhân ấy muốn có sự hệ lụy ở ngoài”. Ước muốn được có đối tượng đó, muốn được sở hữu, chiếm hữu, muốn được đối tượng đó hiện hữu trong cuộc đời của mình.
Chúng ta thấy bài kinh này nó khủng khiếp lắm, về dục thánh trí. Đức Phật diễn tả nguồn gốc, căn nguyên, tại làm sao mà nam nữ trói cột với nhau. Làm thế nào để cởi mở, và đi thoát ra, tận cùng căn nguyên, triệt để nguồn gốc. Thì người này thích đối tượng ở bên ngoài, do duyên với hệ lụy, có sự trói cột đó, cho nên khởi lên lạc hỷ, vui sướng, thích thú. Khi có được người này vui sướng, thích thú trong đó. Mà do người này khởi lên sự vui sướng, thích thú, cho nên người này mong muốn sự vui sướng, thích thú đó nữa, thì sự mong muốn đó là dục. Đương nhiên vị ngọt của dục, và có sự nguy hại của dục rồi. Về đâu phải là có vui sướng, thích thú không, người này về nhậu lên một cái là đánh bành thây áo dũ hết, rồi đem ra chửi mắng, hành hạ đủ thứ kiểu hết trơn.
Cái đó là tự mình phải biết đó, nó có vị ngọt thì nó cũng có sự nguy hiểm, tác hại trong đó. Chính vì vậy mà người ta mới tìm đường xuất ly, nếu mà có vị ngọt mà không có sự đắng, không có sự nguy hiểm, không có sự tác hại thì đâu ai muốn xuất ly, đâu ai muốn ly dị, ly thân, ai muốn đi tu làm cái gì nữa đâu. Vì nó nguy hiểm, tác hại đầy dẫy, vị ngọt rất ít, vị đắng càng nhiều, nguy hiểm và tác hại thì đầy dẫy. Chính vì có sự nguy hại, cho nên chúng sanh mới mong muốn sự xuất ly. Cho nên trí tuệ của Đức Phật tuyệt diệu không? “Vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly, này các Tỳ-kheo, ta tuyên bố có vị ngọt, Ta không có nói khổ không, nhưng mà cái vị ngọt đó rất là ít, mà sự nguy hiểm và tác hại này rất là nhiều”.
Nếu mà không có sự nguy hiểm và tác hại, thì chúng sanh đâu có tìm cầu xuất ly. Nếu mà chỉ có vị ngọt thôi, thị ai thèm đi tu làm gì, ai ly thân, ly dị, chia tay làm cái gì. Nhưng mà trong này nó nguy hại, nguy hiểm, nước mắt, bành thây áo dũ, trong này là những trận đòn. Trong này là những cái hành hạ, hành tội, hành xác với nhau. Cho nên người ta mới bỏ nhau, lìa nhau, chia tay với nhau. Cho nên tuyệt diệu lắm: “Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông”. Thật ra cái gốc của nó không phải là yêu đối tượng kia, mà là thích thú, tham đắm trong cái nữ tánh của mình. Mình được thỏa mãn cái đó, được thích thú, khoan khoái, sung sướng, thì mình mới đi tìm đối tượng kia.
Mà rước đối tượng nó không có đúng với ý của mình, thì như vậy bắt đầu sầu, bi, khổ, ưu, não sanh. Ôi cha! Bài kinh này khủng khiếp lắm, cái này mà mình thiền quán, nghiên cứu thâm sâu, sâu sắc, mà mình diễn đạt ra nó thành một cái chủ đề, quyển sách vĩ đại cho nhân loại đó, đây là tâm lý học tối thượng của hành tinh này. “Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông”. Chúng ta nhớ là họ thích thú, tham đắm trong nữ tánh, nam tánh của mình, cho nên họ đi đến đàn ông hoặc đàn bà. Cái gốc bên trong là tự thể ái, thích cái tự ngã của họ, yêu thích cái dục của họ.
Họ tham đắm cái mà khao khát, thèm khát, khát ái ở trong đó, thì mới tìm đối tượng ngoài để làm cho nó thỏa mãn cái khao khát, khát ái, thèm khát đó. Mà nó đi tìm lộn địa chỉ, lộn chỗ là nó đi tìm dài dài, tìm hết đời này tới kiếp khác. Nó đi tìm hoài hoài, mãi mãi, cho đến khi nào nó đi tìm ra đạo xuất. Thì lúc đó mới ái tận giải thoát, tuyệt vời không? Đi tìm lộn địa chỉ, đi tìm lầm đường, tìm lạc lối, tìm hạnh phúc mà toàn khổ đau không, gặp toàn sầu, bi, ưu, não không. Cho nên: “Như vậy này các Tỳ-kheo, nữ nhân không có thoát được nữ tánh của mình”. Một nam nhân của như vậy, họ cũng tham đắm, cũng thích thú ở trong bộ phận sinh dục của mình, ở trong hình hài, hình thể, hình dáng, hình thức, hành vi, chủng loại, giống của mình.
Trong cái dục, cái tham muốn, cái âm thanh của người nam, tham đắm, thích thú trong đó. Cho nên người này mới tác ý đến nữ căn ở bên ngoài, đối tượng cho nó thỏa mãn. Muốn tìm những hành vi, y phục, trang sức, cái giống, cái ham muốn, âm thanh của người nữ. Người này tham đắm, thích thú trong đó, do tham đắm và thích thú, cho nên người này muốn có được người nữ đó. Có được sự hệ lụy đó, thì người này khởi lên những vui sướng, thích thú. Và người này ước muốn được cái vui sướng, thích thú đó. Mong muốn, thèm muốn, khao khát, thèm khát, đói khát, khát ái với những cái tham muốn, thích thú đó. “Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người nữ. Như vậy này các Tỳ-kheo, nam nhân không có thoát được nam tánh của mình”.
“Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự trói cột, khổ lụy”. Chữ “hệ” là trói cột, chữ “lụy” là làm khổ lụy cho nhau. Trói cột trở lại để làm khổ cho nhau, hành hạ, hành tội, hành xác, hành phạt với nhau. “Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy”. Thứ này là thứ bất tịnh, thứ này là thứ nhớp nhơ, mà bậc đạo sư giảng là phải quán cái chỗ trong đó, bộ phận sinh dục đó. Quán đây là mầm mống của súc sanh, đây là tai họa, đây là sự nhục nhã, sự thấp hèn, sự tồi bại, sự hạ liệt, sự phàm phu, sự bẩn thỉu, nhơp nhớp, tanh hôi. Sự mầm mống của súc vật, súc sanh, thú vật.
Phải thường thường tác ý như vậy, thường thường quán chiếu như vậy. Để nhiếp phục, chế ngự, diệt tận cái tâm tham đắm, thích trong đó. Mình nhiếp phục dục ái, đoạn tận dục ái trong đó. Phá đi cái nam tánh hay cái nữ tánh, cái sự dục ái, ham thích. Thường xuyên như vậy, mỗi khi mình tắm, nhìn thấy là mình tác ý liền. “Đây là sự nhục nhã, sự đê tiện, sự thấp hèn, hèn hạ, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tồi bại, mầm mống của súc vật, thú vật. Ta không muốn, không thích, không ưa cái này. Quyết tâm diệt tận, chấm dứt hoàn toàn cái thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, tồi bại”. Thường xuyên tác ý, nhắc nhở, quán chiếu, la rày, quở trách những thứ như vậy. Để cái tâm này nhả ra, những tâm dục, tâm ái, tâm tham đắm, tâm ham thích, thích thú này nó khạc ra, nhả ra, ói ra, mửa ra.
Nó từ bở, vứt bỏ, liện bỏ, quăng bỏ, giục bỏ. Nó không tham, không đắm, không thích, không khoái trong đó. “Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý đến nam căn ở ngoài”. Do không tham đắm, không thích thú trong đó cho nên đâu có mong muốn, nghĩ ngợi tới những đối tượng thèm khát, khát ái ở bên ngoài nữa. Những hành động, những y phục, những cái giống, những cái dục, những cái âm thanh, trang sức của người nam. Người nữ nhân đó không có tham đắm, không có thích thú tại đấy. Vì người đó thường quán, thường chiếu, thường suy xét, thường tác ý như vậy. “Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nữ nhân ấy không muốn có sự hệ lụy ở ngoài”.
Do không có tham đắm trong ấy, không có sự thích thú trong ấy, người nữ nhân đó không có sự hệ lụy ở ngoài, không có đi tìm, không có tầm cầu, không có tìm kiếm, không có trói trăng, không có sự khổ lụy vì đối tượng bên ngoài nữa. “Do duyên hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ, nữ nhân ấy không ước muốn lạc, hỷ ấy”. Ở trên là không tham đắm, không thích thú, bây giờ là không muốn dục, không ái, không tham. Không có mong muốn, không có ước muốn, không có mong đợi, không có trông chờ, không có hy vọng, không có ước muốn cái gì vui sướng, cái gì thích thú hết. Chúng ta thấy tu như vậy thì mới đi đến giải thoát, tu như vậy mới đi đến ly dục, mới đi đến chỗ diệt tận hoàn toàn, tất cả khát ái, ái tận Niết-bàn.
Chứ còn làm sao mà mình cứ như vậy hoài thì cái gốc khát ái, dục, tham, truy tầm còn y nguyên. Nhiều khi cái thân thì không còn, nhưng mà cái tâm bên trong thì nó đâu có nhiếp đâu. Nó vẫn còn ham, còn thích, còn muốn, còn khoái, tại vì chẳng qua nó không có gặp đủ duyên thôi. Chứ còn gặp đủ duyên thì coi sao, có theo cái dục quay cuồng không. Cho nên mình diệt hằng ngày, hằng giờ, đây là pháp tu tối thượng giải thoát đó, trực chỉ, chỉ ngay thẳng cái chỗ đó luôn. “Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nữ nhân thoát được nữ tánh của mình.”
Thoát được nữ tánh là giải thoát đó, thì tối thiểu ở đây là cũng phải lên thiên giới. Tại vì không còn mang những cái thân có những bộ phận nhơ nhớp, bệnh hoạn như vậy nữa. Tối thiểu cũng là thánh đệ tử thiên, bất hoàn thiên. Vì không ham, không thích, không khoái, không muốn cái thân như vầy nữa, cho nên không có cái thân dơ bẩn nữa. Còn nếu lậu hoặc còn thì thành thánh đệ tử thiên, lậu hoặc hết thì thân này là thân cuối cùng. Không ham, không thích, không muốn nữa, thì chấm dứt từ đây cuộc tái sanh. Một nam nhân thì cũng giống như trên, đối với người nam cũng vậy. Thành ra chữ này nếu mình đọc thì mình không hiểu chữ “tác ý” và “không tác ý”.
Hai chữ này ở trong đây nghĩa nó lớn lắm, tức là những cái thầm ý, những cảm thọ, những nhận thức mà nó yêu thích, nó khoan khoái, nó chấp thủ ở trong này, đó gọi là có tác ý. Còn không tác ý ở đây có nghĩa là đánh phá những cái đó, không chấp nhận, từ bỏ, diệt tận những cái đó, gọi là không tác ý đến nội nam căn. Đến nam hành, những hành động của người nam, y phục, hành động, giống nòi, ham muốn, âm thanh, trang sức của người nam. Do không tham đắm, không thích thú nên không tác ý đi tìm dục của người nữ ở bên ngoài. Do không tham đắm, không thích thú nên người nam này không tham đắm, không thích thú đối với sự vui sướng, thích thú trong đó, người này từ bỏ, người này diệt tận.
Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những nữ nhân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nam nhân thoát được nam tánh của mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hệ lụy. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn hệ lụy và ly hệ lụy”. Thoát được nam tánh của mình, thoát được những suy nghĩ, những cảm thọ, những tư duy, nhận thức đó. Thấy chúng nó là bất tịnh, là hèn hạ, khổ đau, thấp kém, bẩn thỉu, phàm phu, hạ liệt, nhơ nhớp, là mầm mống của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Người này vứt bỏ, quăng bỏ, từ bỏ một cách hoàn toàn ở trong những cảm thọ, nhận thức, tư duy của mình.
Người này đi đến nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận dục, tham, ái, tầm cầu hỷ. Chấm dứt, đoạn tận sạch sẽ một cách hoàn toàn, thanh lương, tịch tịnh, người này không còn hệ lụy, đi đến được giải thoát. Tối thượng không? Vi diệu, thần diệu không? Đó là thánh đạo độc nhất vô nhị, ở trong tam thiên đại thiên thế giới. Chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác, đại cồ đàm, thiên nhân sư, chánh biến tri, vô thượng giác chỉ cho chúng ta. Chỉ ra một cái đạo lộ như vậy, thoát khỏi cái thân nam, thoát khỏi cái thân nữ, bất cứ hình thái nào của dục ái, đều thoát ra hết. Đó là đạo lộ giải thoát vi diệu, thần diệu, thánh diệu, thù diệu là con đường này, là lối thoát ra này.
Trong vô lượng, vô số, vô biên, vô thỷ kiếp trong dòng luân hồi sanh tử chúng ta chưa từng được nghe, chưa từng được học, chưa từng được hiểu, chưa từng được thực hành, chưa từng được chứng nghiệm. Bây giờ nghe được rồi, hiểu được rồi, thực hành đi. Để chứng nghiệm, chứng đắc, chứng đạt, nhất trí không? Chúng ta muốn chia sẻ gì không?
