MẬT MÃ THẾ GIỚI 8 - CHÚNG TA ĐANG BỊ HẠI
Kinh Nikāya Giảng Giải
MẬT MÃ THẾ GIỚI 8
CHÚNG TA ĐANG BỊ HẠI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Bông Hoa” PAGEREF _Toc88465783 \h 1
II.Không tranh luận với đời PAGEREF _Toc88465784 \h 6
III.Tất cả đang bị hại PAGEREF _Toc88465785 \h 7
IV.Tác ý thoát khỏi sự hãm hại của ngũ thủ uẩn PAGEREF _Toc88465786 \h 10
V.Quán chiếu tất cả đều là người lạ PAGEREF _Toc88465787 \h 14
Bài kinh “Bông Hoa”
Chúng ta tiếp tục nghe Đức Phật nói về thế pháp, thế giới trong bài kinh “Bông Hoa”, Tương Ưng Bộ III:
Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận với bất cứ với một ai ở đời.
Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "không", Ta cũng nói là "không". Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "có", Ta cũng nói là "có".
Và này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "không", Ta cũng nói là "không"?
Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời không chấp nhận sắc là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là "không".
Thọ... tưởng... các hành...
Người có trí ở đời không chấp nhận thức là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là "không".
Người có trí ở đời không chấp nhận sắc là thường còn, thường hằng, thường trú, không biến hoại. Đức Phật cũng như vậy, Ngài cũng không chấp nhận sắc là thường hằng, thường còn, thường trú.
Người có trí ở đời không chấp nhận các cảm thọ là thường còn, thường hằng, thường trú, không đổi thay. Đức Phật cũng không chấp nhận những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác là thường hằng, thường còn, thường trú, không đổi đổi thay.
Người có trí ở đời không chấp nhận các tưởng là thường còn, thường hằng, thường trú, không đổi thay. Đức Phật cũng vậy, Ngài không chấp nhận các tưởng, các hình bóng trong tâm thường còn, thường hằng, thường trú, không biến đổi.
Người có trí ở đời không chấp nhận các hành, tức là những suy tư, nghĩ ngợi là thường còn, thường hằng, mãi mãi như cũ, không biến đổi. Đức Phật cũng vậy, Ngài không chấp nhận những suy tư, những nghĩ ngợi, những toan tính, những lời nói thầm trong tâm là còn hoài, không biến đổi.
Người có trí ở đời không chấp nhận sự nhận thức, rõ biết là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến đổi, tan hoại. Đức Phật cũng không chấp nhận sự rõ biết là thường còn, không biến hoại.
Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì ở đời người có trí chấp nhận là "không", Ta cũng nói là "không".
Và này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "có", Ta cũng nói là "có"?
Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp nhận sắc là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là "có" (vậy).
... thọ... tưởng... các hành...
Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp nhận thức là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là "có" (vậy).
Người có trí ở đời chấp nhận sắc là vô thường, không thường còn, không thường hằng. Họ công nhận tất cả vật chất, hình thể, hình hài, sắc chất, cảnh vật, đồ vật, vạn vật đều là vô thường, không còn mãi, nó không đứng yên mà luôn dịch chuyển, thiên lưu, đổi dời, tan rã. Đức Phật cũng chấp nhận như vậy.
Người có trí ở đời công nhận, chấp nhận, xác nhận mọi cảm giác là đổi thay, là thiên lưu, là dịch chuyển, là biến hóa, là lật lọng, là tráo trở, là biến hoại, là không còn mãi. Cảm thọ này mới vui rồi buồn, mới thương rồi ghét, mới thân rồi sơ, mới yêu rồi hận. Đức Phật cũng xác nhận, công nhận điều đó.
Người có trí ở đời chấp nhận các tưởng, các hình bóng, bóng dáng, hình ảnh mà tâm vẽ vời ra là đổi thay, là tan biến, là vô thường, là không thường còn. Đức Phật cũng công nhận, xác nhận điều đó là như vậy.
Người có trí ở đời công nhận mọi suy nghĩ, suy tư, nghĩ ngợi, mọi lời nói lầm thầm trong tâm là không còn mãi, mà những suy nghĩ sẽ đổi thay, lật qua trở lại, vô thường, không thường hằng, không thường trú và chịu sự biến hoại. Đức Phật cũng công nhận như vậy.
Người trí ở đời công nhận sự rõ biết là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại và Đức Phật cũng nói là “có” như vậy, Ngài xác nhận điều đó.
Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là "có" (vậy).
Ở trong đời, này các Tỷ-kheo, có thế pháp. Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.
Đức Phật nói ở trong đời này có thế pháp, tức là pháp thế gian và Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, chứng tri, thấu triệt, thấu rõ tường tận về mọi ngóc ngách, khía cạnh, góc độ một cách tròn đầy, viên mãn, triệt để, đầy đủ về pháp ấy. Nghĩa là Đức Phật thấy biết tận cùng, chứng ngộ một cách hoàn toàn về pháp thế gian, tức là pháp vô thường, không thường hằng, không thường trú, phải chịu sự biến hoại của ngũ uẩn, của năm tổ hợp, năm nhóm, năm sự tích tụ, tích tập…. Sau khi thấy biết như vậy thì Như Lai công bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng điều đó rộng rãi, Ngài khai thị, vén bức màn của sự thật để chỉ cho tất cả chúng sanh. Đức Phật phân tích chi li, tỉ mỉ, tận tường, rành rõ, minh bạch, thấu đáo, triệt để tất cả mọi góc độ, khía cạnh, phương diện về năm hợp thể, năm nhóm, năm tổ hợp, năm sự tích tụ… để sự thật được hiển lộ, phơi bày ra cho chúng sanh.
Này các Tỷ-kheo, thế pháp ở trong đời là gì, thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri; sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ?
Sắc, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.
Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.
Đức Phật đã chứng ngộ một cách triệt để, thấu đáo, tận tường và trình bày, phân tích, diễn thuyết, phơi bày, chỉ rõ một cách rõ ràng nhưng người nào vẫn không thấy, không biết, không chịu tin, không chịu nghe, không chịu tu thì người này Phật xem là vô tích sự, ngu si, phàm phu, đui mù, không có mắt, không có thấy, không có biết. Phật đã phân tích, chia sẻ, trình bày, thuyết giảng, hiển thị đầy đủ tất cả nhưng vẫn không thấy, không biết, không chấp nhận, không tin thì thật sự người vô tích sự, ngu si, mù lòa, bị quở trách, la mắng là hợp lý. Chúng ta phải để từng lời, từng câu thấm vào xương tủy, tim gan mình vì sự vô minh dày đặc, cứng chắc như vậy.
Thọ... Tưởng... Các hành...
Thức, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri. Sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.
Cảm thọ, cảm giác, cảm xúc; các hình bóng trong tâm; các suy nghĩ; các nhận thức, rõ biết cũng là thế pháo ở đời, là những pháp thế gian. Pháp này được Như Lai chứng ngộ, chứng tri triệt để, Chánh Đẳng Chánh Giác, biết về nó một cách chân chánh, chính xác, trọn vẹn, tột cùng, triệt để… Phật tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng các pháp là vô thường, khổ, vô ngã. Ngài khai thị, phân tích và hiển lộ tính chất biến hoại, tan rã, không thường hằng, không thường trú của các pháp ấy. Dù vậy nhưng vẫn có người không thấy, không biết, cho nên đối với những người ấy, Phật xem là kẻ vô tích sự, ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.
Ví như, này các Tỷ-kheo, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước nhiễm ướt.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sanh ra ở trong đời, lớn lên trong đời, vươn lên khỏi đời, và sống không bị đời ô nhiễm. (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, V. Phẩm Hoa, bài kinh Bông Hoa)
Cũng như bài ca dao:
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng lại chen nhuỵ vàng.
Nhuỵ vàng, bông trắng, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
(Ca dao Việt Nam)
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu phần diễn đọc bài kinh, đó là những lời Đức Phật dạy về thế giới, thế pháp, thế gian. Qua đó, chúng ta thấy thế giới được Đức Thế Tôn tóm thâu trong long bàn tay, gồm có năm ngón tay: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ở đây, không có gì bị mờ tối, không có gì bị che đậy, tất cả đều được phơi bày, được trình bày, được hiển thị, được phân tích, được tuyên tuyên thuyết, được giảng thuyết, được khai thị, được hiển lộ. Đó là sự chứng ngộ rõ ràng, tận tường, triệt để, viên mãn, đầy đủ hoàn toàn của Đức Phật, không còn gì mờ tối, không còn gì để che đậy. Chúng ta phải tin tưởng thật mạnh mẽ, xác quyết vào pháp học và pháp hành này để cuối cùng đi đến pháp thành. Hãy để sự thâm thúy của trí tuệ ngấm thật sâu vào cảm thọ, trí tuệ về thế giới thật sự quá vi diệu. Thế giới này không có gì nằm ngoài những lời tóm thâu của Đức Thế Tôn.
Không tranh luận với đời
Câu mở đầu bài kinh là đề tài thiền quán vĩ đại trong suốt cuộc đời chúng ta, đây là bí quyết bình an và hạnh phúc trên cuộc đời này:
“Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời”.
Đức Phật nói không còn cái gì để tranh luận với bất cứ ai trên cuộc đời này. Chỉ khi không thấy, không biết thì mới tranh luận, còn khi đã hiểu rõ về năm uẩn thì không còn gì để tranh luận nữa. Như vậy, một khi thấy pháp, thấy rõ được năm uẩn là diệt tận tất cả mọi hý luận. Nghĩa là tất cả mọi tranh luận đều được chấm dứt đối với người thành tựu trí tuệ năm uẩn, chỉ những người không thành tựu trí tuệ năm uẩn thì mới tranh luận.
