Làm Sao Ước Nguyện & Kinh Doanh Thành Đạt Người Chết Có Hưởng Được Đồ Cúng Không
Làm Sao Ước Nguyện & Kinh Doanh Thành Đạt?
Người Chết Có Hưởng Được Đồ Cúng Không?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chánh Kiến về Bố Thí PAGEREF _Toc112678794 \h 1
II. Người đã khuất – thọ hưởng đồ cúng PAGEREF _Toc112678795 \h 9
III. Chánh Kiến về Bố Thí 2 PAGEREF _Toc112678796 \h 24
I. Chánh Kiến về Bố Thí
Kính thưa các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử.
Lâu lâu thì Minh Thành mới đến thăm đạo tràng Thọ Bát chùa Bửu Liên chúng ta nên buổi này phải chia sẻ cho quý vị phần thiết yếu. Hôm nay chúng ta có một buổi chia sẻ rất đặc biệt, giải quyết được rất nhiều vấn đề, những mật mã trong đời sống. Chúng ta có muốn rằng những ước nguyện của mình được thành tựu không? Như câu chúng ta hay chúc nhau là vạn sự cát tường, vạn sự như ý, nhưng chúng ta chỉ chúc suông mà chúng ta không biết trong kinh Đức Phật đã có dạy: Tất cả mọi điều mong muốn đều được thành tựu.
Đây là bí quyết, hôm nay chúng ta mở được rất nhiều bí quyết, chúng ta được tổng hợp rất nhiều bản kinh quan trọng ở trong kinh tạng Nikāya. Thứ nhất sẽ giải mã cho quý vị biết là tất cả mọi mong muốn đều được thành tựu, thứ hai là quý vị sẽ thấy được nhân quả của sự bố thí, cúng dường. Quý vị sẽ thấy Đức Phật bình dị như thế nào, khuyến khích những người bán củi đi làm phước. Những điều này chúng ta đều chưa từng được nghe. Thứ ba là nhân mùa Vu Lan này chúng ta sẽ biết thêm được mình cúng cho những người mất thì những người đó có được hưởng hay không, chính Đức Phật sẽ giải thích cho chúng ta.
Quý vị có nghi vấn không? Có nghĩ là cúng như vậy thì cha mẹ mình có được hưởng không? Đức Phật sẽ giải mã cho chúng ta. Muốn được góp pháp vào tâm một cách sâu sắc thì phải an tịnh, lắng dịu tại đạo tràng Thọ Bát chúng ta, giờ này nên tập trung nghe pháp, không nên làm bất cứ điều gì.
Lắng tâm, tập trung nghe pháp, nếu như ồn ào như vậy thì Minh Thành không thể giảng mà để cho các thầy đệ tử giảng. Bao nhiêu năm rồi chúng ta tu học phải có tiến bộ. Khi mình đi vào nghe pháp thì phải tập trung tâm ý, lắng tay, trang nghiêm, thanh tịnh. Những điều căn bản mình phải thực tập cho được khi đến chùa, nhất là trong những thời khóa tu học và nghe pháp, mình lăn xăn ở ngoài đã quen, khi ở chùa mình tập sự an tịnh và lắng dịu.
Vui thay chúng ta sống không rộn giữa rộn ràng, giữa những người rộn ràng, ta sống không rộn ràng.
Ngày mình về Thọ Bát là ngày mình tập hạnh xuất gia, tập hạnh thu nhiếp thân tâm, mình đã chụp hình từ trẻ tới già rồi thì giờ này để mình tu. Mình sắp sửa đứng trước cửa Diêm Vương rồi quý vị có biết không? Mê mệt các thứ khác làm uổng phí một ngày tu của mình. Nên đó là tại sao mình đi đến chùa nhiều mà mình không có sự tăng thượng trong trí tuệ, trong đức hạnh, không được lợi lạc nhiều vì mình không có thực tập sự trang nghiêm, thanh tịnh. Đó là chúng ta đã mất cái lợi ích rất lớn.
Đầu tiên Đức Phật giải thich cho chúng ta biết, một người muốn thành tựu tất cả tâm nguyện thì người đó thứ nhất là giữ giới, thứ hai là bố thí, cúng dường, người nào giữ được giới của mình thọ một cách trọn vẹn, ví dụ mình thọ năm giới thì mình cố gắng giữ gìn tối đa hết sức mình có thể, song song đó là mình bố thí, cúng dường thì các tâm nguyện của mình sẽ được thành tựu. Những tâm nguyện hợp lý, chân chánh sẽ được thành tựu.
Hôm nay chúng ta tìm hiểu rất nhiều bản kinh nói về sự bố thí. Vì Minh Thành thấy hiện tại sự mê tín của con người, ngay cả những người Phật tử, rất nhiều. Gần đây, trên báo chí có đưa tin có một số bà mẹ đến rằm tháng bảy này sinh con nhưng nói tháng bảy là tháng xấu, tháng cô hồn nên hối thúc bác sĩ cho sanh trước, sanh non, sanh sớm, thậm chí là mổ xẻ. Bác sĩ nói điều này rất nguy hiểm cho cả mẹ lẫn con, sức khỏe về sau của đứa trẻ thì đây là những điều mê tín, tà kiến, rất ngu muội.
Những điều này để Minh Thành chia sẻ để chúng ta nắm thật vững và hướng dẫn con cháu trong gia đình của mình. Mỗi một con người sanh ra thì mang lấy những thiện nghiệp và ác nghiệp trong quá khứ của họ. Không phải ngày sinh tháng đẻ có thể quyết định được mà tốt hay xấu là thiện nghiệp của người đó trong quá khứ, cũng như thiện nghiệp của người đó trong hiện tại hay ác nghiệp, không phải ở chỗ ngày sanh tháng đẻ.
Và lúc trước không có tháng cô hồn, gần đây mới có ra nhiều chuyện rất lạ, cũng như ngày xưa không có việc thả cá chép, bỗng nhiên sau này thả cá chép rồi để chết, làm rơi xuống sông chết cũng làm mất mấy mạng người. Nên chúng ta không có trí tuệ, không có chánh tín, chánh kiến, không học pháp, không gặp thầy lành bạn tốt hướng dẫn, giảng dạy, chỉ dẫn cho mình nhận thức cho đúng nhân quả, nghiệp báo, chánh tín, chánh kiến, rồi mình thấy người ta làm gì thì mình bắt chước theo, nghe cái gì mình cũng hùa theo rồi mình làm trong vô minh, mê tín, trong sai lầm, dẫn đến những hậu quả thật đáng thương.
Vậy nên chúng ta phải để ý, mình cứ làm việc bình thường, không có tháng nào là tháng cô hồn, cô hồn chính là tâm tham lam, bủn xỉn, keo kiệt, ích kỷ. Đó chính là cô hồn, ngạ quỷ, lúc nào cũng thấy thiếu, thấy đói, thấy khát, lúc nào cũng tham lam, vơ vét, đó là cô hồn.
Chúng ta nên nhớ kĩ những truyền thống cao đẹp của Phật Pháp, của nhân quả, của nghiệp báo, của phước lành, đừng vội nghe và tin những tin đồn, hay thấy người ta mình lại bắt chước theo là sai lầm.
Đầu tiên, mình sẽ giải quyết vấn đề thứ nhất là một người có giữ giới và có bố thí thì những tâm nguyện của người này hợp lí, đúng đắn, chân chánh đều sẽ được thành tựu, đây là bài kinh Thọ sanh do bố thí, Tăng Chi Bộ Kinh tập ba, nói về tám cảnh giới thọ sanh do bố thí. Tức là người bố thí sẽ sanh về tám cảnh giới.
“1. - Này các Tỷ-kheo, có tám thọ sanh do bố thí. Thế nào là tám?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy bố thí và mong hưởng quả. Thấy các Sát-đế-lỵ đại phú hay các Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú, sung túc, đầy đủ, thọ hưởng năm dục trưởng dưỡng, người ấy suy nghĩ như sau: "Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với Sát- đế-lỵ đại phú, hay với Bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú". Người ấy móng tâm như vậy, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy, tâm người ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với Sát-đế-lỵ đại phú, hay với Bà- la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú. Ta nói rằng: "Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới". Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh.
Ý nói khi người này bố thí thì bản thân người này đã giữ năm giới rồi người này làm những việc bố thí như nãy giờ, như đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, trầm hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc và người ấy bố thì và mong hưởng quả. Người này nhìn thấy những vị vua chúa, những vị có chức quyền, những vị có địa vị cao sang, quyền quý, thành công, đại da, phú hào, triệu phú, tỷ phú. Người này nhìn thấy những người giàu có, thành đạt, sung túc, đầy đủ, hưởng thọ năm dục trưởng dưỡng là đầy đủ tiện nghi, vật chất và tài sản.
Người này suy nghĩ như sau: Mong rằng sau khi con chết, con được sanh ra giống như những người quan quyền, giàu có, đại da, phú quý như vậy. Tức người ấy giữ năm giới, bố thí, cúng dường với một tâm mong muốn như vậy thì người ấy móng tâm, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy thì tâm người ấy hướng đến hạ liệt. Đây là chỗ thấp kém. Nhưng cũng là tốt hơn mình, tức là hướng đến giàu có, quyền uy, vua chúa, đại da, đại quý quý nhưng Đức Phật lại cho là tâm của người này thấp kém, người này không tu tập hướng thượng.
Hướng thượng ở đây là hướng thượng giới đức, hướng thượng thiền định, hướng thượng trí tuệ. Người này không mong muốn mình tăng thêm giới đức cao siêu, thiền định, trí huệ, giác ngộ, giải thoát mà người này chỉ muốn đời sau mình sinh ra làm vua chúa, làm vạn phụng chi vương, làm hoàng hậu, công chúa, làm nguyên thủ, làm những người tỷ phú. Mong muốn như vậy thì người này khi thân hoại mạng chung sanh trở làm vua chúa, hoàng hậu, vương phi, làm gia chủ, đại phú…
“Ta nói rằng: "Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới". Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh.”
Ác giới là không giữ giới. Đó là cấp độ thấp trong tám cấp độ được làm vua, hoàng hậu, vương phi, nữ hoàng. Đó là do những đời trước giữ giới và bố trí, với một tâm nguyện, muốn ở đời sau hưởng ở địa vị đó, nên tâm nguyện đó là tâm nguyện chính đáng đối với nhân quả nên đời sau trở thành nữ hoàng của Anh quốc, thiên hoàng của Nhật Bản, hoàng hậu, hoàng phi, đại gia, hào phú, nguyên thủ…
Đó là đẳng cấp thấp nhất, bảy đẳng cấp sau là bảy tầng trời.
3-4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy bố thí và mong hưởng quả. Nghe rằng: "Bốn Thiên vương thiên sống lâu, có dung sắc, được nhiều an lạc", người ấy suy nghĩ như sau: "Mong rằng khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Bốn Thiên vương ...
Tứ Đại Thiên Vương là bốn vị vua trời, vua nhưng là vua ở trên đời, không phải vua ở dưới đất. Bốn vị vua trời này vào mỗi ngày rằm và mùng một là các Ngài đi tuần trong nhân gian. Tức vào mỗi ngày rằm, mùng 1, mùng 8, 23 thì ngày chính là Tứ Đại Thiên Vương đi, ngày phụ là bốn vị Thái tử đi, Thái tử là con của các Ngài đó. Ví dụ ba mươi các Ngài đi thì hai mươi chín thì các vị Thái tử đi trước. Các Ngài đi vào các ngày chính, các Ngài đi tuần trong Trái Đất của chúng ta, nếu đó là ngày trai giới, ngày Thọ Bát Quan Trai của chúng ta rất quan trọng. Sau này có dịp chúng ta sẽ học bài kinh Trai giới, quý vị sẽ bất ngờ về phước đức của Trai giới và mình phải giữ đúng, nếu không giữ đúng thì mình chỉ được một phần nhỏ.
Khi các Ngài đi tuần trong nhân gian mà các Ngài thấy được nhiều người làm phước thiện, giữ trai giới thì khi về cõi trời các Ngài rất vui. Vì các Ngài biết là cõi người, cõi trời sẽ tăng thêm số lượng, có người giữ trai giới thì cõi trời sẽ có thêm chư Thiên mới sanh lên, còn nếu không ai giữ trai giới, năm giới cũng không thấy giữ thì các Ngài về các Ngài buồn, vì các Ngài nghĩ cõi trời sẽ càng ngày trống vắng, cũng như đến ngày Thọ bát, chỉ có vài người rất buồn, chỉ khi đến đông thì mới vui. Trên chư Thiên cũng vậy, trên đó đông, nhiều, ai cũng có vàng ngọc đầy mình, ai cũng hất tay áo hiện lầu đài, người nào cũng dung sắc. Một ngày trên cõi thiên vương đó có thể bằng năm mươi năm ở cõi người, tức mất năm mươi năm ở cõi người thì chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi trời.
Nên nếu sau hai ngày hay một ngày rưỡi ở trên đó thì nhìn xuống ở cõi trần đã chết hết, vì một ngày bằng bốn, năm chục năm ở cõi người nên trên đó có hai ngày thì dưới này mình đã chết từ lâu, hay có thể mấy kiếp. Như giờ mới chỉ hơn hai mươi mấy tuổi nhưng ra đua xe thì mất, hay đi ăn cướp chết, đánh lộn, đâm nhau rồi chết, chỉ ba mươi, bốn mươi tuổi, nên chưa được một ngày ở cõi trời Tứ Đại Thiên Vương là chết. Nhưng các Ngài sống đến năm trăm tuổi, ngày trước chúng ta đã học bài kinh này trong đạo tràng thì cõi trời đầu tiên thấp nhất nhân lên thì mấy cõi sau Phật tử không thể nhân nổi nữa.
