Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 16-Người Thứ 2 (1)
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 16
Người Thứ Hai
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự trói buộc PAGEREF _Toc141973092 \h 1
II. Đời sống vô thường PAGEREF _Toc141973093 \h 6
III. Dặn dò đời sống tu tập PAGEREF _Toc141973094 \h 7
I. Sự trói buộc
Kính thưa đại chúng, chúng ta có những lời pháp của Đức Phật rất quan trọng trong những chữ đậm. Đó là những pháp quán, các huynh đệ phải học thuộc lòng.
“Với những ai nặng nề về ái lạc, sự biến hoại, đổi khác, sầu bi khổ ưu não khởi lên. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Những ai chuyên chú tâm về tướng bất tịnh, thời sự nhàm chán đối với tịnh tướng được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán vô thường trong sáu xúc xứ, thời sự nhàm chán đối với xúc được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán sanh diệt đối với năm thủ uẩn, thời sự nhàm chán đối với chấp thủ được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy”
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, III. Phẩm Năm Phần, X. Tôn Giả Nàgita).
Sáu xúc xứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, là nơi tạo duyên cho mình tiếp xúc. Mắt tiếp xúc sắc, mũi tiếp xúc với mùi, tai tiếp xúc với tiếng, lưỡi tiếp xúc với vị, thân với xúc, ý duyên với pháp. Sáu xúc xứ tức là sáu căn, sáu chỗ đó tạo điều kiện để mình tiếp xúc. Cho nên mình nói nhầm qua nhãn xúc là khác. Nhãn xúc là sự tiếp xúc của con mắt. Ở đây nói xúc xứ là chỗ để tiếp xúc, phải hiểu cho kĩ để không có lẫn lộn. Cho nên nhĩ xúc là sự tiếp xúc của lỗ tai với âm thanh và cũng có nhĩ thức trong đó. Phải có 3 pháp kết hợp mới tạo ra nhĩ xúc gồm lỗ tai, âm thanh và nhĩ thức. Ba pháp nó giao thoa, hội tụ mới tạo thành nhĩ xúc là sự tiếp xúc của lỗ tai.
Xúc xứ ở đây là chỗ tiếp xúc đầu tiên là phải có mắt, là cái căn bản. Từ cái mắt mình mới tiếp xúc được. Cho nên tuỳ quán vô thường trong sáu xúc xứ, tuỳ quán là luôn luôn lúc nào cũng vậy. Nói rộng ra là căn, trần, thức lúc nào cũng quán tính chất vô thường. Mình thường quán con mắt này là vô thường, các sắc con mắt thấy được là vô thường. Nhãn thức, sự rõ biết các sắc cũng là vô thường, mình thường thường tuỳ quán vô thường ở chỗ căn, trần, thức giao thoa tiếp xúc đó thì mình sẽ nhàm chán đối với xúc được an trú, tức là tâm mình sẽ an trú ở chỗ nhàm chán đối với các pháp đó. Tại vì mình thấy nó sanh diệt liên tục. Còn mình không tuỳ quán vô thường cho nên mình không thấy nó sanh diệt, cái miệng mình nói là vô thường nhưng trong tâm ý mình thấy là thường. Cái miệng mình nói khổ nhưng thực sự sâu thẳm trong đó là vui. Trên môi mình nói là vô ngã mà sâu thẳm bên trong mình là cái tôi to tướng. Cho nên phải tuỳ quán.
Tuỳ quán sanh diệt đối với năm thủ uẩn. Cái này rộng lắm mà những cái pháp này toàn là những pháp đưa đến chứng quả, thánh quả, mình phải nắm thật là vững. Bây giờ chúng ta đi qua cái ái là người thứ hai. Xem người thứ hai của mình là người nào. Trong sự tu tập của hàng Tỳ-kheo thời Đức Phật có một phương pháp gọi là độc cư, phương pháp này thường được phổ biến sử dụng trong thời Đức Phật, bây giờ mình hay gọi là nhập thất, sống một mình. Vị Tỳ-kheo dưới bài pháp này hỏi ý nghĩa của việc sống một mình và như thế nào là sống với người thứ hai
“Nhân duyên ở Sàvatthi...
Tôn giả Migajàla đi đến Thế Tôn...
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Migajàla bạch Thế Tôn:
"Sống một mình! Sống một mình!", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là sống một mình? Và cho đến như thế nào là sống có người thứ hai?
Này Migajàla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy nên hỷ khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỳ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.
Có những tiếng do tai nhận thức... có những hương do mũi nhận thức... có những vị do lưỡi nhận thức... có những xúc do thân nhận thức...có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy nên hỷ khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỳ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.
Tỳ-kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu cho đến ở các trú xứ xa vắng, các khóm rừng, các khu rừng, ít tiếng động, ít ồn ào, khỏi hơi thở quần chúng, vắng người, thích hợp với tịnh; dầu vậy, vẫn được gọi là sống với người thứ hai.
Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, chưa được đoạn tận cho nên được gọi là sống có người thứ hai”
(Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai-Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, I. Bởi Migajàla).
Lời của Đức Phật nói rất sâu xa chứ không phải đơn giản như đọc báo. Phải chiêm nghiệm, đây là trí huệ tột cùng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Như vậy có những sắc do con mắt nhận thức, khả lạc là đáng vui, khả hỷ là đáng mừng, khả ý là vừa lòng, khả ái là đáng yêu. Đáng vui, đáng mừng, đáng yêu, vừa lòng liên hệ đến dục hấp dẫn. Khi con mắt mình nhìn thấy cái sắc nào đó, cái tai nghe tiếng gì đó, cái mũi nếm mùi, cái thân xúc chạm, hay là cái ý của mình duyên với pháp. Tức là tâm ý của mình nghĩ tưởng, suy nghĩ về những cảm giác bên trong mà lúc đó những cái pháp đáng yêu, đáng thích, vừa lòng, đáng vui… liên hệ đến dục hấp dẫn mà mình khoang khoái, hoan hỷ, mình thích thú, tán dương và mình trú ở trong đó với cái tâm tham luyến đối với sáu trần đó thì hỷ khởi lên.
Cho nên chỗ này là chỗ người ta hiểu lầm, họ tưởng rằng đó là làm cho vui, cho cười, hân hoan, an lạc quá, an vui quá, bữa nay đi dự vui quá nhưng mà cái đó là toàn là dục, hỷ, ái không thôi. Thành ra chỗ này hết sức là sâu sắc, mình tưởng đâu hoan hỷ là pháp hỷ, pháp lạc, ngược lại đó là dục lạc. Ví dụ mình dự buổi lễ trai Tăng, dọn lên mười mấy món mà mình ăn ngon quá, vừa ăn vừa cười, nói chuyện hả hê vui thích. Món này ngon, nấu bằng cái gì vậy, công thức ra làm sao vậy thì những cái này toàn là dục, là ái, là tham và đang bị kiết sử trói cột.
Hôm nay "phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc" (Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà-la-môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni). Đó là công việc của Đức Thế Tôn. Mình hoan hỷ trong đó, mình tán dương, mình trú trong đó với cái tâm tham luyến cái hương vị đó, như vậy hỷ khởi lên, hỷ khởi lên do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Mà dục tham đã có mặt rồi thì sự trói cột có mặt. Sự trói cột là ưa thích cái món, ham muốn cái món đó, cái tiếng cũng vậy.
Ví dụ mình nghe giọng cô nào đó tụng mà du dương trầm bổng hay quá. Rồi mở ra thu âm để về lâu lâu "mở nghe nó đã, ước gì mình được cái giọng giống vậy ta" là chết liền. Đó là ái, là dục, là tham. Ghê chưa? Tưởng đâu cái đó là tu mà không phải, cái đó là thanh trần mà bây giờ mình hoan hỷ rồi mình an trú vô đó, rồi mình tham luyến cái âm thanh đó, mình tán dương khen ngợi thì dục tham sanh khởi, ham muốn sanh khởi, mà ham muốn là bị trói cột. Trói cột cho nên lúc trước chưa nghe điệu nhạc đó thì không sao mà bây giờ nghe riết mà thiếu là chịu không nổi. Minh Thành nhớ lúc trước không có nhạc Phật Giáo, bây giờ có bài nhạc Chú Đại Bi Tiếng Phạn gì đó, nghe hoài mà thiếu là không chịu được.
Lâu lâu trong đầu vang lên điệu nhạc đó, chính là thanh tưởng. Mình tưởng đâu mình tu nhưng thực sự là mình lệ thuộc, hướng ngoại, mình bị ràng buộc càng nhiều. Thậm chí có chỗ mở nhạc lên mới tu được. Mở nhạc niệm phật thì đó là những phương tiện cho các Phật tử sơ cơ. Cái đó mình đang làm gì mà mình nói mình tu? Khi lỗ tai mình tiếp xúc với nhạc đó mình có thích thú không? Có khoang khoái không? Đó là vạch trần ra hết cho quý huynh đệ thấy trong đó có tham, có ái và dục. Rồi bữa nào không có nhạc là thấy thiếu thiếu, hơi khó chịu, bực bội. Rồi máy lạnh hay cái quạt cũng vậy nữa, không có là bực mà bực là sân, nếu cúp điện là mình chết theo điện, mà cáp mạng đứt là mình mất mạng luôn.
