Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Sự vận hành của tâm 3 - Tu Khi Quét Rác - Nghe La Rầy

2026-03-03 00:53:39
Sự Vận Hành Của Tâm 3

Tu Khi Quét Rác – Nghe La Rầy

Thích Minh Thành

Ngày 24 tháng 03 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thường trực nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc101106803 \h 1

II. Không dễ chịu không khó chịu PAGEREF _Toc101106804 \h 4

I. Thường trực nhận diện ngũ uẩn

Kính thưa quý thầy quý cô, có ai xung phong nhận diện những gì mà mình đã học được hôm qua, có ai cho được ví dụ về ý căn, pháp trần, ý thức. Minh Thành muốn các thầy cô nắm thật vững căn bản trí nên không vội học những bài kinh mới, cao sâu, rộng lớn.

Mình nghe lý thuyết, hiểu biết qua rồi nhưng sau đó không xài được. Nên phần căn bản trí phải nắm thật vững chắc, giống như mình học sinh ngữ, đầu tiên là giai đoạn ráp vần, phiên âm và cấu trúc ngữ pháp, nếu mình không nắm vững thì sau này không có căn bản, nền tảng. Cũng vậy, phần căn bản trí này là nền tảng, gốc rễ ở trong sự pháp học và pháp hành của chúng ta.

Chính vì vậy nên chúng ta không vội đi vào các bài kinh lớn, nhất là giai đoạn dịch bệnh này chúng ta gặp nhau trực tiếp rất khó, nên những buổi gặp mặt được thì Minh Thành thường hay hỏi để cho các thầy cô trình pháp, làm bài tập, thực tập, cũng như là có những nghi vấn thực trong môn học, trong pháp học và pháp hành của mình, mình nên lên… Đó là dụng ý của Minh Thành khi cúng dường pháp cho chư tăng ni.

Nên các vị khi đứng lên trình pháp và chia sẻ thì đừng ngại, cứ việc nói lên chỗ nào chưa chính xác thì con sẽ giúp chỉnh lại.

03:20-06:14: sư thầy trình pháp…

Như vậy là thầy nhận diện ngũ uẩn trong khi quét rác. Vậy khi thầy quét rác, mình không những quét những rác bẩn bên ngoài mà mình còn phải cố gắng quét những cấu uế, rác bẩn, tham, sân, si bên trong thì như vậy quét của mình mới là quét trọn vẹn, quét có ý nghĩa, quét đúng trong sự tu tập. Thì suy nghĩ đó thầy gọi là gì?

“Suy nghĩ đó con gọi là hành như khi con chú ý đến thì đó là ý căn.”

Chúng ta để ý chỗ này, suy nghĩ đó là hành, nhưng trong suy nghĩ đó thầy có chủ động suy nghĩ không?

“Dạ có”

Đó gọi là tác ý. Cần nhớ kĩ điều này, khi ý nghĩ tự suy nghĩ thì đó gọi là hành uẩn, nhưng mình chủ động suy nghĩ thì đó gọi là tác ý.

Tác ý là mình chủ động, mình tác động tâm ý của mình “Này, không phải quét những lá này là xong, mình là người xuất gia, mình phải quét được những tham lam, nóng giận, si mê, bản ngã nha tâm. Không phải chỉ lo quét sạch bên ngoài mà bên trong cấu uế, dơ bẩn. Phải nhớ nha!” Đó trở thành như lý tác ý.

Mặt khác, đang quét thì bên trong sinh bực bội “Tại sao không kêu người kia quét mà kêu tôi quét? Hôm nay tới lượt người đó, tới huynh kia mà giờ bắt tôi?” Sau đó bên trong vận hành theo phi như lý tác ý.

Nên các pháp hành của chúng ta là như vậy, chúng ta vận dụng vào trong sinh hoạt hằng ngày để chúng ta thấy pháp hiển lộ lên hết. Hành là suy nghĩ mà mình không chủ động, tự động bên trong tiếp xúc và sinh ra suy nghĩ, còn mình chủ động suy nghĩ, dẫn dắt suy nghĩ của mình đúng theo pháp thì đó gọi là như lý tác ý, còn nếu phi theo pháp là phi như lý tác ý. Suy nghĩ sai Chánh pháp và suy nghĩ đúng Chánh pháp, suy nghĩ sai sự thật và suy nghĩ đúng sự thật, suy nghĩ đưa đến ly tham, lìa sân, lìa si và suy nghĩ làm tăng trưởng lên tham, sân, si.

