Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm - Thánh Trí Sanh Diệt Ngũ Uẩn & Mừng Ngày Tiếp Nối Thầy

2026-03-03 00:53:41
Pháp Đàm Nikāya

Thánh Trí Sanh Diệt Ngũ Uẩn

& Mừng Ngày Tiếp Nối Thầy

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ngũ uẩn sanh diệt PAGEREF _Toc213839206 \h 1

II. Ngũ uẩn vô ngã PAGEREF _Toc213839207 \h 13

I. Ngũ uẩn sanh diệt

Hồi trưa này con nghĩ là tối nay đốt lửa, bữa trưa để cho quý vị tu học bình thường nhưng mà con suy nghĩ lại thôi mình làm được cái gì thì cố gắng làm liền đi, không có hẹn tối, trưa nay cho thiền quán, nếu tối được thì kiếm thêm thì tốt, lỡ tối không được rồi bệnh hay là có những cái gì thay đổi thì sao. Quả nhiên là quyết định không sai, tối trời mưa mình đâu đốt lửa được cho nên nãy giờ con ngồi con cười. Bởi vì mình thường suy nghĩ trong một cái định kiến, mình nghĩ rằng giờ làm không được để chút nữa làm, ngày mai làm, tuần sau làm, cái suy nghĩ đó là tà kiến, là vô mình, là ngu muội, cho nên con ngồi con cười, quyết định vậy đỡ quá, có được buổi thiền quán ngoài cây giác ngộ. Nếu theo cái ý nghĩ trước là để tối mới đốt lửa là tối nay không có được luôn, cho nên con cười là con hoan hỉ vì mình thấy được cái vô thường trong cái suy nghĩ của mình, trong cái làm việc của mình.

Mình phải thấy được cái tính chất vô thường của các pháp vì vậy mà thiện pháp được tăng trưởng, cho nên khi chúng ta làm điều thiện, điều lành chúng ta đừng có hứa, đừng có hẹn mà làm ngay lập tức. Người nào con kêu mà không có làm là con buồn, nhắc nhiều lần, tại vì người này không có biết nắm bắt cơ hội thiện pháp vì qua cái đó rồi có thể người này sẽ chết, hoặc người này sẽ thối thất cái tâm, hoặc là người này sẽ thay đổi, bởi vì sắc; thọ; tưởng; hành; thức này đổi liên tục mà bây giờ, ngay lúc đó có thiện pháp mà mình không làm. Thành ra nhớ cái này là một bài học rất quan trọng.

Đây là trong suy nghĩ nếu con không nói ra quý vị đâu có biết, con nói với thầy Thiện Huệ thì con với thầy Huệ biết thôi, giờ mọi người biết hết rồi, đó làm cho hiện hành các pháp hữu vi cho nên gọi là hành. Khi khẩu hành con nói ra là các pháp nó sẽ hiện hành ra, khi ý hành mình nó suy nghĩ lên là các pháp nó sẽ hiện hành trong tâm của mình ra, làm cho hiện hành các pháp hữu vi làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh. Đó là biểu hiện ra ngũ uẩn và tính chất của ngũ uẩn là do cái suy nghĩ của mình và cái lời nói, kế đó con cười tiếp tục cái bài Vô Thượng Phật Đạo là hồi xưa khi bậc đạo sư làm là có nói chuyện với con, ngài nói giờ là ngài làm mà ngài lấy chữ "thừa tám chánh" thì chữ không có đủ, có bảy chữ à. Con nói giờ để chữ "kế thừa" luôn, nó hay, nó mạnh thì ngài chịu, thế là lấy luôn cái chữ "kế thừa", khi nãy con ngồi nhớ lại bậc đạo sư nên con vui, con cười. Mọi người nhìn thấy mấy cái bánh sinh nhật, bông hoa có vui không? Tối nay chúng ta ăn giao thừa vui không? Tại vì trưa mai quý vị xuống núi rồi, còn các vị người ta ở đây người ta còn dài dài, nhưng mà các vị lên ít thì chỉ được có một đêm nay nữa thôi. Cho nên tối nay con đặc biệt đãi quý vị đại tiệc chánh pháp, hoan hỉ không?

Cái bảng này là giải mã thế giới, tất cả thân tâm và thế giới của chúng ta ở trong đây, đây là tinh hoa, tinh túy, cốt tủy của thánh pháp kinh tạng Nikāya nhưng mà trong một cái buổi học không thể nào giải hết cái này, cái này phải học sáu tháng cho đến sáu năm mới hết cái bản này, nếu nói rộng nữa thì học hết cả cuộc đời cho tới khi nào chứng thánh quả A-la-hán mới xong. Trong giới hạn bữa hôm nay để ôn, cố tri tân cho các cái vị mới và các vị cũ nắm được thì chúng ta khái quát ở trong một buổi học thôi. Hôm qua tới nay quý vị đã được học nhóm phải không?

Phải thường nhớ tất cả chỉ là sắc thôi, mà sắc là do đất, nước, gió, lửa hợp thành, tất cả chỉ đất, nước, gió, lửa thôi, đó là bản chất của sắc và đất, nước, gió, lửa này đổi thay, là thay đổi, là biến hoại, là biến hoại. Sắc nghĩa là thay đổi, là biến hoại, nhớ vậy hoài, cứ nhớ niệm vậy hoài, gặp cái gì cũng niệm đó là sắc, mà sắc là đất, nước, gió, lửa mà đất, nước, gió, lửa là thay đổi, là biến hoại, là vô thường. Mình nhớ bao nhiêu đó tức là đang niệm Phật, là đang thấy Phật, là đang gặp Phật, là đang thở cùng chung hơi thở với Phật. Chúng ta có chịu không? Vậy tại sao không thở chung với Phật mà đi thở chung với ma? Thấy cái này đẹp, cái kia xấu, cái này hơn, cái kia thua, so sánh, phân biệt rồi tham, sân, si là cái đó sống với ma, sống với khổ đau, sống với phiền não, sống với si mê, sống với vô minh, sống với bóng đen, sống với mù lòa, sống với một cái tâm khuyết tật, tâm bệnh hoạn.

Nếu nhìn thấy sắc lúc nào mình cũng nhớ đó tất cả là sắc hết, mà sắc là tứ đại, mà tứ đại là biến đổi, là vô thường, là tan hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Cái thân này cũng là sắc thôi, cũng đất, nước, gió, lửa thôi, rồi cũng tan biến, hủy hoại, hoại diệt thôi, mình cứ niệm hoài, mình nhớ hoài, bộ xương là đống tro, là hũ cốt, không hơn không kém. Sắc này và sắc này chỉ trong tích tắc thôi, không có xa, từ đây bước tới đó rất gần, một bước là vô hòm, một bước thứ hai là vô lò thiêu, một bước thứ ba trở ra là một hủ cốt. Nhớ vậy đó là mình có được thánh trí thứ nhất về sắc uẩn, tập nhìn chiếc xe đó cũng là đống cát bụi, tập nhìn căn nhà mình đang ở đó cũng là đống cát bụi, đống đổ nát, chiến sanh đó, động đất đó, bị hỏa hoạn đó, tập nhìn cái miếng vườn, miếng đất, mình đang sở hữu sổ đỏ, sổ hồng cũng là đống cát.

Mình tập nhìn những tờ giấy sanh sanh đỏ đỏ đó cũng là một cái đống tro, không khác gì những tờ tiền âm phủ khi mình chết người ta sẽ rải dài dài ở ngoài đường. Mình tập nhìn tất cả các thân này, cảnh này, đồ vật này, nhà cửa, xe cộ, đất đai, ruộng vườn, tiền bạc cho đến thân này đều là đất, nước, gió, lửa, đều là sự kết hợp, duyên sanh, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, vô thường, biến hoại, tan hoại, tan nát, tiêu vong, diệt tận. Phải tập nhìn như vậy thì nhìn đó là cái nhìn bằng thánh trí tuệ, nhìn bằng cái nhìn của Phật, nhìn bằng cái nhìn của giác ngộ, tập nhìn như vậy mình mới có thể dám làm phước, mình mới có thể chia sẻ được cho người nghèo khổ, mình tập nhìn như vậy mình mới có thể sang sẻ được cho anh chị em, mình mới có thể đem đồng tiền làm được báo hiếu cho cha mẹ, lo cho cô bác, ông bà, thương người nghèo, biết hiếu kính cha mẹ, sang sẻ những cái hoàn cảnh neo đơn, khó khổ, biết bố thí, cúng dường, phụng sự tam bảo, biết sống có ý nghĩa, có giá trị, có lợi ích.