Vì mạng sống hoàn toàn lệ thuộc vào cái mạng Internet, lỡ mạng có mất thì mình chết luôn. Càng ngày mình càng lệ thuộc, đó là nói bên ngoài mà người tu không khéo cũng giống như vậy, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân tiếp xúc cũng như vậy. Cái dục, cái ái, cái tham này nó vi tế lắm, nó trói buộc mình. Không có gì hết chỉ cần gặp thôi cũng được. Mà gặp rồi nó đâu có dừng lại, cái tham muốn thêm nữa. Lúc đầu chỉ cần gặp thôi cũng vui, nhìn thôi cũng được rồi. Ví dụ đồ quý trong viện bảo tàng là cấm sờ, cấm rờ mà mình cũng lén lén nhìn có ai không rờ một cái, sờ một cái. Cái tâm mình nó ghê vậy đó.
Bị trói buộc bởi hỷ triền phược như vậy được gọi là người sống có người thứ hai, vậy là có gia đình, không phải độc thân. Người thứ hai là ái, ái là người thứ hai. Ái đối với với sắc, đối với hương, đối với thanh, đối với vị, đối với xúc. Một cái rất là khó, chính là pháp. Bây giờ kêu trình bày pháp trần thì ai trình bày được? Khó chứ không phải dễ. Đó khi là mình ngồi yên lại rồi có những hình bóng trong đó, có những lời nói, suy nghĩ theo những hình bóng rồi cảm giác, những cái đó hiện ra, thọ; tưởng; hành trong tâm mình, cái đó là pháp tưởng.
Chẳng hạn như mình ngồi nhớ lại tuổi thơ của mình rất là khó khăn, rất là vất vả. Vừa ở nhà đi bán bánh tiêu, đi bán hủ tiếu gõ, đi bán vé số, đi ở đợ, đi làm mướn thì những hình ảnh đó hiện ra, đó là tưởng uẩn, hình bóng hiện ra rồi mình có cảm giác đau buồn, khó chịu, rồi cái hành mình nói "tại sao cuộc đời mình khổ như vậy? Có những người cùng lứa tuổi với mình người ta sanh ra nhà giàu sung sướng mà tại sao mình sanh ra cái cảnh khổ như vậy?" Rồi lúc đó mình đau xót và có những cảm xúc rưng rưng nước mắt.
Thì lúc đó mình đang sống với thọ, tưởng, hành, thì nó là pháp tưởng. Mình nhớ lại hình ảnh lúc mình mới 18 tuổi, cái mặt mình lúc đó đẹp lắm mà bây giờ đầy mụn bọc, nhớ lại lúc đó là mình mỉm cười, cái thọ dâng lên sung sướng. Hình ảnh hiện ra "mình cũng đẹp chứ bộ, mình cũng có phước, mình tướng tốt". Thì đó là khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, hoan hỷ tham luyến cái sắc tưởng đó. Hỷ rồi dục tham, rồi bị trói buộc đó là mình trói buộc vô cái sắc tưởng quá khứ. Rồi mình nghĩ mai mốt mình trở thành cái gì đó, có cái hình bóng vậy đó.
Cái đó là sắc tưởng tương lai. Hiện tại mình nghĩ tới mình. Một chút về mình đi đâu đó thì hình bóng hiện ra, cái đó là sắc tưởng hiện tại. Nhưng mỗi khi mình nghĩ tới cái đó là khoang khoái, thích thú vui sướng thì đó là triền phược, là tham đắm trong sắc tưởng đó. Khi nó hiện lên mình biết đây là sắc tưởng, sắc tưởng này là vô thường, là tứ đại hợp thành, là pháp duyên sanh. Không có gì cứng chắc trong đây, không là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi ở trong cái ảo ảnh đó thì lúc đó mình phá được cái tham ái, chấp thủ trong sắc tưởng đó.
Đó là sự tu rất là thâm sâu, mình phá lần lần cái hình bóng ảo ảnh về một con người, về một tự ngã, bản ngã trong tâm mình lần lần bị thánh trí soi thủng. Nó phá tung cái hình ảnh đó ra, biết đó chỉ là sắc tưởng thôi. Mình gọi đúng tên đó là sắc tưởng, lúc trước mình gọi đó là tôi, tôi ở trong quá khứ, tôi ở trong tương lai và tôi ở trong hiện tại thì cái đó là vô văn phàm phu, không có thành tựu trí huệ, không phải là đa văn thánh đệ tử. Khi hình bóng hiện lên thì mình đọc "đây là sắc quá khứ, sắc tưởng của quá khứ, sắc tưởng này là vô thường, nhân duyên tạo thành, cái đồ lắp ráp. Chẳng có là cái gì hết, hãy xem đi".
II. Đời sống vô thường
Mười em bé đi tắm, chơi banh ở dưới nước, một đứa không biết bơi ngồi ở trên, chín đứa xuống thì chết hết tám đứa. Cả một dãy phố tang tóc, mình nhìn mà không cầm được nước mắt. Những em bé chỉ chín mười tuổi thôi mà chết hết tám em, cả một khu phố như vậy ràng rụa nước mắt. Những em bạn học đi tới đám tang nói không biết chuyện gì xảy ra. Ở miền trung, đang tắm sông Đà rồi bị dòng nước xoáy, hút xuống chết hết tám đứa. Hai vợ chồng đang ngủ trong nhà, bốn giờ khuya xe tải tông vào cán chết, văng đứa con ba tuổi ra. Đứa bé còn sống, hai vợ chồng chết tại chỗ.
Chuyện gì vậy? Họ chết mà không biết chuyện gì hết, đó gọi là chết oan. Cái thân xác này là vô thường, tạm bợ, mong manh, tan hoại, tan nát, bất cứ lúc nào nó cũng sụp đổ, tan vỡ được hết. Phải mở trí huệ nhìn sâu vào sắc uẩn này để quán chiếu, để ly tham, từ bỏ, không có tham đắm vô trong đây. Trên đường cao tốc Liên Khương hai xe chạy ngược chiều nhau tông con lươn rồi đâm qua bên kia, cô vợ chết ba người kia bị thương. Toàn là những chuyện mà mình không thể nào tưởng tượng được, nếu tưởng tượng được thì đâu có vô thường.
Cho nên Thượng Toạ khối văn phòng sáng nay nói "Thưa thầy, không ngờ mẹ con chết, mới còn khoẻ bình thường, còn nói chiều đi đám tang của ba của thầy Minh Thành", mới một ngày có tin của ba người chết, hai mẹ của hai thầy và một ba của một thầy. Tổng cộng hai bà mẹ và một ông cha của ba người. Phải nhìn thấy được những điều đó để phá tung cái chấp ngã, cái hiểu sai hiểu lầm cho rằng cái sắc này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Đang ngủ trong nhà mà 4h sáng xe tông vào nhà cán chết tại chỗ như vậy, mình có thể nào tưởng tượng ra không? Thì thực chất cái "thân này bản tính là như vậy, bản chất là như vậy không thể vượt khởi bản tánh ấy" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ). Khổ! Khổ là tính chất của năm uẩn, vô thường là tính chất của năm uẩn, vô ngã là tính chất của năm thủ uẩn này. Ở dưới Đồng Tháp có ba mẹ con chạy bên hông xe container rồi bị lật thùng xe đè chết tại chỗ. Mỗi một ngày ở trong nước mình số người chết vì bệnh lao gần 40 người, còn trên thế giới là bốn ngàn người. Không biết lo sợ mà cười nói, tối ngày lo nấu món này món kia rồi rủ nhau đi chơi đó là sống trong si mê, vô minh.
Bạn đọc bình luận về hai người đang ngủ mà bị xe tông chết là không chỗ nào là chỗ an toàn, ở trong nhà đang ngủ mà bị tai nạn giao thông thì còn chỗ nào là chỗ an toàn? Đó là pháp, đó là Nikāya của thế kỉ 21. Đức Phật trong Tăng Chi Bộ Kinh nói có bốn pháp không an toàn là sanh không an toàn, bệnh không an toàn, chết không an toàn và ác nghiệp không an toàn.
Mình không lo lắng thì bất thình lình cái chết đến là mình trở thành cô hồn, không phải chuyện giỡn chơi, vì không biết tại sao mình chết. Rồi tâm tham luyến, tham ái mạnh về một vật nào, về một người nào thì có thể mình không thể siêu thoát được. Còn không thôi là quay trở lại rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Còn không thôi là rơi trong những nơi bần cùng, thấp hèn, đi ở đợ, hoặc bị nan y hay là tật nguyền. Bao nhiêu những cảnh khổ, cùng khổ vô cùng.