10:25-11:35: thầy trình pháp

Khi thầy quét rác, mình nhận diện thân tâm các pháp, tu tập, quán chiếu trong khi quét rác. Nên khi chúng ta quét rác, ngoài việc phải để ý bên ngoài phải quét cho sạch thì chúng ta lại để ý vào bên trong nội tâm. Tuy là tay mình quét nhưng mình dùng mắt tâm nhìn vào bên trong thấy cảm thọ như thế nào, cảm giác lúc đó ra sao, cảm giác khi đang quét có dễ chịu, có lắng dịu không? Hay là quét trong sự thúc giục “Lẹ lẹ đi vào ăn sáng, lẹ lẹ đi uống trà, lẹ lẹ đi đâu đó!” Và nếu mình phát hiện ra nó có cảm giác thúc giục, mình phải biết rằng giục đang có mặt, lúc này mình phải kêu cảm giác này “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu!”

Mình kêu cảm giác thúc giục đó lắng dịu, an tịnh xuống, dễ chịu và mình tiếp tục quét trong sự an tịnh, lắng dịu. Như vậy là chúng ta sử dụng ý căn để ý vào trong cảm thọ, để ý vào trong tưởng. Vì nếu khi quét mà nó thúc giục thì đó là tưởng gì giục mình “lẹ lẹ đi vào châm bình trà!”? Nên thọ, tưởng, hành luôn đi chung với nhau. Sự tu học của chúng ta tất cả đều là để ý vào trong thọ, tưởng, hành, không phải để ý ngoại cảnh. Đó là mình thấy được cảm giác thúc giục.

Thêm một ví dụ khác, khi mình để ý trong tâm có một cảm thọ bực bội, quét nhưng lại bực bội. Hình bóng của người sư đệ hiện ra, thấy ghét vì “Giờ này còn ngủ, đi đâu đó hay làm gì đó để cho tôi làm! Đúng ra là của ổng, không phải của tôi, tự nhiên giờ bắt tôi ra đây!”

Chúng ta thấy rằng khi mình để ý lại thì có cảm giác sân, khó chịu, bức xúc thì mình nói “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào! Giờ mình làm thế sư huynh, sư đệ của mình thì làm mình có thêm công đức. Người đó có công việc đi về hay bị bệnh thì sau này mình bị bệnh, mình có công việc thì có người thế lại cho mình, tại sao mình bực bội? Tại sao mình lại khó chịu trong công việc sinh ra phước đức này?” Mình tác ý như vậy và phải có sự chủ động tác ý như vậy thì đó mới gọi là tu, còn mình cứ để nó diễn biến sao thì để như vậy thì mình không có tu.

Hoặc khi mình để ý trong tâm mình, đang quét thì có khởi lên cái tôi “Tôi quét là sạch nhất, mình phải quét làm sao để cho mọi người nhìn vào biết là mình quét sạch nhất trong chùa này.” Đó là làm nhưng bên trong là bản ngã. Chúng ta thấy thật dễ sợ, nếu mình không nói ra, mình không để ý thì không ai biết được, nhưng thầm ý bên trong suy nghĩ này, hình bóng về tự ngã, cảm giác tôi bên trong là “Tôi làm sao để hơn hết tất cả người trong này, không ai làm bằng tôi. Để người khác nhìn vào thấy rằng tôi làm là sạch nhất, đẹp nhất!” Làm đó thể hiện bản ngã, không phải làm đó thể hiện tu tập, ngay lúc đó mình phải tác ý: “Đọc bài Sám hối diệt ngã chưa?”

Trong quyển Nghi thức tu học Nikāya có bài Sám hối diệt ngã, mọi người nên đọc thật kĩ bài đó thì mình mới có được vốn liếng để như lý tác ý, mình dẹp tan bản ngã hư danh, hư ảo này “Tôi ở đâu, ta ở đâu mà hơn người, bằng người, thua người? Đây chỉ là đống tứ đại, đây chỉ là những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, đây chỉ là mớ tổ hợp của năm nhóm duyên sanh, không có cái ta, cái tôi ở đây.”