Còn nếu mình không thấy được như vậy thì cả một cuộc đời mình là thèm khát, mình đói khát, mình khao khát, mình khát ái đối với sắc, mình đau khổ đối với sắc, đó là nói cái bản tính của sắc. Bây giờ mình nói về cái sắc này có làm cho mình khổ không? Nhiều không? Con mắt này có làm cho mình khổ không? Mình chỉ cần nhìn thấy là mình bực lên, mình khó chịu lên, phải không? Rồi khi mình khó chịu lên là mình có khổ không? Rồi cái người mà làm cho mình khó chịu thì người đó có khổ không? Rồi bây giờ mình nhìn không bực mà nó thích, nó muốn, có gia đình rồi nhưng mà gặp người ta rồi muốn thì khổ? Thấy con mắt này không? Mới có một con mắt thôi cũng có thể làm cho tan nhà nát cửa, cũng có thể làm cho tan vỡ hết. Rồi cái lỗ tai này có khổ không? Nó nghe rồi có tham sân không? Có bực không? Có thiêu đốt không? Rồi lỗ mũi với cái miệng, có khổ với cái miệng nhiều không?

Vì cái miệng mà bệnh biết bao nhiêu thứ, rồi nào là đôi chối, sân hận, thiêu dệt, đâm bị thóc thọc bị gạo, đủ thứ hết vì cái miệng thôi. Nhìn sâu ra là cái sắc này chúng ta khổ suốt đời mà không phải khổ một đời này đâu, mình không biết nó, không hiểu nó, không thấy nó, không thấu triệt nó một cách tường tận mọi phương diện, góc độ, khía cạnh, từ tên tuổi, mặt mũi, tánh tình cho đến bản chất của sắc thì mình sẽ bị nó làm hại, bị nó hãm hại, bị nó ám hại, bị nó giết hại. Cái từ ám hại này ghê lắm, là nó hại mình ở trong bóng tối, nó âm thầm làm hại mà mình không biết. Cái sắc này làm hại mình, chỉ có một miếng ăn chút thôi là có thể đấu đá, đánh đấm, có thể đưa nhau ra tòa, thậm chí đi vào chung thân, tử hình, một miếng ăn thôi, một miếng tội tàn thôi, cái sắc nó làm khổ chúng sanh, và thậm chí là không còn tình nghĩa gì hết.

Mới xảy ra tức thì chuyện hết sức đau lòng, anh em ruột sửa cái đường mương, đường thoát nước chút xíu vậy đó, sửa qua sửa lại chút rồi cự cãi nhau, bên này cầm mấy cái viên gạch liệng qua rồi bên kia tức quá chạy về lấy cái cây chỉa thẳng vô thấu tim người anh chết ngay tại chỗ. Cho nên Đức Thế Tôn thương chúng sanh lắm, vì vô minh, vì si mê, vì không hiểu biết mình hại mình, mình hại người, mình làm khổ mình, làm khổ người, mình hành tội mình, hành tội người, hành xác mình, hành xác người, hành phạt mình, hành phạt người, mình hành hình mình, hành hình người, mình hành quyết mình, hành quyết người khác chỉ vì cái không hiểu biết. Không hiểu biết nó là tứ đại, không hiểu biết nó là cảm giác, chỉ là cảm giác thôi, một chút cảm giác đó phừng lên, nó bốc lên mà không thấy, không biết, không nhiếp phục, không chế ngự, không làm cho nó an tịnh, lắng dịu, không tẩy sạch, không diệt tận nó thì nó bốc lên, nó cháy lên, không còn huynh đệ, không còn anh em, không còn gì nữa, huynh đệ tương tàn, anh em giết hại nhau bây giờ như ăn cơm bữa.

Chúng ta thấy những cái tin tức bây giờ là khủng khiếp lắm, đó là cái cảm thọ này, chỉ cần nó nổi lên một cái cảm xúc mà nó phừng lên, nó bốc cháy lên thì lúc đó là cả cái sắc là nó sân, cả cái cảm thọ đó là nó nóng giận, nó thiêu đốt, những hình ảnh trong tâm là làm như thế nào cho hả dạ cái cơn giận đó, cái tưởng đó, còn cái suy nghĩ là nó tìm cách để thực hiện để cho nó thỏa mãn cái cơn tức giận đó, và cái thức đó chỉ biết thọ; tưởng; hành đang sân hận, bốc cháy thôi, ngoài ra nó không biết gì khác nữa hết. Nếu mà có một cái người hoặc là có một việc gì khác để cho nó thoát ra được sắc; thọ; tưởng; hành; thức sân giận đó, thiêu đốt đó thì nó sẽ có cái đường thoát ra, đằng này không có ai cứu giúp hết, mà càng không biết nữa, cái tâm mê, cái tâm hôn mê, cái tâm si mê, cái tâm ngu mê, cái tâm mê muội, cái tâm mù lòa thì lúc đó nó hoàn toàn không thấy biết gì.

Sắc sân, thọ sân, tưởng sân, hành sân, thức sân rồi nó chỉ thực hiện những cái hành động, những cái lời nói cho nó hả dạ cái cơn tức giận đó và hậu quả cuối cùng là suốt cuộc đời ở trong tù hoặc là đi đến cái án chung thân. Như vậy cái cảm thọ này nó có nguy hiểm không? Nó có hại mình không? Nó có hại nhiều người không? Rồi cả nhân loại có bị cảm thọ này hại không? Cả thế giới này có bị cảm thọ này hại không? Đức Thế Tôn nói này sắc là lửa than, thọ là lửa than, cái cảm giác là lửa than, cái thân này là lửa than, cái căn nhà đang ở đó là lửa than, cái chiếc xe đang chạy đó là than lửa, than hồng, cái cọc tiền đó, cái sổ hồng, sổ đỏ đó là lửa đỏ, lửa than, chạm vô nó là nó đốt cháy phỏng, nó thêu rụi, hễ ai chạm tới cái đó là nó đốt cháy, nó thiêu rụi.

"Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!

Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.

Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: 'Ta đã được giải thoát'. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'." (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)

Mình đã từng bị thiêu chưa? Từng bị cháy? Có phỏng tay, phỏng chân, phỏng tim nhiều không? Có phỏng não không? Tai cũng phỏng, mắt cũng phỏng, mũi cũng phỏng, miệng cũng phỏng, cháy hết tất cả toàn thân. Sắc là than đỏ này các vị ơi, cảm giác là lửa than, những cái hình bóng ở trong tâm đó là lửa than, những cái suy nghĩ đó là than hồng, là hố than hừng, cái thức nhận biết của mình ở trong vô minh, ở trong si mê, ở trong bản ngã, ở trong ta đây, ở trong hơn thua là lửa hồng, là than đỏ. Sắc này là kẻ giết người đó, lúc đầu khi mới học con nghe cái này thấy lạ quá, sao sắc mà giết người, sắc đẹp mà sao giết người. Cái bông hồng này nó có giết người không? Bông hồng này đặt ở đây thì nó là thiện pháp, là hoan hỉ, là hạnh phúc phải không? Nhưng mà có những cái bông hồng làm cho người ta đau khổ, có không?