Cho nên trong dòng luân hồi này không bảo đảm, chỉ có thánh quả Dự lưu thứ nhất là thẳng đến Chánh Giác, không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chỉ có bậc đó mới chắc chắn. Còn chưa vào Dự lưu quả thì còn rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chứ chưa nói đến rơi vào cảnh nghèo cùng, khốn khổ, bệnh tật, khổ sở. Vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì cơ hội đó là lớn lắm.
III. Dặn dò đời sống tu tập
Cho nên trở lại vấn đề tu như thế nào? Dù cho mình ở chỗ xa vắng, ít tiếng ồn ào, không nghe hơi thở của quần chúng, vắng người nhưng vẫn gọi là người sống có người thứ hai. Tại vì cái ái mình chưa có lìa, mình chưa có từ bỏ. Nếu nói sống một mình như vậy thì có rất nhiều người ở trong rừng, con khỉ, con vượn ở trong rừng nhưng nó không chứng ngộ hoặc ở tù chung thân họ đâu có chứng ngộ gì. Trong đó tràn đầy dục tham, sân hận, bản ngã, vô minh, chấp thủ.
Cho nên sự tu tập của mình là luôn luôn nhìn lại những cảm giác, những nghĩ tưởng của mình xem nó có dính mắc vào trong tham ái, tham dục không? Nó có bị trói buộc trong đó không? Để mình cắt, gỡ từ từ ra. Đó là sự chân tu, chứ không phải hình thức bên ngoài mà tối ngày mình làm hình thức bên ngoài hoài rồi tham dục, si mê, bản ngã của mình chình ình giống như núi Tu Di vậy đó. Thành ra mình mới thấy lời dạy của Đức Phật quý lắm, phải thực hành.
“Và này Migajala, có các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy, nên hỷ đoạn diệt; thời do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình. Tỳ- kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu có ở giữa làng tràn đầy những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa, đại thần của vua, các ngoại đạo và các đệ tử các ngoại đạo, vị ấy vẫn được gọi là vị sống một mình.
Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, được đoạn tận, do vậy được gọi là sống một mình”
(Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai-Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, I. Bởi Migajàla).
Tu là phải tới mức độ đó. Đó là mục tiêu, là chỗ hướng tới, là chỗ cứu cánh phạm hạnh, là chỗ ly dục, ly tham, ly ái, ly khát khao, ly ngã mạn, ly chấp thủ. Đó là chỗ tôn kính của người xuất gia, là chỗ tuyệt diệu của đa văn thánh đệ tử. Thầy của trời và người là cái pháp này, ứng dụng được cái này thì không còn là thầy của người mà là thầy của trời.
Cho nên tu cái này làm sao có thời gian rảnh? Suốt ngày nhìn lại nội tâm, cảm giác, nghĩ tưởng hoài để kiểm tra trong đó. Mình nói mình tu mà không chừng mình đang nuôi dưỡng dục, ái, tham, ngã mạn, đang nuôi dưỡng cái vô minh, mình có thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức đâu. Mình có biết cái nào là sắc tưởng, thanh tưởng, ương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng đâu. Mình có biết cái gì đâu, thành ra ở trong vô minh hết, nó vận hành trong vô minh, trong tham ái hết.
Cho nên trong bài kinh Cột Trụ, Đức Phật ví dụ con chó buộc sợi dây thừng, buộc vô cây cột thì nó ăn, nó uống, nó sủa, nó làm cái gì cũng lòng vòng xung quanh cây cột, không ra khỏi cây cột đó. Tức là mình bị buộc vào năm uẩn. Mình nghĩ cái gì cũng không ra ngoài sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cái suy nghĩ về sắc thân này và những vật chất, rồi đi tìm những cái vật chất, nghĩ cái này, tưởng cái kia, suy nghĩ, nhận thức tối ngày lòng vòng như vậy phục vụ cho tham ái. Suốt cuộc đời là vậy, đi tìm kiếm hoài những cái gì mình thích, những cái gì mình khoang khoái. Không khéo đi xuất gia rồi mà đi tìm bằng cấp, tìm ngôi chùa để trụ trì, tìm chức vị, tìm cái danh tiếng, hoàn toàn là trái ngược, Đức Phật không có dạy như vậy.
Cho nên chỗ này hết sức là quan trọng, bậc thầy phải là bậc chân nhân, phải là bậc thành tựu tri kiến mới dạy học trò tới thánh đạo, thánh quả được. Còn bây giờ vô cạo đầu rồi ráng đi kiếm bằng cấp với người ta để ra làm trụ trì hay làm giảng sư này kia thì vị thầy đó không phải là bậc chân nhân, không phải là người có chánh tri kiến. Cho nên trong kinh Đức Phật ví dụ người mù đi đằng trước rồi người mù ôm theo sau rồi đi xuống hố, đi xuống vực sâu. Tại vì người dẫn đường không phải là bậc sáng mắt, không phải là bậc minh nhãn.
“Thế Tôn nói như sau:
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trong khi nắm giữ nội xúc, nắm giữ nội xúc như sau: "Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết; sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?". Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết như sau: "Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết. Sự đau khổ này lấy sanh y làm nhân, lấy sanh y làm tập khởi, lấy sanh y làm tác sanh, lấy sanh y làm hiện hữu. Do sanh y có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh y không có mặt, già chết không hiện hữu". Vị ấy biết già chết. Vị ấy biết già chết tập khởi. Vị ấy biết già chết đoạn diệt. Vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Và nhờ thực hành như vậy, vị ấy trở thành một vị tùy pháp hành.”
(Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Những câu này rất sâu sắc. Bây giờ có đọc đại tạng kinh mà không giải thích ra thì không thể hiểu nổi. Cho nên mọi người phải cố gắng chú ý đọc tới, đọc lui và cố gắng quán chiếu, nghiền ngẫm mới hiểu được cái trí huệ tối thượng của bậc Thiện Thệ chứ đâu phải nói giống như là mình đọc báo, đọc sách. Sự đau khổ trên cuộc đời này có nhiều dạng, nhiều hình thái, nhiều hình thức của khổ đau, ngồi đây nói ba chục năm cũng không hết, cái hình thái của khổ nói một trăm năm cũng không hết.
Tại vì mình không mở con mắt trí huệ để quán chiếu là không thấy, chứ mình quán chiếu là thấy cái khổ nó dữ dội lắm. Bây giờ quý huynh đệ thử nghĩ rơi vào trường hợp bị tâm thần có khổ không? Có một đứa con gái mới mười bốn tuổi mà mẹ bệnh, cha thì tâm thần, sau đó mẹ nó chết. Đứa bé này đi làm thuê rồi về chăm sóc cho cha nó, mà cha nó còn lấy đá, lấy cây đập đánh nó.
Mỗi lần bị đánh đập là nó khóc mà không phải nó khóc do đau mà khóc vì nhớ mẹ. Tại vì hồi xưa mẹ còn sống, mỗi lần bị đánh như vậy mẹ nó đỡ, mẹ nó can mà giờ mẹ có mất rồi không có ai can nữa hết. Mới có mười mấy tuổi phải đi làm mướn, làm thuê, phải đi mò cua, bắt ốc, mỗi bữa đi vớt những con cá lòng tong, khổ lắm. Mới đây Tivi chiếu lên cô này bị chồng tạt axit đầy mặt, cơ thể bị hủy hoại 80%. Cô ấy nói "con không bao giờ tưởng tượng nổi cái cảnh này ra, con nghĩ chỉ trong phim thôi, không thể nào nó lại diễn ra trên thân thể con".
Quý huynh đệ đừng có ngủ say ở trong chùa, coi chừng mình đang bị ru ngủ. Tức là mình sống mỗi ngày đều đều như không có gì, mọi việc đều an lành, như vậy là mình đang ngủ mê. Cuộc sống này không có tốt như vậy đâu, bất cứ chỗ nào trong cơ thể của mình cũng có thể thành ung thư, bất cứ một lời nói nào của mình cũng trở thành thị phi khủng khiếp, bất cứ một hành động nào cũng có thể làm sụp đổ hết danh tiếng, đạo nghiệp.
Cho nên người biết tu là người phải cẩn thận, biết sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Phải cảm thấy sợ hãi, luôn luôn quay trở lại để diệt tận những cái ô nhiễm trong suy nghĩ, trong tưởng tượng, ở trong nhận thức, ở trong cảm giác của mình. Không lúc nào ngơi nghỉ và không cho phép mình thả lỏng các căn. Không cho phép mình dễ buông lung phóng dật mà phải luôn luôn liên hệ đến mục đích. "Mình đi vô chùa mình làm cái gì? Mình bỏ cha, bỏ mẹ vào đây làm cái gì? Mình cạo đầu làm cái gì?" Mình hỏi hoài như vậy để thúc đẩy sự tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh. Mình phải tu Tứ Chánh Cần và Tứ Như Ý Túc.
Mình phải có sự tham muốn mãnh liệt ở trong tâm để chứng ngộ những điều chưa chứng ngộ, chứng đạt những điều chưa chứng đạt và chứng đắc những điều chưa chứng đắc. Làm cho cái Dục Như Ý Túc thật là mạnh lên thì mới tạo thành một sự nỗ lực, để tâm vào sự tu học. Mình kiểm tra lại xem mình có đem lòng cung kính và tôn trọng thật sự đối với giới chưa? Mình có đem hết tấm lòng tôn kính, tôn trọng tối thượng của mình đối với thiền định chưa? Mình có đem hết tất cả tấm lòng tôn kính, quý trọng tối thượng của mình đối với trí huệ chưa? Đương nhiên là chưa.
