Nghiệp & Quả Báo 31 - Lợi Ích Của Bố Thí Kết Quả Cuối Cùng Là Gì
Nghiệp & Quả Báo 31 - Lợi Ích Của Bố Thí?
Kết Quả Cuối Cùng Là Gì?
Thích Minh Thành
Ngày 22 tháng 06 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn sự thù thắng của bố thí PAGEREF _Toc146358253 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc146358254 \h 15
I. Bốn sự thù thắng của bố thí
Kính bạch chư tôn thiền đức tăng ni.
Kính thưa quý nam nữ Phật tử hiền trí.
Hôm nay chúng ta sẽ nghe bài kinh Velàma, Tăng Chi Bộ Kinh tập bốn nói về kết quả thiện lành, an lạc, thù thắng của sự tu học. Nâng cấp lên đối với sự bố thí, cúng dường, phước quả của sự bố thí cũng như phước quả của tu tập các Pháp khác như tín, giới, tâm từ, trí tuệ.
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
- Này Gia chủ, Ông có bố thí trong gia đình của Ông không?
- Bạch Thế Tôn, trong gia đình của con có bố thí, nhưng chỉ có món ăn thô tệ làm bằng hột gạo bể, và cháo chua.
…
4. Thuở xưa, này Gia chủ, có một vị Bà-la-môn tên là Velàma. Vị ấy bố thí rộng lớn như sau:
1. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng vàng đựng đầy bạc.
2. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng bạc đựng đầy vàng.
3. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng đồng đựng đầy châu báu.
4. Vị ấy bố thí 84.000 con voi với đồ trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng và 84.000 cỗ xe, được trải da sư tử, được trải với da cọp, được trải với da báo, được trải với mềm màu vàng, với những trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng.
5. Vị ấy bố thí 84.000 con bò sữa, cột bằng những sợi dây gai mịn với những thùng sữa bằng bạc.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Như chúng ta thấy có những chương trình tặng những con bò sữa ở những vùng sâu vùng xa. Người ta nuôi bò lấy sữa hoặc lấy thịt. Có những chương trình, người ta ở vùng nghèo đói, khổ sở mà cho được con bò hay con trâu thì người ta rất mừng, người ta xem như một món quà rất lớn, như một gia tài đối với những người nghèo khổ.
“6. Vị ấy bố thí 84.000 thiếu nữ, trang sức với những bông tai bằng châu báu.
7. Vị ấy bố thí 84.000 giường nằm trải nệm bằng len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, có đầu gối chân màu đỏ hai phía.
8. Vị ấy bố thí 84.000 thước vải, bằng vài gai mịn màng nhất, bằng vải lụa mịn màng nhất, bằng vải bông mịn màng nhất.
9. Và ai có thể nói về các đồ ăn, đồ uống, loại cứng, loại mềm, các loại đồ ăn nếm và các loại nước đường. "Chúng tôi nghĩ chúng chảy như dòng sông".”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Ý nói cho số lượng không thể tính kể. Chúng ta thấy trong mùa dịch, có rất nhiều thầy dấn thân, ở Sài Gòn có những chùa nấu cả chục ngàn suất cơm. Hoặc ở đây có chùa Phổ Hiền đem hàng chục tấn, hàng trăm tấn rau, củ, quả để đi về Sài Gòn. Hoặc có nhiều người hy sinh đi cho những thực phẩm, thức ăn nhưng bị nhiễm dịch bệnh chết. Cũng có một số vị đi giúp người, đem những thực phẩm, rau, củ, quả, đồ ăn, lương thực trong lúc khó khăn như vậy. Nên chúng ta biết rằng vị này bố thí đồ ăn, lương thực với mức độ chảy như sông.
5. Có thể, này Gia chủ, Ông nghĩ: "Có thể Bà-la-môn Velàma là một người nào khác, vị đã bố thí một cách rộng lớn như vậy". Này Gia chủ, chớ có nghĩ như vậy. Chính lúc ấy, Ta là Bà-la-môn Velàma, chính Ta đã bố thí rộng lớn ấy.
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Đó là tiền thân của Đức Thế Tôn, bố thí tất cả mọi thứ, những thứ quý giá, những thứ khó cho, những vật gọi là khả ái, quý trọng. Còn chúng ta bây giờ thì cho những đồ mình không xài, thậm chí là cho đồ dạt, hiếm khi, trừ khi ân nghĩa mới cho được đồ quý. Nên tiền thân của Thế Tôn bố thí rất rộng lớn. Bố là rộng khắp, thí là cho nên bản thân chữ bố thí đã là sự cho tặng rộng lớn, là rộng khắp.