Có những cái bông hồng làm cho người ta đau tim, bệnh tim, nứt cái tim, vỡ cái tim, nát cái tim, bây giờ người này lại thương thầm cái người kia, rồi người kia lại không thương người này đi thương cái người khác. Cái này nhiều không? Trong phim nhiều không? Ở ngoài đời nhiều không? Rồi người này nhìn thấy người kia đưa cái bông hồng cho người nọ, nhìn thấy cái cảnh đó thôi là té xuống, về bệnh. Này các vị sắc thân này, những cái đồ vật này là kẻ giết người thấu tim, kẻ sát nhân đó, cái suy nghĩ này làm cho mình khổ, làm cho mình ân hận suốt đời, nó làm cho mình phải sống ở trong tiếc nuối, sống ở trong thù hận, sống ở trong oán hờn, sống ở trong hờn trách, sống ở trong khổ đau là cái suy nghĩ này. Cái suy nghĩ không có thấy, không có biết, không có trí tuệ, nghĩ hơn thua, nghĩ tham, mà cái suy nghĩ tham đó mình có khổ cho nó nhiều không? Cái tham có làm cho mình khổ?

Mình tham cái gì nhiều nhất? Bây giờ tham nhiều thì khổ nhiều, tham vừa thì khổ vừa, tham ít thì khổ ít, không tham thì hết khổ. Bây giờ mình chịu cái nào? Cái suy nghĩ tham này giết người ta, cái ảo tưởng về cái tham giết người ta, làm cho mình nhọc nhằn, vất vả, mệt mỏi, nó làm mình thân tàn ma dại suốt cuộc đời mà tham hoài, tới chừng chuẩn bị vô hòm vẫn còn tham. Già vẫn còn tham phải không? Thành ra nhìn sâu sắc vào cái thánh trí ngũ uẩn Đức Phật, bữa nay biết được nhận diện ngũ uẩn rồi bây giờ phải luôn luôn lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kỹ, lắng nghe cái cảm giác này, lắng nghe những cái hình bóng này, nhìn kỹ những cái hình bóng, này lắng nghe kỹ những cái lời nói thầm trong tâm và nhìn kỹ những cái hình bóng này và để ý thật sâu sắc những cái cảm giác này. Đó là tu thiền đó chứ không phải tu thiền là nhắm mắt rồi thở vô thở ra.

Tu thiền là phải luôn luôn để ý kỹ cái cảm giác này. Cái nóng giận khi nó sanh khởi lên nó biểu hiện ở đâu ở trên thân? Ở lồng ngực. Cái si mê nó biểu hiện ở đâu? Ở trên con mắt. Rồi cái tham dục là nó biểu hiện ở cái chỗ phát dục. Tham, sân, si là biểu hiện ba chỗ trên thân nên phải để ý cảm giác toàn thân của mình, thường xuyên coi nó có tham, sân, si không. Nãy giờ mình nói cái chiều tiêu cực, bây giờ mình nói chiều thiện, cái thân này mình phải bắt nó làm các việc lành, chúng ta thấy thanh niên trai tráng ba bốn người bỏ công ăn chuyện làm lên núi đi chợ nấu cho chúng ta một khóa tu đồ ngon lành, có đáng tuyên dương không? Đó là bắt cái sắc này làm thiện, không cho nó làm bất thiện, bây giờ nếu như thanh thiếu niên bình thường mấy ngày này là ăn nhậu, chơi bài bạc, rượu chè, xe cộ, thậm chí là những cái còn tệ hơn thì bây giờ mình bắt ngược nó lại. Cái đó là bất thiện, giờ mình đưa nó vô cái thiện, lên núi tu được không? Chẳng những tu mà còn làm nhiều cái việc để phụng sự.

Sắp tới đây có một khóa tu rất đặc biệt, cậu trẻ này là giới tử vừa rồi có xuất gia giao duyên hai tuần lễ, mới có hai mươi tuổi thôi làm phi công, mà cái đặc biệt là đem tiền lương mỗi tháng trích ra một con số lớn lo cho hai trăm người mỗi tháng đi xe và ăn uống tu học ba ngày. Sắp tới ở đây là lên Linh Quy tu học ba ngày, hai anh em đem cái tiền đó để lo cho một đến hai trăm người tu suốt ba ngày trong mỗi tháng, mới hai mươi tuổi thôi. Chúng ta thấy cái tuổi trẻ như vậy hiếm có không? Rồi khi mình lớn tuổi, mình già mà mình thành đạt, mình giàu có mình chưa dám làm vậy nữa cho nên từ cái bất thiện nhìn qua cái thiện pháp, mình bắt cái thân này nó làm điều thiện. Bây giờ này nếu mà không lên đây ngồi thì ở dưới làm gì ạ? Bấm điện thoại hoặc nói chuyện, đâu có được lợi lạc đâu cho nên mình bắt cái thân của mình đi vào trong thiện pháp, đó là tu, đưa nó vào trong thiện pháp, đó là tu.

Mình đừng có nghĩ cái gì cao siêu hết, ngay cái giờ phút bây giờ tại chỗ này mà thân, miệng, ý của mình an trú vào trong cái lành, cái thiện, vào trong cái pháp, vào trong cái trí tuệ thì ngay lúc đó là mình tu. Bây giờ hai hình ảnh ngược nhau, trên đây nói pháp, ở dưới kia karaoke, thấy rõ chưa? Người thật, việc thật, thiết thực, hiện tại, rõ ràng mà bây giờ mình không tu, mình không quy y tam bảo thì mình cũng giống y vậy thôi, có khi còn tệ hơn nữa. Vì thế mình phải đem cái sắc này để cho nó làm thiện pháp, thí dụ như giờ mình đến chùa thì mình rảnh là lấy cây chổi đi quét sân, nhìn thấy dưới nhà bếp không có đủ người là mình phát tâm đi rửa chén phụ, không cần đợi kêu, cái đó là mình làm cho người cũng là làm cho mình. Thậm chí cái chỗ sâu sắc hơn nữa mình vô toilet mà mình thấy dơ thì chẳng những mình không sân si vì người bình thường vô thấy là sân si, bỏ đi ra nhưng người biết tu là cơ hội vàng để chùi toilet.

Vàng giả thì thích mà vàng thiệt không chịu lấy, cái chỗ đó là vàng thiệt đó, công đức nằm trong đó. Con kể cho quý vị nghe hồi xưa có đại lão hòa thượng ở trong Phật học đường Nam Việt ở chùa Ấn Quang có rất nhiều chư Tăng tu học, mấy thầy lúc nào nhìn vô cái toilet cũng sạch trơn, bóng láng mà sao không thấy ai chùi hết. Mấy thầy trẻ tuổi cũng hiếu kỳ nên phải canh tìm cái người nào chùi vì không thấy ai chùi mà sao lúc nào cũng sạch bóng trơn, có thầy canh hai giờ khuya hòa thượng Thượng Thiện Hạ Hòa là giám đốc Phật học viện ngài chùi toilet trong đó. Ngài đợi chúng ngủ hết rồi ngài đi chùi toilet, hòa thượng là bậc giới hạnh, giới đức, đức độ rất là lớn, lên tới đại lão hòa thượng rồi, lãnh đạo cả một cái Phật học viện như vậy, đức phước đức người ta như vậy, người ta bòn như vậy còn mình là gì, nhiều khi mình đi tới chẳng những mình thấy dơ mình còn không chịu dẹp mà mình còn sân si lên "tại sao không ai dọn vậy?".

Đó là cái thất bại của mình cho nên mình tới chùa hay là trong nhà mình cũng vậy, nhà mình cũng giống như chùa, đừng có lại đợi tới chùa mới tu trong nhà mình hay cơ quan, xí nghiệp, công ty cũng vậy. Vừa rồi con có nói chuyện với một vị doanh nhân thì con có một cái ví dụ người này đi làm, mấy người kia thấy người này hiền mà siêng năng thì có một số người làm chung hở gì cũng nhờ người này hết, lâu lâu quý vị có gặp cái trường hợp này không ạ? Thấy người ta hiền, người ta siêng năng rồi nhờ, thậm chí công việc của mình cũng bắt người ta làm luôn, ở ngoài đời kêu là lợi dụng nhưng mà nếu cái tâm thường nhỏ hẹp, nhỏ mọn, thông thường, không biết tu thì bực bội, sân hận, nhưng mà nếu người biết tu đó lại là cái cơ hội, thứ nhất là cho mình tăng thêm cái năng lực, cái khả năng của mình, thứ hai là mình có thêm một cái sức kham nhẫn, một cái sức chịu đựng, thứ ba là mình có một cái tâm tập giúp đỡ người khác.

