Kinh Di Giáo Giảng Giải 20 - Lời Khích Lệ Sau Cùng 3
Kinh Di Giáo Giảng Giải 20 - Lời Khích Lệ Sau Cùng 3
(Văn bản. Diệu Quang)
“Lúc bấy giờ trong chúng hàng đệ tử hữu học, phải đối diện sự thật đức Phật phải vô dư Niết bàn đều thương cảm sót xa, hàng đệ tử mới vào đạo nghe những lời dạy cuối cùng đều được hóa độ như trong đêm tối nhờ có ánh sáng nên thấy đường đi, các hàng đệ tử vô học đã dứt sạch các phiền não, vượt qua khỏi sanh tử nhưng lại nghĩ rằng tại sao đức Thế Tôn vô dư Niết bàn quá sớm. Lúc đó đức Phật vì thương bốn chúng nên dạy thêm rằng.
Này các đệ tử chớ có thảm sầu đau sót, dẫu Như Lai có sống thêm một kiếp nữa rồi cũng phải đến ngày Niết bàn, hội ngộ mà không chia ly, kết hợp mà không tan rã là điều không thể có, những kinh nghiệm và pháp thức lợi mình lợi người Như lai đều đã tuyên bố thật chẳng có ích lợi gì nếu Như lai sống lâu nơi đời mà các vị không thực hành chánh pháp, những chúng sinh đáng độ Như lai đã độ hết, những chúng sinh chưa đươc độ Như lai đã tạo nhân duyên để họ được hóa độ. Từ nay trở đi đệ tử của Như lai phải neo theo truyền thống chánh pháp mà thực hành, đó là cách làm cho pháp thân thường còn và mãi mãi bất diệt ở thế gian, Như lai vô dư Niết bàn hay không việc đó không quan trọng. Này các đệ tử các vị nên nhận thức được hiện tượng thế gian này đều là chuyển biến vô thường, có kết hợp thì phải có tan rã chẳng có gì để quyến luyến thương tâm, cuộc đời là như thế, các vị phải nỗ lực tinh tấn để tự giải thoát, dùng ánh sáng trí tuệ để tiêu diệt bóng tối si mê, đời là một sự vận hành không kiên định, Như lai vô dư Niết bàn như bỏ đi một căn bệnh dữ đó là năm uẫn mang tính tội lỗi tạm gọi là thân, vì thế nó phải chịu sự chia phối không thương tiếc của già bệnh và chết chết, bậc trí huệ khi thoát khỏi nó có cảm tưởng là dẹp xong bọn cướp như vậy chết không đáng để hoan hỷ an lạc hay sao.
Này các đệ tử, các vị phải tha thiết tìm kiếm con đường giải thoát, toàn thể thế giới từ những vật đang vận động cho đến các sự vật không vận động cũng đều vô thường không có thật rồi phải đến lúc hoại diệt. Thôi các vị hãy yên lặng đừng nói thêm lời nào nữa, đã đến lúc Như lai vô dư Niết bàn đó là những lời dạy cuối cùng của Như lai”.
Chúng ta phải bám sát theo trong kinh văn đừng có hiểu theo cách nghĩ hay cách tưởng của mình để mình chim nghiệm trong đó để thấy được những cái pháp trọng yếu mà đức Phật muốn nhắn gửi.
Trong đây có hai từ hàng đệ tử hữu học và hàng đệ tử vô học
-. Hàng đệ tử hữu học đối diện với sự kiện mà đức Phật nhập Niết bàn rất bi cảm đau sót. Trong kinh Trường bộ diễn tả những vị hữu học có vị nghe là xỉu, có vị nghe lăn dưới đất gào khóc, có vị nghe dơ hai tay lên trời kêu la sao đức Thế Tôn nhập Niết bàn quá sớm chúng con biết nương tựa vào ai, có rất nhiều vị lăn dãy dưới đất kêu gào khóc. Những vị hữu học là còn đang thực hành Tứ niệm xứ, đức Phật nói trong Tương ưng bộ kinh và Tăng chi bộ.
Thế nào là bậc hữu học là bậc còn phải tu học, tu học cái gì? tu học Tứ niệm xứ
-. Thế nào là bậc vô học là bậc đã thực hành Tứ niệm xứ trọn vẹn hoàn toàn gọi là vô học, thực hành Tứ niệm xứ tức là bậc A-la-hán. Những vị dứt sạch phiền não đạt tới vô học nghĩ rằng sao đức Thế tôn vô dư Niết bàn sớm quá, chứ không xúc động mạnh kêu gào khóc thảm như các vị hữu học tại vì các bậc A-la-hán dứt sạch tham ái, cũng tiếc nuối nhưng tâm các Ngài bất động tâm giải thoát cho nên các Ngài không còn cái ái, tuy rằng thương đức Phật quý kính đức Phật nhưng vị phàm phu còn cái ái còn các bậc thánh là bất động thân giải thoát, còn hàng đệ tử mới vào đạo thì nghe những lời đức Phật nhắn nhủ dạy bảo giống như ánh sách chớp lên giống như trong đêm tối để thấy đường đi.
Đức Phật nói chớ có thảm sầu đau sót dù cho Như lai có sống thêm một kiếp nữa đi nữa cũng phải đến ngày ra đi, một kiếp là sự thành hoại của trái đất. Trước khi nhập Niết bàn đức Phật gợi ý cho Ngài A-nan, bậc chánh đẳng giác đã viên mãn hết tất cả công đức ba la mật nếu muốn sống lại một kiếp cũng được, đức Phật gợi ý như vậy nói ba lần mà lúc đó Ngài A-nan gọi là trí huệ lúc đó không tỏa rạng đó cũng là nhân duyên của chúng sanh ở thế giới này, Ngài A nan không nói gì hết cũng sau đó cũng không cầu thỉnh đức Phật ở lại, đức Phật mới ta chấm dứt thọ mạng nếu đức Phật muốn vẫn có thể ở thêm một kiếp, đức Phật nói ta có sống lâu dài thêm nữa cũng phải qua đời vô thường tại vì hội ngộ mà không chia ly, kết hợp mà không tan rã điều đó không thể có được, đã biết bao nhiêu lần lớp học này hợp rồi tan, sáng hợp trưa tan, biết bao nhiêu lần chúng ta đã về hội ngộ cùng mẹ cha và gia đình rồi cũng trở lại chùa, đã biết bao nhiêu lần chúng ta họp mặt huynh đệ hay là họp mặt trong bữa lễ cúng xong rồi tan, biết bao nhiêu lần họp mặt với Thầy với Phật tử rồi tan, xét sâu hơn biết bao nhiêu lần trong cuộc luân hồi này mình hợp tan tan hợp vô cùng vô tận cuộc đời sanh tử mà mình không thấy được quy luật chân tướng của các pháp, chuyện đó đương nhiên là vậy chứ mình không có để tâm vào đó để quán chiếu, để tâm vào đó để quán chiếu mới phát sanh ra trí huệ, trí tuệ của vô thường, trí tuệ của duyên hợp, trí tuệ của sự tan rã, kết hợp rồi tan rã, hội ngộ rồi chia ly, cũng như thân tứ đại của mình nó hợp rồi nó sẽ rã rời. biết bao nhiêu người nghỉ lễ về, tết rồi về để hội ngộ gia đình nhưng trong chuyến hội ngộ đã chia ly trên đoạn đường tai nạn giao thông, mình quán chiếu sâu sắc mình mới phát sanh trí huệ còn nghe qua để đó không phát sanh trí huệ, giai đoạn giây phút cuối cùng tan hợp người thân thương nhất của mình có cái nhìn trước bây giờ mình mới thấy chứ không phải kêu gào khóc lóc thở than cái đó là nét sống của vô văn phàm phu, còn mình đa văn thánh đệ tử phải chim nghiệm điều đó, ở đây đức Thế Tôn nói để cho mình thấy được không phải riêng bản thân của Ngài mà của tất cả mọi người đang ở trong pháp hội đó cũng phải tan rã người, không phải những người trong pháp hội đó mà sau pháp hội đó tới bây giờ rồi tất cả những người ngồi ở đây cũng tan hợp mãi mãi nó là như vậy mình thấy được như vậy trong lúc hợp mình không bị luyến ái trong khi tan mình không bị tiếc nuối, mình giữ được tâm bất động trong hợp tan thành hoại.