Mình trở về pháp quán “Thân này như đống rác, thân này như đồ dậm chân. Ai hơn, ai thua, ta nào ở đây?” Mình phá ý nghĩ tôi ta, hơn thua, cao thấp này, mình kêu nó về trạng thái an tịnh, lắng dịu, trở về cảm giác khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhường, trở về cảm giác trống rỗng, trống không, vô ngã. Đó là đang tu tập khi đang quét rác, đó là pháp hành.

Chúng ta phải tập nhận diện, nói ra, trình bày như vậy nên những môn của Minh Thành giảng dạy thì khi thi luôn luôn có câu “Vận dụng vào đời sống tu học, sinh hoạt, thường nhật”. Câu trước là dẫn chứng lời kinh của Đức Phật, không được tự ý nói ra, diễn giải lung tung, câu thứ hai luôn là “Vận dụng pháp của Phật vào đời sống tu học, sinh hoạt, thường nhật”. Không có đó thì xem như mình học không có lợi ích gì, chỉ có kiến thức như học văn hóa ở đời, cần vận dụng vào đời sống sinh hoạt trong chùa, trong thiền môn, trong tu tập.

19:50-21:29: sư cô trình pháp

II. Không dễ chịu không khó chịu

Chúng ta tu một thời gian thì chúng ta rơi vào thời gian trơ, bất khổ bất lạc, trở thành vô cảm đối với pháp. Chúng ta nhớ ngày mình vừa cạo tóc, đắp y nó thần thánh ra sao, ngày mình cùng với đại chúng tu học tụng kinh, ngồi thiền, lúc đó cảm thọ ra sao? Có tuyệt vời không? Nhưng mình tu qua một thời gian thì lại thấy bình thường, đơ đơ, trơ trơ.

Hay như ngày mình mới vào lớp giảng sư học, ngày mới vừa ngồi học với các giáo thọ, các bậc tôn đức lên giảng thì lúc đó cảm thọ của mình ra sao? Giờ khi đã học thì ra sao?

Tức là khi đã trải qua một thời gian thì trở thành đơ, trơ, nhàm, chán, điều này mình không biết tu tập thì Đức Phật gọi là dừng lại, lùi lại hoặc là lùi lại đối với thiện pháp. Một là dừng lại, không tiến nữa, hai là lùi lại, ba là rơi xuống, thoái đọa.

Vậy làm sao để chúng ta tránh khỏi những điều này? Phải sử dụng nhiều phương pháp, nhưng phương pháp căn bản trong tất cả phương pháp vẫn là phương pháp như lý tác ý.

Ví dụ một thầy trình pháp là: thầy đó đi dự đám tang, đến lúc trở về thì người đó bị covid thì thầy tụng kinh, niệm Phật nhiều hơn thường, tăng giờ tu lên. Tại sao thầy đó làm như vậy? Vì thầy đó suy nghĩ “Biết đâu vài ngày nữa là mình đi rồi!” Suy nghĩ đó là như lý tác ý, còn nếu đi đám tang bình thường về và không nói thì thầy đó có tăng lên mấy thời không? Như vậy, động lực để mình tinh tấn, tinh cần, nỗ lực tiến lên là vì suy nghĩ của mình tương ưng với sự thật, với vô thường, khổ, vô ngã. Và suy nghĩ tương ưng với sự thật là như lý tác ý.

Vậy nên Đức Phật đã dạy mình: văn, tư, chỉ, quán và đàm luận, phải nghe pháp thường xuyên, phải tư duy, quán chiếu và nghiền ngẫm. Sau khi nghe thì không phải nghe xong là thôi, mà phải ghi chép, nghe tới lui, ghi chép, ghi bằng âm thanh, ghi bằng chữ, xong rồi về lại nghe tới nghe lui, đọc tới, đọc lui, chép qua chép lại, sau đó là chỉ quán, đàm luận và thảo luận pháp đó.

Ví dụ như hôm qua mình học là để ý lại bên trong thì mình sẽ thấy được thọ, tưởng, hành, như vậy thì mình về phải ngồi thiền, không phải nghe xong là “Tôi hiểu rồi” tuần sau lại quên hết. Nên mình về nên ngồi yên tĩnh, mình để ý vào trong, mình xem thọ, tưởng, hành ra sao. Giờ mình phải quán, sau khi mình để ý vào trong, tâm an tịnh lắng dịu rồi mình nhìn xem nó hoạt động ra sao.