III. Trình pháp
Phật tử 1:
“Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí.
Đệ tử con pháp danh Liên Hoàng, hôm nay xin được trình pháp lên sư phụ. Thật sự hôm nay con rất biết ơn sư phụ, đã giảng dạy cho con một bài kinh nói evef ái và dục, đối với người nữ vầ người nam. Trong cái tưởng của con nghĩ lại một cái hành trình của tuổi thanh xuân, con thấy con may mắn và hạnh phúc. Con thấy con có một cái tánh con thấy rất là kỳ, nhưng hôm nay nghe sư phụ nói ra con nhìn vào cái kỳ đó mà con được an lạc và hạnh phúc trong cái pháp ngày hôm nay. Con là dạng người phụ nữ, mà mấy bạn con nói là tánh giống đàn ông. Nhưng mà con không thích phụ nữ, con cũng không thích đàn ông luôn. Con thì đi làm công nhân, con tiếp xúc rất nhiều phụ nữ, con thấy phụ nữ bây giờ giống như một siêu nhân, họ quá khổ.
Họ vừa phải bưng chảy kiếm tiền, họ còn phải lo cho con cái. Rồi về nhà gặp những người chồng bảo thủ, gia trưởng, con thấy được cái khổ của người phụ nữ. Rồi trong gia đình có em gái con cũng lặp gia đình, rồi cũng rất là khổ khi dính vào một người chồng rất là gia trưởng. Vì vậy mà con có cái sợ, khi là con gái thì tuổi thanh xuân ai cũng mơ ước có một người yêu thương mình, con cũng từng có mong ước như vậy. Nhưng khi mà con người thấy được cái khổ, trong tâm con cũng có suy nghĩ: “Thà khổ một mình, chứ không muốn khổ cả 3”. Thế là con có một hành trình là đi làm, đi thiện nguyện, đi chấp tác công quả cho chùa, tu tập và lo cho gia đình mình là đủ lắm rồi.
Nhiều người hay khuyên con lặp gia đình, để sau này không khổ. Con mới trả lời một câu là: “Con biết con sẽ khổ, nhưng con khổ một mình chứ không muốn khổ cả 3”. Trong con nói về cái ái, thì cũng có cái ái và cái dục, cũng có muốn và thích người khac thương, người khác quan tâm mình. Nhưng mà khi gặp người bạn khác phái thì con cũng rất là hòa đồng, gọi là cũng dễ thương. Nhưng một thời gian đi chơi với nhau thì con nhận diện ra người đó có tình cảm với con, thì tự nhiên cái tâm của con nó lại giống như có sự phản xạ ngược lại, nó bảo thủ. Nó đối xử ngược lại với người bạn đó một cách thô tháo, cộc cằn. Con cũng cố tình làm điều đó, để cho người bạn khác phái của con tự nản và từ bỏ.
Con cũng thấy qua nhiều người bạn khác phái thương con, con cũng đối xử giống như vậy hết.
-Sư phụ: Chú tâm ngắn gọn thôi, để cho các chư tôn đức khác còn trình pháp nữa.
Dạ sau khi sư phụ hướng dẫn về cái ái và cái dục, thì con thấy con cũng đã từng có ái và con dục. Con không biết đó là do sự tác ý và không tác ý, thì bây giờ sư phụ chỉ rõ ràng. Thì con có nhận diện ra là con không có tác ý nhiều trong cái ái và cái dục, cho nên bây giờ con mới có sự an lạc và vững bược. Để đi vào con đường đạo, và không còn dính mắc đến những hệ lụy ở bên ngoài. Hôm nay con được sư phụ khai mở bài pháp này, con rất biết ơn trên Đức Thế Tôn, sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô đã hướng dẫn, chỉ dạy cho con trong mỗi ngày tu tập. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
Phật tử 2:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạc trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí.
Sáng nay con được nghe sư phụ giảng bài kinh về dục ái, con thấy như một bức tranh hiện thực, mà từ lâu con đã tư duy, đã suy tư. Lúc nhỏ gia đình con sống một gia đình khá là hoàn hảo, cha mẹ, anh em không có cãi lộn với nhau. Nhưng bên cạnh đó, trước mặt nhà con, con nhận ra những điều khổ mà con đã nhìn thấy. Sáng nay sư phụ nhắc lại những hệ lụy của những người nam, những người nữ. Thì trong con như bừng tỉnh lại, cái tưởng trong con hiện về. Thì lúc đó con thấy trước nhà có có anh chị đó yêu thương với nhau, lúc đầu thì cô ấy nói gì anh ấy cũng nghe. Trong ngày cưới thì anh có tặng cho chị một chiếc nhẫn, thì con nghĩ anh ấy bắt chị kia phải nhẫn với anh ta một đời.
Rồi thêm sợi dây chuyền, thì lúc đó con nghĩ ngay đó là sợi dây xích trói buộc. Lúc đó con nghe bài hát vọng lên của hàng xóm: “Con cá ham mồi, con cá rồi đời, con cá rồi đời”. Tự nhiên trong con nổi lên 1 sự sợ hãi, hãi hùng, hoảng hốt, mà con không dám nói với bất cứ một ai. Sau khi cưới về rồi, thì anh ấy lên giọng với chị kia. Một, hai năm sau thì sanh ra một đứa con, lúc này không ai hòa với ai cả. Thì con tư duy lúc này thôi khổ quá rồi, 2 đứa nói cả nhà cùng nghe đi. Cuối cùng người ta cũng tìm đến cái khổ với nhau. Có một tình huống khác là anh ấy nói với chị kia rằng: “Anh yêu em say đắm”. Thì lúc đó trong con kêu: “Rồi, bị dụ nữa rồi”.
Bởi vì sao? Bình thường thì anh ấy rất là tội nghiệp, rất là dễ thương. Nhưng đến khi rượu về rồi, thì đánh chị kia tơi bời khói lửa. Trong con cảm thấy sợ hãi, lo sợ, hãi hùng. Con lại thấy một tình huống khác nữa, là bình thường người chồng say xỉn về đánh người vợ. Một ngày đó, anh ấy bị tai biến nằm một chỗ, chị vợ bưng cháo đến và cằn nhằn. Thì con tự hỏi: “Người ta có vợ để làm gì? Thì ra là người ta có vợ để nhờ vả”. Đến khi người ta nhờ không được thì người ta vả, đây là không có gì hạnh phúc, người ta chỉ lợi dụng với nhau mà thôi. Rồi người ta có chồng để làm gì? Người ta có chồng để dựa dẫm, bây giờ người ta dựa không được người ta dẫm.
Một màn trời bao phủ, con thấy toàn là khổ đau. Chính vì vậy ngay từ nhỏ, con chưa bao giờ có ý muốn lặp gia đình. Đến khi mười mấy tuổi, con vô chùa, thì có sự tranh cãi giữa Tăng và Ni. Nhờ được học giới luật, được quý ngài chỉ dạy, chỉ rất là tỉ mỉ. Con cứ theo đó học, và nhìn gương sáng của các bậc thánh trí tu tập như thế nào. Con không theo sự cạnh tranh giữ 2 giới nam nữ, con tư duy người xưa đàn cây đàn Tỳ bà, đó nghĩa là cây đàn không có dây, là không có sự trói buộc. Mà ngày hôm nay trên thế gian này, hơn 2000 năm qua, người ta có 2 loại đàn, mà tới bây giờ người ta vẫn còn đang tranh cãi. Thì mấy huynh đệ hỏi con đàn gì? Thì con nói một là đàn bà, 2 là đàn ông.
Con nói 2 loại đàn này là 2 loại đàn phức tạp, là phiền phức, không đem lại lợi ích gì cả. Bây giờ nếu như mình thực tâm mình tu, thì mình phải loại bỏ 2 loại đàn này. Khi mà cái tâm mình còn phân biệt, còn nam, còn nữ là còn phân biệt. Mà còn tâm phân biệt là còn tâm phàm phu, và vô tâm phân biệt là tâm không phàm phu nữa, thì con tu hành mới được thành tựu. Chính vì suy nghĩ này, mà trên con đường tu tập của con, con lắng động tâm tư, ít tiếp xúc, ít giao thiệp, thầm lặng, an trú. Nhưng ngày hôm nay được nghe sư phụ giảng về bài kinh này, như một bức tranh hiện thực trong con. Con thấy sao sư phụ biết được tư duy, tâm tư, nguyện vọng của con, mà sư phụ nói lên bài kinh này.
Thật vi diệu thay sư phụ ơi, thật hạnh phúc thay sư phụ ơi. Con không còn gì ngoài việc bây giờ tiếp tục, tiếp tục khám phá, tinh tấn, tinh cần, để đoạn dục ái. Và còn lắng động trong sâu thẳm con chưa phát hiện ra. Giờ này con xin đảnh lễ tri ân sư phụ, người đã làm cho trí tuệ con bừng sáng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phật tử 3:
“Nam Mô con xin đảnh lễ bậc đạo sư, bậc thầy, con xin nói tấm lòng của con. Con biết ơn thầy, con về đây được 20 ngày thôi, nhưng mà con rất biết ơn thầy và quý sư thầy, quý sư cô, quý cô ở nhà bếp. Đã cho con chỗ ăn, chỗ ở thật là ấm áp, nhà bếp đã cho con những bữa cơm rất là ngon, no lòng, ấm dạ, có sức khỏe. Con ở đến ngày hôm nay con biết ơn nhiều, biết ơn sư phụ đã cho con một chìa khóa vàng đã cho con mở cửa vô minh, tăm tối của con, để hằng ngày con dọn dẹp được sạch sẽ. Con nhờ có quý thầy, quý sư, quý cô hướng dẫn, gần gũi với con để con được học hỏi, biết được giáo pháp của Phật.
Cám ơn sư phụ, quý thầy, quý sư cô ở đây đã mở tấm lòng hiền hậu, bác ái cho con, con rất là quý mến. Con nghĩ như là thầy đã cho con một ly sữa, thấm ướt trong thân tâm của con, con mát mẻ, tỉnh táo hơn. Con tưởng chừng như là con được trẻ trung hơn nữa. Thầy đã cho con lên chỗ này tu, lên chỗ mặt trời, mặt trăng, con thấy là con ngồi đó con cũng được như về cảnh tiên Phật. Con thấy thầy ngồi giảng, trong tâm thức con nghĩ, thầy là một vị Phật giáng trần, để dạy dỗ cho chúng con tu học, con rất là ngưỡng mộ và quý mến thầy.
Ngày mai con xuống núi, con cũng mong ước ngày nào con lên lại, con cũng gặp lại quý thầy, quý sư cô và hiền giả ở đây, dắt dìu cho con. Còn nếu mà con không lên được, nếu có việc gì cản trở, thì con xin sư phụ cũng tha thứ và hỷ xả cho con. Nếu có việc gì có đến mà không theo ý muốn của con, thì con có ra đi con cũng mãn nguyện lắm rồi, con không còn gì để nói nữa.
-Sư phụ: Cô về cố gắng thực hành pháp, cái đó là điều quan trọng nhất, hãy lắng nghe chư tôn thiền đức chia sẻ pháp.”
Phật tử 4:
“Con pháp danh Ấn Đức, xin được đầu thành đảnh lễ Đức Phật, Chánh Pháp, chúng Tăng và thánh giới tối thượng. Ngũ uẩn con xin được nói lên cảm thọ của mình, trong buổi con được nghe sư phụ truyền thánh pháp thượng. Trong con dạt dào tràn đầy một lòng biết ơn, lòng tôn kính, đối với Đức Thế Tôn, đối với chánh pháp li tham tối thượng. Con biết ơn bậc đạo sư, mẹ hiền thánh, và sư phụ tôn kính rất là nhiều. Khi con nghe những lời sư phụ chỉ dạy, thì cái tâm con được sáng lên. Khi con nghe sư phụ giảng dạy về bài kệ: “Chạy xa sống một mình, không thân ẩn hang sâu, ai điều phục được tâm, thoát khỏi ma trói buộc”.
Trước đây khi con đọc những dòng kệ này, thì trong tâm con chỉ khởi lên sự nhắc nhở mình hoan hỉ. Mình sẽ thoát khỏi đời sống ràng buộc của gia đình, đến Linh Quy, nơi rừng thiêng, núi thiêng để mà tu tập theo thánh pháp tối thượng. Một nơi rất là an tịnh, và tập sống đời sống phạm hạnh, sống viễn ly. Nhưng mà lời giảng dạy của sư phụ con rất là xúc động, nhắc nhở chúng con phải có sự nghiền ngẫm, quán chiếu thâm sâu ở mọi gốc độ, khía cạnh. Và chúng con rất chân động: “Không thân ẩn hang sâu”, tức là những cảm thọ ngấm ngầm, những suy nghĩ cũng như những hình bóng, sự rõ biết ngấm ngầm sâu kín rất nhiều ở các tầng sâu. Mà chúng con cần phải soi xét thân tâm của mình, để mà phát giác, phát hiện.