Phật nói: “Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta”, thật vậy, trong thời Đức Phật có rất nhiều ngoại đạo, Bà-la-môn đến kiếm chuyện, gây sự với Ngài. Thế nhưng “người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời”, vì đối với một người đã vượt lên trên tất cả thì không còn gì để tranh luận hơn thua với một ai nữa. Kinh Pháp Cú có nói: “Leo lầu cao trí tuệ - Nhìn kẻ ngu đất bằng”, người đã đứng trên đỉnh núi, đạp trên ngũ uẩn để đi thì còn tranh luận để làm gì! Người đã thấy được tính chất biến hoại, tan nát, đổ vỡ, trống rỗng, uế nhiễm, cấu nhiễm, bất tịnh của ngũ uẩn thì người đó còn hơn thua, giành giật, tranh giành, tranh đấu, tranh luận, tranh chiến với ai nữa. Cho nên, ai còn hơn thua, tranh đấu là người đó chưa thật sự thấy biết ngũ uẩn, còn người đã thật sự thấy biết ngũ uẩn thì không còn hơn thua, không còn tranh đấu với ai nữa, họ chỉ lo quay lại để diệt tận những cấu nhiễm, lậu hoặc, rác bẩn trong thân tâm mình.
“Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta”. Minh Thành ứng dụng câu này suốt mấy chục năm nay, không hơn thua với ai và cảm thấy rất tuyệt vời. Ai muốn hơn thì để cho người ta hơn, mình thua thì cũng không sao. Hơn nữa, có “mình” thì mới có hơn thua, còn không có mình thì cớ sao phải hơn thua. Thành ra người trí chấm dứt được mọi tranh luận, không tranh cãi với ai, chỉ có người ngu mới tranh cãi với nhau, mà người hay cãi là người ngu nặng, vô minh nhiều. Ứng dụng được câu nói này thì chúng ta sẽ được bình an giữa cuộc đời đầy đau khổ, ai ai cũng là nạn nhân của năm uẩn này.
“Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận với bất cứ với một ai ở đời”. Vì đã thấu hiểu hết cuộc đời này, người đời chấp nhận, hoặc không chấp nhận thì Đức Phật cũng không cần tranh luận.
Tất cả đang bị hại
Và người khác không biết,
Chúng ta đây bị hại.
Chỗ ấy, ai hiểu được
Tranh luận được lắng êm.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song Yếu)
Tất cả chúng ta là những kẻ bị hại, ai cũng là nạn nhân của thế pháp, của thế giới, của thế gian. Chúng ta bị sắc làm hại, bị những sắc đẹp, tài sản, cảnh trí, hình dáng, những sự lòe loẹt của thế giới làm hại mà mình không biết. Cho nên, đau khổ lớn nhất của chúng sanh chính là vô minh, tức là sự không thấy, không biết. Không biết mình đang bị hại, không biết mình đang bị khổ. Không biến sắc uẩn là thứ tan biến, bại hoại, tan nát. Không biết sắc thân này là ung nhọt, là ổ vi trùng, vi rút, vi khuẩn. Dù có là bác sĩ, có biết qua bản chất của thân này nhưng cũng không biết đến nơi đến chốn, chỉ biết một góc độ nhỏ, không phải Chánh Đẳng Chánh Giác, không phải viên mãn giác, vì vậy họ vẫn khổ đau. Những người làm bên giải phẫu, mỗi ngày phải mổ xác, mổ tử thi thì cũng tham, sân, si như thường, dù cho họ cũng thấy cũng biết thân này hoại diệt, nhưng đó không phải là sự thấy biết được truyền trao từ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Thế nên, họ vẫn bị sắc làm hại dù cho mỗi ngày vẫn đối diện với sự nguy hại của sắc. Những người canh tử thi, giữ nhà xác, những người làm pháp y, chuyên giải phẫu cơ thể người chết cũng vẫn đau khổ vì tình yêu, vẫn bị hình hài, thể xác làm cho sầu bi, ưu não. Như vậy, chúng ta luôn bị tổ hợp của sắc chất từ bên ngoài cho đến bên trong làm hại mình.
Bên trong chính là tấm thân mấy chục ký này hãm hại mình, nó đòi hỏi cái này, tham muốn cái kia, đau nhức chỗ này, mỏi mệt chỗ nọ… không lúc nào ngừng nghỉ. Phải luôn thường quán, thường tư duy, tác ý rằng chúng ta đã bị hại, đang bị hại và sẽ bị hại đối với sắc. Chỉ vì một cục thịt mà có thể điên khùng, thậm chí giết người. Chỉ vì một khối thịt mà có thể vào tù ngồi hết đời cho đến chung thân. Sắc làm hại chúng ta, sắc giam hãm chúng ta, sắc còng trói chúng ta, sắc đè đầu cởi cổ, sai xử, sai khiến, trói trăn, ràng buộc chúng ta, đó chính là kiết sử. Từ sắc thân chính mình, đến sắc thân bên ngoài của người khác, cho đến đồ vật xung quanh – tất cả đều đã làm hại, đang làm hại và sẽ làm hại chúng ta. Nếu không thành tựu trí tuệ để nhìn thấu bản chất của sắc uẩn, sắc pháp, những tổ hợp của sắc chất thì chúng ta còn bị chúng làm hại dài dài, hoài hoài, mãi mãi, vô lượng vô biên kiếp về sau. Chúng ta bị căn nhà làm hại, bị những tờ giấy xanh đỏ làm hại, bị chiếc xe làm hại, bị ruộng vườn làm hại, bị con người làm hại, bị món đồ làm hại. Chúng ta có thấy mình là kẻ bị hại, là nạn nhân chưa?
Biết bao trường hợp đốt thiêu, phóng hỏa, tạt axit, cạo đầu, lột đồ, đánh đá ngoài đường cũng vì ghen tuông, đó chính là bị sắc làm hại. Hai nhà hàng xóm với nhau nhưng nhà bên cạnh làm nghề mộc, vì tiếng ồn và mạc cưa văng qua nên nhà bên này bực tức rồi chạy qua gây gổ, dẫn đến hai bên đánh nhau, chém nhau và xảy ra án mạng. Có người vì tiếng kéo cửa sắt ầm ầm của nhà kế bên mà dẫn đến sân hận, rồi đánh nhau và trở thành vụ án hình sự do làm chết người. Chúng ta là những nạn nhân bị sắc, bị âm thanh làm hại không ngừng. Vì miếng ăn, vì vật chất, vì tinh thần cho bản thân mà lọc lừa, lừa gạt, dối trá, mưu mô rồi tạo thành bao oán thù, dẫn đến anh em đồng nghiệp cũng đấu đá, chém giết, đánh đấm lẫn nhau.
Tất cả mọi người đều bị làm hại hết sức thê thảm. Chúng ta bị con mắt làm hại, nhìn thấy đồ đẹp thì khoái, thích, muốn, ưa; bị đối tượng của con mắt – các sắc làm hại. Hoặc khi nghe tiếng không thích là bừng bừng, lồng lộn, sôi sục, đó là bị các tiếng làm hại. Vì không quản lý, không kiểm soát, không tự chủ đối với các cảm thọ nên để những cảm xúc dẫn dắt, lôi kéo, làm cho mình phừng phừng, rực cháy lên. Chúng ta bị những âm thanh, bị lỗ tai, bị sự rõ biết, bị những cảm xúc, bị những tự ngã ái bên trong (tự ái) làm hại. Tức là tự yêu mình nên khi nghe điều không hay thì cho đó là xúc phạm, khinh khi rồi để bên trong phừng phực lên, đốt cháy lên. Như vậy là chúng ta bị lỗ tai, bị các tiếng, bị sự rõ biết làm hại; bị những cảm giác sanh khởi khi nghe những tiếng không hay làm hại; bị tham, sân, si sau khi cảm thọ sanh khởi làm hại. Đến bao giờ chúng ta mới thoát ra được những tai nạn này, khi quán chiếu thật sự thì sẽ thấy mình vô cùng thê thảm, đáng thương và tội nghiệp.
Chúng ta bị sáu căn bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý làm hại không ngừng. Không chỉ người già mà ngay người trẻ cũng không thoát khỏi bệnh đau: mắt không thấy đường, tai không còn nghe rõ, chân đi không được, bao tử đau không ăn uống được. Chúng ta còn bị những món ăn, thức uống làm hại; bị những sự đụng chạm, xúc chạm làm hại, bị những ác ý bên trong làm hại. Sáu trần bên ngoài: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng làm hại chúng ta.
Chỉ riêng sắc đẹp, nhà đẹp, món đồ đẹp, chiếc xe đẹp… cũng đã làm hại tất cả chúng sanh thê thảm. Một chữ “sắc” của Đức Thế Tôn nhưng bao trùm cả thế giới, đó là thế pháp, được Như Lai chứng ngộ, chứng tri một cách hoàn toàn trọn vẹn, Ngài khai thị, tuyên thuyết, thuyết giảng, hiển lộ, phân tích trình bày tất cả mọi góc độ, khía cạnh. Đức Phật đã dạy trong Kinh Pháp Cú, chúng ta luôn bị sắc này làm hại mà không hay biết, khi biết được sự thật này thì mọi tranh luận sẽ được lắng yên, đây là đề tài thiền quán, quán chiếu để thấy được mình là nạn nhân, là kẻ bị hại. Ví dụ đơn giản, chỉ là chiếc áo, đôi dép, mắt kính… nhưng cũng làm hại chúng ta, nếu ai lấy mất thì mình cũng khó chịu trong người.
Hơn thế nữa, chúng ta còn bị các cảm thọ hại, chúng vô cùng ác độc và khủng khiếp. Chỉ sắc thôi là đã giam hãm, tù đày chúng sanh không thoát ra được, vậy mà còn có các cảm thọ trói buộc mình không ngừng. Cảm thọ nào cũng hại chết chúng ta, lạc thọ dẫn đến tham, dục, ái; khổ thọ, khó chịu thì dẫn đến sân giận rồi tạo nghiệp. Và đối với những người sau khi được Như Lai tuyên bố, phân tích, hiển lộ như vậy nhưng vẫn không biết, không thấy thì Đức Phật xem người đó là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy. Mỗi khi sanh khởi cảm xúc là không còn biết gì, họ chìm trong tham đắm, say mê, điên đảo hoặc sôi sục, phừng phực, thiêu đốt. Suốt cuộc đời cứ chạy tìm những cảm giác, cảm xúc, cảm thọ nên không lúc nào chúng ta được bình an, lắng dịu, yên tịnh, cứ đòi hỏi cái này, tham muốn cái kia, khao khát cái nọ rồi bị cảm thọ thúc giục, nổi loạn bên trong.