Những kinh nghiệm pháp thức lợi mình lợi người đức Phật đã tuyên bố hết rồi, lợi ích gì mà những ai ở đời mà vị ấy không thực hành chánh pháp, thực hành chánh pháp cái đó mới quan trọng, thực hành chánh pháp thân Như lai mới trường tồn bất diệt ở thế gian thực hành chánh pháp là thực hành Tứ niệm xứ, thực hành Tứ niệm xứ là quán xét thân tâm, luôn luôn lúc nào mình cũng nhìn lại cái thân của mình như thế nào? sắc luôn luôn mình nhìn lại xem cảm giác của mình cảm giác ra làm sao? coi trong tư tưởng ,suy nghĩ và sự rõ biết nhận thức trong nội tâm của mình coi năm uẫn ngay giờ phút này như thế nào, trạng thái ra làm sao? nhìn thấy được tính chất biến đổi, tính chất mà vô thường, tính chất trống rỗng, tính chất không cốt lõi, cảm giác luôn luôn thay đổi, tư tưởng luôn luôn vận hành những suy nghĩ những hình bóng trong nội tâm của mình liên tục liên tục sanh diệt nhưng mình không thấy tại vì mình không thực hành Tứ niệm xứ, mình không quán xét lại thân tâm mình phóng ra mình nhìn cái bên ngoài đúng sai hơn thua tích lũy thêm cái nghiệp, càng đi xa mục đích của người xuất gia cho nên dù cho Như lai ở đời thật lâu đi nữa cũng không thực hành chánh pháp cũng không có gì hết nếu như các ông thực hành chánh pháp pháp thân Như lai còn hoài thường trụ ở thế gian tại vì vị Tỳ-kheo này bệnh nặng mới nhờ một thầy Tỳ-kheo nói xin Tôn giả hãy đi đến bạch với Thê Tôn, bây giờ tôi bệnh rất là nặng mà tôi rất mong muốn được thấy thân tướng của đức Thế Tôn nếu như mà đức Thế Tôn từ bi thương xót xin đức Thế Tôn để cho con được nhìn thấy được cái sắc thân tướng hảo của đức Thế Tôn Tỳ-kheo này chuyển lời mới đến đảnh lễ thỉnh thưa đức Phật đến.
Phật đến mới hỏi ông thấy có điều gì hối hận trong giới định huệ hay không.
Ông nói con không có gì hối hận, con chỉ hối hận một điều là con bệnh nặng con không đi đến để chiếm ngưỡng thân tướng trang nghiêm của đức Thế Tôn,
Lúc đó đức Phật mới quở, ông chớ có mê muội sắc thân bất tịnh hôi hám vô thường này có gì để đáng chiêm ngưỡng, ai thấy pháp là người đó thấy ta, ai thấy ta người đó thấy pháp, đang thấy pháp là chính người đó thấy ta, đag thấy ta tức là người đó thấy pháp như vậy gọi là thấy được Như lai, lúc đó đức Phật khai thị sách tấn cho vị Tỳ-kheo này đốt cháy hết phiền não tham ái chứng A-la-hán ngay chỗ giường bệnh nặng. Vướng sau cùng tất cả bỏ qua hết kính mến, ái cái sắc thân vi hảo của đức Phật, đức Phật dùng câu mạnh quở đập tan cái ái một chút còn sót lại chỉ cho thấy thật tướng bất tịnh của thân này, cái nãy da bất tịnh này có gì đáng nhìn đáng xem, lúc đó vị Tỳ-kheo này thành tựu quả tối cao cho nên đức Phật luôn luôn nhắc mình phải thấy được pháp, thấy pháp thật sự là thấy đức Phật cho nên bây giờ cái biểu tượng cũng hay nhưng không khéo mình cứ chạy theo hình tướng niểu tượng Phật gỗ, Phật vàng ngọc, mê mẫn săn kiếm tìm cái đó cũng chạy theo tướng sanh diệt, tướng ở bên ngoài đức Phật khai thị cho mình rất rõ, ai thấy pháp là người đó thấy ta ai thấy ta phải là người thấy pháp, thấy pháp là thấy rõ cái thân năm uẫn ái dục trong nội tâm của mình phải thấy để mình chuyển hóa cái chỗ đó mới là chỗ thấy Phật thật, chỗ này người xuất gia mình phải thấy vững.
Những chúng sanh đáng độ đức Phật đã độ hết rồi, những chúng sanh chưa được độ thì tạo nhân duyên để họ được độ, mỗi lúc hừng sáng đức Thế Tôn luôn luôn nhập vô chánh định để quán chiếu coi người nào nhân duyên tuệ quán đã chín mùi đức Phật sẽ tới đó để khai thị điểm hóa cho người đó nên đức Phật không điểm thôi điểm là chứng ngộ, chứng ngộ là vậy chứ không phải ai Phật nói đều chứng ngộ, không phải, tại vì sáng nào đức Phật cũng nhập đại định, đức Phật coi trong vùng này trong Thành phố này trong quận huyện này người nào mà nhân duyên đã chín mùi, đức Phật tới điểm thì người đó sẽ thành tựu, giống như trái đã chín rồi gió thổi hơi mạnh xíu là nó rụng chứ không phải bất cứ ai gặp Phật cũng chứng quả, có một vị Tỳ-kheo Thiện Tinh đi theo đức Phật mười mấy hai mươi năm ở bên cạnh đức Phật thuộc kinh điển lào thông mà đọa địa ngục, ngay thời đức Phật các vị Tỳ-kheo giữa kinh sư và luật sư tranh cãi để bồn nước trong nhà vệ sinh, lúc đó đức Thế Tôn nói các vị bạch đức Thế Tôn nói chuyện này để tự chúng con giải quyết, ngay thời đức Phật đã như vậy cho nên phải biết rằng sự tu là phải do tự mình nỗ lực, mình phải tu tập tuệ quán sâu sắc, quán chiếu năm uẫn thấy được vô thường khổ không vô ngã thật là sâu, tới lúc duyên chín mùi lúc đó mới thành Phật chứ tu chứng không có vụ cầu may, hên xuôi không có, thời tiết nhân duyên phải chín mùi.
Thế nào gọi những chúng sanh đáng được độ mà Như lai được độ là tất cả những người có duyên với Phật và tu tập đã tới mức đó đức Phật đã độ hết rồi, cho tới ông tu bạt đà la một trăm hai chục tuổi ông tu cuối cùng đức Phật người đệ tử cuối cùng chứng A-la-hán, những chúng sanh chưa được độ ta đã tạo nhân duyên cho được độ là đức Phật đã giáo hóa rất nhiều vị chứng A-la-hán sạch hết phiền não lậu tận thấy rõ con đường Tứ niệm xứ, Bát chánh đạo và Tứ thánh đế và những người này sẽ độ cho những người sau những người có duyên những vị này được gọi những người mà chưa được độ ta đã tạo nhân duyên cho họ được độ, mình đừng nghĩ chúng sanh vô biên thề nguyện độ là độ hết không còn một chúng sanh nào lúc đó mình mới thành Phật, hiểu cái đó là trật, không đúng.
Từ nay trở đi các đệ tử hãy neo theo các truyền thống chánh pháp mà thực hành, truyền thống là Bát chánh đạo, Tứ niệm xứ, Tứ thánh đế, tất cả pháp đều quy tụ trong đó, trật ra đó là không có thánh quả, không có sự giác ngộ thật sự ở Như Lai, Tứ niệm xứ, Bát chánh đạo và Tứ thánh đế bao trùm hết tất cả giáo pháp của Phật trong đó, đi lệch cái đó là tà đạo huynh đệ phải nắm vững thật kỹ Tứ thánh đế Tứ niệm xứ và Bát chánh đạo trong tạng kinh Nykaya ba pháp đó bao trùm hết ba mươi bảy phẩm trợ đạo trong tuổi này chúng ta phải nhuẫn nhuyễn hết ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Các vị nên nhận thức rõ mọi hiện tượng trên thế gian này đều chuyển biến vô thường có kết hợp phải có tan rã chẳng có gì để quyến luyến thương. Mình cần nỗ lực tinh tấn cần giải thoát rất quan trọng, xưa nay mình hiểu tinh tấn là siêng niệm Phật, tụng kinh ngồi thiền siêng làm việc nghe pháp nhưng chưa chính xác đây là kinh Tăng chi bộ
Này các Tỳ-kheo có bốn sự tinh cần này,
Tinh cần chế ngự
Tinh cần đoạn tận
Tinh cần tu tập và
Tinh cần hộ trì
Các huynh đệ nghe kỹ đây là tinh tấn do đức Phật định nghĩa, chính đức Phật định nghĩa cho mình.
+. Thế nào là tinh cần chế ngự
“Này các Tỳ-kheo Tỳ-kheo với mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung không nắm giữ tướng riêng những nguyên nhân gì vì đó mà nhãn căn không được chế ngự khiến cho tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên Tỳ-kheo chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhẵn căn, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xác, ý nhận thức các pháp cũng giống như vậy”.