Vì các cõi sau như các tầng trời ba mươi ba, trời dạ ma, trời đâu xuất, trời hóa lạc, trời tha hóa tự tại thiên thì tới năm trăm năm ở nhân gian của mình chỉ bằng một ngày trên đó. Nên đó là vì sao người ta thích sanh ở cõi trời, người ngoại đạo tu thì người ta mong muốn sanh lên các cõi trời này, người tu nhưng chưa muốn nhiếp luân hồi, thì người ta thích tu vì ở dưới này khổ quá, dịch bệnh, đói nghèo, chiến tranh, phải đi ra giật đồ, cướp của nên thôi lên trời ở cho sướng.
Trong cõi nhân thiên người ta rất thích việc này, ở đây cũng có thể nhiều người thích nên mới đi tu Thọ Bát, Phật tử thích việc này cũng là hợp lý còn người xuất gia thì khác.
Như vậy, các Ngài đã đi một vòng vào các ngày trai giới, nên đó là tại sao quý vị thấy các ngày đó mình thường ăn chay, cũng là lý do tại sao người ta đi làm phước, bố thí, cúng dường, mấy ngày đó đi chùa như mùng một, ba mươi, ngày rằm là vì ngày đó Tứ Đại Thiên Vương, bốn vị vua trời đi tuần hành khắp nhân gian. Vậy nên những ngày đó mình tu thì phước được nhân lên hơn ngày thường, hãy cố gắng giữ gìn trai giới những ngày đó, cố gắng làm phước thiện những ngày đó, cố gắng tu tập. Còn những ngày bình thường tu được thì càng tốt hơn.
“… với chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba …
... với chư Thiên ở cõi Trời Dạ-ma …
... với chư Thiên ở cõi Trời Đâu-xuất …
... với chư Thiên ở cõi Trời Hóa lạc …
với chư Thiên ở cõi Trời Tha hóa Tự tại thiên …”
Tức người này suy nghĩ muốn được như Tứ Đại Thiên Vương sống, vì thấy dưới này thê thảm, khổ đau, bất an, mong manh sự sống này quá thì người này thành tựu được tâm nguyện. Với hai điều kiện là giữ giới và bố thí cúng dường. Thứ ba là tâm mong muốn hướng tới trong sạch, thanh tịnh, đúng với nhân quả thì người này được.
Vậy nên quý vị xem tâm của mình muốn đời sau sanh ở đâu? Xem tâm hướng và nghiệp của mình, phước của mình thì mình sẽ biết. Nhiều khi được cho lên trời nhưng lại nói “Dạ không, con còn thương chồng con lắm, con đi không được đâu.” Vậy thì mình sanh trở lại cõi người, nếu mình giữ giới và bố thí thì mình sanh lại cõi người, còn nếu không giữ giới thì sau này chúng ta học sẽ rõ. Còn nếu keo kiệt, bủn xỉn thì chúng ta học qua bài kinh sau thì chúng ta sẽ thấy, bị sanh làm những con thú vật như voi, ngựa, bò, heo, gà, vịt vì không giữ giới mà còn không biết bố thí nên sanh làm loài súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ.
"Người ấy móng tâm như vậy, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy, tâm người ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở cõi Bốn thiên vương … ở cõi Tha hóa Tự tại thiên, hay với Bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú. Ta nói rằng: "Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới". Này các Tỷ- kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh.”
Ý nói tâm nguyện người đó là chân chánh, chánh đáng, là phù hợp với nhân quả. Còn người bủn xỉn, tham lam, keo kiệt, không giúp đỡ ai hết nhưng muốn lên trời sống thì có được không?
“5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống… Nghe rằng: ": "Chư Thiên ở Phạm chúng thiên sống lâu, có dung sắc, được nhiều an lạc", người ấy suy nghĩ như sau: "………". Ta nói rằng: "Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới, là người ly tham, không phải là người có tham".
Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến ly tham. Này các Tỷ-kheo, tám pháp này là tám pháp thọ sanh do bố thí.”
(Bài kinh Thọ sanh do bố thí, IV. Phẩm Bố Thí – 8. Chương Tám Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)
II. Người đã khuất – thọ hưởng đồ cúng
Đó là chúng ta giải quyết được vấn đề thứ nhất, đó là giữ giới, bố thí và tâm nguyện của mình sẽ được thành tựu.
Tiếp theo chúng ta nói về chủ đề người đã chết có nhận được phần mình cúng không? Tháng bảy rất quan trong, chúng ta đã từng làm việc này rất nhiều để chúng ta hiểu được vấn đề này. Người đã hóa giảng trong cửu quyền thất tổ, ông bà, cha mẹ, hay những người thân của mình chết thì khi mình cúng như vậy họ có nhận được không?
Đây là Tăng Chi Bộ kinh tập bốn, trong tạng kinh Nikāya này sẽ giải mã hết tất cả mọi vấn đề ở trên thế giới này. Duy nhất chỉ có trong đó mới có, Đức Phật đã giải quyết hết tất cả mọi vấn đề, giải mã hết tất cả bí mật của trần gian, của thân tâm, vũ trụ và thế giới. Không có vấn đề gì trên thế gian này mà không được Đức Phật trình bày, giảng rõ, làm cho minh bạch, sáng tỏ. Chúng ta nên lắng nghe thật kĩ để thấy được.
Đây là bài kin Jànussoni trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 4:
(Bố thí cho bà con huyết thống đã chết; Nghiệp - nghiệp dẫn đi tái sanh trong súc sanh; Bố thí - kết quả của người bố thí)
1. Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi Bà-la-môn, cho bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng bố thí này! Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?
Trước giờ đi chùa mấy chục năm nhưng chúng ta chưa từng nghe bài kinh này đúng không? Hôm nay đã tìm ra được cho quý vị, nên đến thầy nhắc là thầy thương mình, không phải thầy khó, nên hiểu như vậy vì thầy muốn cho mình tốt, muốn cho mình được lợi ích, lợi ích đó không phải ở ngay trước mắt, mà là lợi ích dài lâu, nhiều đời kiếp sau. Nếu mình hiểu sai là “Ủa sao thầy khó. Gặp là thầy rầy la.” Nhưng nếu thầy không nhắc mình thì mình đi đến chùa không được lợi ích, mình sẽ làm theo những cái muốn, những cái dục của mình, làm theo thói quen, nghiệp của mình, nên quý vị phải hiểu tấm lòng từ của một người thầy.
Cũng như quý vị làm cha mẹ, quý vị thương con thì quý vị mới nhắc nhở chúng nhiều, nếu quý vị không thương thì quý vị bỏ mặc, kệ nó, nó có hư nên thì cũng mặc kệ. Nên những thầy tới mà mình muốn làm gì làm, cứ để cho mình thoải mái như vậy thì chưa chắc là thương mình, còn những người thầy cứ khen mình thì chưa chắc là có tâm từ với mình, còn những người thầy gặp mình là góp ý, nhắc nhở thì chưa chắc là thầy đó không thương mình. Quý vị nên nhớ kỹ.
Nên việc thấy hiểu phàm phu của chúng ta rất cạn cợt, mình tu học sâu sắc thì mình mới hiểu được tâm của Đức Phật và các bậc Thánh, tâm của các bậc hiền trí khó lường xét được. Ngay cả mắt mình thấy, tai mình nghe cũng không đúng. Thấy theo nghiệp, thấy theo tình thương. Ví dụ mình thương người đó thì nhìn khác, mình ghét người đó thì nhìn cách khác. Nên chỉ có cái nhìn trong sáng của Chánh Kiến, của trí tuệ thì cái nhìn đó mới đúng, mới giúp mình giảm bớt khổ.
Còn mình cứ thích tới chùa được vỗ tay, được hoan nghênh, cúng dường một chút là tự cao, ta đây thì đó rất nhỏ bé. Nên Phật tử rất ít gần Minh Thành, vì người nào gần thì sẽ được đẽo gọt nhiều nên ít có ai chịu đẽo gọt nên ít có ai ở gần Minh Thành, ngay cả đệ tử xuất gia.
Minh Thành đã quen sống cô độc, thường thường thì người trí hay sống cô độc, vì người hiểu được mình rất ít. Nhưng trí này là trí của Phật, không phải trí của mình, mình không có gì, mình rất ngu si, vô minh, mình phải nương vào Thánh trí huệ của Đức Phật mới được. Nên bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng, Minh Thành thăm đại chúng Thọ Bát là để khích lệ, nhắc nhở, thương yêu quý vị, không phải là khó khăn đối với quý vị.
“Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?”
Chúng ta thường dùng trí phàm phu của mình là mình sẽ trả lời một chiều là có hoặc không. Đức Phật không nói vậy.
“- Này Bà-la-môn, nếu có tương ứng xứ, thời có lợi ích, nếu không có tương ưng xứ.
- Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là tương ưng xứ, thế nào là không tương ưng xứ?
2. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân, có tà kiến. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục. Món ăn của chúng sanh ở địa ngục ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở nơi đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.”
“Nuôi sống với món ăn ấy” là người này phải ăn món ăn trong địa ngục như: những cục đồng, sắt nấu cháy đỏ, nước đồng tan chảy… Phải ăn, uống những thứ đó, đó là đồ ăn của những chúng sanh ở địa ngục.
“Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở nơi đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.” Ý nói mình cúng nhưng người đó không ăn được, vì họ phải ăn những món ăn ở dưới địa ngục, phải ăn những hòn sắt nóng, uống những nước đồng nấu sôi tan chảy. Nên không phải chúng ta cúng cho ai thì người đó cũng được nhận.
“3. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh... có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào loại bàng sanh. Món ăn của chúng sanh ở bàng sanh ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
4. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh cộng trú với loài Người. Món ăn của loài người như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.”
Ví dụ con dòi không ăn được đồ mình cúng, hay như con bò, con trâu không ăn đồ ăn của mình mà phải ăn đồ ăn của nó. Đó gọi là không tương ưng, không dính dáng, không phù hợp nên người ta không nhận được.
Chỗ này Đức Phật đã nói một hôm Ngài ngồi giữa đại chúng dưới đất, cùng với đại chúng Tỳ-kheo, Thánh chúng, Ngài lấy ngón tay khều một chút ở dưới đất dính trong móng tay thì Ngài đưa lên hỏi các Tỳ-kheo là đất ở dưới địa cầu là nhiều, hay đất trong móng tay ta là nhiều?
Khi đó các Tỳ kheo trả lời là đất trong móng tay rất ít so với đất trên địa cầu. Khi đó, Đức Phật nói: Này các Tỳ-kheo, những chúng sanh chết đi và trở lại sanh làm người ít giống như đất trong móng tay. Khi chết và đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như đất ở địa cầu.
Chỗ này để chúng ta chiêm nghiệm, hằng ngày trước mắt chúng ta nhìn trên báo chí, tin tức, thì chúng ta thấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đầy không? Đó là nhân đưa vào địa ngục, chưa cần chết đã đi vào ngục.
Ví dụ câu chuyện một người chạy một chiếc xe chỉ bị va chạm một chút thì dừng lại lấy dao đâm cho chết mới được. Nhưng đó là mấy vụ án, không phải một vụ án, chỉ có va quẹt một chút hay chạy vượt qua mặt, không biết vô tình hay cố ý, nhưng điều đó thì không có gì đáng mà phải đâm cho chết thì mới hả dạ, vậy thì đó là tâm của con người hay của thú vật? Phần con nhiều hơn phần người nên ngay trong hiện tại đã ở trong ngục tù, song sắt, chung thân, nhốt vào đó như nhốt thú vật, còn không thì như đi ra tử hình, bắn như săn thú.
Như vậy chúng ta thấy khủng khiếp không? Đó là nhân quả hiện tại mình nhìn thấy, vậy bây giờ có nhiều như vậy không? Rất nhiều. Như chỉ có việc nhà kế bên hát karaoke thì nói qua nói lại mà xảy ra nhiều vụ án chết người, không phải một hai vụ. Chỉ vì mấy câu nói mà cái gì bây giờ cũng làm xảy ra án mạng, thậm chí đỗ một chiếc xe cũng xảy ra án mạng. Đỗ một xe trên đường rồi nhảy xuống nói qua nói lại rồi cũng như vậy.
Có những vụ án mà những tâm thức, những ngôn ngữ, hành vi đó là nhân của súc sanh, của thú vật. Nên ngay khi sống thì người ta đã đối đãi giống như thú vật, nhốt vào song sắt hoặc người ta xử bắn giống như đi săn.
Những điều trên để chúng ta thấy là chúng ta phải lo lắng, sợ hãi những ác nghiệp của chính mình và chúng sanh. Như có một cô đi chùa bị giật túi xách, đập đầu xuống phải may hàng chục mũi và mấy năm trước.
Chúng ta mới thấy được thật khủng khiếp như gần đây có những vụ án vào chùa cạy hết những thùng công đức, thì đó sẽ vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không có ngày ra. Nên chúng ta phải nhìn thấy được kinh sách nằm trong đời sống hằng ngày của mình, không phải chỉ đi vào chùa mở ra mới thấy kinh mà phải nhìn vào tất cả đời sống này bằng con mắt nhân quả, bằng con mắt của tội phước, bằng con mắt của thiện nghiệp, ác nghiệp, để chúng ta lo lắng, cẩn trọng lời nói của mình. Lỡ một ngày mình vô tình người đó đi đụng chút thì mình sân si, chửi nó thì nó sẽ xử mình.
Đừng nói chi là đụng với nhau, cọ quẹt với nhau, một lời nói hay thậm chí chỉ một ánh mắt nhìn thôi thì cũng chết người.