Tác ý thoát khỏi sự hãm hại của ngũ thủ uẩn
Chính vì vậy, phá được sắc này là việc vô cùng khó khăn, phải dùng tất cả trí tuệ để tác ý thường xuyên. Khi thấy bất cứ thứ gì mà mình yêu thích, hoặc sân hận, hoặc không yêu không hận, không thương không ghét thì đều phải đánh phá tất cả. Trước khi thấy, trong khi thấy, sau khi thấy đều phải tác ý, tự nhắc mình: “Các sắc là thứ vô thường, tan vỡ, bại hoại, ác độc, làm hại mình. Đừng yêu, đừng thích, đừng ham, đừng sân hận đối với nó”. Chúng ta luôn bị sắc làm hại như vậy mà không thấy không biết, rồi nhận nó là mình, là của mình. Đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp… đều vô minh nhận chúng là mình, là của mình rồi bị chính nó làm hại. Cho nên, đối với tất cả các sắc chất đều phải thường xuyên tác ý: “Đồ thứ bại hoại, vô thường, thứ biến đổi, tan nát, đau khổ. Đây là thứ làm hại, giam hãm, tù ngục, còng số 8 trói buộc mình. Nó ác độc, sai khiến, đè đầu cỡi cổ, làm mình đau khổ trong vô lượng vô biên kiếp. Phải nhàm chán, thoát ra, từ bỏ, hướng đến sự ly tham đối với các sắc”. Áp dụng bảy trí tuệ về sắc để tác ý thường thường như vậy.
Trước đây khi chưa tu dòng pháp này thì chúng ta rất thích thú trước cảnh núi mây, chim hót vì cảnh vật rất hùng vĩ, tươi đẹp, thanh thoát. Còn bây giờ thì không thấy như vậy nữa mà thấy mọi thứ vô thường, tan hoại, không có gì đáng ưa thích. Khi có cảm giác lạc thọ thì chúng ta rõ biết đó là lạc thọ và đồng thời phải thấy được cảm giác đó là vô thường, cảnh vật cũng là vô thường. Phải quán chiếu rằng chỉ cần một trận mưa lớn, một trận lũ quét, hoặc một trận động đất, lửa cháy thì nơi chúng ta đang ngồi là nghĩa địa chôn chính mình. Nếu đợi đến lúc xảy ra chuyện mới quán chiếu thì sẽ không kịp mà trước khi xảy ra, trong khi xảy ra và sau khi xảy ra chuyện thì chúng ta phải luôn luôn an trú quán chiếu.
Ở Linh Quy Pháp Ấn, hôm trước gió thổi (phong đại) làm tốc mái Ni xá, hôm nay nước chảy (thủy đại) làm ngập nước Vân Thủy Đường, một ngày nào đó hỏa đại đến thăm cũng không phải chuyện không thể. Cho nên, mọi việc vừa thấy bình thường nhưng chỉ tích tắc là có thể không còn gì nữa. Thế giới hiện tại có hàng triệu người chết vì dịch bệnh Covid-19, gia đình vừa mới êm êm ấm ấp, cha cha, con con, vợ vợ, chồng chồng thì chớp mắt chết hết cả gia đình, không còn một ai. Bản chất của sắc pháp chính là như thế, đúng như Đức Phật đã dạy “sắc là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại”. Bây giờ thấy còn ngồi đây nói cười, làm việc nhưng chỉ cần ho mấy tiếng vì nhiễm dịch bệnh là xong. Vậy mà hơn thua, tranh đấu, giành giật, mưu sĩ, mưu mô, mưu toan, mưu tính, mưu hại, mưu độc, mưu ác. Cũng vì cái sắc này mà tạo vô số nghiệp, hằng hà sa số nghiệp, tạo ra bao nhiêu những ác nghiệp, tội lỗi.
Chúng ta luôn bị các cảm thọ làm hại như thế, vì vậy, mỗi lần cảm thọ sanh khởi lên, phải tác ý: “Ta chán ngán, mệt mỏi mày quá rồi cảm thọ. Mày ác độc vừa vừa thôi, đừng hại ta nữa”. Thâm sâu trong thân tâm này chúng ta phải thấy rõ mình là kẻ đang bị hại, là nạn nhân của ngũ uẩn. Những cảm giác ác độc, khốn nạn này luôn hành hạ, sai khiến, đè đầu cỡi cổ, nhận chìm, thiêu đốt, bao phủ chúng ta trong bóng đêm. Cho nên, cảm thọ thật là kẻ ác độc, kẻ giết người.
Đức Thế Tôn có dạy: sắc, thọ, tưởng, hành, thức là than đỏ, là hố than hừng, là rắn độc, là mũi tên, là ung nhọt. Thường quán chiếu như vậy thì chúng ta có thể sẽ thể nhập Thánh trí, gọi là tuệ thể nhập. Một vị từ ngày bắt đầu tu cho đến ngày thành tựu A-la-hán là phải luôn quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ung nhọt, là mũi tên, là rắn độc, là vô thường, là khổ đau, là rắn độc, là ung bướu, là tai nạn, là hiểm họa. Đó là sự chứng ngộ, chứng tri, tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, hiển lộ của Đức Phật. Những câu tác ý, những sự thấy biết, những hình ảnh, những sự quán xét nói trên chính là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Tương Ưng Bộ Kinh III, bài kinh “Vị Giữ Giới”, Tôn giả Sàriputta (Xá Lợi Phất) đã trả lời những câu hỏi của Hiền giả Kotthika:
-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
-- “Này Hiền Giả Kotthika, vị Tỳ Kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã”.
Câu này có thể đưa một người từ phàm phu đi đến Thánh quả tối thượng A-la-hán nhưng đây chỉ là định lý, khẩu quyết. Vì vậy, chúng ta phải nghiền ngẫm nhiều góc độ, khía cạnh của câu này và thường xuyên chiêm nghiệm, tác ý, suy tư. Khi ăn, khi ngủ, khi nằm, khi thức thì chúng ta phải sống với trí tuệ này, thậm chí trong chiêm bao cũng mơ thấy được nó. Phải đưa định lý này vào sâu trong những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức trong tâm, như vậy gọi là tuệ thể nhập và những cái thấy đó cũng không bị mất đi. Vì vậy, chúng ta cần phải tác động, dạy dỗ, nhắc nhở tâm ý, luôn luôn suy tư, chiêm nghiệm năm uẩn này là vô thường, khổ đau, ung nhọt, bệnh hoạn, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền Giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ Kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, vô ngã, có thể chứng được quả Dự Lưu. (Tương Ưng Bộ III, Phần C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, bài kinh Vị Giữ Giới)
Các vị Tỳ-kheo, và các cư sĩ giữ giới cũng vậy, khi tác ý như thế thì có thể chứng quả Dự Lưu, hoặc chứng quả Nhất Lai, quả Bất Lai cho đến chứng quả A-la-hán. Như vậy, một vị chứng quả A-la-hán cũng tác ý như vậy. Thế nên, chúng ta phải luôn luôn nhắc nhở tâm ý của chính mình rằng hình thể này, sinh mạng này, thân xác này không có như hiện tại hoài mà sẽ đổi thay. Hình thể này là khổ, thân này là bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, là sự bất hạnh.
Bất hạnh thay cho ta khi phải mang một thân xác đầy rẫy dục ái, hơn thua, vô minh, tăm tối!
Bất hạnh thay cho ta vì đã phải chịu đựng biết bao mũi tên của dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã!
Bất hạnh thay cho ta, đau khổ thay cho ta, tội nghiệp thay cho ta vì ta là kẻ bệnh hoạn về thân lẫn tâm!
Thân này là chỗ chứa những nhóm bệnh hoạn. Còn tâm này chứa biết bao chứng bệnh bên trong: bệnh dục, bệnh tham, bệnh ái, bệnh sân, bệnh tranh luận, bệnh tranh cãi, bệnh tranh đấu, bệnh tranh giành, bệnh tranh hơn, tranh thua, tranh đúng, tranh sai, tranh cao, tranh thấp, tranh phải, tranh quấy. Những sự tranh giành, hơn thua này là bệnh hoạn, bất hạnh, là những mũi tên ghim vào tim tất cả chúng ta. Suốt cả ngày thọ, tưởng, hành cứ vận hành, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ kia, hết cảm giác này đến cảm giác khác, hết hình bóng này đến hình bóng nọ. Thật sự bất hạnh thay cho ta khi những thứ này còn vận hành, còn hoạt động, còn xâm chiếm, còn áp đảo, còn đè đầu cỡi cổ chúng ta.
Khi giận ai thì chúng ta quán chiếu những cảm thọ của sân là mũi tên; những cảm giác của bức xúc là ung nhọt; những cảm giác hơn thua, phải quấy là bệnh hoạn. Cứ tác ý hoài như vậy thì chúng ta sẽ đủ sức để đẩy, quét, ói, khạc, nhổ những cảm xúc đó ra khỏi tâm mình và dần dần tẩy sạch chúng hoàn toàn. Thật đau khổ thay cho ta khi những hình bóng, ảo ảnh, ảo tưởng cứ mờ ảo, chập chờn, ám ảnh, hiện khởi trong tâm không ngừng nghỉ. Thật là bất hạnh, thật là tai nạn thay cho ta vì ta là kẻ bị hại, là nạn nhân của những cảm giác, suy tư này.
Chúng ta phải kiểm soát từng ý nghĩ, từng cảm thọ, từng hình bóng… không được để cho chúng qua mặt mình. Giống như một người đang bị người khác bày mưu đầu độc, hãm hại thì người này phải hết sức thận trọng, trong mỗi bữa ăn có cây kim thử xem đồ ăn có độc không, nếu quên thử mà đúng ngay ngày bị tẩm độc thì sẽ mất mạng. Cũng vậy, chúng ta phải thường xuyên và liên tục nhìn lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức xem có độc trong đó không, nếu không, chúng ta sẽ bị hại, bị trúng độc, bị hạ độc thủ, bị hạ độc và bất cứ lúc nào cũng chết vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức này.