Đầu tiên tinh cần chế ngự, chế ngự là khi mắt mình tiếp xúc với sắc lúc đó mình không có nắm giữ tướng chung không nắm giữ tướng riêng. Minh nhìn một người mình nhìn tổng quát ờ người đó nhìn tướng thấy sáng hay nhìn tướng thấy đẹp đó là tướng chung, còn tướng riêng đẹp đó là cái mũi đẹp đôi mắt đẹp hay thể từng bộ phận cái đó là tướng riêng nếu như mình nhìn nắm giữ tướng chung tướng riêng cái đó mình bị rơi vào tinh cần chế ngự, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì nguyên nhân đó con mắt không được chế ngự khiến khởi lên tham ái hay ưu bi hay các pháp bất thiện khởi lên phải chế ngự nguyên nhân đó, ví dụ khởi lên nhìn người đó tự nhiên khởi lên tâm tham ái thích lúc đó mình phải chế ngự, không nhìn nữa, không để cho tiếp tục nuôi dưỡng tâm tham sanh khởi lên nữa, quay trở lại hộ trì căn, hộ trì con mắt của mình, mình tiếp tục mình tẩy sạch, tai nghe tiếng cũng vậy không nắm giữ tướng chung không nắm giữ tướng riêng ,ví dụ mình nghe câu đó chỉ trích mình nghe xong rồi nếu mình nắm giữ tướng chung là khinh khi mình thứ nhất, thứ hai là mình phân tích ra nói mình ở khía cạnh nào cái đó là tướng riêng chỗ đó là mình không tinh cần chế ngự, đây là định nghĩa của đức Phật, khi có khởi cái đó ra mình dùng thọ pháp dật tắt nó mình không để cho khởi lên nữa cái đó là tinh cần chế ngự, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ngay cái ăn nếu mình không chế ngự mình bị dục bị tham trong đó rất nhiều trong khi mình đang ăn mình tưởng đó là bình thường, lưỡi của mình với vị nó dính, thức biết rõ cái vị biết ngon biết dở là chuyện bình thường nhưng phía sau ngon dở là tham và sân, ngon mình muốn ăn nữa tham và sân muốn thêm hoặc ăn thêm muốn ngày mai có thêm món này nữa đó là tham dục ngay trong lúc mình ăn mình không chế ngự tướng chung và riêng. Thân của mình xúc chạm, mình coi nó có nắm giữ tướng chung nắm giữ tướng riêng hay không ? ví dụ mình đi xe buýt hay mình đi tới chỗ đông buổi lễ hội gì đó, mình cọ quẹt mình không để ý không sao nhưng nếu người đó quẹt ngang mà mình nhìn thấy vừa cảm giác thân xúc bốn mắt nhìn nhau hút lúc đó mình nắm giữ tướng chung tướng riêng lúc đó không phải chỉ nhẵn căn không mà mùi hương bên đó tỏa ra, thân xúc dồn tám bát diện mai phục, thập phương du kích, đánh gục ngã, tối về ngồi thiền không thấy hình Phật, không thấy sắc thọ tưởng hành thức của nội tâm, thấy những thấy sắc kia chiếm ngự tinh thần
+. Tinh tấn thứ hai là tinh cần đoạn tận
“Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không chấp nhận cho dục tằm khởi lên từ bỏ, tẩy sạch chấm dứt khiến cho nó không hiện hữu lại, không chấp nhận sân tằm khởi lên dục tằm khởi lên, tất cả các pháp ác và bất thiện pháp, không cho nó khởi lên tẩy sạch từ bỏ chấp dứt khiến cho nó không còn hiện hữu nữa, cái này mới gọi là tinh tấn thứ hai tinh cần đoạn tận siêng năng, đoạn dứt đoạn hết dứt sạch đây là sự tinh tấn thứ hai là không cho chấp nhận dục tằm, tằm là suy tư, tìm kiếm những ý nghĩ tìm kiếm dục, những ý nghĩ về sân hận, những ý nghĩ muốn hại người ta, tất cả các ý bất thiện pháp khởi lên từ bỏ nó tẩy sạch chấm dứt nó khiến cho nó không còn hiện hữu như vậy mới gọi là tinh tấn. Mình nghĩ trong một ngày của mình những dục sân, hại, bất thiện pháp, cái ác trong tâm khởi lên bao nhiêu lần, mình có thấy được hay không, biết hay không? Mình có tẩy rửa hay không, mình có đoạn tận hay không, mình có trừ diệt nó hay không hay là nuôi dưỡng nó để cho nó tiếp tục nên có một bài kinh khác đức Phật nói “này các Tỳ-kheo nếu như vị Tỳ-kheo đang khi đi khi đứng khi nằm ngồi, trong nội tâm sanh khởi dục tham dục sân hận những tư tưởng ác bất thiện pháp mà không tẩy sạch không trừ đoạn tận thì đó là kẽ lười biếng giãi đãi trong giáo pháp của Như lai” đây mới gọi là tinh tấn thật sự tinh cần tinh tấn của Phật dạy, nhiều khi đang ngồi dáng giống như ngồi thiền nhưng chắc gì trong đó ngồi thiền nếu ác pháp một là hôn trầm hai là vong tưởng ba là nuôi dưỡng ác pháp mình ngồi lên những cái hận cái sân tiếp tục nghĩ thì đó không phải thiện, nhìn thấy vậy nhưng không phải vậy. Như lý tác ý là khởi lên những ý tưởng dục mình phải có những phương pháp dập nó liền,nói đây là sự nhục nhã, đây là sự xấu hổ, đây là thứ bất thiện pháp nhơ nhớp bất tịnh không xứng đáng với thánh hạnh, đây là nguyên nhân lôi mình vô sanh tử luân hồi khổ đau chìm đắm vô lượng kiếp trong tâm mình đánh nó nếu những tư tưởng này mình có dám ngẩng mặt nhìn được hay không, nếu những tư tưởng này huynh đệ mình thấy được tất cả mọi người thấy được tư tưởng đó thì úp mặt đi đâu, mình phải dùng những câu đó tự mình trị mình trong kinh Pháp cú đức Phật dạy tự mình chỉ trích mình, tự mình dò xét mình như vậy là Như lý tác ý chứ mình không để cho nó tự tung tự tác để cho nó tiếp nối tiếp dưỡng dung dưỡng, nuôi dưỡng tăng trưởng cái đó không có tu tập mình kiểm tra trước nay mình có giống như vậy hay không? vì mình không có biết trừ diệt nó, phải đoạn tận nó diệt nó không còn manh giác, đánh cho nó tan tác tơi tả hoa lá dập cho nó không còn gì thành ra cát bụi, tan thành mây khói cái đó là đại hùng đại lực đó là sức mạnh của người tu, đó là tinh cần đoạn tận.
+. Thứ ba là tinh cần tu tập
Ở đây nói là thất giác tri
“Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt đưa đến xả ly tu tập trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi và xả giác chi”.
Niệm giác chi là Tứ niệm xứ, nói gọn hơn là thân hành niệm tức là niệm thân nếu người xuất gia không biết phương pháp này giống như thợ mọc không biết cầm bào bào gỗ, một phần trong Tứ niệm xứ, niệm thân
Tổng cộng có sáu phần là phần niệm thân
Trong phần niệm thân có sáu phần
Thứ nhất niệm hơi thở
Thứ hai niệm oai nghi
Thứ ba niệm hành động
Thứ tư niệm tứ đại
Thứ năm niệm bất tịnh là ba mươi hai thể trượt
Thứ sáu là niệm tử thi, niệm chết
Sáu giai đoạn này mình thực hiện được là thân hành niệm,
Niệm hơi thở là nhớ thở vô thở ra nhiếp cái tâm
Niệm oai nghi là biết đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm
Có nhiều lấy một hai pháp nhỏ làm làm pháp tu là lấy một phần nhỏ trong đây nhưng chưa có đủ
Riêng pháp niệm thân mình thực hành trọn vẹn sâu sắc có thể chứng A-la-hán nhưng thọ thân pháp lấy có một pháp thành tựu viên mãn nên nhớ niệm oai nghi là đi đứng ngồi nằm nói nín động tịnh là mình phải rõ biết, niệm hành động là mình biết mình đang làm cái gì là mình làm cái nấy như vậy gọi là niệm hành động, niệm tứ đại là mình quán chiếu về tứ đại. Minh Thành muốn nói quán bất tịnh và quán xác chết đây là chỗ rất quan trọng, nói chung người xuất gia mình thiếu cái này thiếu trầm trọng cái này nên không nhiếp phục được tham dục, tuy mình tu mình đau khổ khốn khổ với cái dục, thậm chí mình là nạn nhân của dục rất nhiều huynh đệ tuổi trẻ lại tâm sự với Minh Thành, Thầy ơi! bây giờ con khổ quá con muốn tha thiết tu hành nhưng dục mạnh như vậy con trị không được, bây giờ không phải hết muốn khổ nhưng mà tại mình thực hành theo Tứ niệm xứ mình rất hay tại mình thiếu phần này, huynh đệ quán chiếu ba mươi hai thể trược đây là pháp của bậc chánh đẳng giác, không có một pháp nào trị tham dục ngoài mình thấy bản chất nhơ nhớp gớm giếc là hôi thối là vô thường nên, đây là pháp mà những bậc chánh đẳng giác trong quá khứ hiện tại phải đi qua nếu mình không thấy thực tướng này vĩnh viễn tâm tham dục về sắc không bao giờ mình trừ được, mình nhiếp phục bớt làm cho khốn đốn là phải tu huống chi mục đích của người tu là ly dục là đoạn tận dục cái dục, dục nhiếp sạch đoạn tận hết tức là A-la-hán, dục hấp hối gần chết cái đó là quả vị của bất hoàn, quả vị thứ ba, thành ra mình biết sự tu tập thân hành niệm rất quan trọng, quán chiếu chín giai đoạn của tử thi khi chết bất động nằm như khúc cây, sau đó chín giai đoạn là trương phình lên xong xanh bầm nứt nẻ, chảy nước dịch ra chảy mủ chảy máu chảy những thứ hôi hám sau đó ròi ăn từ bên trong bộ phận ăn ra hai con mắt lỗ tai ròi ăn hết ăn hết khắp ròi trào ra đầy người quán cho tới lúc mình rùng rợn, quán như vậy sau đó còn vương vấn mỡ máu xương sau đó các con vật ăn, kên kên quạ diều hâu chó rừng ăn những cái xác rỉa ra những miếng thịt rã hết ăn hết còn bộ xướng còn dính máu.