Nên chúng ta học trong Căn bản trí bài tiếp theo Đức Phật dạy tỉnh giác Chánh niệm là gì? Đó là:

“Ở đây, này các Tỷ-kheo,

- Tỷ-kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt;

- Rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt;

- Rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm

chấm dứt.

Này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác.”

(Bài kinh Tôn giả Nanda, Chương Tám Pháp, Tăng Chi Bộ Kinh)

Khi tâm mình hướng tâm về chỗ nào thì mình phải biết nó đang hướng tâm về chỗ nào.

Ví dụ như đang ngồi đây nhưng hướng ra ngoài, chỉ nghe một tiếng còi xe hay một tiếng động liền quay sang nhìn, nhiều khi không quay nhưng trong tâm cứ hướng ra ngoài xem là cái gì, suy nghĩ “Không biết cái gì đang diễn ra!” Đó là pháp mất, tâm hướng ra ngoài nên đó gọi là tầm.

Tầm là sự hướng tâm, truy tầm tìm cầu. Như vậy, chánh niệm tỉnh giác là biết rõ thọ sanh khởi, đang an trú, chấm dứt như thế nào. Hay tưởng sanh khởi như thế nào, biết rõ khi tưởng sanh khởi, an trú, chấm dứt. Biết rõ khi tầm sanh khởi, tâm mình đang hướng về đâu.

Như vậy, mình nhận diện các pháp nhờ tâm, thân an tịnh, đình chỉ, dừng lặn. Khi thân yên, tâm an, trí quán mình bắt đầu sâu sắc, sáng tỏ, nó nhìn sự khởi động, vận hành, guồng máy hoạt động bên trong như thế nào. Lúc đó mình mới biết được cơ cấu, guồng máy, sự vận hành của ngũ uẩn, đó gọi là hành tướng của ngũ uẩn.

Hành là sự vận hành, tướng là tướng trạng của nó, tướng trạng vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đó là nhờ một thân tâm an tịnh, lắng dịu, một trí tỏ tường, sáng suốt nội soi. Khi đó mình phát giác, phát hiện những cấu nhiễm, lậu hoặc trong tâm, mình mới có khả năng chế ngự, nhiếp phục và đoạn tận, tẩy sạch.

Mình phải phá cảm thọ đơ đơ, trơ trơ, bất khổ bất lạc này. Những điều này Minh Thành đã từng chia sẻ, quán chiếu thâm sâu về cảm thọ, chỉ ra cách phá đi cảm giác bất khổ bất lạc. Đức Phật đã dạy mình quán ba cảm thọ: quán cảm thọ vui, quá cảm thọ khổ, quán cảm thọ không vui không khổ là gì?

Những điều này rất quan trọng, không nắm được những căn bản trí tuệ này là khi các cảm thọ tham, sân, si sanh khởi thì minh không biết cách giải thoát. Bài kinh Quán kiến trong Tương Ưng Bộ: “Quán lạc thọ là khổ, quán khổ thọ là quán bất khổ, bất lạc thọ là vô thường.”

Minh Thành mong các thầy các cô nghe cho kĩ, viết và đọc lại cho kĩ, tập nhận diện thật kĩ, không bao giờ quên những cái này, đây là Thánh trí tuệ của Đức Phật, là gia tài của Ngài trao cho mình, đây là thừa tự pháp.

Giờ chúng ta nhấn mạnh vào cảm giác đơ đơ, bất khổ bất lạc. Tại sao quán cảm giác vui mà lại khổ? Quán như vậy mình có tưởng tượng không? Mình đang vui nhưng sao Đức Phật lại nói quán cái vui đó là khổ?

“Vui trong tham dục vui là khổ,

Khổ để tu hành khổ quá vui

Nếu biết có vui là có khổ,

Thà rằng đừng khổ cũng đừng vui.

Mong sao giữ tánh không vui khổ,

Mới thoát ra ngoài lối khổ vui.”

Vậy nên phải học trong tạng kinh Nikāya mới biết được căn nguyên, Đức Phật nói “Kẻ vô văn phàm phu cảm thọ một cảm giác khổ giống như người bị trói buộc, cảm thọ một cảm giác vui cũng giống như người bị trói buộc.”

Khi chúng ta nghe câu kinh thì thấy đơn giản nhưng chúng ta chiêm nghiệm, tư duy thì rất thâm sâu. Khi mình cảm xúc một cảm giác vui sướng, hạnh phúc thì mình có bị trói buộc trong cảm giác đó không? Đó là bị trói buộc trong ba cảm thọ.