Quán chiếu tất cả đều là người lạ
Hơn nữa, chúng ta phải luôn rõ biết rằng, người xung quanh mình là người lạ chứ không phải người quen. Căn nhà chúng ta đang ở cũng là lạ chứ không phải của mình, đừng vì ở đó rồi cho rằng đó là nhà của tôi, chỗ của tôi… Cần phải quán chiếu tất cả đều chỉ là nhà trọ, dù cho ở lâu bao nhiêu cũng vậy:
Trần thế âu là cảnh tạm nương
Cũng như chiếc quán dựa bên đường
Người đời là khách dừng chân tạm
Rồi vội quay về nẻo viễn phương.
Nẻo viễn phương là nghĩa địa, là lò thiêu, là nghĩa trang, là dòng luân hồi sanh tử. Chúng ta đều là những người xa lạ, không ai quen biết ai, thế nên, đừng để dính mắc, tham ái vào nhau. Thân này còn là người lạ thì những người bên ngoài sao có thể là người quen. Vài ngày sau khi tắt thở thì thân xác đó cũng trở thành người lạ, chứ không còn là người quen nữa. Các hành luôn dịch chuyển, thay đổi, biến diệt, không bao giờ đứng yên, như vậy thì làm gì có ai là người quen. Nhiều khi gặp lại người từng quen nhưng mình không nhớ, quên mất họ là ai.
Ngày trước, nhà Minh Thành ở gần mé sông, tại chợ Cái Tàu Hạ nhưng sau này nhà dời đi chỗ khác. Có lần, sau nhiều năm mới về nhà thì Minh Thành không biết đường, không biết nhà ở đâu, không biết vào nhà như thế nào. Khi đó Minh Thành đứng tần ngần, ngỡ ngàng, ngẩn ngơ ngay chợ vì xung quanh lạ lẫm, đường cũng lạ, người cũng lạ, nhà cũng lạ. Cảm giác đó đến giờ Minh Thành vẫn chưa quên, vì thấy được sự vô thường, biến đổi, gia đình không còn ở nhà cũ nữa, mà nhà mới thì dời qua chỗ khác, cảnh khác, người khác, tất cả đều khác. Cho đến khi bước vào nhà mới thì Minh Thành cũng ngơ ngác vì mọi thứ đều đổi khác, không có gì là quen.
Hơn thế nữa, nếu chạy xe ra đường gặp tai nạn thì sẽ ra sao, mặt mũi đời sau thế nào cũng không biết được, chỉ một tiếng “rầm” là tất cả trở thành xa lạ, không còn quen ai nữa. Sau đó có thể sẽ đầu thai thành con chuột, ở dưới ống cống, lúc đó thấy quen với những con chuột xung quanh. Kế tiếp đầu thai thành con chó thì lại thấy mấy con chó trong xóm quen thuộc. Hết làm con chó, đầu thai làm cô hồn thì lại thấy những cô hồn khác quen. Sau đó đầu thai xuống địa ngục thì những cái trước đó còn có cái gì quen không?
Cho nên, tất cả đều xa lạ, tích tắc đều thay đổi, Đức Phật dạy “các hành là vô thường” là như vậy. Tất cả luôn dịch chuyển, thiên lưu, đổi dời, vận động, chuyển động. Cũng như thầy trò bên nhau nhiều năm, nhưng khi đi xuống núi thì đã trở thành người xa lạ, không quen. Mới trong lớp vừa thầy thầy, trò trò, sư sư, phụ phụ nhưng bước ra khỏi lớp là quay lưng, gặp cũng như không gặp, chẳng khác gì người lạ. Mới là anh em, vợ chồng với nhau nhưng vì mâu thuẫn, tranh giành, cãi cọ với nhau mà trở thành người lạ, không thèm nhìn, coi như chưa từng quen biết. Một người giàu có, không may phá sản, điện thoại cho bạn bè thì không ai nghe máy, đến nhà gõ cửa thì không ai tiếp đón, nhắn tin cũng không có ai trả lời. “Còn tiền còn bạc, còn đệ tử - Hết cơm hết gạo, hết ông tôi”.
Các pháp luôn thay đổi như vậy, sắc thay đổi, cảm thọ thay đổi, suy nghĩ thay đổi, tất cả đều là người lạ, đây là cả một đề tài thiền quán thâm sâu. Nếu chỉ nghe phớt qua thì chúng ta sẽ thấy thắc mắc “sao thân tôi mà nói là người lạ” nhưng nương theo trí tuệ để chiêm nghiệm và quán chiếu thì sẽ thấy độ thâm sâu của Đức Phật. Đức Thế Tôn không nói những chuyện không có mục đích, không có ý nghĩa mà chỉ vì chúng ta vô minh, phàm phu nên không thể thấy, không thể hiểu được những lời của Ngài.
Bình thường, chúng ta ở nhà quen sống với anh chị em, vợ chồng, ba mẹ nhưng đến Linh Quy Pháp Ấn tu học thì những người quen mới ở Linh Quy. Kế tiếp chuyển qua Đài Loan làm việc thì lại thấy những người ở Đài Loan là người quen. Sau đó chuyển qua Mỹ sinh sống thì những người xung quanh bên Mỹ lại trở thành người quen. Vậy, cuối cùng có ai là người quen thật sự không? Mọi thứ cứ thay đổi, chuyển biến, đổi dời, vận chuyển, vận hành, thiên lưu liên tục… vì vậy Phật mới gọi là các hành.
Tất cả đều rỗng không, vô ngã, đi đến hủy hoại, hoại diệt như vậy, nhưng do không chấp nhận nổi điều này nên nhiều người suy sụp, trầm cảm, thậm chí điên loạn. Nhiều người mới vừa yêu thương, thân thiết với nhau như vậy nhưng người yêu lại thương người khác, không còn thương mình nữa. Lúc đó thọ, tưởng, hành của họ không chịu nổi, họ đau khổ, tiếc nuối, sống trong những hình bóng quá khứ, sống những cảm giác đã trải qua. Những suy nghĩ cứ day dứt làm họ không chịu nổi và suy sụp tinh thần, dẫn đến trầm cảm hoặc nặng hơn nữa là thần kinh, điên loạn, thậm chí chọn cách quyên sinh, tìm đến cái chết do không chấp nhận được sự lật lọng, tráo trở, biến đổi một cách đột ngột. Mới yêu thương đó nhưng người yêu bỗng chốc nói có người khác đẹp hơn, giàu hơn, còn mình không là gì đối với họ, chỉ là yêu qua đường, nghe xong có khi té xỉu, phải đưa vào bệnh viện. Cảm thọ chính là tráo trở, khốn nạn như vậy.
Cho nên, bản chất của ngũ uẩn này là lật lọng, tráo trở, thay đổi như vậy. Tình nghĩa thầy trò, huynh đệ, bạn bè cũng giống y vậy, không khác. Chúng ta phải chuẩn bị sẵn tâm lý để khi có chuyện xảy đến thì trước đó mình đã thấy hiểu như vậy, ngày nào cũng tụng niệm, suy tư để thấy tất cả là người lạ, đến rồi đi, thân rồi sơ, thương rồi giận, yêu rồi hận, ngoài ra không còn gì nữa. Chính vì vậy, chúng ta thường xuyên phải quán tất cả đều là người lạ. Được như vậy thì rất tuyệt vời, mọi người sống giữa cuộc đời này được bình yên, an ổn, vì đã thấy được bản chất vận hành của năm uẩn, thấy được năm tổ hợp này luôn đổi thay, tráo trở, lật lọng, biến đổi, hoại diệt. Khi đó, mọi thứ có đổi khác cũng là chuyện bình thường, chúng ta sẵn sàng đón nhận một cách điềm nhiên.
Trong Tứ Niệm Xứ Đức Phật có dạy “bản tánh, bản chất của thân này là vô thường, biến đổi, hoại diệt như vậy, không vượt khỏi tính chất đó”. Chúng ta đem câu này ứng dụng vào cả năm uẩn để thấy bản chất của những cảm xúc thương yêu, giận ghét cũng là như vậy. Mới giận chửi mình xong thì thấy tội nghiệp cho bánh ăn, lúc đó cũng đừng vội mừng vì có thể vài ngày sau lại bị chửi tiếp. Cho nên, các pháp diễn biến thế nào thì chúng ta cứ rõ biết như thế ấy, biết đó là các hành đang vận hành trong đau khổ, biến đổi, biến hoại, hủy hoại, rỗng không. Thương cũng rỗng không, ghét cũng rỗng không, sự thân thiết cũng sẽ đi đến rỗng không, sự rời xa rồi cũng là rỗng không, ngũ uẩn là vậy, đừng để nó hại mình, đừng để mình làm nạn nhân cho nó. Hãy bình tĩnh quán chiếu, thấy rõ được tính chất, bản chất, đặc tính của ngũ uẩn để không còn đau khổ với nó. Thật sự bất hạnh nếu vướng vào cục thịt, máu mủ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã này, nó khao khát, đói khát hết cái này đến cái kia. Chúng ta phải thật sự ngao ngán, nhàm chán đối với nó và hướng đến sự thoát ra, từ bỏ, viễn ly, ly tham, đoạn diệt, chấm dứt thì mình sẽ có được hạnh phúc, an lành.
Cho nên, chúng ta phải chiêm nghiệm về năm uẩn, chiêm nghiệm thật nhiều về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Phải nhìn ngũ uẩn bằng thực pháp, đừng chỉ khi đọc kinh, ngồi thiền mới nhìn, mà nhìn trong mọi lúc mọi nơi để xem sự hoạt động của ngũ uẩn. Từ đó nhắc nhở, dạy dỗ, huấn luyện thọ, tưởng, hành, đặt chúng vào pháp để chúng an trú, trú vững vào pháp và thể nhập vào những tính chất này. Phải luôn ghi nhớ mình là người bị năm uẩn hãm hại. Chúng ta bị tham, sân, si, vô minh, bản ngã làm hại; bị những cảm xúc, cảm giác, cảm thọ làm hại; bị những ảo ảnh, ảo tưởng, hình bóng mờ mờ, ảo ảo làm hại; bị những suy lầm thầm nghĩ làm hại. Vì thế, chúng ta phải đặt để tất cả những thọ, tưởng, hành đó an trú vào pháp. Bên cạnh đó, phải luôn tác ý thường xuyên và liên tục để thể nhập vào trí tuệ của Đức Phật đã truyền trao.