Khi con được nghe sư phụ chỉ dạy rằng, phải quán chiếu thật thâm sâu, đừng tưởng được như vậy một chút là đã được rồi. Con rất là xúc động, và trong tâm con lúc đó khởi lên lời của bậc đạo sư: “Mục đích của sự tu là nhìn lại thân tâm này, phát giác, phát hiện những sâu bọ, rắn rết, những yêu ma quỷ quái để mà diệt. Nhưng mà sự cay đắng của đời tu này, là không nhìn thấy sự thật về thân tâm ngũ uẩn này. Không phát hiện ra sâu bọ rắn rết, thì làm sao mà diệt được”. Câu này khi con nghe bậc đạo sư chỉ dạy như vậy, con thấy rất là thâm sâu của đời tu. Cùng với sự chỉ dạy của sư phụ, tâm con có khởi lên trong cái thân ngũ uẩn này, giả danh là Ấn Đức này, là một cái tâm của một con mãn xà, một con hổ mang chúa.
Chính cái tâm mê này, ngu si này, đã nuôi dưỡng nó trong vô lượng kiếp. Rồi đến khi gặp dòng thánh pháp này, nếu như không nhìn sâu, và biết nhận diện ngũ uẩn một chút. Mà nắm được vào cái đuôi của con hổ mang chúa này, là nó vùng vẫy. Trong tay con hiện nắm được phần đuôi có tí xíu thôi, nó ngọ nguậy ở trong bàn tay. Nhưng cái tâm mê này tưởng chừng đã giết được nó, nhưng mà không phải. Có một cái tâm rất là mù lòa như vậy, con rắn hổ mang chúa này nó sẽ giết con vô lượng kiếp. Một cái hình bóng thứ 2 hiện lên trong tâm con, đó là con trôi lăn trong dòng sanh tử, cứ lặn hụp, lặn hụp. Và khi con biết đến dòng thánh pháp tối thượng này, thì có những lúc sóng nó làm bàn tay này chạm vào con thuyền Bát Nhã.
Mà các bậc Thánh đã vượt khỏi trùng khơi, mà đến bờ giải thoát. Thì cái tâm mê này nó cũng tưởng là, nó đã được lên thuyền Bát Nhã rồi, nhưng không phải, con thấy rất là sâu sắc. Và khi sư phụ giảng đến những hệ lụy, thật sự con chấn động. Những lời dạy thâm sâu, vi diệu, tối thượng của Đức Thế Tôn, là có một không hai. Một bài pháp mà giải mã cho dòng sanh tử luân hồi của con, cũng như tất cả thế giới ngũ uẩn vô minh này. Rất là khủng khiếp, nhìn lại thì đúng thật. Khi mà con còn sống trong đời sống của một gia đình, thì đúng gần 60 năm con đã ái với một mái tóc, quá khủng khiếp. Khi mà con được nghe những người xung quanh, đặt biệt là những người gần gũi con nhất, gắn bó với con gần cả một đời nói rằng: “Người nữ thôn quê là phải dịu dàng, hiền thục, phải có một mái tóc dài”.
Rồi có người nói rằng: “Nhìn con suốt bao nhiêu năm, con chưa hề làm cái mái tóc này, không dám cắt, chứ còn nói gì mà duỗi, uốn”. Khi nghe những lời này, thì thật sự con mới thấm được đó chính là ái, chính là con rắn độc, con mãng xà, con hổ mang chúa nó đã giết con vô lượng kiếp, quá khủng khiếp. Khi về đây tu thì con cũng nhìn lại, con bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ gia đình, bỏ những người thân thiết, bỏ rất là nhiều đồ vật con bỏ được. Nhưng có rất nhiều đồ vật nhỏ không đáng gì cả, nhưng con lại ái. Thâm sâu vi diệu lắm, con ái nó, tức là con ái cái thân đàn bà dơ bẩn, khốn khổ, khốn nạn này. Trời ơi! Con thật biết ơn Đức Thế Tôn, biết ơn thánh pháp.
Ái là cội nguồn của sự tái sanh, của đau khổ, dục là cội nguồn của đau khổ. Sư phụ ơi con hạnh phúc lắm, giờ này con ngồi đây, con được nghe dòng thánh pháp tối thượng. Con được tu tập, thực hành theo lời của Đức Thế Tôn, lời dạy của bậc Thánh, của bậc đạo sư, của sư phụ. Hôm nay con có sự hoan hỉ thật sự, bởi vì nhị lại sự tu tập của mình, con còn rất nhiều những rác bẩn. Con còn buông lung phóng dật, có những lúc con để cho ngũ uẩn nó dẫn con. Nhưng con cũng rất hoan hỉ, là vì con đang tập nhìn ra rác và diệt rác. Trong những tháng vừa qua, con phải thường xuyên, liên tục để con băm, chặt, chém, bằm cho nát chín miệng vết thương. Đem thiêu đốt nó thành tro, thành bụi, tan biến vào hư không.
Có thể chỉ một bức ảnh gia đình, trong tâm con cũng khởi ra được: “Mày là yêu quái, mày là yêu tinh, mày là con hổ mang chúa, kẻ giết tao vô lượng kiếp”. Còn nói gì đến những bộ phận trong thân thể khởi lên, cho nên con hạnh phúc lắm sư phụ ơi. Con rất hạnh phúc, một con đường tu tập thật là tối thượng, thật là rõ ràng, sáng sủa, minh bạch, vi diệu, thần diệu, tối diệu. Mà Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác đã để lại cho chúng con. Mà giờ này, tại nơi đây, dòng thánh pháp đã bị mai một, vùi lắp hơn 2000 năm, mà con đã được bậc đạo sư, mẹ thánh hiền, đầy đủ đức hạnh, thánh hạnh, thiền định, thánh trí, trao truyền lại cho chúng con.
Sư phụ ơi, chúng con hạnh phúc lắm! Giờ này đã được sư phụ, người con ngoan chơn chánh của Đức Thế Tôn, ngài cạn tâm huyết với dòng pháp này, thương kính dòng pháp này. Thương chúng con, thương chúng sanh ngu lâu dốt bền. Đến giờ này chúng con vẫn được nghe những lời tối tôn, tối thượng của Đức Thế Tôn. Con xin tri ân công đức của Tam Bảo, và thánh giới. Con xin tri ân công đức của bậc đạo sư, mẹ hiền thánh, con xin tri ân công đức của sư phụ, bậc hiền trí, bậc cha thầy, người con chơn chánh của Đức Thế Tôn. Đã cho chúng con nương tựa vào chánh pháp tối thượng này. Để chúng con tu tập, và dần thoát ra khỏi sự vô minh.
Giúp chúng con sẽ thoát ra khỏi được dòng luân hồi sanh tử vô lượng, vô kiếp, mà chúng con đã chịu đựng vì sự ngu si. Con hạnh phúc lắm, bây giờ trong tâm con đã có con mắt trí tuệ , con sẽ cố gắng tu tập. Trong tâm con khởi lên một ước muốn rất sắc bén, sẽ chấm dứt sự sanh tử luân hồi ngay trong kiếp này. Con cảm ơn một lần nữa trên Tam Bảo, Thánh giới, bậc đạo sư, sư phụ thật là nhiều. Xin tri ân công đức của các quý thầy, quý sư cô và các bậc hiền trí cũng như toàn thể đại chúng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Thích Minh Thành
Ngày 09 tháng 01 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quan sát thân tâm – nhận diện dục ái PAGEREF _Toc188261622 \h 1
II. Diệt trừ tham ái PAGEREF _Toc188261623 \h 13
III. Trình pháp PAGEREF _Toc188261624 \h 23
I. Quan sát thân tâm – nhận diện dục ái
Đảnh lễ Đức Thế Tôn – Bậc A-La-Hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Giáo Pháp Ly Tham Tối Thượng.
Đảnh lễ Bốn Đôi Tám Chúng, Bậc Đạo Sư Pháp Nhãn Thù Thắng.
Đảnh lễ Thánh Giới Tối Thượng.
Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí, chúng ta cần có rất nhiều thời gian quán sát thân tâm của mình thật là nhiều. Quả thật là chúng ta cần rất nhiều thời gian, vì sao? Thì sự nhận diễn ngũ uẩn mà mình đã được học đó, thì cách nhận diện nó rất là hời hợt, cạn cợt, qua loa bước đâu thôi. Thời gian con được ở yên, thì con phát hiện ra rất nhiều thứ rất là đầy lo lắng. Cái tâm này của mình là chỉ cần mình lơ là, lơ đễnh thôi, thì toàn bộ cái tâm hoàn toàn sống trong cái dục, ái, trong cái tầm câu, khao khát, vô minh. Thành ra bốn chữ vô minh và khát ái, đây lại là một đề mục thiền quán vỹ đại của tam giới, lục đạo, tứ sanh, cửu ngũ.
Không phải mà mình dễ thấy được vô minh và khát ái. Nó không có giống như mình học qua loa, phớt phớt trên chữ nghĩa hay là nhận diện sơ xài ở ngoài da, thiển cận. Vì cái gốc khát ái ở bên trong, nó là một cái gốc thâm căn, cố đế, cổ thụ. Không phải là ngàn năm, vạn năm, mà là vô lượng, vô số, vô thỷ kiếp. Khát ở đây nói cho mình dễ hiểu là sự khao khát, thèm khát, đói khát, giống như là mình khát nước, đói bụng vậy đó. Thì ở bên trong mình luôn luôn có một cảm giác khao khát, thèm khát, đói thiếu. Khát ái lúc nào nó cũng có ở trong đó hết trơn đó. Nói cho dễ hiểu thì khát là khao khát, ái là yêu thích. Khao khát được yêu thương, và mình khao khát ở trong cái sự yêu thích ở bên trong, rồi mình khao khát được yêu thích, yêu thương, được đáp lại của đối tượng ở bên ngoài.
Thì ở trong dục chúng ta đã học rồi 7 trí về dục, thì trí tuệ về dục trong bài kinh “Một Pháp Môn Căn Bản”, chúng ta nghe kỹ lại. Ở bên trong là những tu duy ham muốn vè dục ở trên đời, và năm đối tượng là sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, sự xúc chạm là 5 đối tượng dục ở bên ngoài. Còn ở bên trong là những tư duy ham muốn, thì hai cái này đều gọi là dục hết. Thì cái ái cũng vậy, bên trong là sự khao khát, ham muốn, bên ngoài là những đối tượng. Cho nên mình muốn thương, và mình muốn được yêu thương. Thành ra chữ khát ái, dục hỷ và tầm cầu này là đại thiền quán, đại đề mục để thiền quán. Cái ái, cái dục này nó giống như cặp sanh đôi, cặp bài trùng, có ái là có dục, thì nó đi kèm vô trong đó là hỷ và tầm cầu.
Tức là có thích là có mong muốn, có khoái (khoái ở đây là hỷ, nói tiếng Việt cho dễ hiểu). Thích, muốn, khoái thì nó phải đi tìm kiếm, đây là bộ tứ từ cái khát ái thì nó có mong muốn. Nó vui, nó mừng, nó thích, nó khoái, vì nó thích nó khoái thì nó mới đi tìm cầu, tìm kiếm chỗ này chỗ kia. Cho nên chúng ta nhớ trong bài kinh Đức Phật giải thích về chữ khát ái, là đi tìm kím chỗ này chỗ kia. Chạy hết chỗ này nó tìm, tới chỗ kia nó kiếm, tới chỗ nọ để nó truy tầm. Mà truy tầm cái gì? Truy tầm cái mà nó khao khát, nó đói khát, nó thèm muốn. Cho nên khi mà mình chiêm nghiệm, mình quán xét rồi mình thấy nó sâu lắm, ái tận là giải thoát là một câu khẩu huyết.
Bốn chữ “ái tận giải thoát” là mồ hôi, nước mắt, máu, sanh mạng, là cả một thánh đạo giải thoát. Hằng ngày là chúng ta sống trong dục, trong ái. Chúng ta nhìn kỹ và có sự nhận diện sâu sắc trong sự tĩnh lặng, chúng ta mới thấy và hiểu được nó một cách sâu sắc.
“Tâm hoảng hốt dao động
Khó hộ trì khó nhiếp
Người trí làm tâm thẳng
Như thợ tên làm tên
Khó nắm giữ kinh động
Theo các dục quay cuồng
Lành thay điều phục tâm
Tâm đều an lạc đến
Tâm khó thấy tế nhị
Trong các dục quay cuồng
Người trí phòng hộ tâm
Tâm hộ an lạc đến”
Cái chữ “hoảng hốt” ở đây không phải giống như nghĩa tiếng Việt mình đâu, mà hoảng hốt ở đây bất thình lình, bất chợt, bất ngờ, đột ngộ dao động. Tư nhiên nó nhìn thấy một con người, nhìn thấy một món đồ đẹp, cảnh đẹp, người đẹp, bất thình lình, bất chợ nó dao động liền. Rất khó hộ trì, khó nhiếp, khó giữ, khó thâu trở lại, cho ên “khó nắm giữ khinh động”, nó cứ lăn xăn, nó cứ dao động. Tại sao nó lăn xăn, dao động khó nắm giữ, tại sao bất thình lình chạy hoài như vậy? Theo các dục quay cuồng. Cho nên chỗ này là chỗ thâm sâu, tại sao tâm mình không an tịnh, lắng dịu được? Tại sao tâm mình không dễ chịu được? Tại sao tâm mình không định được? Theo các dục quay cuồng.