Nếu thật sự đạt được tâm đó thì niệm, thiền định liên tục không có gián đoạn, hành trì giới pháp và tuệ quán của mình thâm sâu. Mình tưởng đâu mình sống đều đặn, mà không phải, thật chất mình đang ở trong kiết sử. Mình bị trói buộc bởi sự buông lung, của sự hưởng thụ của dục, của ái, của tham. Mình bị trói buộc ở chỗ làm biếng, làm nhát, giãi đãi. Mình không muốn bắt chân lên ngồi thiền, mình nói "mệt lắm, ngồi không nổi, bệnh". Mở sách ra, mở pháp lên là ngủ, tất cả những cái này là truyền cái, tức là mình sống trong bóng tối, sống trong sự trói buộc của ngũ cái.
Chính là sự tham dục, sân hận, trạo cữ, hôn trầm và nghi, năm truyền cái đó nó bao trùm, nó che mình hết. Mình ở trong ma trận, bát tà đạo mà mình nói mình đang tu tập Bát Chánh Đạo, không hành tựu chánh tri kiến làm sao tu Bát Chánh Đạo. Mình không biết đâu là sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Mình không thấy được sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu ái, sáu tư. Mình không thấy các pháp duyên sanh vận hành thì làm sao quán chiếu được? Tất cả những cái mình thấy là một cái tôi, một cái của tôi như đang trong bát tà đạo, bát quái trận. Cho nên mọi người thấy sự tu học nghiêm túc, sát sao theo Đức Phật là không phải chuyện đơn giản.
Mình nhìn hiện tại đang tu kiểu gì? Học kiểu gì? Người dẫn đường mà còn không biết đường, rồi dẫn đi sai lạc, sai lầm hết. Làm sao mà đi đến thánh đạo, thánh quả được? Làm sao mà diệt tận được tham, sân, si và bản ngã? Cho nên trong tất cả hình thái của khổ thì cái khổ lớn nhất là cái chết. Nhiều khi mình nói "tôi không có sợ cái gì hết", nhưng thật sự cái chết mới là cái khổ lớn nhất vì khi chết đi thì tất cả cái còn lại đều vô nghĩa, đều sụp đổ hết.
Có người đó nói "tôi không có sợ chết" nhưng đến lúc đó vừa hoảng loạn, vừa bấn loạn. Tại sao vậy? Vì mình không biết khi nhắm mắt rồi mình thành cái gì, mình đi đâu. Tất cả những ác pháp của mình hiện ra, những tưởng uẩn của mình hiện ra, bao nhiêu những cái tập nghiệp của mình hiện ra.
Cho nên già chết, đau khổ này lấy gì làm nhân? Tại sao già chết này có sanh. Vì nó lấy sanh làm nhân. Nó có sanh cho nên có già chết, không có sanh sao có già chết. Cái thâm sâu để có cái sanh là sanh y. Sanh y là chỗ y cứ để mình thọ sanh, sở dĩ mình có sanh tử luân hồi là do cái đó. Đó là chỗ dựa của sự thọ sanh, của sự sanh ra cho nên gọi là sanh y. Y là y cứ chỗ dựa. Như vậy chỗ dựa để mà sanh ra thì đó là ái. Ái là nhân, ái là tập khởi, ái là tác sanh, ái là làm cho hiện hữu. Mình cứ nghĩ đơn giản ái là nam nữ. Không phải, chuyện đó thì ai cũng biết.
Trong Đại Niệm Xứ thì ái là mình yêu thích. Yêu thích con mắt này, con mắt của chính mình. Yêu thích cái lỗ tai này, yêu thích cái lỗ mũi, cái miệng, cái lưỡi, cái thân này. Yêu thích những cảm giác này, những nghĩ tưởng trong nội tâm, những suy nghĩ mình yêu thích hết. Nói đơn giản là năm thủ uẩn. Chính chỗ yêu thích đó làm cơ sở y cứ để cho mình tiếp tục thọ sanh ra đời sau, sanh ra thân năm uẩn nữa mà không biết là cái thân gì. Hoặc là cái thân có lông lá bù xù, hoặc là có sừng, hoặc là không có xương sống, hoặc là hai chân, hoặc là bốn chân, hoặc là nhiều chân.
Đó là y cứ của thọ sanh, là mình thích cái thân ngũ uẩn. Và cái yêu thích đó là sanh y, ngày nào mình còn yêu thích tấm thân của chính mình, mà yêu thích chính mình là mình yêu thích người khác thì cái ngày đó sự sanh tử còn tiếp diễn, đây là chỗ hết sức là thực tế, hết sức là sâu sắc. Ví dụ động đất ở đây rồi mình quán từ bỏ ngũ uẩn là mình chứng thánh quả Bất lai hoặc A-la-hán, không có gì phải sợ.
Lỡ có người nào bất thình lình đứt hơi, ngất xỉu thì người ấy tối thiểu cũng vào hướng Dự lưu nếu người đó chú ý lắng nghe và chú tâm quan sát là sẽ vào hàng bốn đôi tám chúng của Đức Phật. Nếu mà người nào mạnh, tâm mạnh thì có thể Nhập lưu thánh quả thứ nhất. Đang nghe pháp mà mình "được" chết, mà người nào chú tâm theo lời pháp này thì người đó có thể vào Dự lưu cho đến những quả vị lớn hơn. Thành ra đừng sợ, ngay lúc này mà chết đã lắm, chết tốt lắm, rất tốt.
“Do sanh y không có mặt, già chết không hiện hữu". Vị ấy biết già chết. Vị ấy biết già chết tập khởi. Vị ấy biết già chết đoạn diệt. Vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Và nhờ thực hành như vậy, vị ấy trở thành một vị tùy pháp hành.
Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo đã thực hành để diệt tận khổ đau, để đoạn diệt già chết một cách hoàn toàn”
(Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ).
Biết già chết, rồi biết già chết tập khởi rồi biết già chết đoạn diệt và biết con đường đưa đến sự chấm dứt già chết. Đây là bốn loại trí huệ. Mình có biết già chết chưa? Bây giờ mình cứ vui cười "Mình còn lâu lắm. Bữa nào thầy cũng nói chuyện già chết không thôi, con còn khoẻ, còn trẻ, còn đẹp mà cứ nói chuyện già chết", như vậy là mình chưa biết già chết. Mình chưa biết pháp ấy là pháp tất yếu nhất định mình phải đi đến, biết rõ được điều này là mình biết được già chết. Biết già nó như thế nào? Hình thể nó tiều tuỵ, nó suy lão như thế nào, cảnh chết nó hiện ra làm sao. Cái đó gọi là biết già chết.
Biết già chết tập khởi, ái tập khởi cho nên già chết tập khởi, ái đoạn diệt cho nên già chết chấp dứt. Vị ấy biết được con đường mà đưa đến chấp dứt già chết, đoạn diệt già chết. Con đường đó là con đường ái tận, ly tham đối với năm thủ uẩn thì đó là con đường chấp đứt già chết. Cho nên quý huynh đệ học xong khoá Cao Đẳng này ra mới thực sự là người tốt nghiệp Cao Đẳng Phật học. Học cái này rồi lên giảng dạy, hướng dẫn là tuyệt luân. Đây là mới là giáo pháp chí thượng, tối thượng của Đức Phật. Đây là lõi của lõi, là trái tim của chánh pháp. Phải nhỡ kỹ ái và tham đối với năm thủ uẩn chứ không phải nói gọn đối với người nào đó hay là món đồ nào đó, đó là cái pháp nhỏ lắm. Phải nói trùm luôn năm uẩn mà năm uẩn là cả vũ trụ.
Vị ấy thực hành như vậy gọi tuỳ pháp hành. Vị tuỳ pháp hành này là vượt phàm phu địa, không còn là người phàm phu nữa. Dù cho chưa nhập thánh quả nhưng không còn là người phàm phu, Đức Phật xác định như vậy. Tuỳ pháp hành là luôn luôn thực hành cái pháp, sống với cái pháp và quán với cái pháp đó. Như vậy gọi là bậc tuỳ pháp hành, đây là một trong những quả vị của Đức Phật. Trong bảy bậc thì có tuỳ tính hành, tuỳ pháp hành... nhiều lắm.
Mở tâm từ, quán tưởng tâm từ, trải tâm từ mình đến cùng khắp hết tất cả chúng sanh. Thương chính mình trong cái tham, sân, si, vô minh và thương khắp tất cả chúng sanh đang bị khổ. Trải tâm từ đến người ghét mình, thù giận mình. Trải tâm từ của mình về phương Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phía trên dưới cùng khắp cả không gian. Nguyện cho tất cả chúng sanh đau khổ đều được thể nhập chánh pháp, được hạnh phúc, bình an.