Nên những lời kinh Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya mà hai mươi năm trước Minh Thành đã học nên Minh Thành đi lên núi thì bây giờ ứng nghiệm. Đức Phật nói sau này, khi tâm ác của chúng sanh phát triển mãnh liệt thì nhìn bất cứ cái gì cũng thành vũ khí giết người. Giờ chúng ta thấy có không? Ánh nhìn mà giết người thì còn điều gì nữa? Đó là tất cả đều biến thành vũ khí, thành khí cụ để sát sanh, để gây ra ác nghiệp và bây giờ đã có.
Bây giờ quý vị đã thấy chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, mầm ác độc, hung tợn, hung hăng cùng khắp, thậm chí mất mùa, đói khát sẽ xảy ra, toàn cầu bây giờ biến động rất lớn và những gì Đức Phật nói trong kinh đều biểu hiện ra hết mà biểu hiện ra sớm hơn. Ngày xưa, trước khi Minh Thành lên núi thì nghĩ là một trăm năm nữa chắc mình chết rồi lúc đó những kinh này mới biểu hiện ra, nhưng bây giờ chỉ mới lên núi mười năm thì những cái trong kinh đã biểu hiện ra. Đây là những đề tài hết sức quan trọng cho chúng ta quán chiếu, tu tập, không phải là chuyện thời sự, mà đó chính là sự thật ngay trong hiện tại, để mình quay lại lo tu.
Chính bản thân Minh Thành, sáng hôm đó Minh Thành dẫn các thầy, các chú đi thiền hành ra bờ sông, thường thì đi ngang bờ sông bước lên cây cầu, vì thường dẫn các chú đi là vừa đi bách bộ, vừa đi thiền hành, vừa hỏi pháp để các chú trình pháp để xem tu học ra sao. Ngày đó đi lên cầu thì thấy có người nằm trên lan can cầu, nằm sóng soài trên đó nhưng trời thì lạnh lẽo, Minh Thành mới nói chú đệ tử tới hỏi xem người đó có bệnh gì không thì mình muốn giúp đỡ, mình muốn cho ít tiền để họ uống thuốc hay ăn gì đó. Thì vừa tới hỏi thì chú đó bật ngồi dậy và móc con dao ra.
Nên chúng ta thấy hết sức nguy hiểm, quý vị phải cẩn thận, khi ra đường phải hết sức chánh niệm, cẩn thận. Nhiều khi không phải lỗi tại mình, hay có khi người ta tự đụng vào mình nhưng nếu lúc đó mình không có sự khéo léo, không có tâm từ lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào mà mình lại có sự bức xúc thì có khi nguy hiểm. Nên đạo tràng Nikāya luôn tu tâm hiền, tâm từ thường xuyên và liên tục là rất quan trọng.
Nhưng không chỉ ở ngoài đường, trong nhà cũng có chuyện, nhiều khi chưa làm gì chỉ mới vừa gặp mặt là thấy khó chịu. Nên chúng ta tu tâm hiền, tâm từ là rất quan trọng, cảm thọ, cảm xúc của mình lúc nào cũng phải an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, để lúc đó mình mới tháo gỡ được những cái oan gia trái chủ. Nhiều khi trong lúc cảm giác đang bức xúc một chút thì đổ vỡ hết, hư bột hư đường, tan nhà nát cửa hết. Nhưng bây giờ những cái này rất nhiều.
Đây là những đề tài chúng ta thường ngày quán chiếu nỗi khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, để mình lo lắng mình tu. Sáng khi mình đọc báo thấy tin tức thì quán: “Đây là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh! Ráng tu nha, ráng cẩn thận, ráng hóa giải sân si, bản ngã trong này nha!” Nhắc tâm mình mỗi ngày như vậy. Đó là mình thương mình, đừng tu trong ảo tưởng, viễn vông, xa xôi ở đâu, ngay trong cảm giác của mình mà tu, ngay trong ngôn ngữ, hành động của mình mà tu, đừng ảo tưởng xa xôi, ngay trong nội tâm, những cảm xúc sân si, ta đây của mình, ngay chỗ đó mình nhiếp phục, chế ngự, mình làm cho nó lắng dịu, an tịnh, ngọt ngào. Được chỗ đó là được tất cả, còn không được thì tất cả những thứ gì chỉ là ảo tưởng.
“4. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh cộng trú với loài Người.”
Ý nói người này có giữ giới, có giảm bớt tham, sân, si và có chánh tín, chánh kiến, biết nhân quả, nghiệp báu, tội phước nên người này sanh trở lại loài người.
“Món ăn của loài người như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy” ý nói người ta làm người thì người ta ăn món của người, làm sao lại mặc đồ của âm phủ được. Chạy xe thật chứ không thể chạy chiếc xe bằng giấy được, mà đã đốt rồi thì làm sao chạy? Đức Phật giải thích rằng có những vị như vậy, biết giữ giới, biết những việc thiện, sanh lên làm chư Thiên, họ sẽ hưởng thụ những món ăn ở thiên giới, không thể ăn đồ ăn như mình, chỉ toàn thuốc độc, như sầu riêng, nho đều bị nhúng thuốc. Như lần mua nho ở nước ngoài, phải lột vỏ để ăn nhưng các đầu móng tay bị sưng vù lên. Nên chư Thiên ăn đồ ăn của thiên giới, không ăn đồ ăn thuốc độc như mình.
Đồ ăn bây giờ thật sự rất độc, phải hết sức kĩ, nên sau này trên Linh Quy tự trồng rau ăn tại chỗ, đều là rau vườn hái vào ăn, trà cũng là trà sạch, nước sạch, không khí sạch, hoàn cảnh sạch, thanh lọc tâm của mình cho sạch, thân của mình nhiễm oai nghi, giới luật cho sạch, thân tâm, ngoại cảnh thật sạch, tu phải sạch.
Nên một ngày mình trở về đây tu là một ngày thanh lọc những chất độc, mình có biết đến ba chất độc trong người mình không? Đó là tham, sân, si. Cái khiến cho tham, sân, si là thèm, ta đây, kiếm chuyện, gây sự.
Có những vị vẫn còn sát sanh, trộm cắp, tham, sân, si nên sanh vào cõi Ngạ Quỷ, là cô hồn, quỷ đói.
“5. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh... có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên. Món ăn của chư Thiên như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
6. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh... có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào vào cỏi ngạ quỉ. Món ăn của các chúng sanh ngạ quỉ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy, tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào, các bạn bè, hoặc thân hữu, hoặc bà con hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy, vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ; trú nơi đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy.”
Nếu người thân của mình là cô hồn, ngạ quỷ thì họ nhận được. Nếu người mất đó họ rơi vào đường quỷ đói, cô hồn vất vơ vất vưởng thì họ sẽ nhận món ăn của mình cúng. Họ hưởng bằng hương, mùi. Đó là rơi vào loài quỷ đói, gọi là tương ưng xứ, món ăn của ngạ quỷ.
“7. Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống ấy đã chết, không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?”
Ý câu hỏi là nếu bà con không sanh trong loài ngạ quỷ, không phải là cô hồn thì giờ món ăn đó ai được hưởng.
“- Này Bà-la-môn, các bà con huyết thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người ấy được hưởng bố thí ấy.”
Ví dụ ngày giỗ của người thân mình, nhưng người đó đã sanh lên chư Thiên, hoặc xuống loài khác, thì còn cửu quyền, thất tổ khác, rất nhiều người thì những người nào mất mà rơi vào đường ngạ quỷ thì người đó họ hưởng. Nên mình học cái này mình không biết, chỉ tưởng là cúng thì sẽ được hưởng, ai cũng hưởng.
“Các bà con huyết thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người ấy được hưởng bố thí ấy.”
Ví dụ mình cúng cho cha, cha mình tu hành, được phước báu, giữ giới, sanh lên cõi Tứ Đại Thiên Vương rồi thì ông nội hay bà ngoại, bà cố mà có những vị không biết tu, bị đọa vào những đường đó thì người đó sẽ đến hưởng. Vì đó là chỗ phụng thờ cửu quyền thất tổ thì những người đó tới hưởng.
Người này hỏi tiếp:
“- Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống đã chết, không sanh vào chỗ ấy, và các bà con huyết thống khác cũng không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?
- Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy”
Khi nãy Đức Phật đã nói sanh lại làm người chỉ bằng đất trong móng tay nhưng sanh xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là nhiều như đất trên địa cầu thì làm sao mà không có người rơi vào trong ngạ quỷ. Như vậy là có người nhận hưởng không? Nên có một số người không nghiên cứu cho tận tường, kĩ càng thì nói chết là hết, không cần cúng hay làm gì thì điều này rất nguy hiểm, là không có ân đức, không nghĩa tình, không có hiếu đạo.
Ý người này nói nếu như bà con của tôi đã chết, không có sanh trong ngạ quỷ và tất cả những người cửu quyền thất tổ của tôi, không có ai sanh trong ngạ quỷ thì món quà cúng đó là ai hưởng. Đức Phật trả lời rằng:
“- Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.”
(Bài kinh Jànussoni, XVII. Phẩm Jànussoni – 10. Chương Mười Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)
Khi Minh Thành mới về Linh Quy Pháp Ấn một thời gian ngắn, ngày đó có một đoàn này các cô chuyên đi cúng vong, bất cứ đi tới chùa nào cũng cúng vong. Cô này xin lên chùa cúng thì Minh Thành cũng cho cô cúng, lúc đó tự nhiên có một vong linh về, đột nhiên khóc nức nở, quỳ lạy van xin là “Chúng con mong muốn được quy y Tam Bảo, hết nguyên ngọn núi.” Ở chùa mới tổ chức một buổi lễ quy y, thỉnh các thầy tu trong thất ra để làm một buổi lễ. Ngày đó cũng rợn cả da gà vì cảnh tượng rất khủng khiếp, tự nhiên gió đập ầm ầm, các cánh cửa gió thổi hù hù, đang ngồi bình yên thì tất cả chư hương linh tràn ngập trên núi xin vào quy y.
Là xin về quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, quy y với các thầy trên Linh Quy Pháp Ấn. Lúc đó Minh Thành chỉ mới lên núi được ba, bốn năm, là cách đây hơn mười năm. Trong thế giới của ngạ quỷ rất nhiều, trên núi lúc xưa có những chú lên không chịu tu thì bị ném xuống từ trên giường xuống đất. Hay có những chú ngang ngạnh, cứng cỏi thì nói “Đâu? Cho tôi coi thử! Tôi không sợ ai hết! Đó giờ không thấy để tôi coi thử!” Tối đó chú đó sợ đến nỗi “vắt giò lên cổ” mà chạy.
Nên mình biết thế giới vô hình rất nhiều. Lúc đó Minh Thành mở khóa tu Nikāya gần đây, khoảng ba năm, có một chú này là tiến sĩ bên Thụy Sĩ về, dẫn một người chị ruột. Nhưng người chị này hay nói là có người gá vào. Khi cô này lên thì đã quỳ lạy khóc hết cả tiếng đồng hồ xin để được vào nghe pháp. Hỏi sao vào không được thì nói là “Con vô không được vì các vị thiên thần đứng đầy hết trong Vân Thủy Đường nên con không vô được. Thầy trụ trì cho phép thì con mới vào được.” Người đó khóc nức nở và lạy suốt một tiếng đồng hồ.
Nói về thế giới ngạ quỷ để chúng ta thấy là chúng ta làm gì chúng đều thấy hết, nên mình gạt được mấy người mắt phàm, còn quỷ thần, chư Thiên thì mình không gạt được. Mình ở chỗ khuất làm gì thì người ta thấy hết. Những tội lỗi của mình nên câu trên đọc qua thật sợ “Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.”
Là người đó chắc chắn hưởng được quả báu. Ngày trước Minh Thành đã chia sẻ mười bốn cấp độ bố thí. Đây là bài kinh Phân biệt cúng dường, bài 142 Trung Bộ Kinh tập ba. Nếu mình bố thí cho thú vật ăn, thì quý vị sẽ nhận lại được bao nhiêu phần công đức? Ví dụ mình cho nó một nắm gạo thì mình nhận lại một ngàn nắm.
“Tại đây, này Ananda, sau khi bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm phần công đức.”
Mình đừng nghĩ mình cho một gói mì thì nhận lại một gói mì, mình cho loài vật một nắm gạo thì mình nhận lại gấp một trăm lần.
“Sau khi bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có hy vọng đem lại ngàn phần công đức.”
Tức là mình cho cái gì một thì mình nhận lại gấp ngàn, đó là người phàm phu không giữ giới. Đây là chỉ nói trường hợp chung, ngoài những trường hợp đặc biệt.
“Sau khi bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức.”
Ý nói người này có giữ giới, tùy theo giới của người ta, người ta có thể thọ năm giới, tám giới hay mười giới hay mấy trăm giới của người xuất gia. Khi đó người phàm phu biết giữ gìn giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức.
Trên là người phàm phu biết giữ giới, không phân biệt người tại gia hay xuất gia, miễn là có giữ giới, thì nhận được một trăm ngàn lần.
“Sau khi bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức.”
Tức là người này tuy không phải tu chánh pháp nhưng người này tu hạnh viễn ly, rời xa tham muốn ở đời, người ta không ham danh lợi, tài sắc của thế gian, người đó sống một đời sống ly tham đối với các dục vọng ở đời. Người này vừa giữ giới cũng vừa sống ly tham thì “cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức.” Thêm một chữ “ức”, là người này tuy không tu đúng Chánh Pháp của Đức Phật mà người này giữ giới, sống đời sống ly tham, không tham danh, tham lợi, tham vật chất, tài sắc ở thế gian. Sống một cuộc đời viễn ly, rời ra tham muốn ở thế gian. Công đức mình bố thí cúng dường cho vị đó thì nhận lại trăm ngàn ức lần công đức.
“Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức.”