Minh Thành lúc đó mới lên chùa Bửu Liên lúc đó phóng lộ phía trước chùa là tháp của Hòa thượng Thượng Chánh Hạ Quang vị khai sơn chàu Bửu Liên lúc đó mất ba mươi mấy năm nhưng lúc khai quật để lấy di hài đi thiêu, lúc đó Minh Thành chứng kiến, hai mươi mấy năm quên bây giờ quán bất tịnh nhớ lại, mở ra xương còn nguyên nhưng gân thịt còn dính giã rời rớt xuống từng miếng mà nó bốc lên cái mùi không thể chịu nổi, quán chiếu tới lúc rùng rợn nước mắt dàn giụa nghe mùi mình thấy kinh khiếp, quán tự thân của mình chứ không phải quán đối tượng mình tham ái mà, quán đúng tự thân của mình cho tới bộ xương nằm đó rồi xương sườn để chỗ xương cánh tay xương đùi để mỗi nơi mỗi chỗ, theo thời gian nó mòn trở thành tro bụi, quán sâu sắc, thứ nhất phá tham dục, thứ hai pháp chấp ngã cái tôi, thứ ba phá cái thấy cái gì đẹp là đam mê và luôn luôn bám chặt vào cái tôi từ từ làm cho mờ cho nhạt cho tối làm cho vỡ từ từ cái khối vô minh chấp ngã tham ái chấp thủ của mình, nhất định người tu Phật phải quán cái này không thể thiếu, quán đúng giai đoạn trong kinh dạy ba mươi hai thể trượt, đại phẩu, mổ rạch ra máu chảy ra hết lấy từng bộ phận lấy tim ra, lấy phổi lấy phèo lấy ruột ra, lấy từng bộ phận để ra hết để cho mình thấy nhìn thấy thực chất của tấm thân này, quán chiếu như vậy lúc đó mình từ từ mới nhờm tởm bớt cái tham ái chấp thủ vô thân, nước mũi nước miếng, phân đó là những cái đó là mình, ruột non, ruột già, bao tử, lá lách, ruột non, ruột già, tim gan, phèo phổi, óc bộ não mỡ máu mũ nước miếng tất cả những cái đó chính là mình cái mình cho là mình ai đụng tới mình sân hận ai chạm tới là có chuyện nổi lên mà mê tấm thân này mê tấm thân của người, lúc mình ngồi mình quán chiếu đó tất cả cái mê vỡ ra từ từ cái này người xuất gia tuổi trẻ rất quan trọng đây là pháp của đức Phật dạy.
Lúc Minh Thành đi qua Úc tới thăm Thượng tọa, Thượng tòa làm một tòa tháp theo mẫu hình chùa Vĩnh Nghiêm mới vô ngồi Thượng tọa làm mình hết hồn, Hòa thượng mở áo vạch ngực cho mình coi mới đi đại phẩu mổ tim Thượng tọa nói lúc đó mổ gấp nếu không mổ là chết mà mổ cũng không biết được bao nhiêu phần trăm, cái mạng người vô thường khi quán lại hình ảnh đó rạch móc ra để từng cái lúc đó Minh Thành dàn rụa nước mắt chảy ra hết mình thấy khối vô minh si mê từ trước tới nay, mình tu mình thấy vô minh ái dục sâu sắc mình thực tập thấy rất màu nhiệm mình thực tập xong rồi mình thấy rất nhẹ rồi mình sẽ cảm nhận được ly dục của người xuất gia, chứ không phải thành quả mình phải thực tập quán bất tịnh quán cho sâu sắc quán cho đúng theo kinh Tứ niệm xứ muốn cái này phải học thuộc ba mươi hai thể trượt chính mấy cái đó mình học không thuộc mình lộn xộn hết cho nên văn tư tu là phải có niệm thân
+. Tinh cần hộ trì
“Này các Tỳ-kheo hộ trì hiện tướng đã sanh, tưởng bộ xương, tưởng trùng ăn, tưởng bàng sanh, tưởng đầy ứ, tưởng mủ nồng tưởng nứt nẻ, tưởng phồng trương này các Tỳ-kheo đây gọi là tinh cần hộ trì”
Những lời đức Phật dậy không thực tập theo mình, không thành tựu những quả vậy mà những quả đức Phật đã thành tựu
Thế nào là tinh cần hộ trì? là giữ gìn cái định tướng hiền đã sanh tức là trong khi mình tu mình quán chiếu mình quán tưởng đã thành tựu những định tướng phải giữ không cho nó mất, phát huy được gì tương ứng với giới, tương ứng với định mình phải giữ nó, mình không để cho nó mất như vậy gọi là tinh cần hộ trì ở đây đức Phật nêu ra một pháp là tướng bộ xương trùng ăn, tướng bằm sanh tất cả những cái đó là chín giai đoạn của tử thi, mình giữ những thiện pháp đó không cho nó mất, ví dụ mình tập nhìn bây giờ bộ xương này ngồi ở đây, mình quán gặp ai cũng bộ xương, gặp cô thiếu nữ tới mình quán bộ xương đang tới, tất cả cái gì đang tới mình quán mở ra để cho mình thấy thì từ từ cái dục sẽ giảm nhạt phai dần dần cho tới lúc nhờm gớm, viễn ly là chán nản mình không muốn cho tới tận cùng ồ A-la- hán, ít nhất cũng bất lai nhị quả tam quả, cái đó là suy định không phải thiền định không phải chánh định, chánh định của đạo Phật là chánh kiến và cuộc đời này không có gì chắc ăn cũng không có gì chắc chắn bất thường, Minh Thành mong huynh đệ xác lập được chánh kiến giống như đức Phật đã dạy, luôn luôn lúc nào cũng phải nhớ vô thường đừng nghĩ mạng này là chắc chắn, mình thấy tám tháng tuổi chết, mười mấy tháng chết, mấy tuổi chết, hai mươi mấy tuổi chết không có tuổi nào mà không chết, làm sao mình nói mình ở đây cho hết khóa phải luôn luôn nhớ điều đó, đó là cái trí phải quán chiếu về vô thường chứ không phải cái học là để nói suống, bài trên chấm điểm phải thực thấy pháp pháp, cái pháp đó phải in đậm trong nội tâm của mình, ở trong miệng trong thân, trong ý của mình từ trong sự quán chiếu của mình đó mới là sự tu tập của người xuất gia mà sự tu tập đó huynh đệ mới nếm được lợi ích thật sự đúng như lời đức Thế Tôn đã truyền dạy minh trong kinh Di giáo nên “cuộc đời như thế các vị hãy nỗ lực tinh tấn tự giải thoát phải dùng ánh sáng trí huệ để tiêu diệt bóng tối si mê đời là sự vận hành không có kiện định”, dùng ánh sáng trí huệ để diệt si mê Minh Thành đọc trong kinh Tương Ưng bộ.
“Này các Tỳ-kheo chúng sanh từ vô thỉ cho đến nay bị vô minh che đậy bị tham ái trói buộc đọc câu đó Minh Thành nổi da gà xúc cảm và muốn rơi lệ, thật sự chúng ta bị vô minh che đậy tham ái trói buộc mà không thấy, lúc nào mình cũng tưởng mình thông minh, mình giỏi giang chính cái tưởng lại hại mình không ngờ mình tu tập thật sự chính mình bị vô minh che đậy và tham ái buộc mình bất cứ lúc nào cũng trói đó là bóng tối si mê, mình phải có sự chánh niệm tỉnh giác, cho nên năm uẫn mang tính tội lỗi được gọi là thân, năm uẫn này nó hành hạ mình mình học xong năm uẫn này là A-la-hán quả chấm dứt hết tất cả mọi khổ đau, diệt tận hết tham ái. Già bệnh chết không thương tiếc giống như bọn giặc cướp, tất cả chúng sanh bị năm uẫn này cướp hết tất cả, cái nguy hiểm của dục ghê gớm vô cùng tận nếu mình tu hành mình không thấy được mình cũng gục ngã mình chết không biết bao nhiêu đời, nên đức Phật dạy mình tinh tấn để đoạn tận, tinh tấn nhìn thấy rõ để quán chiếu nó, để xuất ly vượt khỏi nó, tất cả là dục, dục cha con vợ chồng anh chị em vì dục có thể giết hại lẫn nhau cho nên năm uẫn này mang tính tội lỗi gọi là thân, mình tu có tỉnh thức có chánh niệm mình mới thấu triệt được nó còn không mình chết nên phải tha thiết tìm kiếm con đường giải thoát, đừng có đam mê những thú vui tạm bợ vô thường ảo mộng bỏ mất hết sự nghiệp đạo hạnh của người xuất gia đó là lời di chúc của đức Phật rất tha thiết chân thành.
“Tất cả các pháp là vô thường tan hoại phải tinh tấn nỗ lực tự cầu giải thoát thôi các vị hãy yên lặng đến lúc Như lai vào vô dư Niết bàn đó là lời dạy cuối cùng của đức Như lai”.