./.
Người Thứ Hai
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự trói buộc PAGEREF _Toc141973092 \h 1
II. Đời sống vô thường PAGEREF _Toc141973093 \h 6
III. Dặn dò đời sống tu tập PAGEREF _Toc141973094 \h 7
I. Sự trói buộc
Kính thưa đại chúng, chúng ta có những lời pháp của Đức Phật rất quan trọng trong những chữ đậm. Đó là những pháp quán, các huynh đệ phải học thuộc lòng.
“Với những ai nặng nề về ái lạc, sự biến hoại, đổi khác, sầu bi khổ ưu não khởi lên. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Những ai chuyên chú tâm về tướng bất tịnh, thời sự nhàm chán đối với tịnh tướng được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán vô thường trong sáu xúc xứ, thời sự nhàm chán đối với xúc được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán sanh diệt đối với năm thủ uẩn, thời sự nhàm chán đối với chấp thủ được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy”
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, III. Phẩm Năm Phần, X. Tôn Giả Nàgita).
Sáu xúc xứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, là nơi tạo duyên cho mình tiếp xúc. Mắt tiếp xúc sắc, mũi tiếp xúc với mùi, tai tiếp xúc với tiếng, lưỡi tiếp xúc với vị, thân với xúc, ý duyên với pháp. Sáu xúc xứ tức là sáu căn, sáu chỗ đó tạo điều kiện để mình tiếp xúc. Cho nên mình nói nhầm qua nhãn xúc là khác. Nhãn xúc là sự tiếp xúc của con mắt. Ở đây nói xúc xứ là chỗ để tiếp xúc, phải hiểu cho kĩ để không có lẫn lộn. Cho nên nhĩ xúc là sự tiếp xúc của lỗ tai với âm thanh và cũng có nhĩ thức trong đó. Phải có 3 pháp kết hợp mới tạo ra nhĩ xúc gồm lỗ tai, âm thanh và nhĩ thức. Ba pháp nó giao thoa, hội tụ mới tạo thành nhĩ xúc là sự tiếp xúc của lỗ tai.
Xúc xứ ở đây là chỗ tiếp xúc đầu tiên là phải có mắt, là cái căn bản. Từ cái mắt mình mới tiếp xúc được. Cho nên tuỳ quán vô thường trong sáu xúc xứ, tuỳ quán là luôn luôn lúc nào cũng vậy. Nói rộng ra là căn, trần, thức lúc nào cũng quán tính chất vô thường. Mình thường quán con mắt này là vô thường, các sắc con mắt thấy được là vô thường. Nhãn thức, sự rõ biết các sắc cũng là vô thường, mình thường thường tuỳ quán vô thường ở chỗ căn, trần, thức giao thoa tiếp xúc đó thì mình sẽ nhàm chán đối với xúc được an trú, tức là tâm mình sẽ an trú ở chỗ nhàm chán đối với các pháp đó. Tại vì mình thấy nó sanh diệt liên tục. Còn mình không tuỳ quán vô thường cho nên mình không thấy nó sanh diệt, cái miệng mình nói là vô thường nhưng trong tâm ý mình thấy là thường. Cái miệng mình nói khổ nhưng thực sự sâu thẳm trong đó là vui. Trên môi mình nói là vô ngã mà sâu thẳm bên trong mình là cái tôi to tướng. Cho nên phải tuỳ quán.
Tuỳ quán sanh diệt đối với năm thủ uẩn. Cái này rộng lắm mà những cái pháp này toàn là những pháp đưa đến chứng quả, thánh quả, mình phải nắm thật là vững. Bây giờ chúng ta đi qua cái ái là người thứ hai. Xem người thứ hai của mình là người nào. Trong sự tu tập của hàng Tỳ-kheo thời Đức Phật có một phương pháp gọi là độc cư, phương pháp này thường được phổ biến sử dụng trong thời Đức Phật, bây giờ mình hay gọi là nhập thất, sống một mình. Vị Tỳ-kheo dưới bài pháp này hỏi ý nghĩa của việc sống một mình và như thế nào là sống với người thứ hai
“Nhân duyên ở Sàvatthi...
Tôn giả Migajàla đi đến Thế Tôn...
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Migajàla bạch Thế Tôn:
"Sống một mình! Sống một mình!", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là sống một mình? Và cho đến như thế nào là sống có người thứ hai?
Này Migajàla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy nên hỷ khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỳ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.
Có những tiếng do tai nhận thức... có những hương do mũi nhận thức... có những vị do lưỡi nhận thức... có những xúc do thân nhận thức...có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy nên hỷ khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỳ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.
Tỳ-kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu cho đến ở các trú xứ xa vắng, các khóm rừng, các khu rừng, ít tiếng động, ít ồn ào, khỏi hơi thở quần chúng, vắng người, thích hợp với tịnh; dầu vậy, vẫn được gọi là sống với người thứ hai.
Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, chưa được đoạn tận cho nên được gọi là sống có người thứ hai”
(Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai-Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, I. Bởi Migajàla).
Lời của Đức Phật nói rất sâu xa chứ không phải đơn giản như đọc báo. Phải chiêm nghiệm, đây là trí huệ tột cùng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Như vậy có những sắc do con mắt nhận thức, khả lạc là đáng vui, khả hỷ là đáng mừng, khả ý là vừa lòng, khả ái là đáng yêu. Đáng vui, đáng mừng, đáng yêu, vừa lòng liên hệ đến dục hấp dẫn. Khi con mắt mình nhìn thấy cái sắc nào đó, cái tai nghe tiếng gì đó, cái mũi nếm mùi, cái thân xúc chạm, hay là cái ý của mình duyên với pháp. Tức là tâm ý của mình nghĩ tưởng, suy nghĩ về những cảm giác bên trong mà lúc đó những cái pháp đáng yêu, đáng thích, vừa lòng, đáng vui… liên hệ đến dục hấp dẫn mà mình khoang khoái, hoan hỷ, mình thích thú, tán dương và mình trú ở trong đó với cái tâm tham luyến đối với sáu trần đó thì hỷ khởi lên.
Cho nên chỗ này là chỗ người ta hiểu lầm, họ tưởng rằng đó là làm cho vui, cho cười, hân hoan, an lạc quá, an vui quá, bữa nay đi dự vui quá nhưng mà cái đó là toàn là dục, hỷ, ái không thôi. Thành ra chỗ này hết sức là sâu sắc, mình tưởng đâu hoan hỷ là pháp hỷ, pháp lạc, ngược lại đó là dục lạc. Ví dụ mình dự buổi lễ trai Tăng, dọn lên mười mấy món mà mình ăn ngon quá, vừa ăn vừa cười, nói chuyện hả hê vui thích. Món này ngon, nấu bằng cái gì vậy, công thức ra làm sao vậy thì những cái này toàn là dục, là ái, là tham và đang bị kiết sử trói cột.
Hôm nay "phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc" (Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà-la-môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni). Đó là công việc của Đức Thế Tôn. Mình hoan hỷ trong đó, mình tán dương, mình trú trong đó với cái tâm tham luyến cái hương vị đó, như vậy hỷ khởi lên, hỷ khởi lên do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Mà dục tham đã có mặt rồi thì sự trói cột có mặt. Sự trói cột là ưa thích cái món, ham muốn cái món đó, cái tiếng cũng vậy.
Ví dụ mình nghe giọng cô nào đó tụng mà du dương trầm bổng hay quá. Rồi mở ra thu âm để về lâu lâu "mở nghe nó đã, ước gì mình được cái giọng giống vậy ta" là chết liền. Đó là ái, là dục, là tham. Ghê chưa? Tưởng đâu cái đó là tu mà không phải, cái đó là thanh trần mà bây giờ mình hoan hỷ rồi mình an trú vô đó, rồi mình tham luyến cái âm thanh đó, mình tán dương khen ngợi thì dục tham sanh khởi, ham muốn sanh khởi, mà ham muốn là bị trói cột. Trói cột cho nên lúc trước chưa nghe điệu nhạc đó thì không sao mà bây giờ nghe riết mà thiếu là chịu không nổi. Minh Thành nhớ lúc trước không có nhạc Phật Giáo, bây giờ có bài nhạc Chú Đại Bi Tiếng Phạn gì đó, nghe hoài mà thiếu là không chịu được.
Lâu lâu trong đầu vang lên điệu nhạc đó, chính là thanh tưởng. Mình tưởng đâu mình tu nhưng thực sự là mình lệ thuộc, hướng ngoại, mình bị ràng buộc càng nhiều. Thậm chí có chỗ mở nhạc lên mới tu được. Mở nhạc niệm phật thì đó là những phương tiện cho các Phật tử sơ cơ. Cái đó mình đang làm gì mà mình nói mình tu? Khi lỗ tai mình tiếp xúc với nhạc đó mình có thích thú không? Có khoang khoái không? Đó là vạch trần ra hết cho quý huynh đệ thấy trong đó có tham, có ái và dục. Rồi bữa nào không có nhạc là thấy thiếu thiếu, hơi khó chịu, bực bội. Rồi máy lạnh hay cái quạt cũng vậy nữa, không có là bực mà bực là sân, nếu cúp điện là mình chết theo điện, mà cáp mạng đứt là mình mất mạng luôn.