Người này mà làm như vậy một thời gian rồi tự động người này lên trưởng phòng, từ từ lên phó giám đốc. Từ một nhân duyên quèn không có là gì, vô danh tiểu tốt nhưng mà người này hay giúp người ta, chịu khó giúp người và muốn thăng tiến, muốn cầu tiến, muốn tăng thượng thì tự động người này lên chứ không phải là giỏi. Do cái tâm người này, cái nhìn của người đúng, cái suy nghĩ của người đúng cho nên đưa đến làm việc của người này đúng thì tự động người này đi vào cái vị trí tương thích, ở trong đạo tràng cũng vậy, ở trong sự tu học, trong sự hành pháp đều như vậy hết. Nếu mình nghĩ theo chiều tiêu cực thì thấy cái nào cũng bực bội, khó chịu, sân hận, con hướng dẫn, chia sẻ với các vị hiền trí đó là người làm khổ cho mình thì mình phải lạy họ cho nhiều hơn người khác. Tại vì sao? Vì cái người làm khổ cho mình thì mình mới đi tu, nhất trí không? Nếu mình vui hết là không có mặt ngồi đây đâu, nếu mà cái gì cũng giống như ý mình hết là không có ngồi đây. Đức Thế Tôn nói rằng khổ sanh tín, từ đau khổ phát khởi niềm tin đối với chánh pháp.

"Và này các Tỳ-kheo, duyên của lòng tin là gì? Khổ là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng khổ có duyên, không phải không có duyên" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, III. Duyên)

Cho nên những cái chướng ngại, những cái trở ngại, những cái nghịch cảnh lại là những cái cơ hội, những cái điều kiện, những cái đòn bẫy, những cái động lực đẩy mình đi tới.

"Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả,

Anh hùng hào kiệt có hơn ai."

(Phan Bội Châu)

Nếu như mình lên Linh Quy Pháp Ấn mà nó nằm ở dưới đất liền thì làm gì có bồng lai tiên cảnh, Cổng Trời săn mây, nhất trí không? Mình đi mà cứ than khó đi quá, cao quá, lạnh quá thì làm sao mà mình ngồi được ở trên một cái cảnh nhìn cả đất trời mênh mong, vô tận? Hồi sáng này thấy hỷ vô lượng tâm không? Có thấy niềm vui lớn không? Cái gì cũng phải có giá của nó, mình tu học cũng vậy, mình tu học mình càng có sức nhẫn lực lớn chừng nào đó thì cái sức chịu đựng của mình càng thâm hậu, mình càng có một cái sự tôi luyện, rèn luyện, tinh luyện, khổ luyện thì mình mới đạt được cái kết quả thâm sâu, cái từ lực của mình càng lớn, nó rộng chừng nào là do cái sự thấm vào khổ đau mình sâu dày, nó thấm thía cùng cực thì cái từ lực của mình nó mới vô lượng. Mình khổ chút chút thì cái tâm từ của mình có chút, mình thấm thía hết cái khổ trên cuộc đời thì cái tâm từ của mình mới bao trùm cả cái quả địa cầu này.

Mình ôm của quả địa cầu này vì mình thấy cả cái địa cầu này là máu, nước mắt và lửa đỏ cho nên cái tình thường của mình mới trải rộng ra tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của trời đất này, của hành tinh này, của thế giới này, của vạn loại này, của hữu tình này thì cái tâm từ đó mới là vô lượng, rộng lớn, quảng đại, không hận, không sân, trải cùng khắp mọi phương hướng. Nếu cái khổ mình chưa có thấm thía bao nhiêu hết mà cái tâm mình nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhoi, nhỏ nhích, nhỏ nhặt, mình chỉ tư lợi, tự lợi, mình ích kỷ, chỉ biết nghĩ cho riêng mình không thì mình không có cái tâm từ. Làm cái gì, nghĩ cái gì mình chỉ nghĩ cho mình trước không à, mình không thấy người khác, ngay trong gia đình của mình cũng vậy, mình nghĩ cho mình không, không có nghĩ cho chồng, không có nghĩ cho cha mẹ, không có nghĩ cho con, có nghĩ đi nữa thì cái nghĩ của mình là một cái nghĩ rất là thiên kiến, rất là góc cạnh, rất là phiến diện.

Cho nên người ta khổ lớn như vậy mà mình thấy khổ có chút thôi, mình nói họ vui nhiều, còn khổ có chút xíu, còn mình khổ lớn vậy nè mà không ngờ rằng ông đó khổ còn lớn hơn mình nữa. Khi mình hiểu được cái nỗi khổ của người ở bên cạnh thì mình mới thương, muốn hiểu được cái khổ thì phải thấy được ngũ uẩn, mà muốn thấy cái ngũ uẩn thì phải thường xuyên nhìn lại và để ý, để tâm thật nhiều. Khi mình để tâm thật nhiều thì các pháp sẽ hiển hiện ra.

"Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật. Và hiểu rõ như thật cái gì?

Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường... tai... mũi... lưỡi... thân...

Như thật hiểu rõ ý là vô thường, như thật hiểu rõ các pháp là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường" (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, VI. Thiền Ðịnh)

Thiền định ở đây không phải là chỉ là mình ngồi im ru mà thiền ở đây là một cái tâm an tịnh, lắng dịu và nhìn một cách sâu sắc vào trong cái thân xác này. Nhớ kỹ chữ thiền ở trong Nikāya là nhìn sâu, bằng một cái tâm yên tịnh để nhìn sâu, là như lý giác sát, là một sự tỉnh giác quán sát đúng như sự thật của nó gọi là như lý giác sát. Giác là tỉnh giác, sát là quán sát, quán sát một cách tỉnh giác và đúng với bản chất sự thật của nó gọi là như lý giác sát, nếu mình quán sát mà mình không có tỉnh giác thì cái quán sát của mình nó cạn cợt, nó phiến diện, nó chỉ có một góc thôi. Bây giờ trên này bao nhiêu thứ gì vầy mình cứ nhìn vô cái này hoài, mình cứ để ý cái này không, cái này nhiêu tiền, kiếm đâu mua cái này, cứ nghĩ cái này hoài thôi, không có nhìn thấy hết tất cả. Cái tâm mình nó bị chấp thủ, nó bị những cái định kiến, bị những cái kiến chấp, bị những cái tư kiến cá nhân, bị những cái chấp, bị những cái tà kiến, ngã kiến, cái thân kiến che mờ, cái thấy của mình chưa có được học tập của bậc Chánh Đẳng Giác cho nên cái thấy của mình là một cái thấy lờ mờ, cái thấy như gà mờ, cái thấy lờ đờ, cái thấy nhá nhem, cái thấy có một góc thôi.

Nhiều khi mình đi vô công viên, hay mình vô một cái quán ăn, hay một cái nhà hàng gì đó, hay một cái siêu thị thì mình ngồi có góc, mình chỉ thấy một góc chút xíu mà bên đây chín mươi phần trăm sau này mình không thấy. Còn cái thấy của trí tuệ là một cái thấy toàn diện, cái thấy đa diện, cái thấy tất cả mọi khía cạnh, phương diện của sự thật cho nên gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác là cái thấy biết thấu suốt, đồng đều, viên mãn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm. Mình muốn được cái thấy này mình phải học, sau khi mình học rồi mình phải để tâm vào cái sự thực hành, sau khi thực hành mình phải thực hành bằng một cái sự nhiệt tâm, bằng một cái sự chân thành và bằng một cái sự cố gắng thì từ từ mình sẽ thấy được những cái sự thật ở bên trong.