Cái gốc khát ái ở bên trong, từ trong cảm thọ, cái gốc sâu thẩm ở bên dưới thì nó nung lên. Mình thấy giống như là nồi nước sôi mà nó sôi “ọc ọc”, rồi đẩy cái nắp nó rớt ra là cái “rổn”. Thông thường mình thấy rằng là nước sôi rớt cái nắp ra ngoài, nhưng mà mình nhìn sâu thì là do những thanh củi, lửa phía dưới nung. Thì đa phần chúng sanh không có nhận diện ngũ uẩn, không có thành tựu được thánh trí về dục. Thì ta có những ví dụ những người này như vùa lấy cái miệng thổi, vừa lấy cây quạt để quạt ở phía trên nồi nước sôi. Chừng nào nước nó nguội xuống được ạ? Củi thì cứ đun, lửa thì cứ đốt, trên này thì miệng thổi, lấy quạt để quạt, thì nước sôi nó có lắng dịu xuống được không? Nước có nguội, có lạnh lại được không? Không bao giờ.
Tại vì sao? Vì độ nung ở phía dưới, cái gốc khát ái chưa nhổ, cho nên cái dục này nó vẫn sanh hoài. Cho nên sự tu chúng ta là thánh trí kiến, Chánh tri kiến là phá vô cái gốc khát ái đó. Cái gốc khát ái đó với sắc, với thọ, tưởng, hành, thức. Thì chúng ta nhìn lại sâu sắc lắm thánh trí tuệ của Đức Phật, cái đạo lộ trình bày, tiên thuyết, hướng dẫn cho chúng sanh thâm sâu. Cũng như 5 giới là những cái thô thiển nhất, của cái khát ái, cái dục, chặn đứng được những cái thô đó trước. Cho nên 8 giới bắt đầu rộng rộng ra một chút, cho đến 10 giới Sadi rồi đi vào tới các giới Tỳ-kheo. Rồi cộng những cái giới, cộng những sự nhiếp phục, chế ngự tâm.
Cái sự hộ trì, thâu nhiếp, chế ngự, thiền định, cộng với thánh trí tuệ, thánh tri kiến đánh phá bên trong các mặt như vậy, để nhổ tận gốc khát ái này lên. Tất cả mọi cá là đập vô minh với khát ái, cho nên thành tựu thánh trí là phá vô minh. Các cái giới nhiếp phụ, chế ngự khát ái, cộng với cái thiền định làm cho nó an tịnh, lắng dịu lại. Thân, hành, niệm là phá khát ái, trong phần quán tứ đại, 32 thể trượt, 9 giai đoạn tử thi, cốt tượng, quán bộ xương, niệm tử. Như vậy tất cả mọi sự tu tập chúng ta là nhằm đánh phá vô cái hang ổ, xào quyệt vô minh của khát ái. Tại sao vậy? Bởi vì nó theo các dục, nó quay cuồng.
“Lành thay điều phục tâm
Tâm đều an lạc đến
Khó nắm giữ khinh động
Theo các dục quay cuồng”
Nếu mà chúng ta không có nhận diện sâu sắc, là mình không thấy đâu. Chúng ta suốt ngày theo cái dục quay cuồng, mình tưởng mình tu hay. Hoặc là tổng tư lệnh, khát ái nó nằm bên trong, nên chúng ta chú trọng vô khát ái nhiều, trước nay chúng ta nói vô mình nhiều rồi. Cái bộ mặt vô hình của nó là tổng tư lệnh, tổng đạo diễn giấu mặt, nó điều khiển bên trong. Cho nên mình thích ăn, thích chơi lắm, thích nói không? Thích làm không? Chữ thích này là chúng ta nói diễn tiếng Việt cho dễ hiểu. như vậy bây giờ chúng ta thấy không, tại sao mà chúng ta ngồi thiền rất là khó. Tại vì theo các dục quay cuồng, nhiếp phục, chết ngự nó không muốn.
“Khó hộ trì, khó nhiếp
Y như cá quăng lên bờ
Vứt ra ngoài thủy giới
Tâm này vùn vẫy mạnh
Phải đoạn thế lực ma”
Vùn vẫy giữ lắm, chúng ta thấy không? Mình mới vừa tu xong, mới vừa kết thúc thời quán là nó vùn vẫy ngay. Mà có nhiều khi nằm trong đó mà nó cà nhốm, cà nhốm lên, coi giờ, nó theo các dục, nó muốn đi ra cho nó thoải mái. Ngồi làm chi? Ngồi mà nhiếp phục các căn nữa, mà an tịnh lắng dịu nó khó chịu. Đó là tâm này vùn vẫy mạnh đó, mình phải nhìn cho nó sâu. Cho nên nhiều khi tại sao con nhắc những cái hết sức là bình thường như vậy đó, mà thật ra trong đó là cả một sự công phu tu tập. Mà tới nay con vẫn chưa thấy để mà làm được vấn đề mà đi qua tu, đi về tu, là đi thiền hành đó, mấy năm trời nay con vẫn chưa làm được.
Con vẫn tha thiết mong đợi làm sao mà bên chư Ni và chư Tăng phải làm được cái này, cứ đi qua tu là đi thiền hành, và khi đi về là đi thiền hành, trừ những người có bổn phận, trách nhiệm công việc. Đó là pháp học, đó cũng là nhiếp phục, chế ngực lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng buông lung phóng dật, tầm cầu ở trong đó, hỷ ở trong đó. Mình thấy không? Buông ra một cái là nó giống như cá gặp nước vậy đó. Nhiều khi vô để mà thiền, hay là vô để mà nghe pháp, trình pháp này kia là nhiều người mặt bí xị à, nhạt nhẽo lắm. Nhưng mà khi buông ra là cái mặt tươi rói à, tươi tắn, tỉnh táo, coi đầy sức sống hết trơn. Đó là dục hoạt động, ái hoạt động, buông lung phóng dật, tầm cầu nó đang hoạt động, đó là nói cái nhỏ cho chúng ta thấy đó.
Mà mình đâu có nhìn thấy được củi nó để vô trong cái lò lửa, cho nó nung lên, cho nó sôi ọc ọc, rồi cái nắp nó rớt ra ngoài mình đâu có biết. Người có quán ngũ uẩn, nhìn cảm thọ, chiếu vào trong dục ái thì mới thấy được. Những cái này nó vi tế, khó thấy được trong cái dục quay cuồng. Chính Đức Thế Tôn nói là: “Tâm khó thấy, tế nhị theo các dục quay cuồng”. Mình học được một chút, mình mới nhận diện ngũ uẩn được một chút mà mình tưởng đâu là rồi, tưởng đâu là ổn rồi đó, là mình chết. Chưa có biết gì hết, mình còn mù lòa dữ lắm, tâm mình bây giờ giống như ánh chớp vậy đó, lâu lâu trời sấm sét xẹt lên thấy mờ mờ sáng sáng vậy rồi là xong, còn lại là tối hù, tối đen, tối mực.
Thành ra mình phải để ý, cái dục, cái hỷ, cái tầm cầu gốc từ dưới khát ái. Nó muốn cái này, thích cái kia, tìm cái nọ. Chữ ái nói theo tiếng Việt cho dễ hiểu, như thích ăn, thích nói, thích mặc, thích chơi, thích làm, thích đi, thích thoải mái. Thoải mái chính là buông lung phóng dật, thả lỏng các căn. Thành ra những chỗ này, là chỗ sâu sắc để chúng ta chiêm nghiệm trong sự tu. Khi mà mình ngồi tu mình không hiểu soát được cái oai nghi của mình, nhất là lúc thiền quán, tức là lúc đó mình hoàn toàn không có thấy gì. Phải có một sự quay lại sát sao, khít khao, miên mật, thường xuyên, liên tục không gián đoạn thiền định, không gián đoạn thiền quán, không có đoạn sự nội soi.
Mình càng nhìn mình mới nhìn ra được, mình nhìn ra rồi mình khiếp sợ, mình quán sợ, mình kinh sợ, mình hãi sợ, mình lo sợ. Và từ trong đó mình có một động lực, sức mạnh để mình nhiếp phục, chế ngự, phòng hộ, bảo vệ để đi đến chỗ đoạn tận. Còn nếu không mình nhìn ra ngoài, mình không có tu gì hết trơn. Mình nhìn ra lỗi người này người kia, mình trách người này, mình hờn người kia, oán người nọ. Thành ra chỗ này là chỗ rất quan trọng, mình quay trở lại nhìn tâm của mình theo các dục quay cuồng mà. Suốt ngày như vậy đó, cứ nói hết chuyện này đến chuyện kia, hết chuyện kia tới chuyện nọ. Nói trong cái thể hiện cái tôi, nói trong cái muốn, cái thích dục, cái ái.
Nói trong cái hỉ hả thích thú, cười ha hả vậy đó, sướng lắm. Tưởng đâu cái đó là tốt, tưởng đâu cái đó là hỷ. “Duyệt hỷ tiêu tận” thì mới đạt được cái tâm thanh tịnh, bất động, giải thoát. Hỷ là cái tâm vui sướng, khoái, thích thú, hỷ hả đối với ngũ dục, ngũ uẩn. Thành ra trong Tương Ưng có từ “duyệt hỷ tiêu tận”, chữ “duyệt” đó là vui mừng, vui thích, hỷ hả. Cái này nó sâu sắc, nó vi tế lắm, thí dụ như mình nhìn thấy một cảnh đẹp, lúc đó mình có thấy thích thú không? Đó là hỷ đó, vừa có hỷ ái luôn đó. Rồi mình muốn chụp hình nó có dục trong đó không? Rồi mình muốn tìm thêm cảnh đẹp nữa thì đó là tầm cầu đó. Cái cảnh cũng vậy, mà món đồ cũng vậy nữa.
Mình nhìn thấy là: “Ồ, cái này tốt quá ha, cái này đẹp ha, cái này xịn he”. Là mình khoái, mình thích, mình muốn, mình tìm. Nhiều lắm, đầy dẫy hết trơn, vừa nhìn một cái thôi là thích, là muốn, là tìm kiếm. Vừa nghe một cái, vừa cảm thọ, vừa nhận thức một cái là nó dẫn chạy dài dài, chạy có cờ theo các dục quay cuồng mà, suốt ngày nó quay cuồng ở trong dục. Thành ra cái này là đề tài thiền quán, rất là sâu sắc cho chúng ta. Trước khi ăn, trong khi ăn, sau khi ăn, quán chiếu. Trước khi nói, trong khi nói, sau khi nói, mình xem nói bằng cái cảm thọ gì. Trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm, coi làm bằng cảm thọ, suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng gì. Trước khi đi, trong khi đi, sau khi đi, xem đi bằng cái gì.
Có đi bằng cảm thọ an tịnh, lắng dịu không? Hay đại bộ phận, đại đa số, 80%, 90% hay hơn nữa là đi trong dục, đi trong hỷ, đi trong tầm cầu, đi trong buông lung phóng dật. Trước khi nghĩ, trong khi nghĩ và sau khi nghĩ, xem suy nghĩ này có trong cái ái, cái dục, cái tham điều khiển, dẫn dắt, lôi kéo không. Hay là cái nghĩ trong cái ham, cái thích, cái muốn, cái khoái không à, không có cái trí soi rọi trong suy nghĩ đó. Mọi hình bóng trong tâm hiện lên thì mình xem hình bóng đó có dục, có ham, có thích, có khoái, có cho là mình, là của mình, là tự ngã của mình không. Nhận thức, rõ biết cũng vậy, mình coi cái rõ biết này nó có thích, có khoái không.
Những cái này là những chỗ sâu sắc, luôn luôn lấy dục, tham, ái làm đại thiền đề, tại tông án, đại đề mục để thiền quán mỗi ngày. Nếu mình quán chiếu được những cái này, thì tự động sự an tịnh, lắng dịu nó sẽ xuất hiện. Tự động mình sẽ ăn chậm lại, nói có chánh niệm lại, làm có sự an tịnh lại, đi có sự nhẹ nhàng, thong dong. Mình nghĩ cũng nghĩ từ từ, có sự soi xét trong suy nghĩ, nói tiếng Việt cho mình dễ hiểu. Mình yêu thích, ham muốn, khoan khoái và tìm cầu, phá được những cái này là mình tu đó. Như bài hôm trước con có đọc cho chúng ta, yêu thích là đau khổ. Cứ thích cái gì là mình diệt cái nấy, khoái cái gì là mình dập cái nấy, muốn cái gì là nhiếp phục, chế ngự cái nấy.
Mình tu riết như vậy rồi mình sẽ thấy phép mầu nó xuất hiện, sự tu của mình tiến bộ, tăng thượng. Thành ra trong trí tuệ này mình đọc trong kinh Đức Phật, thì mình thấy nó siêu khủng lắm. Những câu trong phẩm “Tâm Này Là Khiếp Đảm”:
“Chạy xa sống một mình
Không thân ẩn hang sâu
Ai điều phục được tâm
Thoát khỏi ma trói buột
Ai tâm không an trú
Không biết chân diệu pháp
Tịnh tính bị rúng động
Trí tuệ không kiên định”
Ta đi cho xa cái tâm này nè, tâm sống một mình trong ham, trong thích, trong muốn, trong khoái đó. “Đừng có ai mà đụng vô thích, muốn, khoái đó được, đừng có đụng tui à. Không ai mà đụng vô được hết, đụng vô là có chuyện à”. Nó ẩn trong cái hang rất là sâu, hang sâu thẩm cảm thọ đó. Bởi vậy cho nên tại sao mình phải nghe pháp, và tại sao mình phải thiền quán, để mình phá dòng cảm thọ đó. Chính là nó nung ở phía dưới đó, ở cái củi phía dưới, mới có cái lửa ở trên. Rồi xong tới nồi, tới nước, tới cái lớp phía trên sôi ọc ọc, nó văng phía trên mới đẩy rớt cái nắp nồi xuống. Mà cao hơn cái nắp nồi nữa là những luồng khói bốc lên trên, thì mình nhìn mình thấy khói ở trên đó, hoặc mình nhìn thấy cái nắp nồi rớt ra à.