Vì mạng sống hoàn toàn lệ thuộc vào cái mạng Internet, lỡ mạng có mất thì mình chết luôn. Càng ngày mình càng lệ thuộc, đó là nói bên ngoài mà người tu không khéo cũng giống như vậy, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân tiếp xúc cũng như vậy. Cái dục, cái ái, cái tham này nó vi tế lắm, nó trói buộc mình. Không có gì hết chỉ cần gặp thôi cũng được. Mà gặp rồi nó đâu có dừng lại, cái tham muốn thêm nữa. Lúc đầu chỉ cần gặp thôi cũng vui, nhìn thôi cũng được rồi. Ví dụ đồ quý trong viện bảo tàng là cấm sờ, cấm rờ mà mình cũng lén lén nhìn có ai không rờ một cái, sờ một cái. Cái tâm mình nó ghê vậy đó.
Bị trói buộc bởi hỷ triền phược như vậy được gọi là người sống có người thứ hai, vậy là có gia đình, không phải độc thân. Người thứ hai là ái, ái là người thứ hai. Ái đối với với sắc, đối với hương, đối với thanh, đối với vị, đối với xúc. Một cái rất là khó, chính là pháp. Bây giờ kêu trình bày pháp trần thì ai trình bày được? Khó chứ không phải dễ. Đó khi là mình ngồi yên lại rồi có những hình bóng trong đó, có những lời nói, suy nghĩ theo những hình bóng rồi cảm giác, những cái đó hiện ra, thọ; tưởng; hành trong tâm mình, cái đó là pháp tưởng.
Chẳng hạn như mình ngồi nhớ lại tuổi thơ của mình rất là khó khăn, rất là vất vả. Vừa ở nhà đi bán bánh tiêu, đi bán hủ tiếu gõ, đi bán vé số, đi ở đợ, đi làm mướn thì những hình ảnh đó hiện ra, đó là tưởng uẩn, hình bóng hiện ra rồi mình có cảm giác đau buồn, khó chịu, rồi cái hành mình nói "tại sao cuộc đời mình khổ như vậy? Có những người cùng lứa tuổi với mình người ta sanh ra nhà giàu sung sướng mà tại sao mình sanh ra cái cảnh khổ như vậy?" Rồi lúc đó mình đau xót và có những cảm xúc rưng rưng nước mắt.
Thì lúc đó mình đang sống với thọ, tưởng, hành, thì nó là pháp tưởng. Mình nhớ lại hình ảnh lúc mình mới 18 tuổi, cái mặt mình lúc đó đẹp lắm mà bây giờ đầy mụn bọc, nhớ lại lúc đó là mình mỉm cười, cái thọ dâng lên sung sướng. Hình ảnh hiện ra "mình cũng đẹp chứ bộ, mình cũng có phước, mình tướng tốt". Thì đó là khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, hoan hỷ tham luyến cái sắc tưởng đó. Hỷ rồi dục tham, rồi bị trói buộc đó là mình trói buộc vô cái sắc tưởng quá khứ. Rồi mình nghĩ mai mốt mình trở thành cái gì đó, có cái hình bóng vậy đó.
Cái đó là sắc tưởng tương lai. Hiện tại mình nghĩ tới mình. Một chút về mình đi đâu đó thì hình bóng hiện ra, cái đó là sắc tưởng hiện tại. Nhưng mỗi khi mình nghĩ tới cái đó là khoang khoái, thích thú vui sướng thì đó là triền phược, là tham đắm trong sắc tưởng đó. Khi nó hiện lên mình biết đây là sắc tưởng, sắc tưởng này là vô thường, là tứ đại hợp thành, là pháp duyên sanh. Không có gì cứng chắc trong đây, không là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi ở trong cái ảo ảnh đó thì lúc đó mình phá được cái tham ái, chấp thủ trong sắc tưởng đó.
Đó là sự tu rất là thâm sâu, mình phá lần lần cái hình bóng ảo ảnh về một con người, về một tự ngã, bản ngã trong tâm mình lần lần bị thánh trí soi thủng. Nó phá tung cái hình ảnh đó ra, biết đó chỉ là sắc tưởng thôi. Mình gọi đúng tên đó là sắc tưởng, lúc trước mình gọi đó là tôi, tôi ở trong quá khứ, tôi ở trong tương lai và tôi ở trong hiện tại thì cái đó là vô văn phàm phu, không có thành tựu trí huệ, không phải là đa văn thánh đệ tử. Khi hình bóng hiện lên thì mình đọc "đây là sắc quá khứ, sắc tưởng của quá khứ, sắc tưởng này là vô thường, nhân duyên tạo thành, cái đồ lắp ráp. Chẳng có là cái gì hết, hãy xem đi".
II. Đời sống vô thường
Mười em bé đi tắm, chơi banh ở dưới nước, một đứa không biết bơi ngồi ở trên, chín đứa xuống thì chết hết tám đứa. Cả một dãy phố tang tóc, mình nhìn mà không cầm được nước mắt. Những em bé chỉ chín mười tuổi thôi mà chết hết tám em, cả một khu phố như vậy ràng rụa nước mắt. Những em bạn học đi tới đám tang nói không biết chuyện gì xảy ra. Ở miền trung, đang tắm sông Đà rồi bị dòng nước xoáy, hút xuống chết hết tám đứa. Hai vợ chồng đang ngủ trong nhà, bốn giờ khuya xe tải tông vào cán chết, văng đứa con ba tuổi ra. Đứa bé còn sống, hai vợ chồng chết tại chỗ.
Chuyện gì vậy? Họ chết mà không biết chuyện gì hết, đó gọi là chết oan. Cái thân xác này là vô thường, tạm bợ, mong manh, tan hoại, tan nát, bất cứ lúc nào nó cũng sụp đổ, tan vỡ được hết. Phải mở trí huệ nhìn sâu vào sắc uẩn này để quán chiếu, để ly tham, từ bỏ, không có tham đắm vô trong đây. Trên đường cao tốc Liên Khương hai xe chạy ngược chiều nhau tông con lươn rồi đâm qua bên kia, cô vợ chết ba người kia bị thương. Toàn là những chuyện mà mình không thể nào tưởng tượng được, nếu tưởng tượng được thì đâu có vô thường.
Cho nên Thượng Toạ khối văn phòng sáng nay nói "Thưa thầy, không ngờ mẹ con chết, mới còn khoẻ bình thường, còn nói chiều đi đám tang của ba của thầy Minh Thành", mới một ngày có tin của ba người chết, hai mẹ của hai thầy và một ba của một thầy. Tổng cộng hai bà mẹ và một ông cha của ba người. Phải nhìn thấy được những điều đó để phá tung cái chấp ngã, cái hiểu sai hiểu lầm cho rằng cái sắc này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Đang ngủ trong nhà mà 4h sáng xe tông vào nhà cán chết tại chỗ như vậy, mình có thể nào tưởng tượng ra không? Thì thực chất cái "thân này bản tính là như vậy, bản chất là như vậy không thể vượt khởi bản tánh ấy" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ). Khổ! Khổ là tính chất của năm uẩn, vô thường là tính chất của năm uẩn, vô ngã là tính chất của năm thủ uẩn này. Ở dưới Đồng Tháp có ba mẹ con chạy bên hông xe container rồi bị lật thùng xe đè chết tại chỗ. Mỗi một ngày ở trong nước mình số người chết vì bệnh lao gần 40 người, còn trên thế giới là bốn ngàn người. Không biết lo sợ mà cười nói, tối ngày lo nấu món này món kia rồi rủ nhau đi chơi đó là sống trong si mê, vô minh.
Bạn đọc bình luận về hai người đang ngủ mà bị xe tông chết là không chỗ nào là chỗ an toàn, ở trong nhà đang ngủ mà bị tai nạn giao thông thì còn chỗ nào là chỗ an toàn? Đó là pháp, đó là Nikāya của thế kỉ 21. Đức Phật trong Tăng Chi Bộ Kinh nói có bốn pháp không an toàn là sanh không an toàn, bệnh không an toàn, chết không an toàn và ác nghiệp không an toàn.
Mình không lo lắng thì bất thình lình cái chết đến là mình trở thành cô hồn, không phải chuyện giỡn chơi, vì không biết tại sao mình chết. Rồi tâm tham luyến, tham ái mạnh về một vật nào, về một người nào thì có thể mình không thể siêu thoát được. Còn không thôi là quay trở lại rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Còn không thôi là rơi trong những nơi bần cùng, thấp hèn, đi ở đợ, hoặc bị nan y hay là tật nguyền. Bao nhiêu những cảnh khổ, cùng khổ vô cùng.
Cho nên trong dòng luân hồi này không bảo đảm, chỉ có thánh quả Dự lưu thứ nhất là thẳng đến Chánh Giác, không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chỉ có bậc đó mới chắc chắn. Còn chưa vào Dự lưu quả thì còn rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chứ chưa nói đến rơi vào cảnh nghèo cùng, khốn khổ, bệnh tật, khổ sở. Vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì cơ hội đó là lớn lắm.