Ví dụ như khi ăn một món rất ngon thì vào bếp hỏi món này nấu ra sao, mua đồ ở đâu, muốn lặp lại cảm thọ đó, bị cảm thọ đó trói buộc. Hay khi đến chùa của người ta thấy hòn non bộ hay bộ bàn ghế, giường, cây cảnh ở đó thì khen “Đẹp quá! Giờ tôi cũng muốn chùa của tôi cũng giống vậy!” Đó là bị dính mắc, trói cột, tham. Chúng ta thấy điều này có vi tế không? Chúng ta có bị nhiều không? Mình bị hình ảnh đó ám ảnh, hình ảnh bộ bàn ghế, vườn cây cảnh đó, hình ảnh thiết kế đó.

Đến ở ngoài xã hội, heroin là cảm giác lạc hay khổ? Đua xe là sướng hay khổ? Chúng ta phải quán chiếu, quán xét cảm giác vui sướng đó là khổ đau. Heroin, đua xe, nhậu nhẹt, hút thuốc lá, cờ bạc, tình cảm nam nữ gây hệ lụy tự tử, nhảy sông, nhảy lầu, tương tư… Vậy nên quán lạc là khổ đau.

Ngấm vào Thánh trí tuệ này phải được chứng nhập, thể nhập, không bao giờ được quên, từ đây cho đến ngày chết. Khi nhìn thấy cái nào vui thì trong bụng như lý tác ý: “Khổ đó nha con! Nhào vô kiếm ăn để rồi mũi ăn trầu đầu xỉ thuốc nha con! Sầu bi, khổ, ưu não nha con! Đừng ham!” Nên thấy của mình mới là cái thấy nghịch lưu, ngược dòng, ngược đời, mới gọi là tri kiến của bậc Thánh, những cái thế gian vui sướng, mong muốn, thích thú, thèm thuồng khao khát, mà mình nhìn thấy đó là khổ đau, là hố than hừng, đống lửa, căn nhà lửa, là tai họa, hiểm họa, là nguy nan, khổ ách, khổ nạn. Phải nhìn thấy được như vậy, đó được gọi là cái nhìn của Thánh trí tuệ, của tri kiến bậc Thánh, của thượng nhân, Thánh trí. Đó mới gọi là học Phật, gọi là “di tuệ thị nghiệp”.

Quán của mình cần phải thường xuyên, liên tục, hết giờ này qua giờ khác, hết ngày này qua ngày khác, hết tuần này qua tuần khác, hết tháng này qua tháng khác và phải kiên trì mãi, không nản chí, hết năm này qua năm tháng thì dần dần sẽ thể nhập, đến một lúc thực chứng pháp, thể nhập Thánh trí.

Quán khổ, cảnh khổ thì người ta muốn lẩn tránh, chối bỏ, không muốn đối diện với khổ nhưng trong mùa dịch, Minh Thành giảng về khổ thì các Phật tử chia sẻ “Thầy ơi, con khổ quá mà giờ thầy giảng khổ nữa!”. Đó là bài Khổ Thánh Trí có mười một buổi giảng, mỗi buổi hai tiếng. Đó là khổ mà Đức Phật dạy trong kinh Nikāya là trùm hết căn trần thức, xứ giới uẩn, đó là Khổ Thánh Trí. Tại sao đã khổ mà giờ mình lại phanh phui hết tất cả góc độ, khía cạnh của khổ đau như vậy? Vì chỉ có thấy khổ, thấm khổ thì mình mới có thể thoát khổ, bản chất của ngũ uẩn là khổ. Vì vô minh và tham ái nên mình không thấy khổ, chừng nào tới quả của khổ thì mình mới kêu trời, khóc lóc còn nhân của khổ thì mình không thấy.

Vậy nên mình phải quán khổ là mũi tên ghim vào tim của mình. Khi gặp cảnh khổ còn quán thêm, đúng đây là mũi tên đâm vào tim làm nhói tim, đau tim, thủng tim, rỉ máu. Vì mang sắc thân này là chịu khổ đau, lo lắng, bất an, sợ hãi, khổ sầu, có những cảm thọ sanh khởi lên mãi, những đòi hỏi, thèm thuồng, tức giận, ta đây hoài làm mình khổ.