Các vị trên con đường chứng quả Dự lưu là ai? Là những vị này tu đúng Chánh Pháp, nhìn thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si và vị này tâm tâm niệm niệm muốn rời xa sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Dù cho cảnh giới chư Thiên, Tứ Đại Thiên Vương, Tam Thiên khi nãy thì các vị này cũng không muốn sanh về đó mà các vị này hướng đến việc chấm dứt sanh tử, đạt được Niết-bàn, muốn lìa xa thân xác như vầy, những cảm giác, suy tư, nghĩ tưởng, nhận thức, muốn rời xa khỏi ngũ uẩn thì tâm mạnh mẽ hướng đến đó gọi là các bậc hướng Dự lưu Thánh quả, tức là hướng sơ quả. Cúng dường cho những vị này không tính bằng con số được, mà là vô số vô lượng công đức.
Chúng ta nghĩ trong thời nay được mấy người tu theo điều này? Muốn lìa xa đối với sắc, đối với những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức trong tâm, lìa xa đối với ngũ uẩn. Dù cho ngũ uẩn của chư Thiên cũng không ưa thích, chỉ mong muốn ái diệt. Đó là bậc bước vào hàng Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh, là đệ tử chính quy, chính thống của Đức Phật.
Còn người dù cho có hình thức tu sĩ, tu bao nhiêu năm nữa mà không có tâm hướng tới sự rời xa sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì người đó chưa phải là đệ tử chính thống của Đức Phật. Điều này rất sâu sắc. Đây là bậc thấp nhất trong Bốn Đôi Tám Chúng.
Bốn Đôi là A-la-hán, Vô Sanh, Bất Lai là quả thứ ba, Nhất Lai là Thánh quả thứ hai, Thất Lai là Thánh quả thứ nhất. Bốn Bậc hướng đến địa vị đó là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Bốn vị này là bốn quả và bốn bậc hướng đến bốn quả này gọi là bốn đạo bốn quả, đạo là đang đi, chưa đến, quả là đã tới, nên mới gọi là Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh, chức vị này mới được chứng thống là đệ tử của Đức Phật.
Nên không dễ dàng làm đệ tử của Đức Phật, khi mình gieo duyên, mình học, mình tu để thấy đó là đệ tử chính thống. Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh này Đức Phật nói là ruộng phước vô thượng của chư Thiên và loài người. Chỉ cần mình gặp các vị đó một lần và mình lễ lạy, cúng dường, gieo duyên lành được phước đó thì không thể tính bằng con số vì các vị này không còn muốn danh lợi trong ngũ uẩn nữa mà chỉ muốn rời ra, tâm đó là tâm vô lượng. Còn những người còn muốn sanh này sanh kia, hưởng nọ thì đó có số dù tốt cỡ nào thì cũng còn số lượng, còn những vị này là tâm vô lượng.
“Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Độc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác?”
(Kinh Phân biệt cúng dường – Trung Bộ Kinh)
Đó là mười bốn bậc cấp độ của sự cúng dường. Vì theo trình tự thuyết pháp của tất cả Chư Phật thì khi gặp người Phật tử Đức Phật sẽ nói thí và giới, là hai pháp quan trọng nhất của người cư sĩ, bố thí và giữ giới. Những pháp cao thượng của Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo là sau khi người đó thuần thục và có tâm hướng thượng thì Đức Phật mới nói điều đó. Phật tử mình giờ đã giỏi, Tứ Đế, Bát Chánh Đạo đều thuộc lòng nhưng chỉ là thuộc suông, nhưng còn nếu thấy đúng được Chánh Kiến thì đã vào Dự lưu thứ nhất, Chánh Kiến là thấy được ngũ uẩn.
Nên đó là tại sao trong những khóa tu Nikāya Minh Thành thường cho các vị nhận diện ngũ uẩn cũng vì lý do đó, giúp cho các vị thành tựu Chánh Kiến. Khi quý vị thấy được thân tâm của mình một cách xác thực, đầy đủ năm khía cạnh của hình hài, cảm giác, suy nghĩ, của những tưởng và nhận thức, thì quý vị mới bắt đầu nhìn ra được những tham, sân, si, bản ngã bên trong vận hành. Khi quý vị nhìn ra được những tham, sân, si, bản ngã, cấu uế thì quý vị mới nỗ lực nhiếp phục, chế ngự, mới đi đến con đường đúng đạo lộ của Đức Phật.
Nếu không nhìn ra được ngũ uẩn thì quý vị chỉ tu hướng ngoại bên ngoài, làm một chút phước ở trong sanh tử, không đi ra khỏi sanh tử. Dù sanh ở đâu thì cũng ở trong vòng luân hồi sanh diệt.
III. Chánh Kiến về Bố Thí 2
Tiếp theo là những bài kinh rất xúc động, nói về Đức Phật khuyên một ông già nghèo bán củi đi bố thí, chúng ta sẽ thấy được từ tâm của Đức Phật rất vi diệu. Kèm theo Đức Phật giải thích làm sao bắt đắt bắn ế.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, bài kinh Người bán củi.
“1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn ở Nàdika, tại giảng đường bằng gạch. Bấy giờ có gia chủ bán củi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với người bán củi đang ngồi xuống một bên:
2. - Này Gia chủ, trong gia đình Ông có bố thí không?
- Bạch Thế Tôn, trong gia đình con có bố thí. Những Tỷ-kheo là vị sống ở rừng, theo hạnh khất thực, mặc áo lấy vải lượm từ đống rác, bậc A-la-hán, hay thực hành A-la-hán đạo, những Tỷ-kheo như vậy, bạch Thế Tôn, đều được bố thí.
3. - Nhưng chắc chắn, này Gia chủ, đây thực là một sự khó khăn cho Ông, một người tại gia thọ dụng các dục, bị con cháu trói buộc, được dùng hương chiên đàn từ Kàsi, được đeo và thoa với vòng hoa, hương, hương liệu, được tiêu dùng vàng và bạc để có thể nói là bậc A-la-hán, ai là bậc thực hành A-la-hán đạo.”
Ý câu nói là làm sao ông gia chủ ấy biết được ai là Thánh ai không phải là Thánh. Ông còn gia đình, ông còn đeo vàng bạc, trang sức, ông còn hưởng ngũ dục, ông còn đam mê với thế gian thì làm sao ông biết được ai thật sự là bậc Thánh, ai đang đi trên con đường Thánh.
Tiếp theo thì Đức Phật phân tích cho gia chủ này biết thế nào là một vị chân tu nên cúng dường và những vị không phải chân tu.
“Tỷ-kheo trú tại rừng núi, này Gia chủ, nếu tháo động, kiêu căng dao động, lắm mồm, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng, thời vị ấy về phương diện này đáng bị chỉ trích.”
Là dù ở rừng ở núi nhưng tâm tháo động, kêu căng, dao động, lắm mồm, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng thì như vậy đáng bị chỉ trích. Nếu ở rừng núi nhưng không có những đức tính đó thì đáng được tán thán, Đức Phật không nói là đừng cúng.
“Này Gia chủ, nếu Tỷ-kheo trú ở rừng núi, không tháo động, không kiêu căng, không dao động, không lắm mồm, lắm miệng, không lắm lời, chánh niệm, tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, với các căn được phòng hộ, thời vị ấy về phương diện này đáng được tán thán.”
Nếu như trên thì mới đáng được tán thán.
Tiếp theo Đức Phật phân tích cho gia chủ bán củi này biết những người chân tu và những người không phải là chân tu:
“Nếu Tỷ-kheo sống ở cuối làng, này Gia chủ, tháo động, kiêu căng... các căn thả lỏng; vị ấy về phương diện này đáng bị chỉ trích.
Nếu Tỷ-kheo sống ở cuối làng, này Gia chủ, không tháo động, không kiêu căng... các căn được phòng hộ, thời vị ấy về phương diện này đáng được tán thán.
Nếu vị Tỷ-kheo theo hạnh khất thực, này Gia chủ, nhưng còn tháo động, kiêu căng... đáng bị chỉ trích.
Nếu Tỷ-kheo theo hạnh khất thực, này Gia chủ, nhưng không tháo động, không kiêu căng... đáng được tán thán.
Nếu Tỷ-kheo nào nhận lời mời, này Gia chủ, nhưng còn tháo động... đáng bị chỉ trích.
Nếu Tỷ-kheo nào nhận lời mời, này Gia chủ, nhưng không tháo động... đáng được tán thán.
Nếu Tỷ-kheo nào mặc áo lấy vải lượm từ đống rác, này Gia chủ, nhưng còn tháo động... đáng bị chỉ trích.
Nếu Tỷ-kheo nào mặc áo lấy vải lượm từ đống rác, này Gia chủ, nhưng không tháo động... đáng được tán thán.
Nếu Tỷ-kheo nào mang y từ người Gia chủ cúng, nhưng còn tháo động....đáng bị chỉ trích.
Nếu Tỷ-kheo nào mang y từ người Gia chủ cúng, nhưng không tháo động....đáng được tán thán.
Tuy vậy, này Gia chủ, hãy cúng dường chúng Tăng. Nếu Ông cúng dường chúng tăng, tâm sẽ được tịnh tín. Nếu Ông có tâm tịnh tín, lúc thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.”
Đức Phật nói “hãy cúng dường chúng Tăng” thì tâm sẽ có lòng tin thanh tịnh, trong sạch. Nếu có được lòng tin đó thì lúc ông ấy chết sẽ được sanh lên cõi lành, cõi người hay là trở lại cõi đời này.
“- Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ hôm nay, con sẽ bố thí cúng dường chúng Tăng.”
(Bài kinh Người bán củi, VI. Đại Phẩm – II. Phẩm Trên Tất Cả - Chương Sáu Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)
Tiếp theo là lời Ngài Xá-lợi-phất hỏi Đức Phật, Ngài ấy là tướng quân Chánh Pháp, đại trí tuệ trong Thánh chúng hỏi Đức Phật:
“1. Rồi Tôn giả Sàriputta ... ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, đi đến thất bại?
- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, có hạng người, do buôn bán như vậy, không thành tựu được như ý muốn?
- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, thành tựu được như ý muốn?
- Do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng người do buôn bán như vậy, lại được thành tựu ngoài ý muốn?”
Như vậy, có bốn cấp độ: Một là thất bại, hai là không thành tựu được như ý muốn, ba là thành tựu được như ý muốn, bốn là thành tựu được ngoài ý muốn.
Sau đó, Đức Phật giải thích nguyên do làm sao làm ăn thất bại, làm ăn không được như ý muốn, làm ăn được như ý muốn và hơn cả ý mình muốn.
“2. - Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Samôn hay Bà-la-môn và hứa hẹn như sau: "Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ", nhưng người ấy không cho như đã được hứa. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán đi đến chỗ thất bại.”
Việc này Minh Thành cũng gặp nhiều, Minh Thành không kêu gọi, người ấy tự đi đến, xong rồi lại hứa hẹn đủ thứ như làm đường... Đây là điều mình nên hết sức cẩn thận, cũng cho các người doanh nhân, làm ăn biết điều này là đừng nên nói, nhưng khi xét cho kĩ thì nói nhưng phải làm. Không chỉ ở trong chùa mà ở ngoài đời cũng vậy. Ví dụ ở đó mình muốn “Để tôi cho từ thiện hai trăm phần!” Nhưng lúc về thì ra sao? Dù nhớ không quên nhưng không làm.
“Không cho như đã được hứa” thì người này sau này sau khi chết, dù cho sanh ở chỗ nào thì dù cho làm buôn bán ở nghề gì thì buôn bán đi đến chỗ thất bại.
Tiếp theo là không thành tựu được như ý muốn:
“3. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như: "Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ", nhưng người ấy không cho như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy không đi đến thành tựu như ý muốn.”
Tức là ví như khi nãy nói cho hai trăm phần nhưng giờ rút lại chỉ cho một trăm. Hay là hứa cúng gì đó nhưng sau đó chỉ cúng một nửa hay một phần ba. Hạng người thứ hai này là thành tựu không được như ý muốn, tức là người này không cho như đã quyết định muốn cho.
“Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy không đi đến thành tựu như ý muốn.” Là cũng có thành tựu nhưng không như ý muốn, vì lúc mình làm điều thiện thì mình làm không đúng như những gì mình đã quyết định, đã hứa. Bên trên là không cho như đã được hứa, bên dưới là không cho như đã quyết định muốn cho.
“4. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như sau: "thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ". Và người ấy cho như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy đi đến thành tựu như ý muốn.”
Tức là nói ra sao thì làm giống vậy, phát thiện tâm ra là làm đúng như vậy. Nên khi mình làm phước thì mình cũng phải suy xét cho kĩ để mình quyết định phải làm đúng vậy. Vì phước cũng có nhân quả, lớn nhỏ, vừa thấp của nó. Nợ cũng vậy, mình vay nhiều thì lãi nhiều, vay vừa lãi vừa còn vay ít lãi ít. Phước cũng vậy, mình làm nhiều thì nhân lên bao nhiêu số, hàng trăm, hàng ngàn, trăm ngàn, trăm ngàn ức, vô lượng vô số.
“5. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như sau: "Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ", và người ấy cho hơn như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung đi đến chỗ này, dầu người ấy có buôn bán gì, buôn bán như vậy được thành tựu ngoài ý muốn.
Này Sàriputta, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy đi đến thất bại. Đây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, không thành tựu được như ý muốn. Đây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người, do buôn bán như vậy, thành tựu được như ý muốn. Đây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy được thành tựu ngoài ý muốn.”
(Bài kinh Buôn bán, VIII. Phẩm Không Hý Luận – 4. Chương Bốn Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh Tập 1)
Có rất nhiều bài kinh Đức Phật bố thí cho người cư sĩ, đây là tất cả bài kinh trong tạng kinh Nikāya về chuyên đề bố thí. Nếu có duyên, lần sau chúng ta sẽ học tiếp về một người có bố thí khi đi tu, ở ngoài đời, sanh lên trời hay đi vào các Thánh quả cũng sẽ khác với người không bố thí. Đức Phật sẽ phân tích cho chúng ta rất rõ.