III. Dặn dò đời sống tu tập
Cho nên trở lại vấn đề tu như thế nào? Dù cho mình ở chỗ xa vắng, ít tiếng ồn ào, không nghe hơi thở của quần chúng, vắng người nhưng vẫn gọi là người sống có người thứ hai. Tại vì cái ái mình chưa có lìa, mình chưa có từ bỏ. Nếu nói sống một mình như vậy thì có rất nhiều người ở trong rừng, con khỉ, con vượn ở trong rừng nhưng nó không chứng ngộ hoặc ở tù chung thân họ đâu có chứng ngộ gì. Trong đó tràn đầy dục tham, sân hận, bản ngã, vô minh, chấp thủ.
Cho nên sự tu tập của mình là luôn luôn nhìn lại những cảm giác, những nghĩ tưởng của mình xem nó có dính mắc vào trong tham ái, tham dục không? Nó có bị trói buộc trong đó không? Để mình cắt, gỡ từ từ ra. Đó là sự chân tu, chứ không phải hình thức bên ngoài mà tối ngày mình làm hình thức bên ngoài hoài rồi tham dục, si mê, bản ngã của mình chình ình giống như núi Tu Di vậy đó. Thành ra mình mới thấy lời dạy của Đức Phật quý lắm, phải thực hành.
“Và này Migajala, có các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy, nên hỷ đoạn diệt; thời do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình. Tỳ- kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu có ở giữa làng tràn đầy những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa, đại thần của vua, các ngoại đạo và các đệ tử các ngoại đạo, vị ấy vẫn được gọi là vị sống một mình.
Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, được đoạn tận, do vậy được gọi là sống một mình”
(Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai-Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, I. Bởi Migajàla).
Tu là phải tới mức độ đó. Đó là mục tiêu, là chỗ hướng tới, là chỗ cứu cánh phạm hạnh, là chỗ ly dục, ly tham, ly ái, ly khát khao, ly ngã mạn, ly chấp thủ. Đó là chỗ tôn kính của người xuất gia, là chỗ tuyệt diệu của đa văn thánh đệ tử. Thầy của trời và người là cái pháp này, ứng dụng được cái này thì không còn là thầy của người mà là thầy của trời.
Cho nên tu cái này làm sao có thời gian rảnh? Suốt ngày nhìn lại nội tâm, cảm giác, nghĩ tưởng hoài để kiểm tra trong đó. Mình nói mình tu mà không chừng mình đang nuôi dưỡng dục, ái, tham, ngã mạn, đang nuôi dưỡng cái vô minh, mình có thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức đâu. Mình có biết cái nào là sắc tưởng, thanh tưởng, ương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng đâu. Mình có biết cái gì đâu, thành ra ở trong vô minh hết, nó vận hành trong vô minh, trong tham ái hết.
Cho nên trong bài kinh Cột Trụ, Đức Phật ví dụ con chó buộc sợi dây thừng, buộc vô cây cột thì nó ăn, nó uống, nó sủa, nó làm cái gì cũng lòng vòng xung quanh cây cột, không ra khỏi cây cột đó. Tức là mình bị buộc vào năm uẩn. Mình nghĩ cái gì cũng không ra ngoài sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cái suy nghĩ về sắc thân này và những vật chất, rồi đi tìm những cái vật chất, nghĩ cái này, tưởng cái kia, suy nghĩ, nhận thức tối ngày lòng vòng như vậy phục vụ cho tham ái. Suốt cuộc đời là vậy, đi tìm kiếm hoài những cái gì mình thích, những cái gì mình khoang khoái. Không khéo đi xuất gia rồi mà đi tìm bằng cấp, tìm ngôi chùa để trụ trì, tìm chức vị, tìm cái danh tiếng, hoàn toàn là trái ngược, Đức Phật không có dạy như vậy.
Cho nên chỗ này hết sức là quan trọng, bậc thầy phải là bậc chân nhân, phải là bậc thành tựu tri kiến mới dạy học trò tới thánh đạo, thánh quả được. Còn bây giờ vô cạo đầu rồi ráng đi kiếm bằng cấp với người ta để ra làm trụ trì hay làm giảng sư này kia thì vị thầy đó không phải là bậc chân nhân, không phải là người có chánh tri kiến. Cho nên trong kinh Đức Phật ví dụ người mù đi đằng trước rồi người mù ôm theo sau rồi đi xuống hố, đi xuống vực sâu. Tại vì người dẫn đường không phải là bậc sáng mắt, không phải là bậc minh nhãn.
“Thế Tôn nói như sau:
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trong khi nắm giữ nội xúc, nắm giữ nội xúc như sau: "Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết; sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?". Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết như sau: "Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết. Sự đau khổ này lấy sanh y làm nhân, lấy sanh y làm tập khởi, lấy sanh y làm tác sanh, lấy sanh y làm hiện hữu. Do sanh y có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh y không có mặt, già chết không hiện hữu". Vị ấy biết già chết. Vị ấy biết già chết tập khởi. Vị ấy biết già chết đoạn diệt. Vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Và nhờ thực hành như vậy, vị ấy trở thành một vị tùy pháp hành.”
(Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Những câu này rất sâu sắc. Bây giờ có đọc đại tạng kinh mà không giải thích ra thì không thể hiểu nổi. Cho nên mọi người phải cố gắng chú ý đọc tới, đọc lui và cố gắng quán chiếu, nghiền ngẫm mới hiểu được cái trí huệ tối thượng của bậc Thiện Thệ chứ đâu phải nói giống như là mình đọc báo, đọc sách. Sự đau khổ trên cuộc đời này có nhiều dạng, nhiều hình thái, nhiều hình thức của khổ đau, ngồi đây nói ba chục năm cũng không hết, cái hình thái của khổ nói một trăm năm cũng không hết.
Tại vì mình không mở con mắt trí huệ để quán chiếu là không thấy, chứ mình quán chiếu là thấy cái khổ nó dữ dội lắm. Bây giờ quý huynh đệ thử nghĩ rơi vào trường hợp bị tâm thần có khổ không? Có một đứa con gái mới mười bốn tuổi mà mẹ bệnh, cha thì tâm thần, sau đó mẹ nó chết. Đứa bé này đi làm thuê rồi về chăm sóc cho cha nó, mà cha nó còn lấy đá, lấy cây đập đánh nó.
Mỗi lần bị đánh đập là nó khóc mà không phải nó khóc do đau mà khóc vì nhớ mẹ. Tại vì hồi xưa mẹ còn sống, mỗi lần bị đánh như vậy mẹ nó đỡ, mẹ nó can mà giờ mẹ có mất rồi không có ai can nữa hết. Mới có mười mấy tuổi phải đi làm mướn, làm thuê, phải đi mò cua, bắt ốc, mỗi bữa đi vớt những con cá lòng tong, khổ lắm. Mới đây Tivi chiếu lên cô này bị chồng tạt axit đầy mặt, cơ thể bị hủy hoại 80%. Cô ấy nói "con không bao giờ tưởng tượng nổi cái cảnh này ra, con nghĩ chỉ trong phim thôi, không thể nào nó lại diễn ra trên thân thể con".
Quý huynh đệ đừng có ngủ say ở trong chùa, coi chừng mình đang bị ru ngủ. Tức là mình sống mỗi ngày đều đều như không có gì, mọi việc đều an lành, như vậy là mình đang ngủ mê. Cuộc sống này không có tốt như vậy đâu, bất cứ chỗ nào trong cơ thể của mình cũng có thể thành ung thư, bất cứ một lời nói nào của mình cũng trở thành thị phi khủng khiếp, bất cứ một hành động nào cũng có thể làm sụp đổ hết danh tiếng, đạo nghiệp.
Cho nên người biết tu là người phải cẩn thận, biết sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Phải cảm thấy sợ hãi, luôn luôn quay trở lại để diệt tận những cái ô nhiễm trong suy nghĩ, trong tưởng tượng, ở trong nhận thức, ở trong cảm giác của mình. Không lúc nào ngơi nghỉ và không cho phép mình thả lỏng các căn. Không cho phép mình dễ buông lung phóng dật mà phải luôn luôn liên hệ đến mục đích. "Mình đi vô chùa mình làm cái gì? Mình bỏ cha, bỏ mẹ vào đây làm cái gì? Mình cạo đầu làm cái gì?" Mình hỏi hoài như vậy để thúc đẩy sự tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh. Mình phải tu Tứ Chánh Cần và Tứ Như Ý Túc.
Mình phải có sự tham muốn mãnh liệt ở trong tâm để chứng ngộ những điều chưa chứng ngộ, chứng đạt những điều chưa chứng đạt và chứng đắc những điều chưa chứng đắc. Làm cho cái Dục Như Ý Túc thật là mạnh lên thì mới tạo thành một sự nỗ lực, để tâm vào sự tu học. Mình kiểm tra lại xem mình có đem lòng cung kính và tôn trọng thật sự đối với giới chưa? Mình có đem hết tấm lòng tôn kính, tôn trọng tối thượng của mình đối với thiền định chưa? Mình có đem hết tất cả tấm lòng tôn kính, quý trọng tối thượng của mình đối với trí huệ chưa? Đương nhiên là chưa.