Tiếp đến là những hình bóng tham ái, tham dục, ảo ảnh, ám ảnh trong tâm, nó cứ đòi điều này, muốn cảnh đẹp, muốn người đẹp, đồ đẹp, chùa đẹp, xe đẹp… Nó cứ muốn và ám ảnh những hình ảnh này hoài nên cứ tham, dục, ái, đòi hoòa thì đó là khổ. Những hình bóng, suy nghĩ đó là khổ, mình không thấy được đó là khổ thì đó mới là Thánh trí, thấy được sự thúc giục trong suy nghĩ đòi hỏi, thèm thuồng, khao khát, thiếu thốn bên trong, nhìn để ra được cảm thọ của khát ái - đây là hai chữ rất thâm sâu, vô lượng.

Khát ái là khao khát, đói khát, thèm khát. Chữ ái trùm khắp cả Trái đất này, gồm có sáu ái: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Chúng ta yêu, thích, ham, khoái, thèm, muốn đủ thứ rồi mình khổ đủ thứ. Không phải chỉ nói “Tôi thèm ăn thôi, tôi không thèm gì nữa hết!” Chưa hẳn là vậy, vì đó là xúc ái. Hay ví dụ như có người nói “Tôi không có ghiền gì, chỉ có nhạc là tôi bỏ không được!” Đó là thanh ái. Hay “Đi tu nhưng thích gì cũng phải đẹp, xấu không được!” hay tu nhưng phải xả bằng comfort hay này nọ kia chứ không thì không chịu, đó là hương ái. Thức ăn là xúc ái, có sáu xúc, là thích nhìn, nên khi bị nhốt trong nhà cách li thì chịu không nổi, thà ra nhiễm nhiễm, chết chết nhưng cũng phải đi ra, đó là xúc thực.

Thích nhìn, thích nghe, thích ngửi, thích nếm, thích tiếp xúc, đụng chạm. Hay ngồi thiền chịu không nổi mà nghĩ cái này cái kia cái nọ, đó là pháp ái. Pháp là thọ, tưởng, hành, là mình yêu thích cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bên trong tâm của mình. Nhưng bỏ cha mẹ được, bỏ sự nghiệp, tài sản quê hương được nhưng hình bóng trong tâm lại không bỏ được. Đó là bị tưởng ám ảnh.

Khi mình đối diện với nội tâm của mình rồi thì mình mới thấy tâm này vô lượng, vô biên, vô cùng, vô tận, bí mật vô hạn vô cùng, vô lượng, vô biên kiếp. Tâm mình không đơn giản chút nào, mình tưởng là “Tôi hiểu biết hết! Tôi hay lắm!” nhưng không, mình vẫn chưa hiểu tâm mình được bao nhiêu. Nó đang nuôi dưỡng những hình bóng ở trong đó, nó chất chứa, tưới tẩm, tô điểm trong đó và những cảm giác, cảm thọ, suy nghĩ trong đó là pháp ái. Chính những cái này là chấp thủ, sở chi trướng, về tình về lý, về tri thức cũng có, rất nhiều phương diện bao trùm, về tình cảm cũng vậy.

Ý nói, họ đã sang ngang, đã có người khác mà giờ họ vẫn còn ôm ấp những cảm giác, hình bóng cũ, suy nghĩ lúc xưa để rồi họ đau khổ, giày vò, hành hạ mà họ lại lấy đó để sống. Họ tự giày vò, hành hạ, tự làm cho họ đau đớn, khổ sở rồi nước mắt đầm đìa, tan vỡ, tan nát con tim, rướm máu. Vậy nhưng họ lại thích, họ muốn ở trong cảm thọ đó, đó là pháp ái, nên mới có tương tư.

Ngày trước Hòa thượng Thiện Trí thường đọc bài thơ sau:

“Tương tư chẳng biết nên làm sao,

Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào

Khi đứng, khi ngồi, khi ngớ ngẩn

Lúc say, lúc tỉnh, lúc chiêm bao.”

Như vậy chúng ta thấy pháp ái rất ghê gớm, sâu sắc nhưng chúng sanh không biết. Người tu không biết nhận diện ngũ uẩn thì họ không biết trạng thái tâm của họ, hành tướng của ngũ uẩn như thế nào thì họ không biết nên người ta đau khổ trong đó. Nhưng thật sự đó chỉ là hình bóng, không có thật, chỉ là những suy nghĩ, cảm thọ, do duyên xúc tiếp xúc, chất chứa trong đó.