Người Chết Có Hưởng Được Đồ Cúng Không?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chánh Kiến về Bố Thí PAGEREF _Toc112678794 \h 1
II. Người đã khuất – thọ hưởng đồ cúng PAGEREF _Toc112678795 \h 9
III. Chánh Kiến về Bố Thí 2 PAGEREF _Toc112678796 \h 24
I. Chánh Kiến về Bố Thí
Kính thưa các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử.
Lâu lâu thì Minh Thành mới đến thăm đạo tràng Thọ Bát chùa Bửu Liên chúng ta nên buổi này phải chia sẻ cho quý vị phần thiết yếu. Hôm nay chúng ta có một buổi chia sẻ rất đặc biệt, giải quyết được rất nhiều vấn đề, những mật mã trong đời sống. Chúng ta có muốn rằng những ước nguyện của mình được thành tựu không? Như câu chúng ta hay chúc nhau là vạn sự cát tường, vạn sự như ý, nhưng chúng ta chỉ chúc suông mà chúng ta không biết trong kinh Đức Phật đã có dạy: Tất cả mọi điều mong muốn đều được thành tựu.
Đây là bí quyết, hôm nay chúng ta mở được rất nhiều bí quyết, chúng ta được tổng hợp rất nhiều bản kinh quan trọng ở trong kinh tạng Nikāya. Thứ nhất sẽ giải mã cho quý vị biết là tất cả mọi mong muốn đều được thành tựu, thứ hai là quý vị sẽ thấy được nhân quả của sự bố thí, cúng dường. Quý vị sẽ thấy Đức Phật bình dị như thế nào, khuyến khích những người bán củi đi làm phước. Những điều này chúng ta đều chưa từng được nghe. Thứ ba là nhân mùa Vu Lan này chúng ta sẽ biết thêm được mình cúng cho những người mất thì những người đó có được hưởng hay không, chính Đức Phật sẽ giải thích cho chúng ta.
Quý vị có nghi vấn không? Có nghĩ là cúng như vậy thì cha mẹ mình có được hưởng không? Đức Phật sẽ giải mã cho chúng ta. Muốn được góp pháp vào tâm một cách sâu sắc thì phải an tịnh, lắng dịu tại đạo tràng Thọ Bát chúng ta, giờ này nên tập trung nghe pháp, không nên làm bất cứ điều gì.
Lắng tâm, tập trung nghe pháp, nếu như ồn ào như vậy thì Minh Thành không thể giảng mà để cho các thầy đệ tử giảng. Bao nhiêu năm rồi chúng ta tu học phải có tiến bộ. Khi mình đi vào nghe pháp thì phải tập trung tâm ý, lắng tay, trang nghiêm, thanh tịnh. Những điều căn bản mình phải thực tập cho được khi đến chùa, nhất là trong những thời khóa tu học và nghe pháp, mình lăn xăn ở ngoài đã quen, khi ở chùa mình tập sự an tịnh và lắng dịu.
Vui thay chúng ta sống không rộn giữa rộn ràng, giữa những người rộn ràng, ta sống không rộn ràng.
Ngày mình về Thọ Bát là ngày mình tập hạnh xuất gia, tập hạnh thu nhiếp thân tâm, mình đã chụp hình từ trẻ tới già rồi thì giờ này để mình tu. Mình sắp sửa đứng trước cửa Diêm Vương rồi quý vị có biết không? Mê mệt các thứ khác làm uổng phí một ngày tu của mình. Nên đó là tại sao mình đi đến chùa nhiều mà mình không có sự tăng thượng trong trí tuệ, trong đức hạnh, không được lợi lạc nhiều vì mình không có thực tập sự trang nghiêm, thanh tịnh. Đó là chúng ta đã mất cái lợi ích rất lớn.
Đầu tiên Đức Phật giải thich cho chúng ta biết, một người muốn thành tựu tất cả tâm nguyện thì người đó thứ nhất là giữ giới, thứ hai là bố thí, cúng dường, người nào giữ được giới của mình thọ một cách trọn vẹn, ví dụ mình thọ năm giới thì mình cố gắng giữ gìn tối đa hết sức mình có thể, song song đó là mình bố thí, cúng dường thì các tâm nguyện của mình sẽ được thành tựu. Những tâm nguyện hợp lý, chân chánh sẽ được thành tựu.
Hôm nay chúng ta tìm hiểu rất nhiều bản kinh nói về sự bố thí. Vì Minh Thành thấy hiện tại sự mê tín của con người, ngay cả những người Phật tử, rất nhiều. Gần đây, trên báo chí có đưa tin có một số bà mẹ đến rằm tháng bảy này sinh con nhưng nói tháng bảy là tháng xấu, tháng cô hồn nên hối thúc bác sĩ cho sanh trước, sanh non, sanh sớm, thậm chí là mổ xẻ. Bác sĩ nói điều này rất nguy hiểm cho cả mẹ lẫn con, sức khỏe về sau của đứa trẻ thì đây là những điều mê tín, tà kiến, rất ngu muội.
Những điều này để Minh Thành chia sẻ để chúng ta nắm thật vững và hướng dẫn con cháu trong gia đình của mình. Mỗi một con người sanh ra thì mang lấy những thiện nghiệp và ác nghiệp trong quá khứ của họ. Không phải ngày sinh tháng đẻ có thể quyết định được mà tốt hay xấu là thiện nghiệp của người đó trong quá khứ, cũng như thiện nghiệp của người đó trong hiện tại hay ác nghiệp, không phải ở chỗ ngày sanh tháng đẻ.
Và lúc trước không có tháng cô hồn, gần đây mới có ra nhiều chuyện rất lạ, cũng như ngày xưa không có việc thả cá chép, bỗng nhiên sau này thả cá chép rồi để chết, làm rơi xuống sông chết cũng làm mất mấy mạng người. Nên chúng ta không có trí tuệ, không có chánh tín, chánh kiến, không học pháp, không gặp thầy lành bạn tốt hướng dẫn, giảng dạy, chỉ dẫn cho mình nhận thức cho đúng nhân quả, nghiệp báo, chánh tín, chánh kiến, rồi mình thấy người ta làm gì thì mình bắt chước theo, nghe cái gì mình cũng hùa theo rồi mình làm trong vô minh, mê tín, trong sai lầm, dẫn đến những hậu quả thật đáng thương.
Vậy nên chúng ta phải để ý, mình cứ làm việc bình thường, không có tháng nào là tháng cô hồn, cô hồn chính là tâm tham lam, bủn xỉn, keo kiệt, ích kỷ. Đó chính là cô hồn, ngạ quỷ, lúc nào cũng thấy thiếu, thấy đói, thấy khát, lúc nào cũng tham lam, vơ vét, đó là cô hồn.
Chúng ta nên nhớ kĩ những truyền thống cao đẹp của Phật Pháp, của nhân quả, của nghiệp báo, của phước lành, đừng vội nghe và tin những tin đồn, hay thấy người ta mình lại bắt chước theo là sai lầm.
Đầu tiên, mình sẽ giải quyết vấn đề thứ nhất là một người có giữ giới và có bố thí thì những tâm nguyện của người này hợp lí, đúng đắn, chân chánh đều sẽ được thành tựu, đây là bài kinh Thọ sanh do bố thí, Tăng Chi Bộ Kinh tập ba, nói về tám cảnh giới thọ sanh do bố thí. Tức là người bố thí sẽ sanh về tám cảnh giới.
“1. - Này các Tỷ-kheo, có tám thọ sanh do bố thí. Thế nào là tám?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy bố thí và mong hưởng quả. Thấy các Sát-đế-lỵ đại phú hay các Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú, sung túc, đầy đủ, thọ hưởng năm dục trưởng dưỡng, người ấy suy nghĩ như sau: "Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với Sát- đế-lỵ đại phú, hay với Bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú". Người ấy móng tâm như vậy, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy, tâm người ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với Sát-đế-lỵ đại phú, hay với Bà- la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú. Ta nói rằng: "Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới". Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh.
Ý nói khi người này bố thí thì bản thân người này đã giữ năm giới rồi người này làm những việc bố thí như nãy giờ, như đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, trầm hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc và người ấy bố thì và mong hưởng quả. Người này nhìn thấy những vị vua chúa, những vị có chức quyền, những vị có địa vị cao sang, quyền quý, thành công, đại da, phú hào, triệu phú, tỷ phú. Người này nhìn thấy những người giàu có, thành đạt, sung túc, đầy đủ, hưởng thọ năm dục trưởng dưỡng là đầy đủ tiện nghi, vật chất và tài sản.
Người này suy nghĩ như sau: Mong rằng sau khi con chết, con được sanh ra giống như những người quan quyền, giàu có, đại da, phú quý như vậy. Tức người ấy giữ năm giới, bố thí, cúng dường với một tâm mong muốn như vậy thì người ấy móng tâm, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy thì tâm người ấy hướng đến hạ liệt. Đây là chỗ thấp kém. Nhưng cũng là tốt hơn mình, tức là hướng đến giàu có, quyền uy, vua chúa, đại da, đại quý quý nhưng Đức Phật lại cho là tâm của người này thấp kém, người này không tu tập hướng thượng.
Hướng thượng ở đây là hướng thượng giới đức, hướng thượng thiền định, hướng thượng trí tuệ. Người này không mong muốn mình tăng thêm giới đức cao siêu, thiền định, trí huệ, giác ngộ, giải thoát mà người này chỉ muốn đời sau mình sinh ra làm vua chúa, làm vạn phụng chi vương, làm hoàng hậu, công chúa, làm nguyên thủ, làm những người tỷ phú. Mong muốn như vậy thì người này khi thân hoại mạng chung sanh trở làm vua chúa, hoàng hậu, vương phi, làm gia chủ, đại phú…
“Ta nói rằng: "Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới". Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh.”
Ác giới là không giữ giới. Đó là cấp độ thấp trong tám cấp độ được làm vua, hoàng hậu, vương phi, nữ hoàng. Đó là do những đời trước giữ giới và bố trí, với một tâm nguyện, muốn ở đời sau hưởng ở địa vị đó, nên tâm nguyện đó là tâm nguyện chính đáng đối với nhân quả nên đời sau trở thành nữ hoàng của Anh quốc, thiên hoàng của Nhật Bản, hoàng hậu, hoàng phi, đại gia, hào phú, nguyên thủ…
Đó là đẳng cấp thấp nhất, bảy đẳng cấp sau là bảy tầng trời.
3-4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy bố thí và mong hưởng quả. Nghe rằng: "Bốn Thiên vương thiên sống lâu, có dung sắc, được nhiều an lạc", người ấy suy nghĩ như sau: "Mong rằng khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Bốn Thiên vương ...
Tứ Đại Thiên Vương là bốn vị vua trời, vua nhưng là vua ở trên đời, không phải vua ở dưới đất. Bốn vị vua trời này vào mỗi ngày rằm và mùng một là các Ngài đi tuần trong nhân gian. Tức vào mỗi ngày rằm, mùng 1, mùng 8, 23 thì ngày chính là Tứ Đại Thiên Vương đi, ngày phụ là bốn vị Thái tử đi, Thái tử là con của các Ngài đó. Ví dụ ba mươi các Ngài đi thì hai mươi chín thì các vị Thái tử đi trước. Các Ngài đi vào các ngày chính, các Ngài đi tuần trong Trái Đất của chúng ta, nếu đó là ngày trai giới, ngày Thọ Bát Quan Trai của chúng ta rất quan trọng. Sau này có dịp chúng ta sẽ học bài kinh Trai giới, quý vị sẽ bất ngờ về phước đức của Trai giới và mình phải giữ đúng, nếu không giữ đúng thì mình chỉ được một phần nhỏ.
Khi các Ngài đi tuần trong nhân gian mà các Ngài thấy được nhiều người làm phước thiện, giữ trai giới thì khi về cõi trời các Ngài rất vui. Vì các Ngài biết là cõi người, cõi trời sẽ tăng thêm số lượng, có người giữ trai giới thì cõi trời sẽ có thêm chư Thiên mới sanh lên, còn nếu không ai giữ trai giới, năm giới cũng không thấy giữ thì các Ngài về các Ngài buồn, vì các Ngài nghĩ cõi trời sẽ càng ngày trống vắng, cũng như đến ngày Thọ bát, chỉ có vài người rất buồn, chỉ khi đến đông thì mới vui. Trên chư Thiên cũng vậy, trên đó đông, nhiều, ai cũng có vàng ngọc đầy mình, ai cũng hất tay áo hiện lầu đài, người nào cũng dung sắc. Một ngày trên cõi thiên vương đó có thể bằng năm mươi năm ở cõi người, tức mất năm mươi năm ở cõi người thì chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi trời.
Nên nếu sau hai ngày hay một ngày rưỡi ở trên đó thì nhìn xuống ở cõi trần đã chết hết, vì một ngày bằng bốn, năm chục năm ở cõi người nên trên đó có hai ngày thì dưới này mình đã chết từ lâu, hay có thể mấy kiếp. Như giờ mới chỉ hơn hai mươi mấy tuổi nhưng ra đua xe thì mất, hay đi ăn cướp chết, đánh lộn, đâm nhau rồi chết, chỉ ba mươi, bốn mươi tuổi, nên chưa được một ngày ở cõi trời Tứ Đại Thiên Vương là chết. Nhưng các Ngài sống đến năm trăm tuổi, ngày trước chúng ta đã học bài kinh này trong đạo tràng thì cõi trời đầu tiên thấp nhất nhân lên thì mấy cõi sau Phật tử không thể nhân nổi nữa.