(Văn bản. Diệu Quang)
“Lúc bấy giờ trong chúng hàng đệ tử hữu học, phải đối diện sự thật đức Phật phải vô dư Niết bàn đều thương cảm sót xa, hàng đệ tử mới vào đạo nghe những lời dạy cuối cùng đều được hóa độ như trong đêm tối nhờ có ánh sáng nên thấy đường đi, các hàng đệ tử vô học đã dứt sạch các phiền não, vượt qua khỏi sanh tử nhưng lại nghĩ rằng tại sao đức Thế Tôn vô dư Niết bàn quá sớm. Lúc đó đức Phật vì thương bốn chúng nên dạy thêm rằng.
Này các đệ tử chớ có thảm sầu đau sót, dẫu Như Lai có sống thêm một kiếp nữa rồi cũng phải đến ngày Niết bàn, hội ngộ mà không chia ly, kết hợp mà không tan rã là điều không thể có, những kinh nghiệm và pháp thức lợi mình lợi người Như lai đều đã tuyên bố thật chẳng có ích lợi gì nếu Như lai sống lâu nơi đời mà các vị không thực hành chánh pháp, những chúng sinh đáng độ Như lai đã độ hết, những chúng sinh chưa đươc độ Như lai đã tạo nhân duyên để họ được hóa độ. Từ nay trở đi đệ tử của Như lai phải neo theo truyền thống chánh pháp mà thực hành, đó là cách làm cho pháp thân thường còn và mãi mãi bất diệt ở thế gian, Như lai vô dư Niết bàn hay không việc đó không quan trọng. Này các đệ tử các vị nên nhận thức được hiện tượng thế gian này đều là chuyển biến vô thường, có kết hợp thì phải có tan rã chẳng có gì để quyến luyến thương tâm, cuộc đời là như thế, các vị phải nỗ lực tinh tấn để tự giải thoát, dùng ánh sáng trí tuệ để tiêu diệt bóng tối si mê, đời là một sự vận hành không kiên định, Như lai vô dư Niết bàn như bỏ đi một căn bệnh dữ đó là năm uẫn mang tính tội lỗi tạm gọi là thân, vì thế nó phải chịu sự chia phối không thương tiếc của già bệnh và chết chết, bậc trí huệ khi thoát khỏi nó có cảm tưởng là dẹp xong bọn cướp như vậy chết không đáng để hoan hỷ an lạc hay sao.
Này các đệ tử, các vị phải tha thiết tìm kiếm con đường giải thoát, toàn thể thế giới từ những vật đang vận động cho đến các sự vật không vận động cũng đều vô thường không có thật rồi phải đến lúc hoại diệt. Thôi các vị hãy yên lặng đừng nói thêm lời nào nữa, đã đến lúc Như lai vô dư Niết bàn đó là những lời dạy cuối cùng của Như lai”.
Chúng ta phải bám sát theo trong kinh văn đừng có hiểu theo cách nghĩ hay cách tưởng của mình để mình chim nghiệm trong đó để thấy được những cái pháp trọng yếu mà đức Phật muốn nhắn gửi.
Trong đây có hai từ hàng đệ tử hữu học và hàng đệ tử vô học
-. Hàng đệ tử hữu học đối diện với sự kiện mà đức Phật nhập Niết bàn rất bi cảm đau sót. Trong kinh Trường bộ diễn tả những vị hữu học có vị nghe là xỉu, có vị nghe lăn dưới đất gào khóc, có vị nghe dơ hai tay lên trời kêu la sao đức Thế Tôn nhập Niết bàn quá sớm chúng con biết nương tựa vào ai, có rất nhiều vị lăn dãy dưới đất kêu gào khóc. Những vị hữu học là còn đang thực hành Tứ niệm xứ, đức Phật nói trong Tương ưng bộ kinh và Tăng chi bộ.
Thế nào là bậc hữu học là bậc còn phải tu học, tu học cái gì? tu học Tứ niệm xứ
-. Thế nào là bậc vô học là bậc đã thực hành Tứ niệm xứ trọn vẹn hoàn toàn gọi là vô học, thực hành Tứ niệm xứ tức là bậc A-la-hán. Những vị dứt sạch phiền não đạt tới vô học nghĩ rằng sao đức Thế tôn vô dư Niết bàn sớm quá, chứ không xúc động mạnh kêu gào khóc thảm như các vị hữu học tại vì các bậc A-la-hán dứt sạch tham ái, cũng tiếc nuối nhưng tâm các Ngài bất động tâm giải thoát cho nên các Ngài không còn cái ái, tuy rằng thương đức Phật quý kính đức Phật nhưng vị phàm phu còn cái ái còn các bậc thánh là bất động thân giải thoát, còn hàng đệ tử mới vào đạo thì nghe những lời đức Phật nhắn nhủ dạy bảo giống như ánh sách chớp lên giống như trong đêm tối để thấy đường đi.
Đức Phật nói chớ có thảm sầu đau sót dù cho Như lai có sống thêm một kiếp nữa đi nữa cũng phải đến ngày ra đi, một kiếp là sự thành hoại của trái đất. Trước khi nhập Niết bàn đức Phật gợi ý cho Ngài A-nan, bậc chánh đẳng giác đã viên mãn hết tất cả công đức ba la mật nếu muốn sống lại một kiếp cũng được, đức Phật gợi ý như vậy nói ba lần mà lúc đó Ngài A-nan gọi là trí huệ lúc đó không tỏa rạng đó cũng là nhân duyên của chúng sanh ở thế giới này, Ngài A nan không nói gì hết cũng sau đó cũng không cầu thỉnh đức Phật ở lại, đức Phật mới ta chấm dứt thọ mạng nếu đức Phật muốn vẫn có thể ở thêm một kiếp, đức Phật nói ta có sống lâu dài thêm nữa cũng phải qua đời vô thường tại vì hội ngộ mà không chia ly, kết hợp mà không tan rã điều đó không thể có được, đã biết bao nhiêu lần lớp học này hợp rồi tan, sáng hợp trưa tan, biết bao nhiêu lần chúng ta đã về hội ngộ cùng mẹ cha và gia đình rồi cũng trở lại chùa, đã biết bao nhiêu lần chúng ta họp mặt huynh đệ hay là họp mặt trong bữa lễ cúng xong rồi tan, biết bao nhiêu lần họp mặt với Thầy với Phật tử rồi tan, xét sâu hơn biết bao nhiêu lần trong cuộc luân hồi này mình hợp tan tan hợp vô cùng vô tận cuộc đời sanh tử mà mình không thấy được quy luật chân tướng của các pháp, chuyện đó đương nhiên là vậy chứ mình không có để tâm vào đó để quán chiếu, để tâm vào đó để quán chiếu mới phát sanh ra trí huệ, trí tuệ của vô thường, trí tuệ của duyên hợp, trí tuệ của sự tan rã, kết hợp rồi tan rã, hội ngộ rồi chia ly, cũng như thân tứ đại của mình nó hợp rồi nó sẽ rã rời. biết bao nhiêu người nghỉ lễ về, tết rồi về để hội ngộ gia đình nhưng trong chuyến hội ngộ đã chia ly trên đoạn đường tai nạn giao thông, mình quán chiếu sâu sắc mình mới phát sanh trí huệ còn nghe qua để đó không phát sanh trí huệ, giai đoạn giây phút cuối cùng tan hợp người thân thương nhất của mình có cái nhìn trước bây giờ mình mới thấy chứ không phải kêu gào khóc lóc thở than cái đó là nét sống của vô văn phàm phu, còn mình đa văn thánh đệ tử phải chim nghiệm điều đó, ở đây đức Thế Tôn nói để cho mình thấy được không phải riêng bản thân của Ngài mà của tất cả mọi người đang ở trong pháp hội đó cũng phải tan rã người, không phải những người trong pháp hội đó mà sau pháp hội đó tới bây giờ rồi tất cả những người ngồi ở đây cũng tan hợp mãi mãi nó là như vậy mình thấy được như vậy trong lúc hợp mình không bị luyến ái trong khi tan mình không bị tiếc nuối, mình giữ được tâm bất động trong hợp tan thành hoại.