./.
MẬT MÃ THẾ GIỚI 8
CHÚNG TA ĐANG BỊ HẠI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Bông Hoa” PAGEREF _Toc88465783 \h 1
II.Không tranh luận với đời PAGEREF _Toc88465784 \h 6
III.Tất cả đang bị hại PAGEREF _Toc88465785 \h 7
IV.Tác ý thoát khỏi sự hãm hại của ngũ thủ uẩn PAGEREF _Toc88465786 \h 10
V.Quán chiếu tất cả đều là người lạ PAGEREF _Toc88465787 \h 14
Bài kinh “Bông Hoa”
Chúng ta tiếp tục nghe Đức Phật nói về thế pháp, thế giới trong bài kinh “Bông Hoa”, Tương Ưng Bộ III:
Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận với bất cứ với một ai ở đời.
Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "không", Ta cũng nói là "không". Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "có", Ta cũng nói là "có".
Và này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "không", Ta cũng nói là "không"?
Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời không chấp nhận sắc là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là "không".
Thọ... tưởng... các hành...
Người có trí ở đời không chấp nhận thức là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là "không".
Người có trí ở đời không chấp nhận sắc là thường còn, thường hằng, thường trú, không biến hoại. Đức Phật cũng như vậy, Ngài cũng không chấp nhận sắc là thường hằng, thường còn, thường trú.
Người có trí ở đời không chấp nhận các cảm thọ là thường còn, thường hằng, thường trú, không đổi thay. Đức Phật cũng không chấp nhận những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác là thường hằng, thường còn, thường trú, không đổi đổi thay.
Người có trí ở đời không chấp nhận các tưởng là thường còn, thường hằng, thường trú, không đổi thay. Đức Phật cũng vậy, Ngài không chấp nhận các tưởng, các hình bóng trong tâm thường còn, thường hằng, thường trú, không biến đổi.
Người có trí ở đời không chấp nhận các hành, tức là những suy tư, nghĩ ngợi là thường còn, thường hằng, mãi mãi như cũ, không biến đổi. Đức Phật cũng vậy, Ngài không chấp nhận những suy tư, những nghĩ ngợi, những toan tính, những lời nói thầm trong tâm là còn hoài, không biến đổi.
Người có trí ở đời không chấp nhận sự nhận thức, rõ biết là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến đổi, tan hoại. Đức Phật cũng không chấp nhận sự rõ biết là thường còn, không biến hoại.
Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì ở đời người có trí chấp nhận là "không", Ta cũng nói là "không".
Và này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "có", Ta cũng nói là "có"?
Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp nhận sắc là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là "có" (vậy).
... thọ... tưởng... các hành...
Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp nhận thức là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là "có" (vậy).
Người có trí ở đời chấp nhận sắc là vô thường, không thường còn, không thường hằng. Họ công nhận tất cả vật chất, hình thể, hình hài, sắc chất, cảnh vật, đồ vật, vạn vật đều là vô thường, không còn mãi, nó không đứng yên mà luôn dịch chuyển, thiên lưu, đổi dời, tan rã. Đức Phật cũng chấp nhận như vậy.
Người có trí ở đời công nhận, chấp nhận, xác nhận mọi cảm giác là đổi thay, là thiên lưu, là dịch chuyển, là biến hóa, là lật lọng, là tráo trở, là biến hoại, là không còn mãi. Cảm thọ này mới vui rồi buồn, mới thương rồi ghét, mới thân rồi sơ, mới yêu rồi hận. Đức Phật cũng xác nhận, công nhận điều đó.
Người có trí ở đời chấp nhận các tưởng, các hình bóng, bóng dáng, hình ảnh mà tâm vẽ vời ra là đổi thay, là tan biến, là vô thường, là không thường còn. Đức Phật cũng công nhận, xác nhận điều đó là như vậy.
Người có trí ở đời công nhận mọi suy nghĩ, suy tư, nghĩ ngợi, mọi lời nói lầm thầm trong tâm là không còn mãi, mà những suy nghĩ sẽ đổi thay, lật qua trở lại, vô thường, không thường hằng, không thường trú và chịu sự biến hoại. Đức Phật cũng công nhận như vậy.
Người trí ở đời công nhận sự rõ biết là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại và Đức Phật cũng nói là “có” như vậy, Ngài xác nhận điều đó.
Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là "có" (vậy).
Ở trong đời, này các Tỷ-kheo, có thế pháp. Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.
Đức Phật nói ở trong đời này có thế pháp, tức là pháp thế gian và Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, chứng tri, thấu triệt, thấu rõ tường tận về mọi ngóc ngách, khía cạnh, góc độ một cách tròn đầy, viên mãn, triệt để, đầy đủ về pháp ấy. Nghĩa là Đức Phật thấy biết tận cùng, chứng ngộ một cách hoàn toàn về pháp thế gian, tức là pháp vô thường, không thường hằng, không thường trú, phải chịu sự biến hoại của ngũ uẩn, của năm tổ hợp, năm nhóm, năm sự tích tụ, tích tập…. Sau khi thấy biết như vậy thì Như Lai công bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng điều đó rộng rãi, Ngài khai thị, vén bức màn của sự thật để chỉ cho tất cả chúng sanh. Đức Phật phân tích chi li, tỉ mỉ, tận tường, rành rõ, minh bạch, thấu đáo, triệt để tất cả mọi góc độ, khía cạnh, phương diện về năm hợp thể, năm nhóm, năm tổ hợp, năm sự tích tụ… để sự thật được hiển lộ, phơi bày ra cho chúng sanh.
Này các Tỷ-kheo, thế pháp ở trong đời là gì, thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri; sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ?
Sắc, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.
Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.
Đức Phật đã chứng ngộ một cách triệt để, thấu đáo, tận tường và trình bày, phân tích, diễn thuyết, phơi bày, chỉ rõ một cách rõ ràng nhưng người nào vẫn không thấy, không biết, không chịu tin, không chịu nghe, không chịu tu thì người này Phật xem là vô tích sự, ngu si, phàm phu, đui mù, không có mắt, không có thấy, không có biết. Phật đã phân tích, chia sẻ, trình bày, thuyết giảng, hiển thị đầy đủ tất cả nhưng vẫn không thấy, không biết, không chấp nhận, không tin thì thật sự người vô tích sự, ngu si, mù lòa, bị quở trách, la mắng là hợp lý. Chúng ta phải để từng lời, từng câu thấm vào xương tủy, tim gan mình vì sự vô minh dày đặc, cứng chắc như vậy.
Thọ... Tưởng... Các hành...
Thức, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri. Sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.
Cảm thọ, cảm giác, cảm xúc; các hình bóng trong tâm; các suy nghĩ; các nhận thức, rõ biết cũng là thế pháo ở đời, là những pháp thế gian. Pháp này được Như Lai chứng ngộ, chứng tri triệt để, Chánh Đẳng Chánh Giác, biết về nó một cách chân chánh, chính xác, trọn vẹn, tột cùng, triệt để… Phật tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng các pháp là vô thường, khổ, vô ngã. Ngài khai thị, phân tích và hiển lộ tính chất biến hoại, tan rã, không thường hằng, không thường trú của các pháp ấy. Dù vậy nhưng vẫn có người không thấy, không biết, cho nên đối với những người ấy, Phật xem là kẻ vô tích sự, ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.
Ví như, này các Tỷ-kheo, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước nhiễm ướt.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sanh ra ở trong đời, lớn lên trong đời, vươn lên khỏi đời, và sống không bị đời ô nhiễm. (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, V. Phẩm Hoa, bài kinh Bông Hoa)
Cũng như bài ca dao:
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng lại chen nhuỵ vàng.
Nhuỵ vàng, bông trắng, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
(Ca dao Việt Nam)
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu phần diễn đọc bài kinh, đó là những lời Đức Phật dạy về thế giới, thế pháp, thế gian. Qua đó, chúng ta thấy thế giới được Đức Thế Tôn tóm thâu trong long bàn tay, gồm có năm ngón tay: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ở đây, không có gì bị mờ tối, không có gì bị che đậy, tất cả đều được phơi bày, được trình bày, được hiển thị, được phân tích, được tuyên tuyên thuyết, được giảng thuyết, được khai thị, được hiển lộ. Đó là sự chứng ngộ rõ ràng, tận tường, triệt để, viên mãn, đầy đủ hoàn toàn của Đức Phật, không còn gì mờ tối, không còn gì để che đậy. Chúng ta phải tin tưởng thật mạnh mẽ, xác quyết vào pháp học và pháp hành này để cuối cùng đi đến pháp thành. Hãy để sự thâm thúy của trí tuệ ngấm thật sâu vào cảm thọ, trí tuệ về thế giới thật sự quá vi diệu. Thế giới này không có gì nằm ngoài những lời tóm thâu của Đức Thế Tôn.
Không tranh luận với đời
Câu mở đầu bài kinh là đề tài thiền quán vĩ đại trong suốt cuộc đời chúng ta, đây là bí quyết bình an và hạnh phúc trên cuộc đời này:
“Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời”.
Đức Phật nói không còn cái gì để tranh luận với bất cứ ai trên cuộc đời này. Chỉ khi không thấy, không biết thì mới tranh luận, còn khi đã hiểu rõ về năm uẩn thì không còn gì để tranh luận nữa. Như vậy, một khi thấy pháp, thấy rõ được năm uẩn là diệt tận tất cả mọi hý luận. Nghĩa là tất cả mọi tranh luận đều được chấm dứt đối với người thành tựu trí tuệ năm uẩn, chỉ những người không thành tựu trí tuệ năm uẩn thì mới tranh luận.