Thù hận cũng giống vậy, khi một người tức giận, thù hận ai thì hình bóng của người mình thù hận đó, nó chập chờn, ám ảnh trong tâm, cảm giác tức giận, sân hận, bực bội, nhiệt não, bức rứt cứ sanh khởi trong đó, thiêu đốt trong đó rồi đến những suy nghĩ xung quanh về những thù hận đó. Mình đừng tưởng chỉ tham, ái, dục mình mới thích mà cái sân mình vẫn thích. Mình không thích “Tôi giận rồi, tôi không tha thứ nữa nha. Ba năm, năm năm hay mười năm tôi cũng không tha thứ!” đó là mình ưa thích cảm giác sân hận đó. Mình muốn giữ nó, không muốn xả bỏ nó, nếu mình ghét nó thì mình đã bỏ nó, không phải là “sống để dạ, chết đem theo” chứ không tha thứ cho người đó, nhất định là không tha thứ.

Như vậy là mình đang ưa thích cảm thọ tức giận, thù hận đó, nên trong phim tàu mình tưởng như hay nhưng đó là dạy mình hư như câu “Quân tử trả thù mười năm chưa muộn”. Đó là dạy hư, dạy ngu, dạy cho mình sân hận, dạy cho mình chất chứa những đau khổ, nhiệt não, nóng bức, dạy cho mình đi con đường khổ đau. Như vậy trong mười năm trời ôm thọ, tưởng, hành, ôm những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó làm giày vò, giày xéo, hành hạ, gặm nhấm mình, làm khổ đau như vậy. Nhưng lại dạy người ta như vậy, khoái, thích như vậy.

Sau đó là tu luyện võ công ba mươi năm để xuống núi trả thù, dù có chết cũng được. Như vậy có ngu không? Vậy nhưng vẫn có người thích xem say sưa, bỏ ăn bỏ ngủ, xem quên hết và cả ngồi thiền cũng gục lên gục xuống. Vậy nên, mình học được những điều này rất tốt, mình giải mã được những cái sâu xa, bí ẩn của thân tâm, thế giới, của cuộc đời này.

Không còn gì là bí mật đối với con mắt trí tuệ của mình ở trong Thánh trí ngũ uẩn. Vậy nên học những điều này rất thú vị và phải thực tập để mình nhớ, sau khi về từng chuyện trong tâm mình soi rọi lại, pháp ái đó yêu và hận, thương và ghét.

Tiếp theo điều sư cô hỏi, khi quán cảm giác đơ đơ, trơ trơ, không khổ không vui đó là vô thường, mà từ vô thường này giờ mình nghe như vô cảm, nghe nó bình thường. Minh Thành giải thích từ vô thường này theo cách mới, vô thường là tứ đột: đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử. Đột ngột như việc cháy nhà làm chết người hay đột ngột nhiễm bệnh mấy chục người, đột ngột bùng dịch lên làm chết mấy triệu người, mấy trăm triệu người nhiễm bệnh, đột ngột chiến tranh xảy ra làm nhà tan, cửa nát, lưu lạc, tị nạn, đột ngột có người thân mất hay đột ngột bị tai nạn gãy chân, nằm bán thân bất toại. Đột biến, đột quỵ là khi đang nói chuyện bình thường nhưng bị tai biến mạch máu não làm liệt nửa người, bán thân bất toại…

Tất cả đó là vô thường, phải quán cảm thọ không khổ không vui này lúc nào cũng có thể xảy ra những đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử đó. Như vậy thì mình mới phá được cảm thọ trơ trơ đó, còn bằng không là mình chết trong cảm thọ đó. Vì cảm thọ vui và khổ rất ít, không phải chỉ có cảm thọ vui hoài, khổ hoài mà cảm thọ đơ đơ đó rất nhiều, chiếm bảy mươi, tám mươi phần trăm. Và mình tu là tu với cảm thọ này, quán với nó.