Trở lại vấn đề này, mấy ngày nay chúng ta thấy cái thọ của mình hiền nhiều không? Có thấy cảm thọ ngọt ngào không? Có thấy cảm thọ hoan hỉ không? Rồi các vị sẽ thấy được những cảm thọ biết ơn, cảm thọ nhớ ơn, cảm thọ hiếu thảo, cảm thọ hiền thiện, cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, cảm thọ cung kính, cảm thọ khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường. Chúng ta thấy bao nhiêu cảm thọ không? Đó là khai mở cảm thọ theo chiều hướng của thiện pháp cho nên có sư cô lúc đầu lên trình pháp lúc lầu cảm thọ con bị đơ rồi hay sao mà sao không có cảm xúc gì hết, nhưng mà chiều nay là nước mắt đầm đìa. Về tới Linh Thứu rồi phải không? Ngồi trong trái tim của Đức Phật phải không? Ngọt ngào không? Ấm áp không? Dễ chịu không? Từ bi, dạt dào, sung mãn cái thiện pháp như vậy là tự động cảm thọ khai mở ra, nó vén cái bức màn ra, con thường hay ví dụ cái tâm mình chưa tu là một cục cứng chắc lắm, sáng tạt nước, chưa tạt, tối tạt, chiều tạt, mới bốn giờ sáng là tạt tới tám giờ tối, rồi chín giờ tạt tới mười một giờ, có khi tới mười hai giờ luôn, cho uống sữa pháp từ hai giờ rưỡi tới bốn giờ rưỡi luôn. Buổi tối làm thêm một trận nữa, cứ làm hoài như vậy thì cái thọ cứng chắc sẽ thấm, gọi là mưa dầm thấm lâu rồi cái thọ sẽ mềm ra.

Cảm thọ sau khi mềm thì nó sẽ rữa ra giống như mình nấu tàu hủ non, nó rã ra rồi nó tan chảy, cái cảm thọ của mình hòa tan trong cảm thọ hiền thiện, cảm thọ biết ơn, nhớ ơn, cái cảm thọ khiêm cung, khiêm hạ, cái cảm thọ ngọt ngào, thương ơi là thương, khổ ơi là khổ, mà sao không thương. Trời đất ơi! thương quá trời thương, thương vô cùng thương, thương sao là thương, thương không còn cái chỗ nào để nói mà cái tâm thương rộng tới mức độ mà cái thân chứa không nổi thì nước mắt tràn ra. Hôm qua thấy sám hối diệt ngã là khóc hai mắt đỏ hết rồi, sáng nay hỷ vô lượng tâm là chịu hết nổi rồi, sung mãn, trào dâng, dào dạt đầy ấp hết thân tâm. Như vậy là cái cảm thọ này tan chảy, thấy rõ không? Nó tiêu dung ra, như vậy cái thọ này nó bắt đầu thay đổi, chúng ta mới có ngày đêm thì chưa có thấm thía bao nhiêu hết đó, cái này gieo duyên thôi, phải lên đây tối thiểu một tuần và đủ khóa tu là hai tuần lễ mới thấm.

Thành ra mình khai triển các cảm thọ, mình làm cho cái thọ của mình thành cái thọ hiền. Cảm thọ mình lúc trước là nó hung hăng, nó cọc cằn, nó bực bội, nó bức xúc, nó ghim gút, nó sân hận, nó cau có, nó tật đố, nó ganh ghét đủ thứ hết, bây giờ cái thọ này mình lên mình dập nó, hồi sáng thức dậy là bị la rầy tới tấp, mắng nhiếc cái cảm thọ ác "bản ngã là con rắn độc, tao chôn mày". La quá nên sợ nên chạy trốn mất dép luôn, có không? "Tao giết mày, mày là con rắn độc, mày là kẻ ác, mày gian xảo, tao giết cho mày chết cái bản ngã này", tự nhiên nó nghe nó sợ quá, nó chạy mất hết trơn.

Cái tâm hơn thua nó tiêu ra, nó tan chảy, nó tiêu dung, cứ làm hoài, cứ dập hoài, ngày nào cũng lên sám hối, ngày nào cũng dập hết, lạy chưa xong mà còn cho thiền quán diệt ngã hơn hai tiếng mấy. Nghe xong tay chân bủn rủn hết, nó đánh vô cái thánh trí, nó đánh vô cái tà kiến, cái thánh tuệ của mặt trời một khi xuất hiện lên thì tất cả sương mù tan biến hết, bóng đêm xóa sạch hết trơn. Cho hồi sáng kêu chú quỳ xuống lạy cái thánh trí, mặt trời thánh tuệ đó, quỳ xuống lạy cái mặt trời, đó mặt trời đó là mặt trời thánh trí. Như vậy tâm chúng ta là những cái bó củi khô mới được thì cái ngọn lửa thánh trí từ Đức Thế Tôn, các bậc đạo sư, rồi các bậc tôn đức Tăng Ni truyền qua thì nó mới bắt mồi nó cháy, chứ ở trong này ướt nhẹp thì đưa lửa vô làm sao cháy, thấy nó nhóm lên mà tưởng đâu được nhưng chỉ lên chút xíu rồi xong vì bị ướt, không bắt cháy.

Cái tâm mình nó không có sửa soạn sẵn đủ để tiếp nhận cái thánh trí vào cho nên khi vào thì cũng tưởng đâu là nó có, rõ ràng mình đốt cục trầm cũng cháy, mình yên tâm để vô nhưng sau đó nó tắt queo hết trơn, một chục cục như một, mười như một. Mình tưởng là nó cháy, cuối cùng một chục cục nó nằm trong đó không cháy, thì cũng vậy, cái tâm mình chưa có sửa soạn đủ để tiếp nhận cái thánh trí tuệ thì nó lóe lên chút rồi mình tưởng đâu được rồi nhưng sau đó mất tiêu, tham, sân, si, bản ngã nó ập vào nó xâm chiếm, áp đảo, dục ái nó xâm chiếm, áp đảo trở lại, quật ngã mình. Một hồi đốt nữa thì nó cũng cháy lên một chút rồi tắt nữa y như cái cục trầm bị ướt.

Thành ra phải làm cho cái tâm mình nó khô, khô ở đây tức là nhiệt tâm, khô ở đây là cái tâm khát ngưỡng, cái tâm cung kính, cái tâm cầu pháp, cái tâm tha thiết chân thành để sửa đổi, để hướng thượng, tăng thượng, để phát triển ở trong cái thánh pháp thì cái đó mới có chất cháy, đó mới là củi khổ. Khi bậc Chánh Đẳng Giác truyền cái lửa thánh trí vào thì mới cháy dài lâu, cháy bền bỉ thì mới nấu cơm được, mới nấu bánh tét, bánh chưng được. Bây giờ nó phừng lên rồi tắt luôn giống lửa rơm là không nấu được gì cả, nấu bánh tét, bánh chưng phải tám tiếng mới chín, vậy mà giờ tu mới hai tiếng đã rên. Cho nên những khóa tu ở đây làm chục tiếng thôi, cứ ngày chục tiếng, làm mười lăm ngày vậy thôi, xong ra chín hết tóc rụng luôn, không mọc ra lại nữa, chịu không?

II. Ngũ uẩn vô ngã

Cho nên mình tu mình biết được nó hoan hỉ lắm, hạnh phúc lắm, luôn luôn lúc nào mình cũng hướng lại cái cảm thọ trong con người của mình. Người tu mình nhìn biết liền à, cái người tu mà họ thấm tương chao, cái thánh trí phải thấm trong tâm của mình, nó phải tỏ ra một cái sức mạnh, một cái tâm từ, một sự bao dung, độ lượng rộng lớn, còn nhiều khi tu học cũng trình pháp nói ngon mà chạm tới là bung cái bản ngã ra liền, chạm tới là lựu đạn nổ. Như vậy là chưa có thấm, Đức Phật nói những kẻ đạo tặc dùng cái cưa từng phần thì các thầy cũng không có khởi cái tâm sân hận, nếu khởi tâm sân hận là không làm đúng theo lời dạy của Như Lai.