Những kinh nghiệm pháp thức lợi mình lợi người đức Phật đã tuyên bố hết rồi, lợi ích gì mà những ai ở đời mà vị ấy không thực hành chánh pháp, thực hành chánh pháp cái đó mới quan trọng, thực hành chánh pháp thân Như lai mới trường tồn bất diệt ở thế gian thực hành chánh pháp là thực hành Tứ niệm xứ, thực hành Tứ niệm xứ là quán xét thân tâm, luôn luôn lúc nào mình cũng nhìn lại cái thân của mình như thế nào? sắc luôn luôn mình nhìn lại xem cảm giác của mình cảm giác ra làm sao? coi trong tư tưởng ,suy nghĩ và sự rõ biết nhận thức trong nội tâm của mình coi năm uẫn ngay giờ phút này như thế nào, trạng thái ra làm sao? nhìn thấy được tính chất biến đổi, tính chất mà vô thường, tính chất trống rỗng, tính chất không cốt lõi, cảm giác luôn luôn thay đổi, tư tưởng luôn luôn vận hành những suy nghĩ những hình bóng trong nội tâm của mình liên tục liên tục sanh diệt nhưng mình không thấy tại vì mình không thực hành Tứ niệm xứ, mình không quán xét lại thân tâm mình phóng ra mình nhìn cái bên ngoài đúng sai hơn thua tích lũy thêm cái nghiệp, càng đi xa mục đích của người xuất gia cho nên dù cho Như lai ở đời thật lâu đi nữa cũng không thực hành chánh pháp cũng không có gì hết nếu như các ông thực hành chánh pháp pháp thân Như lai còn hoài thường trụ ở thế gian tại vì vị Tỳ-kheo này bệnh nặng mới nhờ một thầy Tỳ-kheo nói xin Tôn giả hãy đi đến bạch với Thê Tôn, bây giờ tôi bệnh rất là nặng mà tôi rất mong muốn được thấy thân tướng của đức Thế Tôn nếu như mà đức Thế Tôn từ bi thương xót xin đức Thế Tôn để cho con được nhìn thấy được cái sắc thân tướng hảo của đức Thế Tôn Tỳ-kheo này chuyển lời mới đến đảnh lễ thỉnh thưa đức Phật đến.
Phật đến mới hỏi ông thấy có điều gì hối hận trong giới định huệ hay không.
Ông nói con không có gì hối hận, con chỉ hối hận một điều là con bệnh nặng con không đi đến để chiếm ngưỡng thân tướng trang nghiêm của đức Thế Tôn,
Lúc đó đức Phật mới quở, ông chớ có mê muội sắc thân bất tịnh hôi hám vô thường này có gì để đáng chiêm ngưỡng, ai thấy pháp là người đó thấy ta, ai thấy ta người đó thấy pháp, đang thấy pháp là chính người đó thấy ta, đag thấy ta tức là người đó thấy pháp như vậy gọi là thấy được Như lai, lúc đó đức Phật khai thị sách tấn cho vị Tỳ-kheo này đốt cháy hết phiền não tham ái chứng A-la-hán ngay chỗ giường bệnh nặng. Vướng sau cùng tất cả bỏ qua hết kính mến, ái cái sắc thân vi hảo của đức Phật, đức Phật dùng câu mạnh quở đập tan cái ái một chút còn sót lại chỉ cho thấy thật tướng bất tịnh của thân này, cái nãy da bất tịnh này có gì đáng nhìn đáng xem, lúc đó vị Tỳ-kheo này thành tựu quả tối cao cho nên đức Phật luôn luôn nhắc mình phải thấy được pháp, thấy pháp thật sự là thấy đức Phật cho nên bây giờ cái biểu tượng cũng hay nhưng không khéo mình cứ chạy theo hình tướng niểu tượng Phật gỗ, Phật vàng ngọc, mê mẫn săn kiếm tìm cái đó cũng chạy theo tướng sanh diệt, tướng ở bên ngoài đức Phật khai thị cho mình rất rõ, ai thấy pháp là người đó thấy ta ai thấy ta phải là người thấy pháp, thấy pháp là thấy rõ cái thân năm uẫn ái dục trong nội tâm của mình phải thấy để mình chuyển hóa cái chỗ đó mới là chỗ thấy Phật thật, chỗ này người xuất gia mình phải thấy vững.
Những chúng sanh đáng độ đức Phật đã độ hết rồi, những chúng sanh chưa được độ thì tạo nhân duyên để họ được độ, mỗi lúc hừng sáng đức Thế Tôn luôn luôn nhập vô chánh định để quán chiếu coi người nào nhân duyên tuệ quán đã chín mùi đức Phật sẽ tới đó để khai thị điểm hóa cho người đó nên đức Phật không điểm thôi điểm là chứng ngộ, chứng ngộ là vậy chứ không phải ai Phật nói đều chứng ngộ, không phải, tại vì sáng nào đức Phật cũng nhập đại định, đức Phật coi trong vùng này trong Thành phố này trong quận huyện này người nào mà nhân duyên đã chín mùi, đức Phật tới điểm thì người đó sẽ thành tựu, giống như trái đã chín rồi gió thổi hơi mạnh xíu là nó rụng chứ không phải bất cứ ai gặp Phật cũng chứng quả, có một vị Tỳ-kheo Thiện Tinh đi theo đức Phật mười mấy hai mươi năm ở bên cạnh đức Phật thuộc kinh điển lào thông mà đọa địa ngục, ngay thời đức Phật các vị Tỳ-kheo giữa kinh sư và luật sư tranh cãi để bồn nước trong nhà vệ sinh, lúc đó đức Thế Tôn nói các vị bạch đức Thế Tôn nói chuyện này để tự chúng con giải quyết, ngay thời đức Phật đã như vậy cho nên phải biết rằng sự tu là phải do tự mình nỗ lực, mình phải tu tập tuệ quán sâu sắc, quán chiếu năm uẫn thấy được vô thường khổ không vô ngã thật là sâu, tới lúc duyên chín mùi lúc đó mới thành Phật chứ tu chứng không có vụ cầu may, hên xuôi không có, thời tiết nhân duyên phải chín mùi.
Thế nào gọi những chúng sanh đáng được độ mà Như lai được độ là tất cả những người có duyên với Phật và tu tập đã tới mức đó đức Phật đã độ hết rồi, cho tới ông tu bạt đà la một trăm hai chục tuổi ông tu cuối cùng đức Phật người đệ tử cuối cùng chứng A-la-hán, những chúng sanh chưa được độ ta đã tạo nhân duyên cho được độ là đức Phật đã giáo hóa rất nhiều vị chứng A-la-hán sạch hết phiền não lậu tận thấy rõ con đường Tứ niệm xứ, Bát chánh đạo và Tứ thánh đế và những người này sẽ độ cho những người sau những người có duyên những vị này được gọi những người mà chưa được độ ta đã tạo nhân duyên cho họ được độ, mình đừng nghĩ chúng sanh vô biên thề nguyện độ là độ hết không còn một chúng sanh nào lúc đó mình mới thành Phật, hiểu cái đó là trật, không đúng.
Từ nay trở đi các đệ tử hãy neo theo các truyền thống chánh pháp mà thực hành, truyền thống là Bát chánh đạo, Tứ niệm xứ, Tứ thánh đế, tất cả pháp đều quy tụ trong đó, trật ra đó là không có thánh quả, không có sự giác ngộ thật sự ở Như Lai, Tứ niệm xứ, Bát chánh đạo và Tứ thánh đế bao trùm hết tất cả giáo pháp của Phật trong đó, đi lệch cái đó là tà đạo huynh đệ phải nắm vững thật kỹ Tứ thánh đế Tứ niệm xứ và Bát chánh đạo trong tạng kinh Nykaya ba pháp đó bao trùm hết ba mươi bảy phẩm trợ đạo trong tuổi này chúng ta phải nhuẫn nhuyễn hết ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Các vị nên nhận thức rõ mọi hiện tượng trên thế gian này đều chuyển biến vô thường có kết hợp phải có tan rã chẳng có gì để quyến luyến thương. Mình cần nỗ lực tinh tấn cần giải thoát rất quan trọng, xưa nay mình hiểu tinh tấn là siêng niệm Phật, tụng kinh ngồi thiền siêng làm việc nghe pháp nhưng chưa chính xác đây là kinh Tăng chi bộ
Này các Tỳ-kheo có bốn sự tinh cần này,
Tinh cần chế ngự
Tinh cần đoạn tận
Tinh cần tu tập và
Tinh cần hộ trì
Các huynh đệ nghe kỹ đây là tinh tấn do đức Phật định nghĩa, chính đức Phật định nghĩa cho mình.
+. Thế nào là tinh cần chế ngự
“Này các Tỳ-kheo Tỳ-kheo với mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung không nắm giữ tướng riêng những nguyên nhân gì vì đó mà nhãn căn không được chế ngự khiến cho tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên Tỳ-kheo chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhẵn căn, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xác, ý nhận thức các pháp cũng giống như vậy”.