Phật nói: “Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta”, thật vậy, trong thời Đức Phật có rất nhiều ngoại đạo, Bà-la-môn đến kiếm chuyện, gây sự với Ngài. Thế nhưng “người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời”, vì đối với một người đã vượt lên trên tất cả thì không còn gì để tranh luận hơn thua với một ai nữa. Kinh Pháp Cú có nói: “Leo lầu cao trí tuệ - Nhìn kẻ ngu đất bằng”, người đã đứng trên đỉnh núi, đạp trên ngũ uẩn để đi thì còn tranh luận để làm gì! Người đã thấy được tính chất biến hoại, tan nát, đổ vỡ, trống rỗng, uế nhiễm, cấu nhiễm, bất tịnh của ngũ uẩn thì người đó còn hơn thua, giành giật, tranh giành, tranh đấu, tranh luận, tranh chiến với ai nữa. Cho nên, ai còn hơn thua, tranh đấu là người đó chưa thật sự thấy biết ngũ uẩn, còn người đã thật sự thấy biết ngũ uẩn thì không còn hơn thua, không còn tranh đấu với ai nữa, họ chỉ lo quay lại để diệt tận những cấu nhiễm, lậu hoặc, rác bẩn trong thân tâm mình.
“Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta”. Minh Thành ứng dụng câu này suốt mấy chục năm nay, không hơn thua với ai và cảm thấy rất tuyệt vời. Ai muốn hơn thì để cho người ta hơn, mình thua thì cũng không sao. Hơn nữa, có “mình” thì mới có hơn thua, còn không có mình thì cớ sao phải hơn thua. Thành ra người trí chấm dứt được mọi tranh luận, không tranh cãi với ai, chỉ có người ngu mới tranh cãi với nhau, mà người hay cãi là người ngu nặng, vô minh nhiều. Ứng dụng được câu nói này thì chúng ta sẽ được bình an giữa cuộc đời đầy đau khổ, ai ai cũng là nạn nhân của năm uẩn này.
“Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận với bất cứ với một ai ở đời”. Vì đã thấu hiểu hết cuộc đời này, người đời chấp nhận, hoặc không chấp nhận thì Đức Phật cũng không cần tranh luận.
Tất cả đang bị hại
Và người khác không biết,
Chúng ta đây bị hại.
Chỗ ấy, ai hiểu được
Tranh luận được lắng êm.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song Yếu)
Tất cả chúng ta là những kẻ bị hại, ai cũng là nạn nhân của thế pháp, của thế giới, của thế gian. Chúng ta bị sắc làm hại, bị những sắc đẹp, tài sản, cảnh trí, hình dáng, những sự lòe loẹt của thế giới làm hại mà mình không biết. Cho nên, đau khổ lớn nhất của chúng sanh chính là vô minh, tức là sự không thấy, không biết. Không biết mình đang bị hại, không biết mình đang bị khổ. Không biến sắc uẩn là thứ tan biến, bại hoại, tan nát. Không biết sắc thân này là ung nhọt, là ổ vi trùng, vi rút, vi khuẩn. Dù có là bác sĩ, có biết qua bản chất của thân này nhưng cũng không biết đến nơi đến chốn, chỉ biết một góc độ nhỏ, không phải Chánh Đẳng Chánh Giác, không phải viên mãn giác, vì vậy họ vẫn khổ đau. Những người làm bên giải phẫu, mỗi ngày phải mổ xác, mổ tử thi thì cũng tham, sân, si như thường, dù cho họ cũng thấy cũng biết thân này hoại diệt, nhưng đó không phải là sự thấy biết được truyền trao từ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Thế nên, họ vẫn bị sắc làm hại dù cho mỗi ngày vẫn đối diện với sự nguy hại của sắc. Những người canh tử thi, giữ nhà xác, những người làm pháp y, chuyên giải phẫu cơ thể người chết cũng vẫn đau khổ vì tình yêu, vẫn bị hình hài, thể xác làm cho sầu bi, ưu não. Như vậy, chúng ta luôn bị tổ hợp của sắc chất từ bên ngoài cho đến bên trong làm hại mình.
Bên trong chính là tấm thân mấy chục ký này hãm hại mình, nó đòi hỏi cái này, tham muốn cái kia, đau nhức chỗ này, mỏi mệt chỗ nọ… không lúc nào ngừng nghỉ. Phải luôn thường quán, thường tư duy, tác ý rằng chúng ta đã bị hại, đang bị hại và sẽ bị hại đối với sắc. Chỉ vì một cục thịt mà có thể điên khùng, thậm chí giết người. Chỉ vì một khối thịt mà có thể vào tù ngồi hết đời cho đến chung thân. Sắc làm hại chúng ta, sắc giam hãm chúng ta, sắc còng trói chúng ta, sắc đè đầu cởi cổ, sai xử, sai khiến, trói trăn, ràng buộc chúng ta, đó chính là kiết sử. Từ sắc thân chính mình, đến sắc thân bên ngoài của người khác, cho đến đồ vật xung quanh – tất cả đều đã làm hại, đang làm hại và sẽ làm hại chúng ta. Nếu không thành tựu trí tuệ để nhìn thấu bản chất của sắc uẩn, sắc pháp, những tổ hợp của sắc chất thì chúng ta còn bị chúng làm hại dài dài, hoài hoài, mãi mãi, vô lượng vô biên kiếp về sau. Chúng ta bị căn nhà làm hại, bị những tờ giấy xanh đỏ làm hại, bị chiếc xe làm hại, bị ruộng vườn làm hại, bị con người làm hại, bị món đồ làm hại. Chúng ta có thấy mình là kẻ bị hại, là nạn nhân chưa?
Biết bao trường hợp đốt thiêu, phóng hỏa, tạt axit, cạo đầu, lột đồ, đánh đá ngoài đường cũng vì ghen tuông, đó chính là bị sắc làm hại. Hai nhà hàng xóm với nhau nhưng nhà bên cạnh làm nghề mộc, vì tiếng ồn và mạc cưa văng qua nên nhà bên này bực tức rồi chạy qua gây gổ, dẫn đến hai bên đánh nhau, chém nhau và xảy ra án mạng. Có người vì tiếng kéo cửa sắt ầm ầm của nhà kế bên mà dẫn đến sân hận, rồi đánh nhau và trở thành vụ án hình sự do làm chết người. Chúng ta là những nạn nhân bị sắc, bị âm thanh làm hại không ngừng. Vì miếng ăn, vì vật chất, vì tinh thần cho bản thân mà lọc lừa, lừa gạt, dối trá, mưu mô rồi tạo thành bao oán thù, dẫn đến anh em đồng nghiệp cũng đấu đá, chém giết, đánh đấm lẫn nhau.
Tất cả mọi người đều bị làm hại hết sức thê thảm. Chúng ta bị con mắt làm hại, nhìn thấy đồ đẹp thì khoái, thích, muốn, ưa; bị đối tượng của con mắt – các sắc làm hại. Hoặc khi nghe tiếng không thích là bừng bừng, lồng lộn, sôi sục, đó là bị các tiếng làm hại. Vì không quản lý, không kiểm soát, không tự chủ đối với các cảm thọ nên để những cảm xúc dẫn dắt, lôi kéo, làm cho mình phừng phừng, rực cháy lên. Chúng ta bị những âm thanh, bị lỗ tai, bị sự rõ biết, bị những cảm xúc, bị những tự ngã ái bên trong (tự ái) làm hại. Tức là tự yêu mình nên khi nghe điều không hay thì cho đó là xúc phạm, khinh khi rồi để bên trong phừng phực lên, đốt cháy lên. Như vậy là chúng ta bị lỗ tai, bị các tiếng, bị sự rõ biết làm hại; bị những cảm giác sanh khởi khi nghe những tiếng không hay làm hại; bị tham, sân, si sau khi cảm thọ sanh khởi làm hại. Đến bao giờ chúng ta mới thoát ra được những tai nạn này, khi quán chiếu thật sự thì sẽ thấy mình vô cùng thê thảm, đáng thương và tội nghiệp.
Chúng ta bị sáu căn bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý làm hại không ngừng. Không chỉ người già mà ngay người trẻ cũng không thoát khỏi bệnh đau: mắt không thấy đường, tai không còn nghe rõ, chân đi không được, bao tử đau không ăn uống được. Chúng ta còn bị những món ăn, thức uống làm hại; bị những sự đụng chạm, xúc chạm làm hại, bị những ác ý bên trong làm hại. Sáu trần bên ngoài: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng làm hại chúng ta.
Chỉ riêng sắc đẹp, nhà đẹp, món đồ đẹp, chiếc xe đẹp… cũng đã làm hại tất cả chúng sanh thê thảm. Một chữ “sắc” của Đức Thế Tôn nhưng bao trùm cả thế giới, đó là thế pháp, được Như Lai chứng ngộ, chứng tri một cách hoàn toàn trọn vẹn, Ngài khai thị, tuyên thuyết, thuyết giảng, hiển lộ, phân tích trình bày tất cả mọi góc độ, khía cạnh. Đức Phật đã dạy trong Kinh Pháp Cú, chúng ta luôn bị sắc này làm hại mà không hay biết, khi biết được sự thật này thì mọi tranh luận sẽ được lắng yên, đây là đề tài thiền quán, quán chiếu để thấy được mình là nạn nhân, là kẻ bị hại. Ví dụ đơn giản, chỉ là chiếc áo, đôi dép, mắt kính… nhưng cũng làm hại chúng ta, nếu ai lấy mất thì mình cũng khó chịu trong người.
Hơn thế nữa, chúng ta còn bị các cảm thọ hại, chúng vô cùng ác độc và khủng khiếp. Chỉ sắc thôi là đã giam hãm, tù đày chúng sanh không thoát ra được, vậy mà còn có các cảm thọ trói buộc mình không ngừng. Cảm thọ nào cũng hại chết chúng ta, lạc thọ dẫn đến tham, dục, ái; khổ thọ, khó chịu thì dẫn đến sân giận rồi tạo nghiệp. Và đối với những người sau khi được Như Lai tuyên bố, phân tích, hiển lộ như vậy nhưng vẫn không biết, không thấy thì Đức Phật xem người đó là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy. Mỗi khi sanh khởi cảm xúc là không còn biết gì, họ chìm trong tham đắm, say mê, điên đảo hoặc sôi sục, phừng phực, thiêu đốt. Suốt cuộc đời cứ chạy tìm những cảm giác, cảm xúc, cảm thọ nên không lúc nào chúng ta được bình an, lắng dịu, yên tịnh, cứ đòi hỏi cái này, tham muốn cái kia, khao khát cái nọ rồi bị cảm thọ thúc giục, nổi loạn bên trong.