Vì các cõi sau như các tầng trời ba mươi ba, trời dạ ma, trời đâu xuất, trời hóa lạc, trời tha hóa tự tại thiên thì tới năm trăm năm ở nhân gian của mình chỉ bằng một ngày trên đó. Nên đó là vì sao người ta thích sanh ở cõi trời, người ngoại đạo tu thì người ta mong muốn sanh lên các cõi trời này, người tu nhưng chưa muốn nhiếp luân hồi, thì người ta thích tu vì ở dưới này khổ quá, dịch bệnh, đói nghèo, chiến tranh, phải đi ra giật đồ, cướp của nên thôi lên trời ở cho sướng.
Trong cõi nhân thiên người ta rất thích việc này, ở đây cũng có thể nhiều người thích nên mới đi tu Thọ Bát, Phật tử thích việc này cũng là hợp lý còn người xuất gia thì khác.
Như vậy, các Ngài đã đi một vòng vào các ngày trai giới, nên đó là tại sao quý vị thấy các ngày đó mình thường ăn chay, cũng là lý do tại sao người ta đi làm phước, bố thí, cúng dường, mấy ngày đó đi chùa như mùng một, ba mươi, ngày rằm là vì ngày đó Tứ Đại Thiên Vương, bốn vị vua trời đi tuần hành khắp nhân gian. Vậy nên những ngày đó mình tu thì phước được nhân lên hơn ngày thường, hãy cố gắng giữ gìn trai giới những ngày đó, cố gắng làm phước thiện những ngày đó, cố gắng tu tập. Còn những ngày bình thường tu được thì càng tốt hơn.
“… với chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba …
... với chư Thiên ở cõi Trời Dạ-ma …
... với chư Thiên ở cõi Trời Đâu-xuất …
... với chư Thiên ở cõi Trời Hóa lạc …
với chư Thiên ở cõi Trời Tha hóa Tự tại thiên …”
Tức người này suy nghĩ muốn được như Tứ Đại Thiên Vương sống, vì thấy dưới này thê thảm, khổ đau, bất an, mong manh sự sống này quá thì người này thành tựu được tâm nguyện. Với hai điều kiện là giữ giới và bố thí cúng dường. Thứ ba là tâm mong muốn hướng tới trong sạch, thanh tịnh, đúng với nhân quả thì người này được.
Vậy nên quý vị xem tâm của mình muốn đời sau sanh ở đâu? Xem tâm hướng và nghiệp của mình, phước của mình thì mình sẽ biết. Nhiều khi được cho lên trời nhưng lại nói “Dạ không, con còn thương chồng con lắm, con đi không được đâu.” Vậy thì mình sanh trở lại cõi người, nếu mình giữ giới và bố thí thì mình sanh lại cõi người, còn nếu không giữ giới thì sau này chúng ta học sẽ rõ. Còn nếu keo kiệt, bủn xỉn thì chúng ta học qua bài kinh sau thì chúng ta sẽ thấy, bị sanh làm những con thú vật như voi, ngựa, bò, heo, gà, vịt vì không giữ giới mà còn không biết bố thí nên sanh làm loài súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ.
"Người ấy móng tâm như vậy, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy, tâm người ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở cõi Bốn thiên vương … ở cõi Tha hóa Tự tại thiên, hay với Bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú. Ta nói rằng: "Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới". Này các Tỷ- kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh.”
Ý nói tâm nguyện người đó là chân chánh, chánh đáng, là phù hợp với nhân quả. Còn người bủn xỉn, tham lam, keo kiệt, không giúp đỡ ai hết nhưng muốn lên trời sống thì có được không?
“5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống… Nghe rằng: ": "Chư Thiên ở Phạm chúng thiên sống lâu, có dung sắc, được nhiều an lạc", người ấy suy nghĩ như sau: "………". Ta nói rằng: "Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới, là người ly tham, không phải là người có tham".
Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến ly tham. Này các Tỷ-kheo, tám pháp này là tám pháp thọ sanh do bố thí.”
(Bài kinh Thọ sanh do bố thí, IV. Phẩm Bố Thí – 8. Chương Tám Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)
II. Người đã khuất – thọ hưởng đồ cúng
Đó là chúng ta giải quyết được vấn đề thứ nhất, đó là giữ giới, bố thí và tâm nguyện của mình sẽ được thành tựu.
Tiếp theo chúng ta nói về chủ đề người đã chết có nhận được phần mình cúng không? Tháng bảy rất quan trong, chúng ta đã từng làm việc này rất nhiều để chúng ta hiểu được vấn đề này. Người đã hóa giảng trong cửu quyền thất tổ, ông bà, cha mẹ, hay những người thân của mình chết thì khi mình cúng như vậy họ có nhận được không?
Đây là Tăng Chi Bộ kinh tập bốn, trong tạng kinh Nikāya này sẽ giải mã hết tất cả mọi vấn đề ở trên thế giới này. Duy nhất chỉ có trong đó mới có, Đức Phật đã giải quyết hết tất cả mọi vấn đề, giải mã hết tất cả bí mật của trần gian, của thân tâm, vũ trụ và thế giới. Không có vấn đề gì trên thế gian này mà không được Đức Phật trình bày, giảng rõ, làm cho minh bạch, sáng tỏ. Chúng ta nên lắng nghe thật kĩ để thấy được.
Đây là bài kin Jànussoni trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 4:
(Bố thí cho bà con huyết thống đã chết; Nghiệp - nghiệp dẫn đi tái sanh trong súc sanh; Bố thí - kết quả của người bố thí)
1. Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi Bà-la-môn, cho bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng bố thí này! Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?
Trước giờ đi chùa mấy chục năm nhưng chúng ta chưa từng nghe bài kinh này đúng không? Hôm nay đã tìm ra được cho quý vị, nên đến thầy nhắc là thầy thương mình, không phải thầy khó, nên hiểu như vậy vì thầy muốn cho mình tốt, muốn cho mình được lợi ích, lợi ích đó không phải ở ngay trước mắt, mà là lợi ích dài lâu, nhiều đời kiếp sau. Nếu mình hiểu sai là “Ủa sao thầy khó. Gặp là thầy rầy la.” Nhưng nếu thầy không nhắc mình thì mình đi đến chùa không được lợi ích, mình sẽ làm theo những cái muốn, những cái dục của mình, làm theo thói quen, nghiệp của mình, nên quý vị phải hiểu tấm lòng từ của một người thầy.
Cũng như quý vị làm cha mẹ, quý vị thương con thì quý vị mới nhắc nhở chúng nhiều, nếu quý vị không thương thì quý vị bỏ mặc, kệ nó, nó có hư nên thì cũng mặc kệ. Nên những thầy tới mà mình muốn làm gì làm, cứ để cho mình thoải mái như vậy thì chưa chắc là thương mình, còn những người thầy cứ khen mình thì chưa chắc là có tâm từ với mình, còn những người thầy gặp mình là góp ý, nhắc nhở thì chưa chắc là thầy đó không thương mình. Quý vị nên nhớ kỹ.
Nên việc thấy hiểu phàm phu của chúng ta rất cạn cợt, mình tu học sâu sắc thì mình mới hiểu được tâm của Đức Phật và các bậc Thánh, tâm của các bậc hiền trí khó lường xét được. Ngay cả mắt mình thấy, tai mình nghe cũng không đúng. Thấy theo nghiệp, thấy theo tình thương. Ví dụ mình thương người đó thì nhìn khác, mình ghét người đó thì nhìn cách khác. Nên chỉ có cái nhìn trong sáng của Chánh Kiến, của trí tuệ thì cái nhìn đó mới đúng, mới giúp mình giảm bớt khổ.
Còn mình cứ thích tới chùa được vỗ tay, được hoan nghênh, cúng dường một chút là tự cao, ta đây thì đó rất nhỏ bé. Nên Phật tử rất ít gần Minh Thành, vì người nào gần thì sẽ được đẽo gọt nhiều nên ít có ai chịu đẽo gọt nên ít có ai ở gần Minh Thành, ngay cả đệ tử xuất gia.
Minh Thành đã quen sống cô độc, thường thường thì người trí hay sống cô độc, vì người hiểu được mình rất ít. Nhưng trí này là trí của Phật, không phải trí của mình, mình không có gì, mình rất ngu si, vô minh, mình phải nương vào Thánh trí huệ của Đức Phật mới được. Nên bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng, Minh Thành thăm đại chúng Thọ Bát là để khích lệ, nhắc nhở, thương yêu quý vị, không phải là khó khăn đối với quý vị.
“Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?”
Chúng ta thường dùng trí phàm phu của mình là mình sẽ trả lời một chiều là có hoặc không. Đức Phật không nói vậy.
“- Này Bà-la-môn, nếu có tương ứng xứ, thời có lợi ích, nếu không có tương ưng xứ.
- Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là tương ưng xứ, thế nào là không tương ưng xứ?
2. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân, có tà kiến. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục. Món ăn của chúng sanh ở địa ngục ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở nơi đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.”
“Nuôi sống với món ăn ấy” là người này phải ăn món ăn trong địa ngục như: những cục đồng, sắt nấu cháy đỏ, nước đồng tan chảy… Phải ăn, uống những thứ đó, đó là đồ ăn của những chúng sanh ở địa ngục.
“Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở nơi đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.” Ý nói mình cúng nhưng người đó không ăn được, vì họ phải ăn những món ăn ở dưới địa ngục, phải ăn những hòn sắt nóng, uống những nước đồng nấu sôi tan chảy. Nên không phải chúng ta cúng cho ai thì người đó cũng được nhận.
“3. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh... có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào loại bàng sanh. Món ăn của chúng sanh ở bàng sanh ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
4. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh cộng trú với loài Người. Món ăn của loài người như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.”
Ví dụ con dòi không ăn được đồ mình cúng, hay như con bò, con trâu không ăn đồ ăn của mình mà phải ăn đồ ăn của nó. Đó gọi là không tương ưng, không dính dáng, không phù hợp nên người ta không nhận được.
Chỗ này Đức Phật đã nói một hôm Ngài ngồi giữa đại chúng dưới đất, cùng với đại chúng Tỳ-kheo, Thánh chúng, Ngài lấy ngón tay khều một chút ở dưới đất dính trong móng tay thì Ngài đưa lên hỏi các Tỳ-kheo là đất ở dưới địa cầu là nhiều, hay đất trong móng tay ta là nhiều?
Khi đó các Tỳ kheo trả lời là đất trong móng tay rất ít so với đất trên địa cầu. Khi đó, Đức Phật nói: Này các Tỳ-kheo, những chúng sanh chết đi và trở lại sanh làm người ít giống như đất trong móng tay. Khi chết và đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như đất ở địa cầu.
Chỗ này để chúng ta chiêm nghiệm, hằng ngày trước mắt chúng ta nhìn trên báo chí, tin tức, thì chúng ta thấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đầy không? Đó là nhân đưa vào địa ngục, chưa cần chết đã đi vào ngục.
Ví dụ câu chuyện một người chạy một chiếc xe chỉ bị va chạm một chút thì dừng lại lấy dao đâm cho chết mới được. Nhưng đó là mấy vụ án, không phải một vụ án, chỉ có va quẹt một chút hay chạy vượt qua mặt, không biết vô tình hay cố ý, nhưng điều đó thì không có gì đáng mà phải đâm cho chết thì mới hả dạ, vậy thì đó là tâm của con người hay của thú vật? Phần con nhiều hơn phần người nên ngay trong hiện tại đã ở trong ngục tù, song sắt, chung thân, nhốt vào đó như nhốt thú vật, còn không thì như đi ra tử hình, bắn như săn thú.
Như vậy chúng ta thấy khủng khiếp không? Đó là nhân quả hiện tại mình nhìn thấy, vậy bây giờ có nhiều như vậy không? Rất nhiều. Như chỉ có việc nhà kế bên hát karaoke thì nói qua nói lại mà xảy ra nhiều vụ án chết người, không phải một hai vụ. Chỉ vì mấy câu nói mà cái gì bây giờ cũng làm xảy ra án mạng, thậm chí đỗ một chiếc xe cũng xảy ra án mạng. Đỗ một xe trên đường rồi nhảy xuống nói qua nói lại rồi cũng như vậy.
Có những vụ án mà những tâm thức, những ngôn ngữ, hành vi đó là nhân của súc sanh, của thú vật. Nên ngay khi sống thì người ta đã đối đãi giống như thú vật, nhốt vào song sắt hoặc người ta xử bắn giống như đi săn.
Những điều trên để chúng ta thấy là chúng ta phải lo lắng, sợ hãi những ác nghiệp của chính mình và chúng sanh. Như có một cô đi chùa bị giật túi xách, đập đầu xuống phải may hàng chục mũi và mấy năm trước.
Chúng ta mới thấy được thật khủng khiếp như gần đây có những vụ án vào chùa cạy hết những thùng công đức, thì đó sẽ vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không có ngày ra. Nên chúng ta phải nhìn thấy được kinh sách nằm trong đời sống hằng ngày của mình, không phải chỉ đi vào chùa mở ra mới thấy kinh mà phải nhìn vào tất cả đời sống này bằng con mắt nhân quả, bằng con mắt của tội phước, bằng con mắt của thiện nghiệp, ác nghiệp, để chúng ta lo lắng, cẩn trọng lời nói của mình. Lỡ một ngày mình vô tình người đó đi đụng chút thì mình sân si, chửi nó thì nó sẽ xử mình.
Đừng nói chi là đụng với nhau, cọ quẹt với nhau, một lời nói hay thậm chí chỉ một ánh mắt nhìn thôi thì cũng chết người.
Nên những lời kinh Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya mà hai mươi năm trước Minh Thành đã học nên Minh Thành đi lên núi thì bây giờ ứng nghiệm. Đức Phật nói sau này, khi tâm ác của chúng sanh phát triển mãnh liệt thì nhìn bất cứ cái gì cũng thành vũ khí giết người. Giờ chúng ta thấy có không? Ánh nhìn mà giết người thì còn điều gì nữa? Đó là tất cả đều biến thành vũ khí, thành khí cụ để sát sanh, để gây ra ác nghiệp và bây giờ đã có.