Vô văn phàm phu là họ thấy khói ở trên, và cái nắp nồi rớt ra. Còn người tu học mới mới là thấy được nước sôi ùn ụt, không thấy được cái nồi nữa, giỏi lắm thấy được cái nồi và nước sôi. Còn người tu sâu sắc mới nhìn ra được củi, lửa phía dưới. Mà nhìn sâu hơn nữa là cái kẻ đã châm củi rồi, thì kẻ châm củi phía dưới này là vô hình, giấu mặt. Kẻ châm củi này thì vô làm sao? Mỗi một suy nghĩ của mình mà mình không nhìn ra, không thấy được dục, ái, khoan khoái, thích thú và tìm cầu trong đó. Thì mỗi một suy nghĩ đó về dục thì nó tăng trưởng cái dục, cái này là trong kinh Đức Phật nói đó, Tăng Chi Bộ kinh, Tương Ưng Bộ.
Mỗi một cảm thọ khoan khoái, thích đó, mà mình không nhìn, không thấy, không quán, không chiếu, không rọi, không soi. Thì như vậy mỗi một cảm thọ đó là cái ái, cái dục, cái hỷ, cái tầm cầu nó lớn thêm chút nữa. Mỗi một suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức mà mình không soi, không rọi, không quán, không chiếu, không trừ, không diệt, không nhiếp, không phục, không tẩy, không đoạn thì nó cứ lớn lên. Như cứ bỏ thêm thanh củi vô, bỏ vô lặng lẽ, âm thầm. Một gương mặt vô hình, mà nó rất là khủng khiếp. “Tâm khó thấy, tế nhị, khó nắm giữ khinh động”, bất thình lình là như vậy, khó hộ trì khó nhiếp là như vậy, vùng vẫy mạnh.
Ẩn dưới hang sâu mà, “không thân ẩn hang sâu” mà, chúng ta thấy nó ghê gớm cái tâm. Chúng ta nhớ là bao nhiêu lớp? Khói ngùn ngụt ở phía phía trên, kế đó là nắp nồi rổn rổn ha, kế đó là nước sôi ọc ọc, bong bóng trào ra là 3 lớp rồi. Cái nồi nữa là 4, lửa ở dưới là 5, củi là 6, rồi cái tay của mộ người giấu mặt nữa là 7 lớp. Rồi sao mình nhìn ra, mình tu sơ sơ, mình tu lơ tơ mơ, mình tu phớt phớt thì làm sao mình nhìn ra. Rồi làm sao mình đánh phá được kẻ giấu mặt mà đun củi vô, giấu mặt không thấy được là vô minh, nung củi vô là khát ái. Còn kẻ vô văn phàm phu, hay là người không thành tựu chánh tri kiến thì họ tu bằng cách dùng cái miệng thổi phù phù, lấy cây quạt họ quạt phía trên. Thì làm sao mà nó hết sôi được, làm sao mà nó mát lạnh, tịch tịnh được.
Đó là sự khác biệt ở người tu chánh kiến, và người tu khôn có chánh kiến, thấy và không thấy. Cho nên: “Này các Tỳ-kheo, ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết để đoạn tận các lậu hoặc. Chứ không phải ta nói cho người không thấy, không phải ta nói cho người không biết”. Cái sự đoạn tận ngũ uẩn này là nói cho người thất biết, thấy biết là thấy biết ngũ uẩn, thấy biết cảm thọ, thấy biết được sự vô minh, khát ái. Thấy biết được sự vận hành, sự tập khởi, sư an trú, sự đoạn diệt, sự xâm chiếm, áp đảo, mô giới cho giặt của nó. Chúng ta thấy trong sự tu là cả một công trình vĩ đại, hơn các nhà khoa học. Vừa buông ra một cái là mình hướng ngoại, cái tâm buông lung, làm sao mình thấy.
Mình chăm chăm nhìn vô hoài, suốt ngày đêm, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ thời gian nào, bất cứ nơi nào, bất cứ chỗ nào. Mình dòm hoài, phát giác, phát hiện, là mình nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, diệt tận nó. Mình không thấy thì mỗi cái ý nghĩ, cảm thọ, hình bóng, tư tưởng trong tâm, nhận thức đều là trong khát ái vận hành, điều khiển, chỉ đạo, chỉ huy không à. Mỗi một ngôn ngữ, lời nói, hành động, cử chỉ, ứng xử của mình toàn là ở trong dục, trong ái, trong tham, trong tầm cầu. Nói chuyện ra là người ta biết mình muốn gì rồi, mình không có nhận diện sâu sắc là mình không có thấy. Cho nên những từ này là quan trọng để mình thiền quán, “khát ái, dục, hỷ, tầm cầu”. Khi mình nói chuyện mình coi thử coi cái gì đang nói, nói bằng cái gì.
Khi mình làm việc mình coi cái gì nó đang làm, làm bằng cái gì đây. Khi mình ứng xử, cử chỉ, hành động của mình, mình coi sâu vào cảm thọ bên trong. Mình coi xem cái gì? Cái thọ gì, cái tưởng gì đây. Cho nên con thưa chư tôn là việc học nhiều lắm, thậm chí học cho tới chết, học cho đến khi nào đoạn tận tất cả các lậu hoặc. Không phải học được mấy câu, mấy chữ, mấy bài, mấy cuốn như vậy là xong đâu. Cái gì xâm chiếm xâm chiếm và chế ngự người đàn ông và người đàn bà? Tăng Chi bộ tập 1, kinh “Nữ Sắc”:
“Ta không thấy một sắc nào khác xâm chiếm và ngự trị tâm của một người đàn ông như sắc của người đàn bà. Này các Tỳ-kheo, sắc của người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông”.
“Ta không thấy một sắc nào xâm chiếm và ngự trị tâm của người đàn ông, như là tiếng của người đàn bà. Này các Tỳ-kheo, tiếng của người nữ xâm chiếm, ngự trị tâm của người nam”, mình nói như vậy cho dễ hiểu. “Ta không thấy một cái mùi nào, vị nào, sự đụng chạm nào mà xâm chiếm, ngự trị tâm người nam, giống như mùi, vị và sự đụng chạm của người nữ hết. Này các Tỳ-kheo, cái mùi thơm, cái vị, sự đụng chạm của người nữ xâm chiếm và ngự trị tâm của người nam”. Ngược lại cũng vậy, người nam đối với người nữ, người nữ đối với người nam. Nhìn thấy thôi là dục khởi, ái khởi, tham muốn, tầm cầu khởi lên liền. Khủng khiếp không? Đó là tâm hoảng hốt dao động đối với dục quay cuồng đó, bất thình lình là nó động liền.
Hình ảnh đó nó cứ ám ảnh, suy nghĩ đó nó cứ đeo bám, cảm thọ đó nó cứ dào dào dính vô trong đó, triền miên ở trong đó. Nó không dứt ra được cái cảm thọ dễ chịu khi nhìn, khi nghe. Nghe cái giọng nói thôi, nhìn thấy gương mặt, dáng đi, nếu mà xúc chạm nữa thì nó xâm chiếm và thậm chí áp đảo toàn bộ thân tâm. Bởi vậy cho nên con nói đây là dục thánh trí, ái thánh trí, tuyệt vời lắm. Phải chi con có thời giờ nhiều thì con trích những cái này ra, làm thành bộ. Mấy cái này con thấy ở đâu, là trích một phần đoạn thôi cho chúng ta. Cái này là dục thánh trí, thánh trí về dục. Thấy một cái, nghe một cái, hoặc cái mùi phớt ngang là về ám ảnh. Con người cũng vậy, đồ đạc hay cảnh vật cũng vậy.
Mà cái cảnh với món đồ thì nó đỡ hơn một chút, bởi vì nó không biết nói chuyện, nó bất động. Nó khổ nhưng nó cũng đỡ hơn một chút, mà cũng đổ máu đó. Còn con người thì biết nói chuyện, tham, sân, si, dục ái, bản ngã, vô minh. Cho nên mà rước trúng một con người, là ân hận suốt đời. Ám ảnh xâm chiếm, ngự trị, chế ngự, trói buột của người nam, trói buột của người nữ, Tăng Chi Bộ tập 3, kinh “Nam Nhân Trói Buộc”:
“Với tám hình tướng, này các Tỳ-kheo, nam nhân trói buộc nữ nhân, các hình tướng gì?
Người nam trói buộc người nữ với vẻ ngoài là sắc”
Cái hình thể, hình dáng, tướng mạo, dung mạo đó trói buộc người nữ.
“Người nam trói buộc với người nữ với gì? Tiếng cười”
Mình nghe mấy cái này không mình thấy cũng gợn óc rồi, mình dùng cái tưởng mình quán coi trước giờ có nhìn thấy mấy cái này không? Tiếng cười, nụ cười trói buộc tâm của người ta.
“Người nam trói buộc người nữ với lời nói”.
“Tiếng hát”. Cái âm giọng, chất giọng, tại sao người ta phải bỏ rất nhiều tiền vô, để người ta nghe những bản nhạc của người đó hát. Có khi phải bay từ nước này qua nước kia nữa, để nghe được lời nhạc từ người đó hát. Đó là sự trói buộc, cho nên người nam trói buộc người nữ với lời nói, giọng nói, lời ca, tiếng hát.
“Người nam trói buộc người nữ nhân với nước mắt”. Chỉ chảy nước mắt ra thôi, mà người này có thể chết vì người kia, bỏ mạng, bán mạng luôn. Cho nên hồi xưa người ta mới dùng mỹ nhân kế đó, mỹ nam kế, mỹ nữ gì cũng vô trận hết.
“Nam nhân trói buộc nữ nhân với quần áo, y phục”
“Nam nhân trói buộc nữ nhân với quà tặng”
“Nam nhân trói buộc nữ nhân với sự xúc chạm”. Sự tiếp xúc, đụng chạm, thì ngược lại người nữ trói buộc người nam cũng giống y như vậy.
“Như vậy tám hình tướng này, này các Tỳ-kheo người nam và người nữ trói buộc lẫn nhau. Các loài hữu tình bị khéo trói buộc bởi các hình tướng ấy, giống như bị trói buộc bởi bẫy sập”. Cái này Đức Thế Tôn đã dùng từ “trói buộc”, mà Ngài còn dùng “khéo bị trói buộc”. Trói buộc một cách rất là khéo, rất là đẹp, tới một cái một là nó túm lại rồi nó xách đi vậy đó. Bị trói buộc bởi bẫy sập, rơi vô một cái bẫy sập, bắt trong đó rồi ra không được, bị bắt rồi muốn làm gì thì làm. Có thời giờ mình phải quán chiếu cái này, nhất là mấy vị xuất gia, giới tử, những vị có một cái tâm muốn xuất gia thì quán chiếu một sự trói buộc, bẫy sập. Trong chúng mình còn trẻ rất là nhiều, phải quán chiếu kỹ.
II. Diệt trừ tham ái
Quán chiếu, chiêm nghiệm, suy tư, viết bài, pháp đàm càng nhiều càng tốt, càng lâu càng tốt, càng sâu chừng nào càng tốt chừng đó, cho nó thấm sâu vào không có mất. Bài kinh này mới là bài kinh khủng khiếp nè, Tăng Chi Bộ tập 3, kinh “Hệ Lụy”. Bài này nó khủng khiếp lắm, hồi xưa con đọc con nổi da gà hết trơn. Con rúng động sụp xuống lạy bài kinh này. Khi bậc đạo sư hướng dẫn pháp cho con, ngài không có nói bài kinh này, nhưng mà nội dung là trong bài kinh này:
“Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các thầy pháp môn về hệ lụy và li hệ lụy, hãy lắng nghe.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp môn hệ lụy?
Một nữ nhân, này các Tỳ-kheo, tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức. Thời nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy, nên tác ý đến nam căn ở ngoài, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức. Và nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nữ nhân ấy muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy khởi lên lạc, hỷ, nên nữ nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy. Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy này các Tỳ-kheo, nữ nhân không có thoát được nữ tánh của mình.
Một nam nhân, này các Tỳ-kheo, tác ý nội nam căn, nam hành, nam y phục, nam loại, nam y phục, nam thanh, nam trang sức, thời nam nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy, nên tác ý đến nữ căn ở ngoài, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức. Và nam nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nam nhân ấy muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy khởi lên lạc, hỷ, nên nam nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy. Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người nữ. Như vậy này các Tỳ-kheo, nam nhân không có thoát được nam tánh của mình.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là không hệ lụy?
Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý đến nam căn ở ngoài, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy.
Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nữ nhân ấy không muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ, nữ nhân ấy không ước muốn lạc, hỷ ấy. Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nữ nhân thoát được nữ tánh của mình.
Một nam nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý đến nội nam căn, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý đến nữ căn ở ngoài, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức mà nam nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên nam nhân ấy không ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ nên nam nhân ấy ước muốn lạc, hỷ ấy.
Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những nữ nhân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nam nhân thoát được nam tánh của mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hệ lụy. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn hệ lụy và ly hệ lụy.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập III – kinh Hệ Lụy)
Bài kinh này khủng khiếp lắm, bài kinh này là bí kiếp thánh pháp để giải thoát. Cái này không có dịch ra rõ, thì cái người đọc sẽ không có hiểu được bao nhiêu hết. Bài kinh này là bài kinh khủng khiếp lắm, bài kinh này giả mã hết giới tính của nhân sinh ở trên hành tinh này. Mà nếu mình đọc vô mình không hiểu được bao nhiêu hết, tại vì ngôn ngữ, nghĩa lý, rồi thánh trí thâm sâu trong đó. Cho nên bài kinh này chúng ta thấy ít có ai giảng, ít có ai đọc, cũng ít có người để ý tới.
“Một nữ nhân, này các Tỳ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ ý phục”, cái này giải kỹ lắm mới được. Chúng ta hiểu như vầy cho dễ hiểu đi, chứ bây giờ con đọc lại chúng ta sẽ ngán đó. ái gọi là không hệ lụy tức là không bị ràng buộc đó, không có tác ý. Không tác ý ở đây không phải là không suy nghĩ đâu, mà là phá cái suy nghĩ ở trước, ở trước là có tác ý, sau thì không tác ý. Rồi bây giờ chúng ta giải thích câu: “Một nữ nhân, này các Tỳ-kheo, tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức. Thời nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy”. Hôm trước chúng ta thường hay quán hình ảnh của mình, gương mặt của mình ở trong gương phải không? Thì cái này nó phá hình ảnh gương mặt phải không?
Rồi trong tứ niệm xứ dạy mình phá hình thể này, 32 thể trượt, hình dáng này nó ra bộ xương. Còn chỗ này rất thâm sâu, bậc đạo sư dạy cái này con nghe con sốc hết trơn. Mà ngài không có nói bài kinh này, nhưng mà ý chính là chỗ này nè. Mình yêu thích bộ phận sinh dục, cho nó là tôi, là của tôi. Mình thích ở trong đó, vui ở trong đó, khoan khoái ở trong đó. Chính vì đó, cái sự tác ý của mình, cảm thọ của mình như vậy, suy nghĩ của mình như vậy và nhận thức của mình như vậy. Rồi sao? Mình thích, mình khoái, mình bằng lòng, mình hài lòng với những hành động của nữ tánh. Cái sự mềm mại, cái sự dễ thương, có khi là ẻo lả trong cử chỉ, hành động của một nữ tánh.
Rồi cái quần là, áo lụa, nữ y phục, nữ loại, mà đây nói từ bình dân 1 chút là “giống cái”. Rồi những tham muốn, âm thanh của nữ tánh, những trang sức của người nữ. Rồi người nữ này tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Rồi chúng ta qua từ “tham ái, dục, hỷ và tầm cầu”. Mình vui, mình thích, mình khoái, tham đắm trong đó, tức là ái và hỷ đó. Với một sự thích thứ, tham đắm, khoan khoái như vậy, trong một cái, mà đây gọi là nội nữ căn, tức là bộ phấn sinh dục của người nữ, còn bên nam là bộ phận sinh dục của người nam. Rồi mình tham đắm ở trong vóc dáng, hình hài, cử chỉ, hành động: “Tui là đàn ông, tui mạnh mẽ, anh hùng như vầy nè. Tôi là phải như vầy vầy nè”. Đó là mình tham đắm, mình thích thú ở trong đó, mình chấp thủ ở trong đó.
Hay là lửng lửng ở giữa, không nam không nữ cũng vậy luôn. Thích thú, khoan khoái, chấp nhận trong đó, rồi khổ đau trong đó. Tất cả mọi hình thái của dục ái đều như vậy hết. Nam tánh, nữ tánh hay là đồng tính đều như vậy hết, rồi họ đau khổ trong đó, chấp nhận cái đó là họ. Tham đắm ở trong cử chỉ hành động, ở trong y phục, trang sức của mình. Tham đắm ở trong cái giống của mình, cái chủng loại, cái dục, cái ham muốn của mình, ở cái giới tính đó. Tham đắm ở trong âm thanh, trang sức đó, thích thú ở trong đó. Cho nên chỗ này mình phải nói là nổi da gà, nó thấm thía, “ái tận giải thoát”, đoạn tận ái.
Bây giờ chẳng hạn một người phụ nữ, mà người ta lại người ta chê, người ta nói: “Phụ nữ gì mà ăn nói, cử chỉ thô tháo như đàn ông vậy”. Thì như vậy là buồn, là phiền não, giận à. Nhưng có những người phụ nữ muốn mình là đàn ông, thích người ta khen mình là đàn ông. Thì tùy theo sự chấp thủ trong đó, mà họ đau khổ, họ tham đắm, họ thích thú trong đó. Người nam cũng vậy, bị người ta chê là yếu đuối giống đàn vậy, rồi cũng sân si, khó chịu, khổ đau. Người có những người không muốn, thân là đàn ông mà muốn làm đàn bà, đi phẫu thuật. Họ đau khổ ở trong đó, tại vì sao? Tại vì họ tham đắm, thích thú, chấp thủ, dính mắc vô trong đó.
Họ dính vô trong cái hình hài, cảm giác, suy nghĩ, trong cái tưởng, cái suy nghĩ trong tâm và ở trong nhận thức này. Những cái đó nó dày vò ở bên trong, nó dằn xé, đau đớn, đau khổ, đau buồn, đau lòng. Mà tất cả những cái đó là gì? Mình gạch dưới chữ “tác ý”, tác ý này ý nghĩa nó sâu lắm. Tức là ở trong cái suy nghĩ này chấp nhận mình là người nữ, chấp nhận mình là người nam. Mình tham đắm, thích thú ở trong đó, cho nên đây là một loại trí tuệ phá thân kiến. Rồi chút nữa tới ở ly hệ lụy là phá mấy cái này hết trơn. “Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy, nên tác ý đến nam căn ở ngoài”. Vì mình tham đắm, thích thú ở trong bộ phận sinh dục của người nữ, cho nên mình nghĩ đến bộ phận sinh dục của người nam.
Do thích thú, tham đắm trong đó, nên mình thích những hành động, cử chỉ của người nam, thích y phục của người nam, thích giống của người nam, thích cái dục, thích âm thanh, thích trang sức của người nam. Thì người nữ này tham đắm, thích thú đối tượng đó ở bên ngoài. Vì mình tham đắm, thích thú cái tự thể ái, yêu thương hình dáng này, bộ phận dục đó, rồi những cái y phục, tánh tình, âm thanh, trang sức, mình yêu cái tự thể của mình, mình ái, rồi xong mình thích đối tượng đó. “Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nữ nhân ấy muốn có sự hệ lụy ở ngoài”. Ước muốn được có đối tượng đó, muốn được sở hữu, chiếm hữu, muốn được đối tượng đó hiện hữu trong cuộc đời của mình.
Chúng ta thấy bài kinh này nó khủng khiếp lắm, về dục thánh trí. Đức Phật diễn tả nguồn gốc, căn nguyên, tại làm sao mà nam nữ trói cột với nhau. Làm thế nào để cởi mở, và đi thoát ra, tận cùng căn nguyên, triệt để nguồn gốc. Thì người này thích đối tượng ở bên ngoài, do duyên với hệ lụy, có sự trói cột đó, cho nên khởi lên lạc hỷ, vui sướng, thích thú. Khi có được người này vui sướng, thích thú trong đó. Mà do người này khởi lên sự vui sướng, thích thú, cho nên người này mong muốn sự vui sướng, thích thú đó nữa, thì sự mong muốn đó là dục. Đương nhiên vị ngọt của dục, và có sự nguy hại của dục rồi. Về đâu phải là có vui sướng, thích thú không, người này về nhậu lên một cái là đánh bành thây áo dũ hết, rồi đem ra chửi mắng, hành hạ đủ thứ kiểu hết trơn.
Cái đó là tự mình phải biết đó, nó có vị ngọt thì nó cũng có sự nguy hiểm, tác hại trong đó. Chính vì vậy mà người ta mới tìm đường xuất ly, nếu mà có vị ngọt mà không có sự đắng, không có sự nguy hiểm, không có sự tác hại thì đâu ai muốn xuất ly, đâu ai muốn ly dị, ly thân, ai muốn đi tu làm cái gì nữa đâu. Vì nó nguy hiểm, tác hại đầy dẫy, vị ngọt rất ít, vị đắng càng nhiều, nguy hiểm và tác hại thì đầy dẫy. Chính vì có sự nguy hại, cho nên chúng sanh mới mong muốn sự xuất ly. Cho nên trí tuệ của Đức Phật tuyệt diệu không? “Vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly, này các Tỳ-kheo, ta tuyên bố có vị ngọt, Ta không có nói khổ không, nhưng mà cái vị ngọt đó rất là ít, mà sự nguy hiểm và tác hại này rất là nhiều”.
Nếu mà không có sự nguy hiểm và tác hại, thì chúng sanh đâu có tìm cầu xuất ly. Nếu mà chỉ có vị ngọt thôi, thị ai thèm đi tu làm gì, ai ly thân, ly dị, chia tay làm cái gì. Nhưng mà trong này nó nguy hại, nguy hiểm, nước mắt, bành thây áo dũ, trong này là những trận đòn. Trong này là những cái hành hạ, hành tội, hành xác với nhau. Cho nên người ta mới bỏ nhau, lìa nhau, chia tay với nhau. Cho nên tuyệt diệu lắm: “Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông”. Thật ra cái gốc của nó không phải là yêu đối tượng kia, mà là thích thú, tham đắm trong cái nữ tánh của mình. Mình được thỏa mãn cái đó, được thích thú, khoan khoái, sung sướng, thì mình mới đi tìm đối tượng kia.
Mà rước đối tượng nó không có đúng với ý của mình, thì như vậy bắt đầu sầu, bi, khổ, ưu, não sanh. Ôi cha! Bài kinh này khủng khiếp lắm, cái này mà mình thiền quán, nghiên cứu thâm sâu, sâu sắc, mà mình diễn đạt ra nó thành một cái chủ đề, quyển sách vĩ đại cho nhân loại đó, đây là tâm lý học tối thượng của hành tinh này. “Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông”. Chúng ta nhớ là họ thích thú, tham đắm trong nữ tánh, nam tánh của mình, cho nên họ đi đến đàn ông hoặc đàn bà. Cái gốc bên trong là tự thể ái, thích cái tự ngã của họ, yêu thích cái dục của họ.
Họ tham đắm cái mà khao khát, thèm khát, khát ái ở trong đó, thì mới tìm đối tượng ngoài để làm cho nó thỏa mãn cái khao khát, khát ái, thèm khát đó. Mà nó đi tìm lộn địa chỉ, lộn chỗ là nó đi tìm dài dài, tìm hết đời này tới kiếp khác. Nó đi tìm hoài hoài, mãi mãi, cho đến khi nào nó đi tìm ra đạo xuất. Thì lúc đó mới ái tận giải thoát, tuyệt vời không? Đi tìm lộn địa chỉ, đi tìm lầm đường, tìm lạc lối, tìm hạnh phúc mà toàn khổ đau không, gặp toàn sầu, bi, ưu, não không. Cho nên: “Như vậy này các Tỳ-kheo, nữ nhân không có thoát được nữ tánh của mình”. Một nam nhân của như vậy, họ cũng tham đắm, cũng thích thú ở trong bộ phận sinh dục của mình, ở trong hình hài, hình thể, hình dáng, hình thức, hành vi, chủng loại, giống của mình.
Trong cái dục, cái tham muốn, cái âm thanh của người nam, tham đắm, thích thú trong đó. Cho nên người này mới tác ý đến nữ căn ở bên ngoài, đối tượng cho nó thỏa mãn. Muốn tìm những hành vi, y phục, trang sức, cái giống, cái ham muốn, âm thanh của người nữ. Người này tham đắm, thích thú trong đó, do tham đắm và thích thú, cho nên người này muốn có được người nữ đó. Có được sự hệ lụy đó, thì người này khởi lên những vui sướng, thích thú. Và người này ước muốn được cái vui sướng, thích thú đó. Mong muốn, thèm muốn, khao khát, thèm khát, đói khát, khát ái với những cái tham muốn, thích thú đó. “Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người nữ. Như vậy này các Tỳ-kheo, nam nhân không có thoát được nam tánh của mình”.
“Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự trói cột, khổ lụy”. Chữ “hệ” là trói cột, chữ “lụy” là làm khổ lụy cho nhau. Trói cột trở lại để làm khổ cho nhau, hành hạ, hành tội, hành xác, hành phạt với nhau. “Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy”. Thứ này là thứ bất tịnh, thứ này là thứ nhớp nhơ, mà bậc đạo sư giảng là phải quán cái chỗ trong đó, bộ phận sinh dục đó. Quán đây là mầm mống của súc sanh, đây là tai họa, đây là sự nhục nhã, sự thấp hèn, sự tồi bại, sự hạ liệt, sự phàm phu, sự bẩn thỉu, nhơp nhớp, tanh hôi. Sự mầm mống của súc vật, súc sanh, thú vật.