Nếu thật sự đạt được tâm đó thì niệm, thiền định liên tục không có gián đoạn, hành trì giới pháp và tuệ quán của mình thâm sâu. Mình tưởng đâu mình sống đều đặn, mà không phải, thật chất mình đang ở trong kiết sử. Mình bị trói buộc bởi sự buông lung, của sự hưởng thụ của dục, của ái, của tham. Mình bị trói buộc ở chỗ làm biếng, làm nhát, giãi đãi. Mình không muốn bắt chân lên ngồi thiền, mình nói "mệt lắm, ngồi không nổi, bệnh". Mở sách ra, mở pháp lên là ngủ, tất cả những cái này là truyền cái, tức là mình sống trong bóng tối, sống trong sự trói buộc của ngũ cái.
Chính là sự tham dục, sân hận, trạo cữ, hôn trầm và nghi, năm truyền cái đó nó bao trùm, nó che mình hết. Mình ở trong ma trận, bát tà đạo mà mình nói mình đang tu tập Bát Chánh Đạo, không hành tựu chánh tri kiến làm sao tu Bát Chánh Đạo. Mình không biết đâu là sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Mình không thấy được sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu ái, sáu tư. Mình không thấy các pháp duyên sanh vận hành thì làm sao quán chiếu được? Tất cả những cái mình thấy là một cái tôi, một cái của tôi như đang trong bát tà đạo, bát quái trận. Cho nên mọi người thấy sự tu học nghiêm túc, sát sao theo Đức Phật là không phải chuyện đơn giản.
Mình nhìn hiện tại đang tu kiểu gì? Học kiểu gì? Người dẫn đường mà còn không biết đường, rồi dẫn đi sai lạc, sai lầm hết. Làm sao mà đi đến thánh đạo, thánh quả được? Làm sao mà diệt tận được tham, sân, si và bản ngã? Cho nên trong tất cả hình thái của khổ thì cái khổ lớn nhất là cái chết. Nhiều khi mình nói "tôi không có sợ cái gì hết", nhưng thật sự cái chết mới là cái khổ lớn nhất vì khi chết đi thì tất cả cái còn lại đều vô nghĩa, đều sụp đổ hết.
Có người đó nói "tôi không có sợ chết" nhưng đến lúc đó vừa hoảng loạn, vừa bấn loạn. Tại sao vậy? Vì mình không biết khi nhắm mắt rồi mình thành cái gì, mình đi đâu. Tất cả những ác pháp của mình hiện ra, những tưởng uẩn của mình hiện ra, bao nhiêu những cái tập nghiệp của mình hiện ra.
Cho nên già chết, đau khổ này lấy gì làm nhân? Tại sao già chết này có sanh. Vì nó lấy sanh làm nhân. Nó có sanh cho nên có già chết, không có sanh sao có già chết. Cái thâm sâu để có cái sanh là sanh y. Sanh y là chỗ y cứ để mình thọ sanh, sở dĩ mình có sanh tử luân hồi là do cái đó. Đó là chỗ dựa của sự thọ sanh, của sự sanh ra cho nên gọi là sanh y. Y là y cứ chỗ dựa. Như vậy chỗ dựa để mà sanh ra thì đó là ái. Ái là nhân, ái là tập khởi, ái là tác sanh, ái là làm cho hiện hữu. Mình cứ nghĩ đơn giản ái là nam nữ. Không phải, chuyện đó thì ai cũng biết.
Trong Đại Niệm Xứ thì ái là mình yêu thích. Yêu thích con mắt này, con mắt của chính mình. Yêu thích cái lỗ tai này, yêu thích cái lỗ mũi, cái miệng, cái lưỡi, cái thân này. Yêu thích những cảm giác này, những nghĩ tưởng trong nội tâm, những suy nghĩ mình yêu thích hết. Nói đơn giản là năm thủ uẩn. Chính chỗ yêu thích đó làm cơ sở y cứ để cho mình tiếp tục thọ sanh ra đời sau, sanh ra thân năm uẩn nữa mà không biết là cái thân gì. Hoặc là cái thân có lông lá bù xù, hoặc là có sừng, hoặc là không có xương sống, hoặc là hai chân, hoặc là bốn chân, hoặc là nhiều chân.
Đó là y cứ của thọ sanh, là mình thích cái thân ngũ uẩn. Và cái yêu thích đó là sanh y, ngày nào mình còn yêu thích tấm thân của chính mình, mà yêu thích chính mình là mình yêu thích người khác thì cái ngày đó sự sanh tử còn tiếp diễn, đây là chỗ hết sức là thực tế, hết sức là sâu sắc. Ví dụ động đất ở đây rồi mình quán từ bỏ ngũ uẩn là mình chứng thánh quả Bất lai hoặc A-la-hán, không có gì phải sợ.
Lỡ có người nào bất thình lình đứt hơi, ngất xỉu thì người ấy tối thiểu cũng vào hướng Dự lưu nếu người đó chú ý lắng nghe và chú tâm quan sát là sẽ vào hàng bốn đôi tám chúng của Đức Phật. Nếu mà người nào mạnh, tâm mạnh thì có thể Nhập lưu thánh quả thứ nhất. Đang nghe pháp mà mình "được" chết, mà người nào chú tâm theo lời pháp này thì người đó có thể vào Dự lưu cho đến những quả vị lớn hơn. Thành ra đừng sợ, ngay lúc này mà chết đã lắm, chết tốt lắm, rất tốt.
“Do sanh y không có mặt, già chết không hiện hữu". Vị ấy biết già chết. Vị ấy biết già chết tập khởi. Vị ấy biết già chết đoạn diệt. Vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Và nhờ thực hành như vậy, vị ấy trở thành một vị tùy pháp hành.
Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo đã thực hành để diệt tận khổ đau, để đoạn diệt già chết một cách hoàn toàn”
(Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ).
Biết già chết, rồi biết già chết tập khởi rồi biết già chết đoạn diệt và biết con đường đưa đến sự chấm dứt già chết. Đây là bốn loại trí huệ. Mình có biết già chết chưa? Bây giờ mình cứ vui cười "Mình còn lâu lắm. Bữa nào thầy cũng nói chuyện già chết không thôi, con còn khoẻ, còn trẻ, còn đẹp mà cứ nói chuyện già chết", như vậy là mình chưa biết già chết. Mình chưa biết pháp ấy là pháp tất yếu nhất định mình phải đi đến, biết rõ được điều này là mình biết được già chết. Biết già nó như thế nào? Hình thể nó tiều tuỵ, nó suy lão như thế nào, cảnh chết nó hiện ra làm sao. Cái đó gọi là biết già chết.
Biết già chết tập khởi, ái tập khởi cho nên già chết tập khởi, ái đoạn diệt cho nên già chết chấp dứt. Vị ấy biết được con đường mà đưa đến chấp dứt già chết, đoạn diệt già chết. Con đường đó là con đường ái tận, ly tham đối với năm thủ uẩn thì đó là con đường chấp đứt già chết. Cho nên quý huynh đệ học xong khoá Cao Đẳng này ra mới thực sự là người tốt nghiệp Cao Đẳng Phật học. Học cái này rồi lên giảng dạy, hướng dẫn là tuyệt luân. Đây là mới là giáo pháp chí thượng, tối thượng của Đức Phật. Đây là lõi của lõi, là trái tim của chánh pháp. Phải nhỡ kỹ ái và tham đối với năm thủ uẩn chứ không phải nói gọn đối với người nào đó hay là món đồ nào đó, đó là cái pháp nhỏ lắm. Phải nói trùm luôn năm uẩn mà năm uẩn là cả vũ trụ.
Vị ấy thực hành như vậy gọi tuỳ pháp hành. Vị tuỳ pháp hành này là vượt phàm phu địa, không còn là người phàm phu nữa. Dù cho chưa nhập thánh quả nhưng không còn là người phàm phu, Đức Phật xác định như vậy. Tuỳ pháp hành là luôn luôn thực hành cái pháp, sống với cái pháp và quán với cái pháp đó. Như vậy gọi là bậc tuỳ pháp hành, đây là một trong những quả vị của Đức Phật. Trong bảy bậc thì có tuỳ tính hành, tuỳ pháp hành... nhiều lắm.
Mở tâm từ, quán tưởng tâm từ, trải tâm từ mình đến cùng khắp hết tất cả chúng sanh. Thương chính mình trong cái tham, sân, si, vô minh và thương khắp tất cả chúng sanh đang bị khổ. Trải tâm từ đến người ghét mình, thù giận mình. Trải tâm từ của mình về phương Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phía trên dưới cùng khắp cả không gian. Nguyện cho tất cả chúng sanh đau khổ đều được thể nhập chánh pháp, được hạnh phúc, bình an.
./.