Tác ý thoát khỏi sự hãm hại của ngũ thủ uẩn
Chính vì vậy, phá được sắc này là việc vô cùng khó khăn, phải dùng tất cả trí tuệ để tác ý thường xuyên. Khi thấy bất cứ thứ gì mà mình yêu thích, hoặc sân hận, hoặc không yêu không hận, không thương không ghét thì đều phải đánh phá tất cả. Trước khi thấy, trong khi thấy, sau khi thấy đều phải tác ý, tự nhắc mình: “Các sắc là thứ vô thường, tan vỡ, bại hoại, ác độc, làm hại mình. Đừng yêu, đừng thích, đừng ham, đừng sân hận đối với nó”. Chúng ta luôn bị sắc làm hại như vậy mà không thấy không biết, rồi nhận nó là mình, là của mình. Đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp… đều vô minh nhận chúng là mình, là của mình rồi bị chính nó làm hại. Cho nên, đối với tất cả các sắc chất đều phải thường xuyên tác ý: “Đồ thứ bại hoại, vô thường, thứ biến đổi, tan nát, đau khổ. Đây là thứ làm hại, giam hãm, tù ngục, còng số 8 trói buộc mình. Nó ác độc, sai khiến, đè đầu cỡi cổ, làm mình đau khổ trong vô lượng vô biên kiếp. Phải nhàm chán, thoát ra, từ bỏ, hướng đến sự ly tham đối với các sắc”. Áp dụng bảy trí tuệ về sắc để tác ý thường thường như vậy.
Trước đây khi chưa tu dòng pháp này thì chúng ta rất thích thú trước cảnh núi mây, chim hót vì cảnh vật rất hùng vĩ, tươi đẹp, thanh thoát. Còn bây giờ thì không thấy như vậy nữa mà thấy mọi thứ vô thường, tan hoại, không có gì đáng ưa thích. Khi có cảm giác lạc thọ thì chúng ta rõ biết đó là lạc thọ và đồng thời phải thấy được cảm giác đó là vô thường, cảnh vật cũng là vô thường. Phải quán chiếu rằng chỉ cần một trận mưa lớn, một trận lũ quét, hoặc một trận động đất, lửa cháy thì nơi chúng ta đang ngồi là nghĩa địa chôn chính mình. Nếu đợi đến lúc xảy ra chuyện mới quán chiếu thì sẽ không kịp mà trước khi xảy ra, trong khi xảy ra và sau khi xảy ra chuyện thì chúng ta phải luôn luôn an trú quán chiếu.
Ở Linh Quy Pháp Ấn, hôm trước gió thổi (phong đại) làm tốc mái Ni xá, hôm nay nước chảy (thủy đại) làm ngập nước Vân Thủy Đường, một ngày nào đó hỏa đại đến thăm cũng không phải chuyện không thể. Cho nên, mọi việc vừa thấy bình thường nhưng chỉ tích tắc là có thể không còn gì nữa. Thế giới hiện tại có hàng triệu người chết vì dịch bệnh Covid-19, gia đình vừa mới êm êm ấm ấp, cha cha, con con, vợ vợ, chồng chồng thì chớp mắt chết hết cả gia đình, không còn một ai. Bản chất của sắc pháp chính là như thế, đúng như Đức Phật đã dạy “sắc là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại”. Bây giờ thấy còn ngồi đây nói cười, làm việc nhưng chỉ cần ho mấy tiếng vì nhiễm dịch bệnh là xong. Vậy mà hơn thua, tranh đấu, giành giật, mưu sĩ, mưu mô, mưu toan, mưu tính, mưu hại, mưu độc, mưu ác. Cũng vì cái sắc này mà tạo vô số nghiệp, hằng hà sa số nghiệp, tạo ra bao nhiêu những ác nghiệp, tội lỗi.
Chúng ta luôn bị các cảm thọ làm hại như thế, vì vậy, mỗi lần cảm thọ sanh khởi lên, phải tác ý: “Ta chán ngán, mệt mỏi mày quá rồi cảm thọ. Mày ác độc vừa vừa thôi, đừng hại ta nữa”. Thâm sâu trong thân tâm này chúng ta phải thấy rõ mình là kẻ đang bị hại, là nạn nhân của ngũ uẩn. Những cảm giác ác độc, khốn nạn này luôn hành hạ, sai khiến, đè đầu cỡi cổ, nhận chìm, thiêu đốt, bao phủ chúng ta trong bóng đêm. Cho nên, cảm thọ thật là kẻ ác độc, kẻ giết người.
Đức Thế Tôn có dạy: sắc, thọ, tưởng, hành, thức là than đỏ, là hố than hừng, là rắn độc, là mũi tên, là ung nhọt. Thường quán chiếu như vậy thì chúng ta có thể sẽ thể nhập Thánh trí, gọi là tuệ thể nhập. Một vị từ ngày bắt đầu tu cho đến ngày thành tựu A-la-hán là phải luôn quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ung nhọt, là mũi tên, là rắn độc, là vô thường, là khổ đau, là rắn độc, là ung bướu, là tai nạn, là hiểm họa. Đó là sự chứng ngộ, chứng tri, tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, hiển lộ của Đức Phật. Những câu tác ý, những sự thấy biết, những hình ảnh, những sự quán xét nói trên chính là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Tương Ưng Bộ Kinh III, bài kinh “Vị Giữ Giới”, Tôn giả Sàriputta (Xá Lợi Phất) đã trả lời những câu hỏi của Hiền giả Kotthika:
-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
-- “Này Hiền Giả Kotthika, vị Tỳ Kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã”.
Câu này có thể đưa một người từ phàm phu đi đến Thánh quả tối thượng A-la-hán nhưng đây chỉ là định lý, khẩu quyết. Vì vậy, chúng ta phải nghiền ngẫm nhiều góc độ, khía cạnh của câu này và thường xuyên chiêm nghiệm, tác ý, suy tư. Khi ăn, khi ngủ, khi nằm, khi thức thì chúng ta phải sống với trí tuệ này, thậm chí trong chiêm bao cũng mơ thấy được nó. Phải đưa định lý này vào sâu trong những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức trong tâm, như vậy gọi là tuệ thể nhập và những cái thấy đó cũng không bị mất đi. Vì vậy, chúng ta cần phải tác động, dạy dỗ, nhắc nhở tâm ý, luôn luôn suy tư, chiêm nghiệm năm uẩn này là vô thường, khổ đau, ung nhọt, bệnh hoạn, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền Giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ Kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, vô ngã, có thể chứng được quả Dự Lưu. (Tương Ưng Bộ III, Phần C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, bài kinh Vị Giữ Giới)
Các vị Tỳ-kheo, và các cư sĩ giữ giới cũng vậy, khi tác ý như thế thì có thể chứng quả Dự Lưu, hoặc chứng quả Nhất Lai, quả Bất Lai cho đến chứng quả A-la-hán. Như vậy, một vị chứng quả A-la-hán cũng tác ý như vậy. Thế nên, chúng ta phải luôn luôn nhắc nhở tâm ý của chính mình rằng hình thể này, sinh mạng này, thân xác này không có như hiện tại hoài mà sẽ đổi thay. Hình thể này là khổ, thân này là bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, là sự bất hạnh.
Bất hạnh thay cho ta khi phải mang một thân xác đầy rẫy dục ái, hơn thua, vô minh, tăm tối!
Bất hạnh thay cho ta vì đã phải chịu đựng biết bao mũi tên của dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã!
Bất hạnh thay cho ta, đau khổ thay cho ta, tội nghiệp thay cho ta vì ta là kẻ bệnh hoạn về thân lẫn tâm!
Thân này là chỗ chứa những nhóm bệnh hoạn. Còn tâm này chứa biết bao chứng bệnh bên trong: bệnh dục, bệnh tham, bệnh ái, bệnh sân, bệnh tranh luận, bệnh tranh cãi, bệnh tranh đấu, bệnh tranh giành, bệnh tranh hơn, tranh thua, tranh đúng, tranh sai, tranh cao, tranh thấp, tranh phải, tranh quấy. Những sự tranh giành, hơn thua này là bệnh hoạn, bất hạnh, là những mũi tên ghim vào tim tất cả chúng ta. Suốt cả ngày thọ, tưởng, hành cứ vận hành, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ kia, hết cảm giác này đến cảm giác khác, hết hình bóng này đến hình bóng nọ. Thật sự bất hạnh thay cho ta khi những thứ này còn vận hành, còn hoạt động, còn xâm chiếm, còn áp đảo, còn đè đầu cỡi cổ chúng ta.
Khi giận ai thì chúng ta quán chiếu những cảm thọ của sân là mũi tên; những cảm giác của bức xúc là ung nhọt; những cảm giác hơn thua, phải quấy là bệnh hoạn. Cứ tác ý hoài như vậy thì chúng ta sẽ đủ sức để đẩy, quét, ói, khạc, nhổ những cảm xúc đó ra khỏi tâm mình và dần dần tẩy sạch chúng hoàn toàn. Thật đau khổ thay cho ta khi những hình bóng, ảo ảnh, ảo tưởng cứ mờ ảo, chập chờn, ám ảnh, hiện khởi trong tâm không ngừng nghỉ. Thật là bất hạnh, thật là tai nạn thay cho ta vì ta là kẻ bị hại, là nạn nhân của những cảm giác, suy tư này.
Chúng ta phải kiểm soát từng ý nghĩ, từng cảm thọ, từng hình bóng… không được để cho chúng qua mặt mình. Giống như một người đang bị người khác bày mưu đầu độc, hãm hại thì người này phải hết sức thận trọng, trong mỗi bữa ăn có cây kim thử xem đồ ăn có độc không, nếu quên thử mà đúng ngay ngày bị tẩm độc thì sẽ mất mạng. Cũng vậy, chúng ta phải thường xuyên và liên tục nhìn lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức xem có độc trong đó không, nếu không, chúng ta sẽ bị hại, bị trúng độc, bị hạ độc thủ, bị hạ độc và bất cứ lúc nào cũng chết vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức này.