Đầu tiên tinh cần chế ngự, chế ngự là khi mắt mình tiếp xúc với sắc lúc đó mình không có nắm giữ tướng chung không nắm giữ tướng riêng. Minh nhìn một người mình nhìn tổng quát ờ người đó nhìn tướng thấy sáng hay nhìn tướng thấy đẹp đó là tướng chung, còn tướng riêng đẹp đó là cái mũi đẹp đôi mắt đẹp hay thể từng bộ phận cái đó là tướng riêng nếu như mình nhìn nắm giữ tướng chung tướng riêng cái đó mình bị rơi vào tinh cần chế ngự, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì nguyên nhân đó con mắt không được chế ngự khiến khởi lên tham ái hay ưu bi hay các pháp bất thiện khởi lên phải chế ngự nguyên nhân đó, ví dụ khởi lên nhìn người đó tự nhiên khởi lên tâm tham ái thích lúc đó mình phải chế ngự, không nhìn nữa, không để cho tiếp tục nuôi dưỡng tâm tham sanh khởi lên nữa, quay trở lại hộ trì căn, hộ trì con mắt của mình, mình tiếp tục mình tẩy sạch, tai nghe tiếng cũng vậy không nắm giữ tướng chung không nắm giữ tướng riêng ,ví dụ mình nghe câu đó chỉ trích mình nghe xong rồi nếu mình nắm giữ tướng chung là khinh khi mình thứ nhất, thứ hai là mình phân tích ra nói mình ở khía cạnh nào cái đó là tướng riêng chỗ đó là mình không tinh cần chế ngự, đây là định nghĩa của đức Phật, khi có khởi cái đó ra mình dùng thọ pháp dật tắt nó mình không để cho khởi lên nữa cái đó là tinh cần chế ngự, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ngay cái ăn nếu mình không chế ngự mình bị dục bị tham trong đó rất nhiều trong khi mình đang ăn mình tưởng đó là bình thường, lưỡi của mình với vị nó dính, thức biết rõ cái vị biết ngon biết dở là chuyện bình thường nhưng phía sau ngon dở là tham và sân, ngon mình muốn ăn nữa tham và sân muốn thêm hoặc ăn thêm muốn ngày mai có thêm món này nữa đó là tham dục ngay trong lúc mình ăn mình không chế ngự tướng chung và riêng. Thân của mình xúc chạm, mình coi nó có nắm giữ tướng chung nắm giữ tướng riêng hay không ? ví dụ mình đi xe buýt hay mình đi tới chỗ đông buổi lễ hội gì đó, mình cọ quẹt mình không để ý không sao nhưng nếu người đó quẹt ngang mà mình nhìn thấy vừa cảm giác thân xúc bốn mắt nhìn nhau hút lúc đó mình nắm giữ tướng chung tướng riêng lúc đó không phải chỉ nhẵn căn không mà mùi hương bên đó tỏa ra, thân xúc dồn tám bát diện mai phục, thập phương du kích, đánh gục ngã, tối về ngồi thiền không thấy hình Phật, không thấy sắc thọ tưởng hành thức của nội tâm, thấy những thấy sắc kia chiếm ngự tinh thần
+. Tinh tấn thứ hai là tinh cần đoạn tận
“Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không chấp nhận cho dục tằm khởi lên từ bỏ, tẩy sạch chấm dứt khiến cho nó không hiện hữu lại, không chấp nhận sân tằm khởi lên dục tằm khởi lên, tất cả các pháp ác và bất thiện pháp, không cho nó khởi lên tẩy sạch từ bỏ chấp dứt khiến cho nó không còn hiện hữu nữa, cái này mới gọi là tinh tấn thứ hai tinh cần đoạn tận siêng năng, đoạn dứt đoạn hết dứt sạch đây là sự tinh tấn thứ hai là không cho chấp nhận dục tằm, tằm là suy tư, tìm kiếm những ý nghĩ tìm kiếm dục, những ý nghĩ về sân hận, những ý nghĩ muốn hại người ta, tất cả các ý bất thiện pháp khởi lên từ bỏ nó tẩy sạch chấm dứt nó khiến cho nó không còn hiện hữu như vậy mới gọi là tinh tấn. Mình nghĩ trong một ngày của mình những dục sân, hại, bất thiện pháp, cái ác trong tâm khởi lên bao nhiêu lần, mình có thấy được hay không, biết hay không? Mình có tẩy rửa hay không, mình có đoạn tận hay không, mình có trừ diệt nó hay không hay là nuôi dưỡng nó để cho nó tiếp tục nên có một bài kinh khác đức Phật nói “này các Tỳ-kheo nếu như vị Tỳ-kheo đang khi đi khi đứng khi nằm ngồi, trong nội tâm sanh khởi dục tham dục sân hận những tư tưởng ác bất thiện pháp mà không tẩy sạch không trừ đoạn tận thì đó là kẽ lười biếng giãi đãi trong giáo pháp của Như lai” đây mới gọi là tinh tấn thật sự tinh cần tinh tấn của Phật dạy, nhiều khi đang ngồi dáng giống như ngồi thiền nhưng chắc gì trong đó ngồi thiền nếu ác pháp một là hôn trầm hai là vong tưởng ba là nuôi dưỡng ác pháp mình ngồi lên những cái hận cái sân tiếp tục nghĩ thì đó không phải thiện, nhìn thấy vậy nhưng không phải vậy. Như lý tác ý là khởi lên những ý tưởng dục mình phải có những phương pháp dập nó liền,nói đây là sự nhục nhã, đây là sự xấu hổ, đây là thứ bất thiện pháp nhơ nhớp bất tịnh không xứng đáng với thánh hạnh, đây là nguyên nhân lôi mình vô sanh tử luân hồi khổ đau chìm đắm vô lượng kiếp trong tâm mình đánh nó nếu những tư tưởng này mình có dám ngẩng mặt nhìn được hay không, nếu những tư tưởng này huynh đệ mình thấy được tất cả mọi người thấy được tư tưởng đó thì úp mặt đi đâu, mình phải dùng những câu đó tự mình trị mình trong kinh Pháp cú đức Phật dạy tự mình chỉ trích mình, tự mình dò xét mình như vậy là Như lý tác ý chứ mình không để cho nó tự tung tự tác để cho nó tiếp nối tiếp dưỡng dung dưỡng, nuôi dưỡng tăng trưởng cái đó không có tu tập mình kiểm tra trước nay mình có giống như vậy hay không? vì mình không có biết trừ diệt nó, phải đoạn tận nó diệt nó không còn manh giác, đánh cho nó tan tác tơi tả hoa lá dập cho nó không còn gì thành ra cát bụi, tan thành mây khói cái đó là đại hùng đại lực đó là sức mạnh của người tu, đó là tinh cần đoạn tận.
+. Thứ ba là tinh cần tu tập
Ở đây nói là thất giác tri
“Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt đưa đến xả ly tu tập trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi và xả giác chi”.
Niệm giác chi là Tứ niệm xứ, nói gọn hơn là thân hành niệm tức là niệm thân nếu người xuất gia không biết phương pháp này giống như thợ mọc không biết cầm bào bào gỗ, một phần trong Tứ niệm xứ, niệm thân
Tổng cộng có sáu phần là phần niệm thân
Trong phần niệm thân có sáu phần
Thứ nhất niệm hơi thở
Thứ hai niệm oai nghi
Thứ ba niệm hành động
Thứ tư niệm tứ đại
Thứ năm niệm bất tịnh là ba mươi hai thể trượt
Thứ sáu là niệm tử thi, niệm chết
Sáu giai đoạn này mình thực hiện được là thân hành niệm,
Niệm hơi thở là nhớ thở vô thở ra nhiếp cái tâm
Niệm oai nghi là biết đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm
Có nhiều lấy một hai pháp nhỏ làm làm pháp tu là lấy một phần nhỏ trong đây nhưng chưa có đủ
Riêng pháp niệm thân mình thực hành trọn vẹn sâu sắc có thể chứng A-la-hán nhưng thọ thân pháp lấy có một pháp thành tựu viên mãn nên nhớ niệm oai nghi là đi đứng ngồi nằm nói nín động tịnh là mình phải rõ biết, niệm hành động là mình biết mình đang làm cái gì là mình làm cái nấy như vậy gọi là niệm hành động, niệm tứ đại là mình quán chiếu về tứ đại. Minh Thành muốn nói quán bất tịnh và quán xác chết đây là chỗ rất quan trọng, nói chung người xuất gia mình thiếu cái này thiếu trầm trọng cái này nên không nhiếp phục được tham dục, tuy mình tu mình đau khổ khốn khổ với cái dục, thậm chí mình là nạn nhân của dục rất nhiều huynh đệ tuổi trẻ lại tâm sự với Minh Thành, Thầy ơi! bây giờ con khổ quá con muốn tha thiết tu hành nhưng dục mạnh như vậy con trị không được, bây giờ không phải hết muốn khổ nhưng mà tại mình thực hành theo Tứ niệm xứ mình rất hay tại mình thiếu phần này, huynh đệ quán chiếu ba mươi hai thể trược đây là pháp của bậc chánh đẳng giác, không có một pháp nào trị tham dục ngoài mình thấy bản chất nhơ nhớp gớm giếc là hôi thối là vô thường nên, đây là pháp mà những bậc chánh đẳng giác trong quá khứ hiện tại phải đi qua nếu mình không thấy thực tướng này vĩnh viễn tâm tham dục về sắc không bao giờ mình trừ được, mình nhiếp phục bớt làm cho khốn đốn là phải tu huống chi mục đích của người tu là ly dục là đoạn tận dục cái dục, dục nhiếp sạch đoạn tận hết tức là A-la-hán, dục hấp hối gần chết cái đó là quả vị của bất hoàn, quả vị thứ ba, thành ra mình biết sự tu tập thân hành niệm rất quan trọng, quán chiếu chín giai đoạn của tử thi khi chết bất động nằm như khúc cây, sau đó chín giai đoạn là trương phình lên xong xanh bầm nứt nẻ, chảy nước dịch ra chảy mủ chảy máu chảy những thứ hôi hám sau đó ròi ăn từ bên trong bộ phận ăn ra hai con mắt lỗ tai ròi ăn hết ăn hết khắp ròi trào ra đầy người quán cho tới lúc mình rùng rợn, quán như vậy sau đó còn vương vấn mỡ máu xương sau đó các con vật ăn, kên kên quạ diều hâu chó rừng ăn những cái xác rỉa ra những miếng thịt rã hết ăn hết còn bộ xướng còn dính máu.