Phải thường thường tác ý như vậy, thường thường quán chiếu như vậy. Để nhiếp phục, chế ngự, diệt tận cái tâm tham đắm, thích trong đó. Mình nhiếp phục dục ái, đoạn tận dục ái trong đó. Phá đi cái nam tánh hay cái nữ tánh, cái sự dục ái, ham thích. Thường xuyên như vậy, mỗi khi mình tắm, nhìn thấy là mình tác ý liền. “Đây là sự nhục nhã, sự đê tiện, sự thấp hèn, hèn hạ, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tồi bại, mầm mống của súc vật, thú vật. Ta không muốn, không thích, không ưa cái này. Quyết tâm diệt tận, chấm dứt hoàn toàn cái thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, tồi bại”. Thường xuyên tác ý, nhắc nhở, quán chiếu, la rày, quở trách những thứ như vậy. Để cái tâm này nhả ra, những tâm dục, tâm ái, tâm tham đắm, tâm ham thích, thích thú này nó khạc ra, nhả ra, ói ra, mửa ra.
Nó từ bở, vứt bỏ, liện bỏ, quăng bỏ, giục bỏ. Nó không tham, không đắm, không thích, không khoái trong đó. “Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý đến nam căn ở ngoài”. Do không tham đắm, không thích thú trong đó cho nên đâu có mong muốn, nghĩ ngợi tới những đối tượng thèm khát, khát ái ở bên ngoài nữa. Những hành động, những y phục, những cái giống, những cái dục, những cái âm thanh, trang sức của người nam. Người nữ nhân đó không có tham đắm, không có thích thú tại đấy. Vì người đó thường quán, thường chiếu, thường suy xét, thường tác ý như vậy. “Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nữ nhân ấy không muốn có sự hệ lụy ở ngoài”.
Do không có tham đắm trong ấy, không có sự thích thú trong ấy, người nữ nhân đó không có sự hệ lụy ở ngoài, không có đi tìm, không có tầm cầu, không có tìm kiếm, không có trói trăng, không có sự khổ lụy vì đối tượng bên ngoài nữa. “Do duyên hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ, nữ nhân ấy không ước muốn lạc, hỷ ấy”. Ở trên là không tham đắm, không thích thú, bây giờ là không muốn dục, không ái, không tham. Không có mong muốn, không có ước muốn, không có mong đợi, không có trông chờ, không có hy vọng, không có ước muốn cái gì vui sướng, cái gì thích thú hết. Chúng ta thấy tu như vậy thì mới đi đến giải thoát, tu như vậy mới đi đến ly dục, mới đi đến chỗ diệt tận hoàn toàn, tất cả khát ái, ái tận Niết-bàn.
Chứ còn làm sao mà mình cứ như vậy hoài thì cái gốc khát ái, dục, tham, truy tầm còn y nguyên. Nhiều khi cái thân thì không còn, nhưng mà cái tâm bên trong thì nó đâu có nhiếp đâu. Nó vẫn còn ham, còn thích, còn muốn, còn khoái, tại vì chẳng qua nó không có gặp đủ duyên thôi. Chứ còn gặp đủ duyên thì coi sao, có theo cái dục quay cuồng không. Cho nên mình diệt hằng ngày, hằng giờ, đây là pháp tu tối thượng giải thoát đó, trực chỉ, chỉ ngay thẳng cái chỗ đó luôn. “Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nữ nhân thoát được nữ tánh của mình.”
Thoát được nữ tánh là giải thoát đó, thì tối thiểu ở đây là cũng phải lên thiên giới. Tại vì không còn mang những cái thân có những bộ phận nhơ nhớp, bệnh hoạn như vậy nữa. Tối thiểu cũng là thánh đệ tử thiên, bất hoàn thiên. Vì không ham, không thích, không khoái, không muốn cái thân như vầy nữa, cho nên không có cái thân dơ bẩn nữa. Còn nếu lậu hoặc còn thì thành thánh đệ tử thiên, lậu hoặc hết thì thân này là thân cuối cùng. Không ham, không thích, không muốn nữa, thì chấm dứt từ đây cuộc tái sanh. Một nam nhân thì cũng giống như trên, đối với người nam cũng vậy. Thành ra chữ này nếu mình đọc thì mình không hiểu chữ “tác ý” và “không tác ý”.
Hai chữ này ở trong đây nghĩa nó lớn lắm, tức là những cái thầm ý, những cảm thọ, những nhận thức mà nó yêu thích, nó khoan khoái, nó chấp thủ ở trong này, đó gọi là có tác ý. Còn không tác ý ở đây có nghĩa là đánh phá những cái đó, không chấp nhận, từ bỏ, diệt tận những cái đó, gọi là không tác ý đến nội nam căn. Đến nam hành, những hành động của người nam, y phục, hành động, giống nòi, ham muốn, âm thanh, trang sức của người nam. Do không tham đắm, không thích thú nên không tác ý đi tìm dục của người nữ ở bên ngoài. Do không tham đắm, không thích thú nên người nam này không tham đắm, không thích thú đối với sự vui sướng, thích thú trong đó, người này từ bỏ, người này diệt tận.
Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những nữ nhân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nam nhân thoát được nam tánh của mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hệ lụy. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn hệ lụy và ly hệ lụy”. Thoát được nam tánh của mình, thoát được những suy nghĩ, những cảm thọ, những tư duy, nhận thức đó. Thấy chúng nó là bất tịnh, là hèn hạ, khổ đau, thấp kém, bẩn thỉu, phàm phu, hạ liệt, nhơ nhớp, là mầm mống của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Người này vứt bỏ, quăng bỏ, từ bỏ một cách hoàn toàn ở trong những cảm thọ, nhận thức, tư duy của mình.
Người này đi đến nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận dục, tham, ái, tầm cầu hỷ. Chấm dứt, đoạn tận sạch sẽ một cách hoàn toàn, thanh lương, tịch tịnh, người này không còn hệ lụy, đi đến được giải thoát. Tối thượng không? Vi diệu, thần diệu không? Đó là thánh đạo độc nhất vô nhị, ở trong tam thiên đại thiên thế giới. Chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác, đại cồ đàm, thiên nhân sư, chánh biến tri, vô thượng giác chỉ cho chúng ta. Chỉ ra một cái đạo lộ như vậy, thoát khỏi cái thân nam, thoát khỏi cái thân nữ, bất cứ hình thái nào của dục ái, đều thoát ra hết. Đó là đạo lộ giải thoát vi diệu, thần diệu, thánh diệu, thù diệu là con đường này, là lối thoát ra này.
Trong vô lượng, vô số, vô biên, vô thỷ kiếp trong dòng luân hồi sanh tử chúng ta chưa từng được nghe, chưa từng được học, chưa từng được hiểu, chưa từng được thực hành, chưa từng được chứng nghiệm. Bây giờ nghe được rồi, hiểu được rồi, thực hành đi. Để chứng nghiệm, chứng đắc, chứng đạt, nhất trí không? Chúng ta muốn chia sẻ gì không?
III. Trình pháp
Phật tử 1:
“Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí.
Đệ tử con pháp danh Liên Hoàng, hôm nay xin được trình pháp lên sư phụ. Thật sự hôm nay con rất biết ơn sư phụ, đã giảng dạy cho con một bài kinh nói evef ái và dục, đối với người nữ vầ người nam. Trong cái tưởng của con nghĩ lại một cái hành trình của tuổi thanh xuân, con thấy con may mắn và hạnh phúc. Con thấy con có một cái tánh con thấy rất là kỳ, nhưng hôm nay nghe sư phụ nói ra con nhìn vào cái kỳ đó mà con được an lạc và hạnh phúc trong cái pháp ngày hôm nay. Con là dạng người phụ nữ, mà mấy bạn con nói là tánh giống đàn ông. Nhưng mà con không thích phụ nữ, con cũng không thích đàn ông luôn. Con thì đi làm công nhân, con tiếp xúc rất nhiều phụ nữ, con thấy phụ nữ bây giờ giống như một siêu nhân, họ quá khổ.
Họ vừa phải bưng chảy kiếm tiền, họ còn phải lo cho con cái. Rồi về nhà gặp những người chồng bảo thủ, gia trưởng, con thấy được cái khổ của người phụ nữ. Rồi trong gia đình có em gái con cũng lặp gia đình, rồi cũng rất là khổ khi dính vào một người chồng rất là gia trưởng. Vì vậy mà con có cái sợ, khi là con gái thì tuổi thanh xuân ai cũng mơ ước có một người yêu thương mình, con cũng từng có mong ước như vậy. Nhưng khi mà con người thấy được cái khổ, trong tâm con cũng có suy nghĩ: “Thà khổ một mình, chứ không muốn khổ cả 3”. Thế là con có một hành trình là đi làm, đi thiện nguyện, đi chấp tác công quả cho chùa, tu tập và lo cho gia đình mình là đủ lắm rồi.
Nhiều người hay khuyên con lặp gia đình, để sau này không khổ. Con mới trả lời một câu là: “Con biết con sẽ khổ, nhưng con khổ một mình chứ không muốn khổ cả 3”. Trong con nói về cái ái, thì cũng có cái ái và cái dục, cũng có muốn và thích người khac thương, người khác quan tâm mình. Nhưng mà khi gặp người bạn khác phái thì con cũng rất là hòa đồng, gọi là cũng dễ thương. Nhưng một thời gian đi chơi với nhau thì con nhận diện ra người đó có tình cảm với con, thì tự nhiên cái tâm của con nó lại giống như có sự phản xạ ngược lại, nó bảo thủ. Nó đối xử ngược lại với người bạn đó một cách thô tháo, cộc cằn. Con cũng cố tình làm điều đó, để cho người bạn khác phái của con tự nản và từ bỏ.
Con cũng thấy qua nhiều người bạn khác phái thương con, con cũng đối xử giống như vậy hết.
-Sư phụ: Chú tâm ngắn gọn thôi, để cho các chư tôn đức khác còn trình pháp nữa.
Dạ sau khi sư phụ hướng dẫn về cái ái và cái dục, thì con thấy con cũng đã từng có ái và con dục. Con không biết đó là do sự tác ý và không tác ý, thì bây giờ sư phụ chỉ rõ ràng. Thì con có nhận diện ra là con không có tác ý nhiều trong cái ái và cái dục, cho nên bây giờ con mới có sự an lạc và vững bược. Để đi vào con đường đạo, và không còn dính mắc đến những hệ lụy ở bên ngoài. Hôm nay con được sư phụ khai mở bài pháp này, con rất biết ơn trên Đức Thế Tôn, sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô đã hướng dẫn, chỉ dạy cho con trong mỗi ngày tu tập. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
Phật tử 2:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạc trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí.
Sáng nay con được nghe sư phụ giảng bài kinh về dục ái, con thấy như một bức tranh hiện thực, mà từ lâu con đã tư duy, đã suy tư. Lúc nhỏ gia đình con sống một gia đình khá là hoàn hảo, cha mẹ, anh em không có cãi lộn với nhau. Nhưng bên cạnh đó, trước mặt nhà con, con nhận ra những điều khổ mà con đã nhìn thấy. Sáng nay sư phụ nhắc lại những hệ lụy của những người nam, những người nữ. Thì trong con như bừng tỉnh lại, cái tưởng trong con hiện về. Thì lúc đó con thấy trước nhà có có anh chị đó yêu thương với nhau, lúc đầu thì cô ấy nói gì anh ấy cũng nghe. Trong ngày cưới thì anh có tặng cho chị một chiếc nhẫn, thì con nghĩ anh ấy bắt chị kia phải nhẫn với anh ta một đời.
Rồi thêm sợi dây chuyền, thì lúc đó con nghĩ ngay đó là sợi dây xích trói buộc. Lúc đó con nghe bài hát vọng lên của hàng xóm: “Con cá ham mồi, con cá rồi đời, con cá rồi đời”. Tự nhiên trong con nổi lên 1 sự sợ hãi, hãi hùng, hoảng hốt, mà con không dám nói với bất cứ một ai. Sau khi cưới về rồi, thì anh ấy lên giọng với chị kia. Một, hai năm sau thì sanh ra một đứa con, lúc này không ai hòa với ai cả. Thì con tư duy lúc này thôi khổ quá rồi, 2 đứa nói cả nhà cùng nghe đi. Cuối cùng người ta cũng tìm đến cái khổ với nhau. Có một tình huống khác là anh ấy nói với chị kia rằng: “Anh yêu em say đắm”. Thì lúc đó trong con kêu: “Rồi, bị dụ nữa rồi”.
Bởi vì sao? Bình thường thì anh ấy rất là tội nghiệp, rất là dễ thương. Nhưng đến khi rượu về rồi, thì đánh chị kia tơi bời khói lửa. Trong con cảm thấy sợ hãi, lo sợ, hãi hùng. Con lại thấy một tình huống khác nữa, là bình thường người chồng say xỉn về đánh người vợ. Một ngày đó, anh ấy bị tai biến nằm một chỗ, chị vợ bưng cháo đến và cằn nhằn. Thì con tự hỏi: “Người ta có vợ để làm gì? Thì ra là người ta có vợ để nhờ vả”. Đến khi người ta nhờ không được thì người ta vả, đây là không có gì hạnh phúc, người ta chỉ lợi dụng với nhau mà thôi. Rồi người ta có chồng để làm gì? Người ta có chồng để dựa dẫm, bây giờ người ta dựa không được người ta dẫm.