Bây giờ quý vị đã thấy chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, mầm ác độc, hung tợn, hung hăng cùng khắp, thậm chí mất mùa, đói khát sẽ xảy ra, toàn cầu bây giờ biến động rất lớn và những gì Đức Phật nói trong kinh đều biểu hiện ra hết mà biểu hiện ra sớm hơn. Ngày xưa, trước khi Minh Thành lên núi thì nghĩ là một trăm năm nữa chắc mình chết rồi lúc đó những kinh này mới biểu hiện ra, nhưng bây giờ chỉ mới lên núi mười năm thì những cái trong kinh đã biểu hiện ra. Đây là những đề tài hết sức quan trọng cho chúng ta quán chiếu, tu tập, không phải là chuyện thời sự, mà đó chính là sự thật ngay trong hiện tại, để mình quay lại lo tu.
Chính bản thân Minh Thành, sáng hôm đó Minh Thành dẫn các thầy, các chú đi thiền hành ra bờ sông, thường thì đi ngang bờ sông bước lên cây cầu, vì thường dẫn các chú đi là vừa đi bách bộ, vừa đi thiền hành, vừa hỏi pháp để các chú trình pháp để xem tu học ra sao. Ngày đó đi lên cầu thì thấy có người nằm trên lan can cầu, nằm sóng soài trên đó nhưng trời thì lạnh lẽo, Minh Thành mới nói chú đệ tử tới hỏi xem người đó có bệnh gì không thì mình muốn giúp đỡ, mình muốn cho ít tiền để họ uống thuốc hay ăn gì đó. Thì vừa tới hỏi thì chú đó bật ngồi dậy và móc con dao ra.
Nên chúng ta thấy hết sức nguy hiểm, quý vị phải cẩn thận, khi ra đường phải hết sức chánh niệm, cẩn thận. Nhiều khi không phải lỗi tại mình, hay có khi người ta tự đụng vào mình nhưng nếu lúc đó mình không có sự khéo léo, không có tâm từ lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào mà mình lại có sự bức xúc thì có khi nguy hiểm. Nên đạo tràng Nikāya luôn tu tâm hiền, tâm từ thường xuyên và liên tục là rất quan trọng.
Nhưng không chỉ ở ngoài đường, trong nhà cũng có chuyện, nhiều khi chưa làm gì chỉ mới vừa gặp mặt là thấy khó chịu. Nên chúng ta tu tâm hiền, tâm từ là rất quan trọng, cảm thọ, cảm xúc của mình lúc nào cũng phải an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, để lúc đó mình mới tháo gỡ được những cái oan gia trái chủ. Nhiều khi trong lúc cảm giác đang bức xúc một chút thì đổ vỡ hết, hư bột hư đường, tan nhà nát cửa hết. Nhưng bây giờ những cái này rất nhiều.
Đây là những đề tài chúng ta thường ngày quán chiếu nỗi khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, để mình lo lắng mình tu. Sáng khi mình đọc báo thấy tin tức thì quán: “Đây là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh! Ráng tu nha, ráng cẩn thận, ráng hóa giải sân si, bản ngã trong này nha!” Nhắc tâm mình mỗi ngày như vậy. Đó là mình thương mình, đừng tu trong ảo tưởng, viễn vông, xa xôi ở đâu, ngay trong cảm giác của mình mà tu, ngay trong ngôn ngữ, hành động của mình mà tu, đừng ảo tưởng xa xôi, ngay trong nội tâm, những cảm xúc sân si, ta đây của mình, ngay chỗ đó mình nhiếp phục, chế ngự, mình làm cho nó lắng dịu, an tịnh, ngọt ngào. Được chỗ đó là được tất cả, còn không được thì tất cả những thứ gì chỉ là ảo tưởng.
“4. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh cộng trú với loài Người.”
Ý nói người này có giữ giới, có giảm bớt tham, sân, si và có chánh tín, chánh kiến, biết nhân quả, nghiệp báu, tội phước nên người này sanh trở lại loài người.
“Món ăn của loài người như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy” ý nói người ta làm người thì người ta ăn món của người, làm sao lại mặc đồ của âm phủ được. Chạy xe thật chứ không thể chạy chiếc xe bằng giấy được, mà đã đốt rồi thì làm sao chạy? Đức Phật giải thích rằng có những vị như vậy, biết giữ giới, biết những việc thiện, sanh lên làm chư Thiên, họ sẽ hưởng thụ những món ăn ở thiên giới, không thể ăn đồ ăn như mình, chỉ toàn thuốc độc, như sầu riêng, nho đều bị nhúng thuốc. Như lần mua nho ở nước ngoài, phải lột vỏ để ăn nhưng các đầu móng tay bị sưng vù lên. Nên chư Thiên ăn đồ ăn của thiên giới, không ăn đồ ăn thuốc độc như mình.
Đồ ăn bây giờ thật sự rất độc, phải hết sức kĩ, nên sau này trên Linh Quy tự trồng rau ăn tại chỗ, đều là rau vườn hái vào ăn, trà cũng là trà sạch, nước sạch, không khí sạch, hoàn cảnh sạch, thanh lọc tâm của mình cho sạch, thân của mình nhiễm oai nghi, giới luật cho sạch, thân tâm, ngoại cảnh thật sạch, tu phải sạch.
Nên một ngày mình trở về đây tu là một ngày thanh lọc những chất độc, mình có biết đến ba chất độc trong người mình không? Đó là tham, sân, si. Cái khiến cho tham, sân, si là thèm, ta đây, kiếm chuyện, gây sự.
Có những vị vẫn còn sát sanh, trộm cắp, tham, sân, si nên sanh vào cõi Ngạ Quỷ, là cô hồn, quỷ đói.
“5. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh... có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên. Món ăn của chư Thiên như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
6. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh... có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào vào cỏi ngạ quỉ. Món ăn của các chúng sanh ngạ quỉ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy, tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào, các bạn bè, hoặc thân hữu, hoặc bà con hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy, vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ; trú nơi đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy.”
Nếu người thân của mình là cô hồn, ngạ quỷ thì họ nhận được. Nếu người mất đó họ rơi vào đường quỷ đói, cô hồn vất vơ vất vưởng thì họ sẽ nhận món ăn của mình cúng. Họ hưởng bằng hương, mùi. Đó là rơi vào loài quỷ đói, gọi là tương ưng xứ, món ăn của ngạ quỷ.
“7. Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống ấy đã chết, không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?”
Ý câu hỏi là nếu bà con không sanh trong loài ngạ quỷ, không phải là cô hồn thì giờ món ăn đó ai được hưởng.
“- Này Bà-la-môn, các bà con huyết thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người ấy được hưởng bố thí ấy.”
Ví dụ ngày giỗ của người thân mình, nhưng người đó đã sanh lên chư Thiên, hoặc xuống loài khác, thì còn cửu quyền, thất tổ khác, rất nhiều người thì những người nào mất mà rơi vào đường ngạ quỷ thì người đó họ hưởng. Nên mình học cái này mình không biết, chỉ tưởng là cúng thì sẽ được hưởng, ai cũng hưởng.
“Các bà con huyết thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người ấy được hưởng bố thí ấy.”
Ví dụ mình cúng cho cha, cha mình tu hành, được phước báu, giữ giới, sanh lên cõi Tứ Đại Thiên Vương rồi thì ông nội hay bà ngoại, bà cố mà có những vị không biết tu, bị đọa vào những đường đó thì người đó sẽ đến hưởng. Vì đó là chỗ phụng thờ cửu quyền thất tổ thì những người đó tới hưởng.
Người này hỏi tiếp:
“- Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống đã chết, không sanh vào chỗ ấy, và các bà con huyết thống khác cũng không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?
- Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy”
Khi nãy Đức Phật đã nói sanh lại làm người chỉ bằng đất trong móng tay nhưng sanh xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là nhiều như đất trên địa cầu thì làm sao mà không có người rơi vào trong ngạ quỷ. Như vậy là có người nhận hưởng không? Nên có một số người không nghiên cứu cho tận tường, kĩ càng thì nói chết là hết, không cần cúng hay làm gì thì điều này rất nguy hiểm, là không có ân đức, không nghĩa tình, không có hiếu đạo.
Ý người này nói nếu như bà con của tôi đã chết, không có sanh trong ngạ quỷ và tất cả những người cửu quyền thất tổ của tôi, không có ai sanh trong ngạ quỷ thì món quà cúng đó là ai hưởng. Đức Phật trả lời rằng:
“- Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.”
(Bài kinh Jànussoni, XVII. Phẩm Jànussoni – 10. Chương Mười Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)
Khi Minh Thành mới về Linh Quy Pháp Ấn một thời gian ngắn, ngày đó có một đoàn này các cô chuyên đi cúng vong, bất cứ đi tới chùa nào cũng cúng vong. Cô này xin lên chùa cúng thì Minh Thành cũng cho cô cúng, lúc đó tự nhiên có một vong linh về, đột nhiên khóc nức nở, quỳ lạy van xin là “Chúng con mong muốn được quy y Tam Bảo, hết nguyên ngọn núi.” Ở chùa mới tổ chức một buổi lễ quy y, thỉnh các thầy tu trong thất ra để làm một buổi lễ. Ngày đó cũng rợn cả da gà vì cảnh tượng rất khủng khiếp, tự nhiên gió đập ầm ầm, các cánh cửa gió thổi hù hù, đang ngồi bình yên thì tất cả chư hương linh tràn ngập trên núi xin vào quy y.
Là xin về quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, quy y với các thầy trên Linh Quy Pháp Ấn. Lúc đó Minh Thành chỉ mới lên núi được ba, bốn năm, là cách đây hơn mười năm. Trong thế giới của ngạ quỷ rất nhiều, trên núi lúc xưa có những chú lên không chịu tu thì bị ném xuống từ trên giường xuống đất. Hay có những chú ngang ngạnh, cứng cỏi thì nói “Đâu? Cho tôi coi thử! Tôi không sợ ai hết! Đó giờ không thấy để tôi coi thử!” Tối đó chú đó sợ đến nỗi “vắt giò lên cổ” mà chạy.
Nên mình biết thế giới vô hình rất nhiều. Lúc đó Minh Thành mở khóa tu Nikāya gần đây, khoảng ba năm, có một chú này là tiến sĩ bên Thụy Sĩ về, dẫn một người chị ruột. Nhưng người chị này hay nói là có người gá vào. Khi cô này lên thì đã quỳ lạy khóc hết cả tiếng đồng hồ xin để được vào nghe pháp. Hỏi sao vào không được thì nói là “Con vô không được vì các vị thiên thần đứng đầy hết trong Vân Thủy Đường nên con không vô được. Thầy trụ trì cho phép thì con mới vào được.” Người đó khóc nức nở và lạy suốt một tiếng đồng hồ.
Nói về thế giới ngạ quỷ để chúng ta thấy là chúng ta làm gì chúng đều thấy hết, nên mình gạt được mấy người mắt phàm, còn quỷ thần, chư Thiên thì mình không gạt được. Mình ở chỗ khuất làm gì thì người ta thấy hết. Những tội lỗi của mình nên câu trên đọc qua thật sợ “Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.”
Là người đó chắc chắn hưởng được quả báu. Ngày trước Minh Thành đã chia sẻ mười bốn cấp độ bố thí. Đây là bài kinh Phân biệt cúng dường, bài 142 Trung Bộ Kinh tập ba. Nếu mình bố thí cho thú vật ăn, thì quý vị sẽ nhận lại được bao nhiêu phần công đức? Ví dụ mình cho nó một nắm gạo thì mình nhận lại một ngàn nắm.
“Tại đây, này Ananda, sau khi bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm phần công đức.”
Mình đừng nghĩ mình cho một gói mì thì nhận lại một gói mì, mình cho loài vật một nắm gạo thì mình nhận lại gấp một trăm lần.
“Sau khi bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có hy vọng đem lại ngàn phần công đức.”
Tức là mình cho cái gì một thì mình nhận lại gấp ngàn, đó là người phàm phu không giữ giới. Đây là chỉ nói trường hợp chung, ngoài những trường hợp đặc biệt.
“Sau khi bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức.”
Ý nói người này có giữ giới, tùy theo giới của người ta, người ta có thể thọ năm giới, tám giới hay mười giới hay mấy trăm giới của người xuất gia. Khi đó người phàm phu biết giữ gìn giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức.
Trên là người phàm phu biết giữ giới, không phân biệt người tại gia hay xuất gia, miễn là có giữ giới, thì nhận được một trăm ngàn lần.
“Sau khi bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức.”
Tức là người này tuy không phải tu chánh pháp nhưng người này tu hạnh viễn ly, rời xa tham muốn ở đời, người ta không ham danh lợi, tài sắc của thế gian, người đó sống một đời sống ly tham đối với các dục vọng ở đời. Người này vừa giữ giới cũng vừa sống ly tham thì “cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức.” Thêm một chữ “ức”, là người này tuy không tu đúng Chánh Pháp của Đức Phật mà người này giữ giới, sống đời sống ly tham, không tham danh, tham lợi, tham vật chất, tài sắc ở thế gian. Sống một cuộc đời viễn ly, rời ra tham muốn ở thế gian. Công đức mình bố thí cúng dường cho vị đó thì nhận lại trăm ngàn ức lần công đức.
“Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức.”