Vậy nên mình phải tác ý “Mạng sống này là mong manh, cuộc đời này vô thường, dẫn xe ra không biết có về chùa được hay không!” Mình phải quán, phải tác ý như vậy. Ngồi đây học phải quán là không biết được ngày mai có học được không, nên mình phải trân trọng từng giây từng phút, từng câu nói, từng chữ mình viết trong tập, không phải cứ nghĩ là “Giờ tôi học, ngay mai tôi học thì tuần sau tôi cũng học vậy!” Đó là nghĩ vô minh, ngu si, đó là nghĩ chấp thường, nghĩ dại khờ, nghĩ si ám.

Mình phải nghĩ là: tất cả đột ngột, tan rã, hư hoại, biến hoại, sụp đổ, tan nát, hoại diệt, hủy diệt, phải tác ý những câu đó để phá vỡ đi những trơ trơ, đơ đơ, ngơ ngơ, ngáo ngáo, lờ mờ, đờ đờ. Phải phá vỡ, tác ý, đừng cho trạng thái cứ đều đều như vậy mà tự mình phải dùng cây roi, dùng từ cảnh sách rất hay, đó là dùng cây roi quất vào con ngựa thì nó mới nhảy lên, chạy nhanh hơn, không thì để đó nó không chịu đi.

Nên Đức Phật dạy các loại ngựa: ngựa thấy đánh roi liền chạy, loại thứ hai là rơi chỉ vừa chạm vào lưng là nó đã chạy, loại thứ ba là đánh mạnh vào nó mới chạy, loại thứ tư là đâm roi sâu vào trong da thì nó mới chạy. Đây là trong Tăng Chi Bộ kinh dạy.

Loại ngựa đâm cây roi vào trong da thịt đến chảy máu, đau đớn thì nó mới chịu chạy là hạng người thân bệnh gần chết thì mới chịu tu, mới quay lại, chịu nhận thức vô thường. Đối với loại bị đánh vào đau mới chạy là thấy người thân của mình bị bệnh hay mất thì mới lo tu. Loại thấy bóng roi mới chạy như là thấy những người làng xóm xung quanh bị bệnh thì mới lo tu. Loại chỉ đánh vào đau mới chạy là khi thân mình bị bệnh đau mới lo tu.

Vậy nên mình phải tự tác động tâm ý của mình, tự mình nhắc nhở mình. Như Đức Thế Tôn dạy trong kinh Pháp Cú:

“Tự mình đi đến mình

Tự mình dò xét mình

Tự mình chỉ trích mình.”

(Kinh Pháp Cú)

Đó là như lý tác ý và như lý giác sát trong kinh Nikāya. Giác sát là quán sát, tỉnh giác, như lý giác sát là tỉnh giác quán sát đúng với chân lý. Sau khi mình quay vào trong tâm, mình để ý những cảm giác nghĩ tưởng, những hình bóng, mình quán sát nó một cách đúng sự thật. Sau đó mình phát hiện nó có những cấu uế, cấu nhiễm thì mình mới dùng như lý tác ý tác động tâm ý theo chiều hướng thiện pháp. Đó chính là pháp hành, sau khi quán sát rồi mình tác ý.

Nên nhớ như lý giác sát là chúng ta tỉnh giác quán sát một cách trung thực nội tâm của mình, nhưng thường thường mình quán không trung thực. Tâm mình không ngay thẳng, không trong sáng, không chánh kiến thì mình nhìn vào mình tưởng như vậy, nhưng nhìn theo chiều vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã nên có lỗi mà mình nhìn lại không thấy có lỗi, có tham mà hỏi thì tôi không có tham.

Vậy nên chữ như lý giác sát rất sâu sắc, đó là mình tỉnh giác, quán sát một cách đúng sự thật, như lý là thấy sao đúng như vậy. Và muốn thấy được như vậy là phải có chánh kiến, phải có một tâm trung trực, trung thực, công bằng. Còn bằng không thì mình dễ bị nghiêng lệch bởi người thương và người ghét. Giờ nếu người rất thân thương với mình có lỗi thì mình nhìn theo chiều nào? Có bênh vực người đó không? Đối với người ghét mình mà họ tốt thì mình có khen không? Mình ghét họ, họ cũng ghét mình mà họ tốt mình có khen không? Rất khó, đó là chỉ nói bên ngoài, còn khi mình nhìn lại nội tâm của mình mà mình chánh trực, trung thực, ngay thẳng là cả một vấn đề, không phải đơn giản.

Vậy nên đi vào dòng pháp Nikāya rất sâu sắc, mình đừng tưởng là mình hiểu hết thân tâm của mình.