Một màn trời bao phủ, con thấy toàn là khổ đau. Chính vì vậy ngay từ nhỏ, con chưa bao giờ có ý muốn lặp gia đình. Đến khi mười mấy tuổi, con vô chùa, thì có sự tranh cãi giữa Tăng và Ni. Nhờ được học giới luật, được quý ngài chỉ dạy, chỉ rất là tỉ mỉ. Con cứ theo đó học, và nhìn gương sáng của các bậc thánh trí tu tập như thế nào. Con không theo sự cạnh tranh giữ 2 giới nam nữ, con tư duy người xưa đàn cây đàn Tỳ bà, đó nghĩa là cây đàn không có dây, là không có sự trói buộc. Mà ngày hôm nay trên thế gian này, hơn 2000 năm qua, người ta có 2 loại đàn, mà tới bây giờ người ta vẫn còn đang tranh cãi. Thì mấy huynh đệ hỏi con đàn gì? Thì con nói một là đàn bà, 2 là đàn ông.
Con nói 2 loại đàn này là 2 loại đàn phức tạp, là phiền phức, không đem lại lợi ích gì cả. Bây giờ nếu như mình thực tâm mình tu, thì mình phải loại bỏ 2 loại đàn này. Khi mà cái tâm mình còn phân biệt, còn nam, còn nữ là còn phân biệt. Mà còn tâm phân biệt là còn tâm phàm phu, và vô tâm phân biệt là tâm không phàm phu nữa, thì con tu hành mới được thành tựu. Chính vì suy nghĩ này, mà trên con đường tu tập của con, con lắng động tâm tư, ít tiếp xúc, ít giao thiệp, thầm lặng, an trú. Nhưng ngày hôm nay được nghe sư phụ giảng về bài kinh này, như một bức tranh hiện thực trong con. Con thấy sao sư phụ biết được tư duy, tâm tư, nguyện vọng của con, mà sư phụ nói lên bài kinh này.
Thật vi diệu thay sư phụ ơi, thật hạnh phúc thay sư phụ ơi. Con không còn gì ngoài việc bây giờ tiếp tục, tiếp tục khám phá, tinh tấn, tinh cần, để đoạn dục ái. Và còn lắng động trong sâu thẳm con chưa phát hiện ra. Giờ này con xin đảnh lễ tri ân sư phụ, người đã làm cho trí tuệ con bừng sáng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phật tử 3:
“Nam Mô con xin đảnh lễ bậc đạo sư, bậc thầy, con xin nói tấm lòng của con. Con biết ơn thầy, con về đây được 20 ngày thôi, nhưng mà con rất biết ơn thầy và quý sư thầy, quý sư cô, quý cô ở nhà bếp. Đã cho con chỗ ăn, chỗ ở thật là ấm áp, nhà bếp đã cho con những bữa cơm rất là ngon, no lòng, ấm dạ, có sức khỏe. Con ở đến ngày hôm nay con biết ơn nhiều, biết ơn sư phụ đã cho con một chìa khóa vàng đã cho con mở cửa vô minh, tăm tối của con, để hằng ngày con dọn dẹp được sạch sẽ. Con nhờ có quý thầy, quý sư, quý cô hướng dẫn, gần gũi với con để con được học hỏi, biết được giáo pháp của Phật.
Cám ơn sư phụ, quý thầy, quý sư cô ở đây đã mở tấm lòng hiền hậu, bác ái cho con, con rất là quý mến. Con nghĩ như là thầy đã cho con một ly sữa, thấm ướt trong thân tâm của con, con mát mẻ, tỉnh táo hơn. Con tưởng chừng như là con được trẻ trung hơn nữa. Thầy đã cho con lên chỗ này tu, lên chỗ mặt trời, mặt trăng, con thấy là con ngồi đó con cũng được như về cảnh tiên Phật. Con thấy thầy ngồi giảng, trong tâm thức con nghĩ, thầy là một vị Phật giáng trần, để dạy dỗ cho chúng con tu học, con rất là ngưỡng mộ và quý mến thầy.
Ngày mai con xuống núi, con cũng mong ước ngày nào con lên lại, con cũng gặp lại quý thầy, quý sư cô và hiền giả ở đây, dắt dìu cho con. Còn nếu mà con không lên được, nếu có việc gì cản trở, thì con xin sư phụ cũng tha thứ và hỷ xả cho con. Nếu có việc gì có đến mà không theo ý muốn của con, thì con có ra đi con cũng mãn nguyện lắm rồi, con không còn gì để nói nữa.
-Sư phụ: Cô về cố gắng thực hành pháp, cái đó là điều quan trọng nhất, hãy lắng nghe chư tôn thiền đức chia sẻ pháp.”
Phật tử 4:
“Con pháp danh Ấn Đức, xin được đầu thành đảnh lễ Đức Phật, Chánh Pháp, chúng Tăng và thánh giới tối thượng. Ngũ uẩn con xin được nói lên cảm thọ của mình, trong buổi con được nghe sư phụ truyền thánh pháp thượng. Trong con dạt dào tràn đầy một lòng biết ơn, lòng tôn kính, đối với Đức Thế Tôn, đối với chánh pháp li tham tối thượng. Con biết ơn bậc đạo sư, mẹ hiền thánh, và sư phụ tôn kính rất là nhiều. Khi con nghe những lời sư phụ chỉ dạy, thì cái tâm con được sáng lên. Khi con nghe sư phụ giảng dạy về bài kệ: “Chạy xa sống một mình, không thân ẩn hang sâu, ai điều phục được tâm, thoát khỏi ma trói buộc”.
Trước đây khi con đọc những dòng kệ này, thì trong tâm con chỉ khởi lên sự nhắc nhở mình hoan hỉ. Mình sẽ thoát khỏi đời sống ràng buộc của gia đình, đến Linh Quy, nơi rừng thiêng, núi thiêng để mà tu tập theo thánh pháp tối thượng. Một nơi rất là an tịnh, và tập sống đời sống phạm hạnh, sống viễn ly. Nhưng mà lời giảng dạy của sư phụ con rất là xúc động, nhắc nhở chúng con phải có sự nghiền ngẫm, quán chiếu thâm sâu ở mọi gốc độ, khía cạnh. Và chúng con rất chân động: “Không thân ẩn hang sâu”, tức là những cảm thọ ngấm ngầm, những suy nghĩ cũng như những hình bóng, sự rõ biết ngấm ngầm sâu kín rất nhiều ở các tầng sâu. Mà chúng con cần phải soi xét thân tâm của mình, để mà phát giác, phát hiện.
Khi con được nghe sư phụ chỉ dạy rằng, phải quán chiếu thật thâm sâu, đừng tưởng được như vậy một chút là đã được rồi. Con rất là xúc động, và trong tâm con lúc đó khởi lên lời của bậc đạo sư: “Mục đích của sự tu là nhìn lại thân tâm này, phát giác, phát hiện những sâu bọ, rắn rết, những yêu ma quỷ quái để mà diệt. Nhưng mà sự cay đắng của đời tu này, là không nhìn thấy sự thật về thân tâm ngũ uẩn này. Không phát hiện ra sâu bọ rắn rết, thì làm sao mà diệt được”. Câu này khi con nghe bậc đạo sư chỉ dạy như vậy, con thấy rất là thâm sâu của đời tu. Cùng với sự chỉ dạy của sư phụ, tâm con có khởi lên trong cái thân ngũ uẩn này, giả danh là Ấn Đức này, là một cái tâm của một con mãn xà, một con hổ mang chúa.
Chính cái tâm mê này, ngu si này, đã nuôi dưỡng nó trong vô lượng kiếp. Rồi đến khi gặp dòng thánh pháp này, nếu như không nhìn sâu, và biết nhận diện ngũ uẩn một chút. Mà nắm được vào cái đuôi của con hổ mang chúa này, là nó vùng vẫy. Trong tay con hiện nắm được phần đuôi có tí xíu thôi, nó ngọ nguậy ở trong bàn tay. Nhưng cái tâm mê này tưởng chừng đã giết được nó, nhưng mà không phải. Có một cái tâm rất là mù lòa như vậy, con rắn hổ mang chúa này nó sẽ giết con vô lượng kiếp. Một cái hình bóng thứ 2 hiện lên trong tâm con, đó là con trôi lăn trong dòng sanh tử, cứ lặn hụp, lặn hụp. Và khi con biết đến dòng thánh pháp tối thượng này, thì có những lúc sóng nó làm bàn tay này chạm vào con thuyền Bát Nhã.
Mà các bậc Thánh đã vượt khỏi trùng khơi, mà đến bờ giải thoát. Thì cái tâm mê này nó cũng tưởng là, nó đã được lên thuyền Bát Nhã rồi, nhưng không phải, con thấy rất là sâu sắc. Và khi sư phụ giảng đến những hệ lụy, thật sự con chấn động. Những lời dạy thâm sâu, vi diệu, tối thượng của Đức Thế Tôn, là có một không hai. Một bài pháp mà giải mã cho dòng sanh tử luân hồi của con, cũng như tất cả thế giới ngũ uẩn vô minh này. Rất là khủng khiếp, nhìn lại thì đúng thật. Khi mà con còn sống trong đời sống của một gia đình, thì đúng gần 60 năm con đã ái với một mái tóc, quá khủng khiếp. Khi mà con được nghe những người xung quanh, đặt biệt là những người gần gũi con nhất, gắn bó với con gần cả một đời nói rằng: “Người nữ thôn quê là phải dịu dàng, hiền thục, phải có một mái tóc dài”.
Rồi có người nói rằng: “Nhìn con suốt bao nhiêu năm, con chưa hề làm cái mái tóc này, không dám cắt, chứ còn nói gì mà duỗi, uốn”. Khi nghe những lời này, thì thật sự con mới thấm được đó chính là ái, chính là con rắn độc, con mãng xà, con hổ mang chúa nó đã giết con vô lượng kiếp, quá khủng khiếp. Khi về đây tu thì con cũng nhìn lại, con bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ gia đình, bỏ những người thân thiết, bỏ rất là nhiều đồ vật con bỏ được. Nhưng có rất nhiều đồ vật nhỏ không đáng gì cả, nhưng con lại ái. Thâm sâu vi diệu lắm, con ái nó, tức là con ái cái thân đàn bà dơ bẩn, khốn khổ, khốn nạn này. Trời ơi! Con thật biết ơn Đức Thế Tôn, biết ơn thánh pháp.
Ái là cội nguồn của sự tái sanh, của đau khổ, dục là cội nguồn của đau khổ. Sư phụ ơi con hạnh phúc lắm, giờ này con ngồi đây, con được nghe dòng thánh pháp tối thượng. Con được tu tập, thực hành theo lời của Đức Thế Tôn, lời dạy của bậc Thánh, của bậc đạo sư, của sư phụ. Hôm nay con có sự hoan hỉ thật sự, bởi vì nhị lại sự tu tập của mình, con còn rất nhiều những rác bẩn. Con còn buông lung phóng dật, có những lúc con để cho ngũ uẩn nó dẫn con. Nhưng con cũng rất hoan hỉ, là vì con đang tập nhìn ra rác và diệt rác. Trong những tháng vừa qua, con phải thường xuyên, liên tục để con băm, chặt, chém, bằm cho nát chín miệng vết thương. Đem thiêu đốt nó thành tro, thành bụi, tan biến vào hư không.
Có thể chỉ một bức ảnh gia đình, trong tâm con cũng khởi ra được: “Mày là yêu quái, mày là yêu tinh, mày là con hổ mang chúa, kẻ giết tao vô lượng kiếp”. Còn nói gì đến những bộ phận trong thân thể khởi lên, cho nên con hạnh phúc lắm sư phụ ơi. Con rất hạnh phúc, một con đường tu tập thật là tối thượng, thật là rõ ràng, sáng sủa, minh bạch, vi diệu, thần diệu, tối diệu. Mà Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác đã để lại cho chúng con. Mà giờ này, tại nơi đây, dòng thánh pháp đã bị mai một, vùi lắp hơn 2000 năm, mà con đã được bậc đạo sư, mẹ thánh hiền, đầy đủ đức hạnh, thánh hạnh, thiền định, thánh trí, trao truyền lại cho chúng con.
Sư phụ ơi, chúng con hạnh phúc lắm! Giờ này đã được sư phụ, người con ngoan chơn chánh của Đức Thế Tôn, ngài cạn tâm huyết với dòng pháp này, thương kính dòng pháp này. Thương chúng con, thương chúng sanh ngu lâu dốt bền. Đến giờ này chúng con vẫn được nghe những lời tối tôn, tối thượng của Đức Thế Tôn. Con xin tri ân công đức của Tam Bảo, và thánh giới. Con xin tri ân công đức của bậc đạo sư, mẹ hiền thánh, con xin tri ân công đức của sư phụ, bậc hiền trí, bậc cha thầy, người con chơn chánh của Đức Thế Tôn. Đã cho chúng con nương tựa vào chánh pháp tối thượng này. Để chúng con tu tập, và dần thoát ra khỏi sự vô minh.
Giúp chúng con sẽ thoát ra khỏi được dòng luân hồi sanh tử vô lượng, vô kiếp, mà chúng con đã chịu đựng vì sự ngu si. Con hạnh phúc lắm, bây giờ trong tâm con đã có con mắt trí tuệ , con sẽ cố gắng tu tập. Trong tâm con khởi lên một ước muốn rất sắc bén, sẽ chấm dứt sự sanh tử luân hồi ngay trong kiếp này. Con cảm ơn một lần nữa trên Tam Bảo, Thánh giới, bậc đạo sư, sư phụ thật là nhiều. Xin tri ân công đức của các quý thầy, quý sư cô và các bậc hiền trí cũng như toàn thể đại chúng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”