Quán chiếu tất cả đều là người lạ
Hơn nữa, chúng ta phải luôn rõ biết rằng, người xung quanh mình là người lạ chứ không phải người quen. Căn nhà chúng ta đang ở cũng là lạ chứ không phải của mình, đừng vì ở đó rồi cho rằng đó là nhà của tôi, chỗ của tôi… Cần phải quán chiếu tất cả đều chỉ là nhà trọ, dù cho ở lâu bao nhiêu cũng vậy:
Trần thế âu là cảnh tạm nương
Cũng như chiếc quán dựa bên đường
Người đời là khách dừng chân tạm
Rồi vội quay về nẻo viễn phương.
Nẻo viễn phương là nghĩa địa, là lò thiêu, là nghĩa trang, là dòng luân hồi sanh tử. Chúng ta đều là những người xa lạ, không ai quen biết ai, thế nên, đừng để dính mắc, tham ái vào nhau. Thân này còn là người lạ thì những người bên ngoài sao có thể là người quen. Vài ngày sau khi tắt thở thì thân xác đó cũng trở thành người lạ, chứ không còn là người quen nữa. Các hành luôn dịch chuyển, thay đổi, biến diệt, không bao giờ đứng yên, như vậy thì làm gì có ai là người quen. Nhiều khi gặp lại người từng quen nhưng mình không nhớ, quên mất họ là ai.
Ngày trước, nhà Minh Thành ở gần mé sông, tại chợ Cái Tàu Hạ nhưng sau này nhà dời đi chỗ khác. Có lần, sau nhiều năm mới về nhà thì Minh Thành không biết đường, không biết nhà ở đâu, không biết vào nhà như thế nào. Khi đó Minh Thành đứng tần ngần, ngỡ ngàng, ngẩn ngơ ngay chợ vì xung quanh lạ lẫm, đường cũng lạ, người cũng lạ, nhà cũng lạ. Cảm giác đó đến giờ Minh Thành vẫn chưa quên, vì thấy được sự vô thường, biến đổi, gia đình không còn ở nhà cũ nữa, mà nhà mới thì dời qua chỗ khác, cảnh khác, người khác, tất cả đều khác. Cho đến khi bước vào nhà mới thì Minh Thành cũng ngơ ngác vì mọi thứ đều đổi khác, không có gì là quen.
Hơn thế nữa, nếu chạy xe ra đường gặp tai nạn thì sẽ ra sao, mặt mũi đời sau thế nào cũng không biết được, chỉ một tiếng “rầm” là tất cả trở thành xa lạ, không còn quen ai nữa. Sau đó có thể sẽ đầu thai thành con chuột, ở dưới ống cống, lúc đó thấy quen với những con chuột xung quanh. Kế tiếp đầu thai thành con chó thì lại thấy mấy con chó trong xóm quen thuộc. Hết làm con chó, đầu thai làm cô hồn thì lại thấy những cô hồn khác quen. Sau đó đầu thai xuống địa ngục thì những cái trước đó còn có cái gì quen không?
Cho nên, tất cả đều xa lạ, tích tắc đều thay đổi, Đức Phật dạy “các hành là vô thường” là như vậy. Tất cả luôn dịch chuyển, thiên lưu, đổi dời, vận động, chuyển động. Cũng như thầy trò bên nhau nhiều năm, nhưng khi đi xuống núi thì đã trở thành người xa lạ, không quen. Mới trong lớp vừa thầy thầy, trò trò, sư sư, phụ phụ nhưng bước ra khỏi lớp là quay lưng, gặp cũng như không gặp, chẳng khác gì người lạ. Mới là anh em, vợ chồng với nhau nhưng vì mâu thuẫn, tranh giành, cãi cọ với nhau mà trở thành người lạ, không thèm nhìn, coi như chưa từng quen biết. Một người giàu có, không may phá sản, điện thoại cho bạn bè thì không ai nghe máy, đến nhà gõ cửa thì không ai tiếp đón, nhắn tin cũng không có ai trả lời. “Còn tiền còn bạc, còn đệ tử - Hết cơm hết gạo, hết ông tôi”.
Các pháp luôn thay đổi như vậy, sắc thay đổi, cảm thọ thay đổi, suy nghĩ thay đổi, tất cả đều là người lạ, đây là cả một đề tài thiền quán thâm sâu. Nếu chỉ nghe phớt qua thì chúng ta sẽ thấy thắc mắc “sao thân tôi mà nói là người lạ” nhưng nương theo trí tuệ để chiêm nghiệm và quán chiếu thì sẽ thấy độ thâm sâu của Đức Phật. Đức Thế Tôn không nói những chuyện không có mục đích, không có ý nghĩa mà chỉ vì chúng ta vô minh, phàm phu nên không thể thấy, không thể hiểu được những lời của Ngài.
Bình thường, chúng ta ở nhà quen sống với anh chị em, vợ chồng, ba mẹ nhưng đến Linh Quy Pháp Ấn tu học thì những người quen mới ở Linh Quy. Kế tiếp chuyển qua Đài Loan làm việc thì lại thấy những người ở Đài Loan là người quen. Sau đó chuyển qua Mỹ sinh sống thì những người xung quanh bên Mỹ lại trở thành người quen. Vậy, cuối cùng có ai là người quen thật sự không? Mọi thứ cứ thay đổi, chuyển biến, đổi dời, vận chuyển, vận hành, thiên lưu liên tục… vì vậy Phật mới gọi là các hành.
Tất cả đều rỗng không, vô ngã, đi đến hủy hoại, hoại diệt như vậy, nhưng do không chấp nhận nổi điều này nên nhiều người suy sụp, trầm cảm, thậm chí điên loạn. Nhiều người mới vừa yêu thương, thân thiết với nhau như vậy nhưng người yêu lại thương người khác, không còn thương mình nữa. Lúc đó thọ, tưởng, hành của họ không chịu nổi, họ đau khổ, tiếc nuối, sống trong những hình bóng quá khứ, sống những cảm giác đã trải qua. Những suy nghĩ cứ day dứt làm họ không chịu nổi và suy sụp tinh thần, dẫn đến trầm cảm hoặc nặng hơn nữa là thần kinh, điên loạn, thậm chí chọn cách quyên sinh, tìm đến cái chết do không chấp nhận được sự lật lọng, tráo trở, biến đổi một cách đột ngột. Mới yêu thương đó nhưng người yêu bỗng chốc nói có người khác đẹp hơn, giàu hơn, còn mình không là gì đối với họ, chỉ là yêu qua đường, nghe xong có khi té xỉu, phải đưa vào bệnh viện. Cảm thọ chính là tráo trở, khốn nạn như vậy.
Cho nên, bản chất của ngũ uẩn này là lật lọng, tráo trở, thay đổi như vậy. Tình nghĩa thầy trò, huynh đệ, bạn bè cũng giống y vậy, không khác. Chúng ta phải chuẩn bị sẵn tâm lý để khi có chuyện xảy đến thì trước đó mình đã thấy hiểu như vậy, ngày nào cũng tụng niệm, suy tư để thấy tất cả là người lạ, đến rồi đi, thân rồi sơ, thương rồi giận, yêu rồi hận, ngoài ra không còn gì nữa. Chính vì vậy, chúng ta thường xuyên phải quán tất cả đều là người lạ. Được như vậy thì rất tuyệt vời, mọi người sống giữa cuộc đời này được bình yên, an ổn, vì đã thấy được bản chất vận hành của năm uẩn, thấy được năm tổ hợp này luôn đổi thay, tráo trở, lật lọng, biến đổi, hoại diệt. Khi đó, mọi thứ có đổi khác cũng là chuyện bình thường, chúng ta sẵn sàng đón nhận một cách điềm nhiên.
Trong Tứ Niệm Xứ Đức Phật có dạy “bản tánh, bản chất của thân này là vô thường, biến đổi, hoại diệt như vậy, không vượt khỏi tính chất đó”. Chúng ta đem câu này ứng dụng vào cả năm uẩn để thấy bản chất của những cảm xúc thương yêu, giận ghét cũng là như vậy. Mới giận chửi mình xong thì thấy tội nghiệp cho bánh ăn, lúc đó cũng đừng vội mừng vì có thể vài ngày sau lại bị chửi tiếp. Cho nên, các pháp diễn biến thế nào thì chúng ta cứ rõ biết như thế ấy, biết đó là các hành đang vận hành trong đau khổ, biến đổi, biến hoại, hủy hoại, rỗng không. Thương cũng rỗng không, ghét cũng rỗng không, sự thân thiết cũng sẽ đi đến rỗng không, sự rời xa rồi cũng là rỗng không, ngũ uẩn là vậy, đừng để nó hại mình, đừng để mình làm nạn nhân cho nó. Hãy bình tĩnh quán chiếu, thấy rõ được tính chất, bản chất, đặc tính của ngũ uẩn để không còn đau khổ với nó. Thật sự bất hạnh nếu vướng vào cục thịt, máu mủ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã này, nó khao khát, đói khát hết cái này đến cái kia. Chúng ta phải thật sự ngao ngán, nhàm chán đối với nó và hướng đến sự thoát ra, từ bỏ, viễn ly, ly tham, đoạn diệt, chấm dứt thì mình sẽ có được hạnh phúc, an lành.
Cho nên, chúng ta phải chiêm nghiệm về năm uẩn, chiêm nghiệm thật nhiều về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Phải nhìn ngũ uẩn bằng thực pháp, đừng chỉ khi đọc kinh, ngồi thiền mới nhìn, mà nhìn trong mọi lúc mọi nơi để xem sự hoạt động của ngũ uẩn. Từ đó nhắc nhở, dạy dỗ, huấn luyện thọ, tưởng, hành, đặt chúng vào pháp để chúng an trú, trú vững vào pháp và thể nhập vào những tính chất này. Phải luôn ghi nhớ mình là người bị năm uẩn hãm hại. Chúng ta bị tham, sân, si, vô minh, bản ngã làm hại; bị những cảm xúc, cảm giác, cảm thọ làm hại; bị những ảo ảnh, ảo tưởng, hình bóng mờ mờ, ảo ảo làm hại; bị những suy lầm thầm nghĩ làm hại. Vì thế, chúng ta phải đặt để tất cả những thọ, tưởng, hành đó an trú vào pháp. Bên cạnh đó, phải luôn tác ý thường xuyên và liên tục để thể nhập vào trí tuệ của Đức Phật đã truyền trao.
./.