Các vị trên con đường chứng quả Dự lưu là ai? Là những vị này tu đúng Chánh Pháp, nhìn thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si và vị này tâm tâm niệm niệm muốn rời xa sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Dù cho cảnh giới chư Thiên, Tứ Đại Thiên Vương, Tam Thiên khi nãy thì các vị này cũng không muốn sanh về đó mà các vị này hướng đến việc chấm dứt sanh tử, đạt được Niết-bàn, muốn lìa xa thân xác như vầy, những cảm giác, suy tư, nghĩ tưởng, nhận thức, muốn rời xa khỏi ngũ uẩn thì tâm mạnh mẽ hướng đến đó gọi là các bậc hướng Dự lưu Thánh quả, tức là hướng sơ quả. Cúng dường cho những vị này không tính bằng con số được, mà là vô số vô lượng công đức.
Chúng ta nghĩ trong thời nay được mấy người tu theo điều này? Muốn lìa xa đối với sắc, đối với những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức trong tâm, lìa xa đối với ngũ uẩn. Dù cho ngũ uẩn của chư Thiên cũng không ưa thích, chỉ mong muốn ái diệt. Đó là bậc bước vào hàng Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh, là đệ tử chính quy, chính thống của Đức Phật.
Còn người dù cho có hình thức tu sĩ, tu bao nhiêu năm nữa mà không có tâm hướng tới sự rời xa sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì người đó chưa phải là đệ tử chính thống của Đức Phật. Điều này rất sâu sắc. Đây là bậc thấp nhất trong Bốn Đôi Tám Chúng.
Bốn Đôi là A-la-hán, Vô Sanh, Bất Lai là quả thứ ba, Nhất Lai là Thánh quả thứ hai, Thất Lai là Thánh quả thứ nhất. Bốn Bậc hướng đến địa vị đó là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Bốn vị này là bốn quả và bốn bậc hướng đến bốn quả này gọi là bốn đạo bốn quả, đạo là đang đi, chưa đến, quả là đã tới, nên mới gọi là Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh, chức vị này mới được chứng thống là đệ tử của Đức Phật.
Nên không dễ dàng làm đệ tử của Đức Phật, khi mình gieo duyên, mình học, mình tu để thấy đó là đệ tử chính thống. Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh này Đức Phật nói là ruộng phước vô thượng của chư Thiên và loài người. Chỉ cần mình gặp các vị đó một lần và mình lễ lạy, cúng dường, gieo duyên lành được phước đó thì không thể tính bằng con số vì các vị này không còn muốn danh lợi trong ngũ uẩn nữa mà chỉ muốn rời ra, tâm đó là tâm vô lượng. Còn những người còn muốn sanh này sanh kia, hưởng nọ thì đó có số dù tốt cỡ nào thì cũng còn số lượng, còn những vị này là tâm vô lượng.
“Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Độc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác?”
(Kinh Phân biệt cúng dường – Trung Bộ Kinh)
Đó là mười bốn bậc cấp độ của sự cúng dường. Vì theo trình tự thuyết pháp của tất cả Chư Phật thì khi gặp người Phật tử Đức Phật sẽ nói thí và giới, là hai pháp quan trọng nhất của người cư sĩ, bố thí và giữ giới. Những pháp cao thượng của Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo là sau khi người đó thuần thục và có tâm hướng thượng thì Đức Phật mới nói điều đó. Phật tử mình giờ đã giỏi, Tứ Đế, Bát Chánh Đạo đều thuộc lòng nhưng chỉ là thuộc suông, nhưng còn nếu thấy đúng được Chánh Kiến thì đã vào Dự lưu thứ nhất, Chánh Kiến là thấy được ngũ uẩn.
Nên đó là tại sao trong những khóa tu Nikāya Minh Thành thường cho các vị nhận diện ngũ uẩn cũng vì lý do đó, giúp cho các vị thành tựu Chánh Kiến. Khi quý vị thấy được thân tâm của mình một cách xác thực, đầy đủ năm khía cạnh của hình hài, cảm giác, suy nghĩ, của những tưởng và nhận thức, thì quý vị mới bắt đầu nhìn ra được những tham, sân, si, bản ngã bên trong vận hành. Khi quý vị nhìn ra được những tham, sân, si, bản ngã, cấu uế thì quý vị mới nỗ lực nhiếp phục, chế ngự, mới đi đến con đường đúng đạo lộ của Đức Phật.
Nếu không nhìn ra được ngũ uẩn thì quý vị chỉ tu hướng ngoại bên ngoài, làm một chút phước ở trong sanh tử, không đi ra khỏi sanh tử. Dù sanh ở đâu thì cũng ở trong vòng luân hồi sanh diệt.
III. Chánh Kiến về Bố Thí 2
Tiếp theo là những bài kinh rất xúc động, nói về Đức Phật khuyên một ông già nghèo bán củi đi bố thí, chúng ta sẽ thấy được từ tâm của Đức Phật rất vi diệu. Kèm theo Đức Phật giải thích làm sao bắt đắt bắn ế.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, bài kinh Người bán củi.
“1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn ở Nàdika, tại giảng đường bằng gạch. Bấy giờ có gia chủ bán củi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với người bán củi đang ngồi xuống một bên:
2. - Này Gia chủ, trong gia đình Ông có bố thí không?
- Bạch Thế Tôn, trong gia đình con có bố thí. Những Tỷ-kheo là vị sống ở rừng, theo hạnh khất thực, mặc áo lấy vải lượm từ đống rác, bậc A-la-hán, hay thực hành A-la-hán đạo, những Tỷ-kheo như vậy, bạch Thế Tôn, đều được bố thí.
3. - Nhưng chắc chắn, này Gia chủ, đây thực là một sự khó khăn cho Ông, một người tại gia thọ dụng các dục, bị con cháu trói buộc, được dùng hương chiên đàn từ Kàsi, được đeo và thoa với vòng hoa, hương, hương liệu, được tiêu dùng vàng và bạc để có thể nói là bậc A-la-hán, ai là bậc thực hành A-la-hán đạo.”
Ý câu nói là làm sao ông gia chủ ấy biết được ai là Thánh ai không phải là Thánh. Ông còn gia đình, ông còn đeo vàng bạc, trang sức, ông còn hưởng ngũ dục, ông còn đam mê với thế gian thì làm sao ông biết được ai thật sự là bậc Thánh, ai đang đi trên con đường Thánh.
Tiếp theo thì Đức Phật phân tích cho gia chủ này biết thế nào là một vị chân tu nên cúng dường và những vị không phải chân tu.
“Tỷ-kheo trú tại rừng núi, này Gia chủ, nếu tháo động, kiêu căng dao động, lắm mồm, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng, thời vị ấy về phương diện này đáng bị chỉ trích.”
Là dù ở rừng ở núi nhưng tâm tháo động, kêu căng, dao động, lắm mồm, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng thì như vậy đáng bị chỉ trích. Nếu ở rừng núi nhưng không có những đức tính đó thì đáng được tán thán, Đức Phật không nói là đừng cúng.
“Này Gia chủ, nếu Tỷ-kheo trú ở rừng núi, không tháo động, không kiêu căng, không dao động, không lắm mồm, lắm miệng, không lắm lời, chánh niệm, tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, với các căn được phòng hộ, thời vị ấy về phương diện này đáng được tán thán.”
Nếu như trên thì mới đáng được tán thán.
Tiếp theo Đức Phật phân tích cho gia chủ bán củi này biết những người chân tu và những người không phải là chân tu:
“Nếu Tỷ-kheo sống ở cuối làng, này Gia chủ, tháo động, kiêu căng... các căn thả lỏng; vị ấy về phương diện này đáng bị chỉ trích.
Nếu Tỷ-kheo sống ở cuối làng, này Gia chủ, không tháo động, không kiêu căng... các căn được phòng hộ, thời vị ấy về phương diện này đáng được tán thán.
Nếu vị Tỷ-kheo theo hạnh khất thực, này Gia chủ, nhưng còn tháo động, kiêu căng... đáng bị chỉ trích.
Nếu Tỷ-kheo theo hạnh khất thực, này Gia chủ, nhưng không tháo động, không kiêu căng... đáng được tán thán.
Nếu Tỷ-kheo nào nhận lời mời, này Gia chủ, nhưng còn tháo động... đáng bị chỉ trích.
Nếu Tỷ-kheo nào nhận lời mời, này Gia chủ, nhưng không tháo động... đáng được tán thán.
Nếu Tỷ-kheo nào mặc áo lấy vải lượm từ đống rác, này Gia chủ, nhưng còn tháo động... đáng bị chỉ trích.
Nếu Tỷ-kheo nào mặc áo lấy vải lượm từ đống rác, này Gia chủ, nhưng không tháo động... đáng được tán thán.
Nếu Tỷ-kheo nào mang y từ người Gia chủ cúng, nhưng còn tháo động....đáng bị chỉ trích.
Nếu Tỷ-kheo nào mang y từ người Gia chủ cúng, nhưng không tháo động....đáng được tán thán.
Tuy vậy, này Gia chủ, hãy cúng dường chúng Tăng. Nếu Ông cúng dường chúng tăng, tâm sẽ được tịnh tín. Nếu Ông có tâm tịnh tín, lúc thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.”
Đức Phật nói “hãy cúng dường chúng Tăng” thì tâm sẽ có lòng tin thanh tịnh, trong sạch. Nếu có được lòng tin đó thì lúc ông ấy chết sẽ được sanh lên cõi lành, cõi người hay là trở lại cõi đời này.
“- Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ hôm nay, con sẽ bố thí cúng dường chúng Tăng.”
(Bài kinh Người bán củi, VI. Đại Phẩm – II. Phẩm Trên Tất Cả - Chương Sáu Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)
Tiếp theo là lời Ngài Xá-lợi-phất hỏi Đức Phật, Ngài ấy là tướng quân Chánh Pháp, đại trí tuệ trong Thánh chúng hỏi Đức Phật:
“1. Rồi Tôn giả Sàriputta ... ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, đi đến thất bại?
- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, có hạng người, do buôn bán như vậy, không thành tựu được như ý muốn?
- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, thành tựu được như ý muốn?
- Do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng người do buôn bán như vậy, lại được thành tựu ngoài ý muốn?”
Như vậy, có bốn cấp độ: Một là thất bại, hai là không thành tựu được như ý muốn, ba là thành tựu được như ý muốn, bốn là thành tựu được ngoài ý muốn.
Sau đó, Đức Phật giải thích nguyên do làm sao làm ăn thất bại, làm ăn không được như ý muốn, làm ăn được như ý muốn và hơn cả ý mình muốn.
“2. - Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Samôn hay Bà-la-môn và hứa hẹn như sau: "Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ", nhưng người ấy không cho như đã được hứa. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán đi đến chỗ thất bại.”
Việc này Minh Thành cũng gặp nhiều, Minh Thành không kêu gọi, người ấy tự đi đến, xong rồi lại hứa hẹn đủ thứ như làm đường... Đây là điều mình nên hết sức cẩn thận, cũng cho các người doanh nhân, làm ăn biết điều này là đừng nên nói, nhưng khi xét cho kĩ thì nói nhưng phải làm. Không chỉ ở trong chùa mà ở ngoài đời cũng vậy. Ví dụ ở đó mình muốn “Để tôi cho từ thiện hai trăm phần!” Nhưng lúc về thì ra sao? Dù nhớ không quên nhưng không làm.
“Không cho như đã được hứa” thì người này sau này sau khi chết, dù cho sanh ở chỗ nào thì dù cho làm buôn bán ở nghề gì thì buôn bán đi đến chỗ thất bại.
Tiếp theo là không thành tựu được như ý muốn:
“3. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như: "Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ", nhưng người ấy không cho như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy không đi đến thành tựu như ý muốn.”
Tức là ví như khi nãy nói cho hai trăm phần nhưng giờ rút lại chỉ cho một trăm. Hay là hứa cúng gì đó nhưng sau đó chỉ cúng một nửa hay một phần ba. Hạng người thứ hai này là thành tựu không được như ý muốn, tức là người này không cho như đã quyết định muốn cho.
“Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy không đi đến thành tựu như ý muốn.” Là cũng có thành tựu nhưng không như ý muốn, vì lúc mình làm điều thiện thì mình làm không đúng như những gì mình đã quyết định, đã hứa. Bên trên là không cho như đã được hứa, bên dưới là không cho như đã quyết định muốn cho.
“4. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như sau: "thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ". Và người ấy cho như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung, đi đến chỗ này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy đi đến thành tựu như ý muốn.”
Tức là nói ra sao thì làm giống vậy, phát thiện tâm ra là làm đúng như vậy. Nên khi mình làm phước thì mình cũng phải suy xét cho kĩ để mình quyết định phải làm đúng vậy. Vì phước cũng có nhân quả, lớn nhỏ, vừa thấp của nó. Nợ cũng vậy, mình vay nhiều thì lãi nhiều, vay vừa lãi vừa còn vay ít lãi ít. Phước cũng vậy, mình làm nhiều thì nhân lên bao nhiêu số, hàng trăm, hàng ngàn, trăm ngàn, trăm ngàn ức, vô lượng vô số.
“5. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như sau: "Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ", và người ấy cho hơn như đã quyết định muốn cho. Nếu từ chỗ đấy mạng chung đi đến chỗ này, dầu người ấy có buôn bán gì, buôn bán như vậy được thành tựu ngoài ý muốn.
Này Sàriputta, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy đi đến thất bại. Đây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, không thành tựu được như ý muốn. Đây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người, do buôn bán như vậy, thành tựu được như ý muốn. Đây là nhân, đây là duyên, này Sàriputta, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy được thành tựu ngoài ý muốn.”
(Bài kinh Buôn bán, VIII. Phẩm Không Hý Luận – 4. Chương Bốn Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh Tập 1)
Có rất nhiều bài kinh Đức Phật bố thí cho người cư sĩ, đây là tất cả bài kinh trong tạng kinh Nikāya về chuyên đề bố thí. Nếu có duyên, lần sau chúng ta sẽ học tiếp về một người có bố thí khi đi tu, ở ngoài đời, sanh lên trời hay đi vào các Thánh quả cũng sẽ khác với người không bố thí. Đức Phật sẽ phân tích cho chúng ta rất rõ.