"Chư Tỳ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta" (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)

Tu tới mức độ từ vô lượng tâm như vậy, tâm bất động bất động không còn sân nữa, đó là bậc Bất Lai thánh quả, mình phải thấm tương chao như vậy. Bài nhạc nào cũng thuộc, nói tới bài nào cũng biết hát nhưng kinh học mãi không thuộc. Trời đất ơi! Khổ ghê! Kinh học mãi không thuộc trong khi mấy bài nhạc Hương Lan, Tuấn Vũ, Giao Linh thuộc hết, thành ra phải học, mưa dầm thấm lâu, thấm vào xương tủy, thấm vào trí não của mình. Hồi chiều này chúng ta lạy sám hối diệt ngã có thấm không? Nó có ngấm không? Nó có đi vô tới trong trí não không? Lạy cho nó thấm, cho nó ngấm vào, lạy để không bao giờ quên thì cái bản ngã của mình mới được gục ngã, ngày nào bản ngã chưa diệt tận thì ngày đó ta chưa được an toàn.

Cái tôi này ác độc lắm cho nên mình chỉ có ngấm cái pháp là tác ý hoài. Nhiều khi mình tu cái này vui lắm quý vị ơi, vui lắm, mình đi tà tà nói chuyện với cái tâm mình, tối ngày mình đi kiếm người này người kia mình bà tám, mình bấm tin nhắn điện thoại này kia thì giờ dẹp, không cần làm cái đó nữa, bây giờ cứ nói chuyện với tâm mình thôi "tâm ơi tâm, tâm hiền đi đâu rồi tâm? Tâm hiền ơi tâm hiền, tâm hiền ơi mày hiền chưa, mày khiêm cung, khiêm hạ chưa?". Mình cứ nói chuyện hoài, rảnh cứ nói chuyện hoài, thấy nó giận là la nó, thấy nó tham là rầy, nó thấy nó bản ngã là gõ cái đầu nó "mày bản ngã với người ta để làm gì?", "Mày hơn thua với chồng con để được cái gì?", "mày hơn thua với huynh đệ để được cái gì? Mày không biết nhục hay sao? Mày tối ngày cứ thích hơn thua để khổ đau vậy? Sao không sống với cảm thọ dễ chịu, dễ thương, hiền hòa, ấm áp mà lại đi sống kiểu tranh giành, hơn thua với những người thân thương nhất trong gia đình mình vậy? Tao tội nghiệp cho mi quá thọ ơi thọ, mày làm ơn tu giùm tao đi. Mày cứ sân si, mày cứ hơn thua, mày cứ tranh giành hoài với những người thân thương của mày. Sao mày thấp hèn quá vậy? Mày sống thanh cao, cao thượng lên giùm tao đi, mày trở thành bậc hiền trí đi, bậc hiền thiện đi, hiền nhân, hiền lành, hiền đức, hiền từ, hiền hậu, hiền hòa, hiền kính, hiền trí đi"

Chúng ta phải nhớ cái tên của mình, kêu "hiền ơi, Hiền Mai ơi, Hiền Mai ơi phải hiền nha", "Hiền Thủy ơi mày phải hiền nha Thủy", "Hiền Hồng ơi mày phải hiền nha". Chúng ta cứ kêu tên lên như vậy "Trí Thuận ơi mày phải thuận chứ đừng nghịch nha", "Trí Phụng ơi nhớ trí tuệ chứ đừng quên nha, nhớ sáng suốt nhìn ngũ uẩn nha, đừng để cảm thọ che mờ nha", "Trí Luân ơi, cái đầu cao ơi, Trí Luân nhớ chuyển pháp luân trong tâm nha, đừng có để nó kéo đi xuống núi nha". Tu cái này vui lắm, người ta nói cứ kệ, mình nói chuyện với tâm mình hoài, mình dạy nó hoài, mình không có rảnh để dòm người khác, mình cứ quay vô mình nói chuyện với tâm mình hoài, ngồi một mình nói chuyện mà nói chưa đã thì viết ra, làm thơ để nhắc mình hoài.

Nấu bếp với cái tâm hiền, nấu bếp với cái tâm hòa, làm bếp với cái tâm cung kính, khiêm cung thì mọi người ăn vô thấy hoan hỉ không? Cái tâm mình hoan hỉ mình nấu người ta ăn hoan hỉ, cái tâm mình ngọt ngào nấu người ta ăn ngọt ngào, cái tâm mình sân si mình nấu ăn vô mắc nghẹn, phải không? Có nhiều cái nhà bếp vô thấy sợ quá thôi chạy luôn chứ ăn gì nữa, thôi ra kiếm gói mì chế vô cho rồi, mà nhà bếp trên mình cũng may mắn, cũng đỡ. Vào bếp mà cãi nhau ầm ầm thì thôi về luôn chứ đi chùa gì nữa thành ra trong sự tu học của mình cảm thọ là hết sức quan trọng, luôn luôn lúc nào cũng quay trở về cảm thọ, bất cứ cái gì cũng quay về cảm thọ hết, cứ kêu cái thọ hoài an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, hiền hòa, dễ thương, khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, tâm độ lượng rộng rãi. Từ tâm vui vẻ, hoan hỉ, đừng cau có, đừng ghim gút, đừng bực bội, tâm buông xả cho nhẹ nhàng, đừng có nặng nề, đừng có chấp công, đừng cư công, đừng khoe công, đừng kể công. Có nhiều cái pháp mình tác ý vậy đó thì ru một thời gian mình giống như đi trên mây vậy đó, gọi là địa hành thần thông, mình đi bình thường nhưng mà trong đó mình có một cái sức tự tại, an nhiên, thảnh thơi, nhẹ nhàng giống như đi trên mây.

Trong bài về núi yên tu có đoạn ngồi thiền dưới đất mà tợ mây bay, hồi chiều này có mưa bay mà đặc biệt là mình vẫn an lạc, cái đó là phép màu. Hồi chiều thấy trời mưa quý vị có nôn nao không? Lúc xong rồi chú thị giả vào sám hối "sư phụ ơi, lúc mà trời mưa con nói ủa sao sư phụ cho thêm cái này nữa vậy, sau đó tự nhiên con tác ý thì thấy im re hết trơn, con làm tới, làm tới, xong hết rồi trời đổ cam lộ pháp vũ xuống". Cho nên mình làm cái gì thì tập trung tâm ý, làm tới đâu tính tới đó, đừng có lo ra, mình lo ra là cái tâm mình không có tập trung, nó không có định lực, nó không có đạo lực, không có pháp lực, không có oai lực. Làm cái gì là tập trung tâm ý vào đó, an tâm vào đó, trú tâm vào đó, để tâm vào đó, đặt tâm vào đó, trọn cái tâm mình ở trong đó, dù cho trời sập mình vẫn làm lễ quy y.

Hồi nhỏ mình ở chuồng tắm mưa hoài à, bây giờ mình lớn lên có mặt đồ mà mình ngồi mình tu mưa mấy hột có là cái gì đâu, chả sợ gì hết, cứ tu. Mình tác ý như vậy đó cho nên cái bữa xuất gia giao duyên kỳ rồi đó gần tới giờ rồi thì mấy thầy, mấy chú hỏi con bây giờ sao mà trời thì âm u, rớt mấy giọt mưa xuống rồi nhưng con vẫn nói làm lễ, cuối cùng thành công. Bây giờ tới giờ còn dời đi đâu nữa? Cứ việc làm, tự nhiên trời đất cũng cảm thương cùng tu với nhau luôn, địa thần, vân thần, hư không thần tu chung, chư thiên lại tu chung với mình luôn, vui không? Thành ra mình tu thì nhớ cái tâm lực là quan trọng, nhiều khi mình chỉ mất có mấy đồng bạc đâu có đáng là cái gì, vì mấy đồng bạc, vì một cái tờ giấy 500 năm trăm ngàn mà hai vợ chồng bất hòa, cãi lộn, đánh lộn và cuối cùng là xảy ra án mạng, chỉ vì một tờ giấy năm trăm ngàn.