Minh Thành lúc đó mới lên chùa Bửu Liên lúc đó phóng lộ phía trước chùa là tháp của Hòa thượng Thượng Chánh Hạ Quang vị khai sơn chàu Bửu Liên lúc đó mất ba mươi mấy năm nhưng lúc khai quật để lấy di hài đi thiêu, lúc đó Minh Thành chứng kiến, hai mươi mấy năm quên bây giờ quán bất tịnh nhớ lại, mở ra xương còn nguyên nhưng gân thịt còn dính giã rời rớt xuống từng miếng mà nó bốc lên cái mùi không thể chịu nổi, quán chiếu tới lúc rùng rợn nước mắt dàn giụa nghe mùi mình thấy kinh khiếp, quán tự thân của mình chứ không phải quán đối tượng mình tham ái mà, quán đúng tự thân của mình cho tới bộ xương nằm đó rồi xương sườn để chỗ xương cánh tay xương đùi để mỗi nơi mỗi chỗ, theo thời gian nó mòn trở thành tro bụi, quán sâu sắc, thứ nhất phá tham dục, thứ hai pháp chấp ngã cái tôi, thứ ba phá cái thấy cái gì đẹp là đam mê và luôn luôn bám chặt vào cái tôi từ từ làm cho mờ cho nhạt cho tối làm cho vỡ từ từ cái khối vô minh chấp ngã tham ái chấp thủ của mình, nhất định người tu Phật phải quán cái này không thể thiếu, quán đúng giai đoạn trong kinh dạy ba mươi hai thể trượt, đại phẩu, mổ rạch ra máu chảy ra hết lấy từng bộ phận lấy tim ra, lấy phổi lấy phèo lấy ruột ra, lấy từng bộ phận để ra hết để cho mình thấy nhìn thấy thực chất của tấm thân này, quán chiếu như vậy lúc đó mình từ từ mới nhờm tởm bớt cái tham ái chấp thủ vô thân, nước mũi nước miếng, phân đó là những cái đó là mình, ruột non, ruột già, bao tử, lá lách, ruột non, ruột già, tim gan, phèo phổi, óc bộ não mỡ máu mũ nước miếng tất cả những cái đó chính là mình cái mình cho là mình ai đụng tới mình sân hận ai chạm tới là có chuyện nổi lên mà mê tấm thân này mê tấm thân của người, lúc mình ngồi mình quán chiếu đó tất cả cái mê vỡ ra từ từ cái này người xuất gia tuổi trẻ rất quan trọng đây là pháp của đức Phật dạy.
Lúc Minh Thành đi qua Úc tới thăm Thượng tọa, Thượng tòa làm một tòa tháp theo mẫu hình chùa Vĩnh Nghiêm mới vô ngồi Thượng tọa làm mình hết hồn, Hòa thượng mở áo vạch ngực cho mình coi mới đi đại phẩu mổ tim Thượng tọa nói lúc đó mổ gấp nếu không mổ là chết mà mổ cũng không biết được bao nhiêu phần trăm, cái mạng người vô thường khi quán lại hình ảnh đó rạch móc ra để từng cái lúc đó Minh Thành dàn rụa nước mắt chảy ra hết mình thấy khối vô minh si mê từ trước tới nay, mình tu mình thấy vô minh ái dục sâu sắc mình thực tập thấy rất màu nhiệm mình thực tập xong rồi mình thấy rất nhẹ rồi mình sẽ cảm nhận được ly dục của người xuất gia, chứ không phải thành quả mình phải thực tập quán bất tịnh quán cho sâu sắc quán cho đúng theo kinh Tứ niệm xứ muốn cái này phải học thuộc ba mươi hai thể trượt chính mấy cái đó mình học không thuộc mình lộn xộn hết cho nên văn tư tu là phải có niệm thân
+. Tinh cần hộ trì
“Này các Tỳ-kheo hộ trì hiện tướng đã sanh, tưởng bộ xương, tưởng trùng ăn, tưởng bàng sanh, tưởng đầy ứ, tưởng mủ nồng tưởng nứt nẻ, tưởng phồng trương này các Tỳ-kheo đây gọi là tinh cần hộ trì”
Những lời đức Phật dậy không thực tập theo mình, không thành tựu những quả vậy mà những quả đức Phật đã thành tựu
Thế nào là tinh cần hộ trì? là giữ gìn cái định tướng hiền đã sanh tức là trong khi mình tu mình quán chiếu mình quán tưởng đã thành tựu những định tướng phải giữ không cho nó mất, phát huy được gì tương ứng với giới, tương ứng với định mình phải giữ nó, mình không để cho nó mất như vậy gọi là tinh cần hộ trì ở đây đức Phật nêu ra một pháp là tướng bộ xương trùng ăn, tướng bằm sanh tất cả những cái đó là chín giai đoạn của tử thi, mình giữ những thiện pháp đó không cho nó mất, ví dụ mình tập nhìn bây giờ bộ xương này ngồi ở đây, mình quán gặp ai cũng bộ xương, gặp cô thiếu nữ tới mình quán bộ xương đang tới, tất cả cái gì đang tới mình quán mở ra để cho mình thấy thì từ từ cái dục sẽ giảm nhạt phai dần dần cho tới lúc nhờm gớm, viễn ly là chán nản mình không muốn cho tới tận cùng ồ A-la- hán, ít nhất cũng bất lai nhị quả tam quả, cái đó là suy định không phải thiền định không phải chánh định, chánh định của đạo Phật là chánh kiến và cuộc đời này không có gì chắc ăn cũng không có gì chắc chắn bất thường, Minh Thành mong huynh đệ xác lập được chánh kiến giống như đức Phật đã dạy, luôn luôn lúc nào cũng phải nhớ vô thường đừng nghĩ mạng này là chắc chắn, mình thấy tám tháng tuổi chết, mười mấy tháng chết, mấy tuổi chết, hai mươi mấy tuổi chết không có tuổi nào mà không chết, làm sao mình nói mình ở đây cho hết khóa phải luôn luôn nhớ điều đó, đó là cái trí phải quán chiếu về vô thường chứ không phải cái học là để nói suống, bài trên chấm điểm phải thực thấy pháp pháp, cái pháp đó phải in đậm trong nội tâm của mình, ở trong miệng trong thân, trong ý của mình từ trong sự quán chiếu của mình đó mới là sự tu tập của người xuất gia mà sự tu tập đó huynh đệ mới nếm được lợi ích thật sự đúng như lời đức Thế Tôn đã truyền dạy minh trong kinh Di giáo nên “cuộc đời như thế các vị hãy nỗ lực tinh tấn tự giải thoát phải dùng ánh sáng trí huệ để tiêu diệt bóng tối si mê đời là sự vận hành không có kiện định”, dùng ánh sáng trí huệ để diệt si mê Minh Thành đọc trong kinh Tương Ưng bộ.
“Này các Tỳ-kheo chúng sanh từ vô thỉ cho đến nay bị vô minh che đậy bị tham ái trói buộc đọc câu đó Minh Thành nổi da gà xúc cảm và muốn rơi lệ, thật sự chúng ta bị vô minh che đậy tham ái trói buộc mà không thấy, lúc nào mình cũng tưởng mình thông minh, mình giỏi giang chính cái tưởng lại hại mình không ngờ mình tu tập thật sự chính mình bị vô minh che đậy và tham ái buộc mình bất cứ lúc nào cũng trói đó là bóng tối si mê, mình phải có sự chánh niệm tỉnh giác, cho nên năm uẫn mang tính tội lỗi được gọi là thân, năm uẫn này nó hành hạ mình mình học xong năm uẫn này là A-la-hán quả chấm dứt hết tất cả mọi khổ đau, diệt tận hết tham ái. Già bệnh chết không thương tiếc giống như bọn giặc cướp, tất cả chúng sanh bị năm uẫn này cướp hết tất cả, cái nguy hiểm của dục ghê gớm vô cùng tận nếu mình tu hành mình không thấy được mình cũng gục ngã mình chết không biết bao nhiêu đời, nên đức Phật dạy mình tinh tấn để đoạn tận, tinh tấn nhìn thấy rõ để quán chiếu nó, để xuất ly vượt khỏi nó, tất cả là dục, dục cha con vợ chồng anh chị em vì dục có thể giết hại lẫn nhau cho nên năm uẫn này mang tính tội lỗi gọi là thân, mình tu có tỉnh thức có chánh niệm mình mới thấu triệt được nó còn không mình chết nên phải tha thiết tìm kiếm con đường giải thoát, đừng có đam mê những thú vui tạm bợ vô thường ảo mộng bỏ mất hết sự nghiệp đạo hạnh của người xuất gia đó là lời di chúc của đức Phật rất tha thiết chân thành.
“Tất cả các pháp là vô thường tan hoại phải tinh tấn nỗ lực tự cầu giải thoát thôi các vị hãy yên lặng đến lúc Như lai vào vô dư Niết bàn đó là lời dạy cuối cùng của đức Như lai”.