Trong khi mình có thể đem đi cho từ thiện nhiều hơn cái đó gấp chục lần mà tại sao mình vì một cái tờ giấy vậy mà mình có thể làm cho tan vỡ gia đình, đi vào cảnh tù tội. Cho nên nhiều khi mình không có biết quý trọng, mình nhìn không có đúng cái vấn đề, có những cái rất là nhỏ nhưng để lại cái hậu quả rất to lớn, lời nói qua lại nhau có chút mà tự nhiên giận nhau cả tháng trời, ở chung trong nhà lại hành hạ, hành tội với nhau. Nó không có đáng cho nên bây giờ từ nay về sau mình phải ra lệnh cho cái cảm thọ của mình "từ nay về sau ngươi phải nghe lời ta, ta làm chủ ngươi, ngươi không có làm chủ ta, từ nay về sau ngươi phải là một cái thọ hiền, thọ ngoan, một cái thọ ngọt ngào, thọ dễ thương, một cái thọ lắng nghe, thấu hiểu, cảm thông, tha thứ, một cảm thọ bao dung, độ lượng, từ ái, một cảm thọ khiêm cung, khiêm nhường. Ngươi đừng có sống với những cái tâm hoang vu, rừng rú, cái tâm buông lung phóng dật, cái tâm không được quản giáo, không được giáo dục, không được dạy dỗ, không được tu tập, không được tu sửa, không được tu chỉnh, không được tu trì, không được tu hành. Từ nay về sau ta bắt cái cảm thọ này phải đi vào trong sự tu tập".

Ngày nào mình cũng nói một chục lần, một trăm lần, một ngàn lần, mình nói thử coi mình thành công không? Chắc chắn là thành công, không nhiều thì ít phải thành công, mà mình làm riết như vậy hết tuần này tới tuần khác, hết tháng này đến tháng khác, hết năm này tới năm khác, làm riết mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm tới ngày cuối cùng chuẩn bị ra đi "chào tất cả các bậc hiền trí, tôi đi à" rồi ngồi kiết già nhắm mắt cười. Khi Đức Thế Tôn còn tại thế có một thầy Tỳ-kheo đó bị một con rắn đọc cắn, đọc độc phát tác ở trong người của ngài nên ngài mới kêu các thầy Tỳ-kheo khác khiêng cái gường của thầy ra ngoài vì có con rắn rơi trên người. Ngài xin thỉnh ngài Xá-lợi-phất và các vị tôn giả để được gặp lần cuối, ngài Xá-lợi-phất nói hỏi nghe nói bị rắn cắn mà sao gương mặt không đổi sắc, thần thái, dung sắc không thay đổi thì vị Tỳ-kheo đó là đã từ rất lâu ngài không xem sắc này là tôi, là tự ngã của tôi, sắc này không phải của tôi nên bây giờ nó đi đến chỗ hoại thì có gì đâu tôi phải đổi sắc.

Đã từ rất lâu các cảm thọ, cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi cho nên giờ thọ đổi khác là chuyện của thọ chứ không phải tôi đổi khác. Thưa tôn giả Xá-lợi-phất các tưởng, các hành cũng vậy, những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ từ rất lâu, rất lâu, rất lâu tôi đã thấy nó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi cho nên tôi không có đổi khác, thức cũng vậy. Đó là bậc thánh Tăng.

"Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).

Tôn giả Upasena gọi các Tỳ-kheo:

-- Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.

Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:

-- Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.

Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:

Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.

Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... hay: 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi'.

Rồi các Tỳ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.

Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm" (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, VII. Upasena)

Tu cái kết quả là vậy, gặp chuyện đối diện trước cái chết, chất độc ngấm vô phát tác như vậy mà ngài bình thản mặt không đổi sắc, tuyệt dịu không? Tu để mình đạt được tâm bất động giải thoát, dầu cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức này nó có như thế nào, nó biến đổi như thế nào tâm của các ngài vẫn an tịnh, lắng dịu, bất động. Mình bây giờ mới mấy giọt mưa thôi, mới nắng chút xíu thôi, sáng mặt trời nắng rất tốt, nắng đó là rất tốt, người ta đi tìm phơi nắng, tu đừng có sợ, làm bất thiện pháp mới sợ, thiện pháp là không sợ. Quý vị đang ngồi tu đó mà lỡ như quý vị tắt hơi là lên chư thiên, lên trời ở, quý vị đang hành thiền, quý vị đang thiền quán, quý vị đang thiền định, quý vị đang lễ pháp bảo, quý vị đang nghe pháp mà lỡ như quý vị ra đi mạng chung là quý vị sanh nhân thiên, vì cái tâm đó là cái tâm tương ứng với pháp, tương ứng với tuệ, tương ứng với thánh đạo, thánh trí, tương ứng với thánh pháp, lúc đó là cái tâm cao cấp nhất trong tất cả các tâm.

Một khi đi ra rồi thì quý vị có cao được vậy không? Đâu có cao được, khi mình đang ăn cơm, khi mình đang đi chơi, khi mình đang đi làm kiếm tiền, khi mình đang gây lộn, khi mình bị xe đụng hay là bị đập đầu xuống thì mấy lúc đó mình chết là dễ đi rơi xuống nếu tâm mình không có định lực, không có đạo lực, không có thiền quán lúc đó. Sợ cái gì mà sợ, tu sợ không, chết cũng không sợ, mình dùng những cái hình ảnh để mình tu, thí dụ mình nhìn thấy một người hết sức phúc hậu thì lập tức mình quay trở lại cái tâm mình là một cái tâm nhân từ thì sẽ ra được cái thân tướng phúc hậu như vậy, Mình nhìn thấy một cái mặt ác mặt thì thấy cái tâm sân hận, biểu hiện ra cái tướng ác như vậy cho nên mình quay về mình sợ lo cái tâm sân hận của mình, mình phát huy cái tâm từ ái của mình.

Mình nhìn thấy một cái con chó sủa người ta thì mình liền quay trở lại coi cảm giác sân này, cái miệng mình không tu tập thì đời sau sẽ sanh giống vậy. Mình đem cái hình ảnh đó, cái âm thanh đó đi vào mình làm đề mục thiền quán, mình về mình ngồi chiêm nghiệm cái hình ảnh mà con chó sửa, cắn chết người. Bây giờ quý vị thấy những loại chó dữ cắn người ta chết người, thậm chí chủ cũng bị cắn chết luôn, khủng khiếp như vậy, đó là những cái tâm sân hận, cái tâm hoang dã, cái tâm mãnh thú, cái tâm giã thú, cái tâm rừng rú này đưa mình vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mình lấy cái đó làm đề tài thiền quán để nhắc nhở cái tâm mình hoài, hễ gặp con chó là nhắc cái tâm mình như vậy chứ không phải thấy chó rồi vuốt ve là ái trong đó.

Mình nhìn cái gì cũng thành pháp hết, mình thấy mấy người võ công cao cường bẻ một cái lá trúc quăng ra là ngã xuống chết liền, đó là cao thủ võ lâm, chạm tới cái gì là cái đó thành vũ khí. Cũng vậy, người tu có công phu thâm hậu là nhìn cái gì cũng ra pháp hết, chịu không? Nhìn cái gì cũng ra pháp hết, giờ kêu lên chia sẻ pháp thì bảo chưa có chuẩn bị gì hết, pháp mà sao để chuẩn bị, chuẩn bị tức là không có pháp. Pháp là hơi thở, pháp là mạch máu, pháp là lẽ sống, pháp là trái tim, làm sao không có được? Một ngày ăn cơm mấy cử? Uống nước mấy lần? Ngồi thiền bao nhiêu cử? Thành ra mình lấy những hình ảnh đó mình tu, thí dụ như mình ngồi mà mây bay, phù vân bay qua bay lại thì lấy hình ảnh đó làm đề mục thiền quán cuộc đời mình cuối cùng thành khói mây, cái lửa lò thêu y chang như cái đám mây đó, giống như buổi xương sáng đó là cái lửa trong cái lò thiêu bốc khói và kết hợp với cái bộ xương này nữa.

Mình cứ lấy những hình ảnh đó, dùng tưởng để quán, chúng ta hoàn toàn là dùng tưởng để quán. Có một cô cư sĩ đang nấu bếp làm đồ ăn cho chồng, đang xào thì lửa phựt lên cháy đen cái bếp thì cô triển khai thiền quán, lúc nãy thì màu sắc, hương vị thơm tho, đẹp đẽ mà bây giờ cháy đen khét nghẹt hết, cô quán cái sắc này nó biến đổi, nó vô thường, nó biến hoại, triển khai thiền quán, quán tới quán lui, quán qua quán lại, chiêm nghiệm quán chiếu xong rồi chứng quả Bất Lai luôn, thánh quả thứ ba, đó là nữ cư sĩ thời Đức Phật.

"Hãy ngủ trong an lạc

Hỡi nàng thân đẫy đà,

Ðắp phủ trong tấm y,

Chính mình tự làm lấy,

Lòng tham, nàng lắng dịu,

Như ghè khô trong lò!

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình ở Vesàli (Tỳ-xá-ly). Vì thân hình đẫy đà, nàng được gọi là nàng đẫy đà. Nàng trở thành người vợ trung thành của một người quý tộc. Khi bậc Ðạo Sư đến Vesàli, nàng tin tưởng giáo pháp của đức Phật và trở thành một nữ cư sĩ. Khi nàng nghe Trưởng lão Ni Mahàpajàpati thuyết pháp, nàng muốn xuất gia và thưa với chồng ý nguyện của nàng. Người chồng không cho, nên nàng tiếp tục làm tròn bổn phận của nàng, suy tư đến những lời dạy dịu dàng của giáo pháp và chú tâm đến thiền quán. Rồi một ngày kia, trong khi đang ở trong bếp và nấu món ăn, một ngọn lửa mạnh bừng cháy và thiêu tất cả món ăn với những tiếng cháy xèo xèo, nàng lấy đó làm đề tài để thiền quán về tánh vô thường của sự vật, và chứng được quả Bất Lai. Rồi nàng không đeo các đồ trang sức nữa. Người chồng hỏi duyên cớ, nàng trả lời nàng không thể sống trong gia đình được nữa. Người chồng đưa nàng đến Trưởng lão Ni Mahàpajàpàti Gotami, và bằng lòng để nàng xuất gia. Mahàpajàpàti làm lễ xuất gia cho nàng và đưa nàng đến yết kiến đức Phật. Bậc Ðạo Sư giải thích về đề tài thiền quán của nàng và nói lên bài kệ này.

Khi nàng chứng quả A-la-hán, nàng lập lại bài kệ này và bài kệ trở thành bài kệ của nàng" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm I. Tập Một Kệ, (I) Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)

Thời Đức Phật người ta tu như vậy đó, lúc nào cái tâm tâm niệm niệm lúc nào cũng có pháp hết, người ta nhìn bằng pháp. Những cái suy nghĩ của người ta là vận hành theo pháp, quán chiếu hoài, cứ nhớ hoài không có quên, có những vị người ta tu là không có nhớ cái chuyện gì bên ngoài luôn. Có vị Tỳ-kheo này đang đi khất thực, có một cô dâu đẹp lắm đeo vàng đầy người hết, cô dâu giận nhà chồng thì cô bỏ về đi ngang qua vị thầy này, sau đó bên nhà chồng chạy theo năn nỉ chở về lại thì hỏi vị thầy có thấy người đẹp nào qua đây không thì ngài nói không thấy ai hết, chỉ thấy bộ xương, đó là ngài đang quán đề mục cốt tưởng, bộ xương khô. Thế là vị này triển khai thiền quán ngay đó diệt tận tham, sân, si, chứng thánh quả A-la-hán.

"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai" (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV) Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49))

Cho nên cái thiền quán này rất thâm sâu, nó trở thành một định tướng, cứ nhiếp tâm, nhiếp niệm vô hoài một cái hình ảnh đó hoài, không thấy trời, không thấy đất, không thấy người, không thấy cây cỏ, đồ đạc, không thấy cái gì trên cuộc đời này hết, cả địa cầu cũng không nhìn thấy, chỉ thấy cái đề mục thiền quán mà thôi. Tu như vậy đó, tu tới như vậy luôn, mình nhớ cái câu chuyện có một ông lúc đang tắm thì tìm ra định luật nên ông mừng quá ở truồng chạy ra ngoài la lên, nghĩa là người ta chiêm nghiệm, chuyên chú vô trong rồi người ta quên hết mặc đồ, ăn uống, nhập tâm vô đó rồi quên hết mọi thứ. Mình tu thiền định còn hơn vậy nữa, nhập tâm vô trong đó để phá vỡ tất cả các lậu hoặc, vô minh, bản ngã ở trong nó để thành tựu cái tâm trí tuệ bừng sáng. Phải tu như vậy đó, tu không còn trời, không còn đất, không còn người, không còn cây cỏ gì hết, không còn thức ăn, không còn gì nữa rồi, chỉ có đề mục thiền quán thôi, đi đâu cũng thấy cái đề mục đó thôi.

Bữa nay đãi cho quý vị cái tiệc pháp cho quý vị có cái sự hỷ lạc, hoan hỉ, mới lên có hai ngày thành ra cho hoan hỉ, nếu lên từ năm ngày trở lên là cho khóc, mà khóc là hạnh phúc chứ không phải khóc là buồn đâu, khóc là ở lại luôn đó. Cười thì đi xuống núi mà khóc là ở lại luôn, đặc biệt vậy đó, ở đây gọi là đệ nhất khóc, có nhiều người hỏi:

Đi lên Linh Quy Pháp Ấn tu chưa

Đi rồi.

Khóc chưa?

Khóc rồi.

Nó trở thành đặc sản của đạo tràng Nikāya mà khóc đó là hạnh phúc, là vì chạm tới cái sự thật, thấy cái đặc sản đó rồi là không xuống núi nữa bởi vì chạm tới trái tim của mình tại vì nào giờ mình không không có biết một cái sự thật mà nó phũ phàng như vậy, khi đi tới trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác thì ngài phơi bày cái sự thật đó ra hết, vạch trần hết rồi vén cái bức màn bí mật, giải mã cái thế giới này, giải mã cái thân tâm này hết, giải mã cái đau khổ, giải mã tham, sân, si hết, giải mã những cái dục ái, vô minh của mình, giải mã ra hết, mở ra hết, vén bức màn ra hết. Đem ánh sáng vào trong bóng tối soi rọi hết tất cả những ngõ ngách, ngóc ngách ở trong thân tâm của mình.

Mình nhìn ra, thấy hết tất cả những nguyên nhân của khổ, lúc đó mình bàng hoàng, mình ngỡ ngàng, mình cảm động, mình rung chấn, mình chấn động thân tâm, nước mắt trào ra hạnh phúc vì mình thấy được một cái sự thật mà bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp rồi mình không thấy, không ai nói cho mình nghe, không ai chỉ cho mình thấy, không ai giải thích cho mình hiểu và bây giờ mình chạm vô tới. Trời đất ơi hạnh phúc quá trời quá đất! Hạnh phúc cho đến cái mức độ mà cái bánh mật hoàn của Đức Phật 2600 năm mà bây giờ truyền tới ba cái, Đức Phật có bài kinh Mật Hoàn. Bây giờ có một cái tiết mục mà quý vị rất bất ngờ là quý vị sẽ được truyền cái bánh mật hoàn của Đức Phật 2600 năm, mỗi người đều được thưởng thức hết, không một người nào thiếu Cái bánh này hết, ăn cái bánh này vô rồi ly tham, ăn cái bánh này vô rồi là không bao giờ còn khao khát nữa, ăn cái bánh này vô rồi là diệt tận cái tâm sân hận, ăn cái bánh này vô rồi là đánh gục ngã cái bản ngã, ăn cái bánh này vô rồi là bất tử.

Bây giờ con chia cái bánh mật hoàn, hơn 26 thế kỷ trước Thế Tôn làm ra cái bánh này và cái bánh này hương vị của nó là cái hương vị của bất tử, hương vị của cái bánh này là hương vị của ly tham, hương vị của lìa sân, hương vị của diệt vô minh, hương vị của tuệ minh, hương vị của đại bi. Hương vị thật là ngọt ngào, thật là tuyệt vời, bây giờ tất cả chúng ta đang chuẩn bị thưởng thức cái hương vị tối thượng trong tất cả các hương vị.

"Pháp thí, thắng mọi thí!

Pháp vị, thắng mọi vị!

Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!

Ái diệt, dứt mọi khổ!"

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 354)

./.