Nên chúng ta chỉ vừa cho được một chút như mấy gói mì thì nói là “Tôi bố thí!” thì đó chỉ là thí, chưa có bố. Còn từ mình trân trọng thì mình gọi là cúng dường là đối với các bậc tôn kính.
Trong sự bố thí thì tạm chia làm ba cấp bậc, có ba mảnh ruộng để chúng ta gieo trồng công đức. Mảnh ruộng thứ nhất, thấp nhất là xót thương những người nghèo khổ, đói khát, thiếu thốn, tật nguyền, cơ nhỡ, gọi là bi điền. Mảnh ruộng thứ hai để mình gieo trồng phước báo, công đức là mảnh ruộng ân nghĩa, tức là ông bà, cha mẹ, anh chị em, cô bác của mình, những ân nhân giúp đỡ cho mình. Mình phải có trách nhiệm, có tâm quan tâm, chăm sóc, phụng dưỡng cho những người đó, bố thí, cúng dường. Đó gọi là ân điền, mảnh ruộng ân đức, ân nghĩa, ân tình. Mảnh ruộng thứ ba là mảnh ruộng cung kính, tức là Tam Bảo, Phật Pháp Tăng, gọi là kính điền. Ba mảng ruộng này là ba nơi để cho mình gieo trồng công đức.
“Này Gia chủ, chớ có nghĩ như vậy. Chính lúc ấy, Ta là Bà-la-môn Velàma, chính Ta đã bố thí rộng lớn ấy. Nhưng này Gia chủ, khi bố thí ấy được cho, không có một ai xứng đáng để nhận bố thí. Không có một ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Tức bây giờ Ngài nhìn lại những việc của Ngài làm, những việc Ngài làm chưa có ai xứng đáng.
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, nhưng nếu có ai bố thí cho một người chánh kiến, bố thí này lớn hơn quả lớn kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Ý nói, chánh kiến là Nhập lưu Thánh quả thứ nhất, Dự lưu. Nên sau khi Ngài làm rất nhiều những 84000 bát bằng vàng, 84000 bát bằng bạc, 84000 con voi, 84000 cỗ xe… Và bao nhiêu là những gấm vóc, lụa là, thức ăn, thức uống, bao nhiêu là những thực phẩm và cho rộng lớn cùng khắp như vậy. Nhưng Ngài nói khi bố thí được cho thì không một ai xứng đáng để nhận bố thí, không ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy.
Chúng ta có nhớ các bậc A-la-hán có một đức hiệu gì? Là Ứng Cúng, nghĩa là xứng đáng được cúng dường, trong kinh Nikāya thì Thế Tôn nói đó là Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh. Các vị đó xứng đáng được cúng dường, được đảnh lễ, được chắp tay, được cung kính, được đảnh lễ, được cúng dường.
Vậy nên Thế Tôn nói tuy là bố thí như vậy nhưng không một ai xứng đáng để nhận bố thí, không một ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy. Vì khi Bồ Tát chưa thành tựu được Chánh Đẳng Chánh Giác thì không có ai thuyết về Thánh đạo, nên làm gì có Thánh quả nên làm gì trong đời lúc đó có Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh, làm gì có bậc Dự lưu. Chính vì vậy nên Ngài nói bố thí rộng lớn như vậy nhưng không ai xứng đáng hết.
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, nhưng nếu có ai bố thí cho một người chánh kiến, bố thí này lớn hơn quả lớn kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Chánh kiến ở đây nói về bậc Dự lưu, thấy rõ được năm uẩn và tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã trong năm uẩn và hướng một tâm quyết định, xác quyết chắc chắn để đi đến chỗ đoạn tận, đoạn diệt, diệt tận. Tịnh tín bất động đối với Thánh trí huệ năm uẩn này. Đó là bậc Chánh tri kiến, bậc Dự lưu.
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có ai bố thí cho 100 người chánh kiến, và có ai bố thí cho một vị Nhất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Chánh kiến là thất lai, bảy đời, còn trở lại chốn nhân thiên. Chúng ta cần nhớ vị Dự lưu sẽ qua lại ở trong nhân thiên, chậm nhất là bảy đời. Nhưng chỉ ở cõi nhân thiên, còn đóng ở ba các đạo, bốn đường ác, tức là không bao giờ đọa địa ngục súc sanh và A-tu-la nữa, là chỉ qua lại ở cõi nhân thiên chậm nhất bảy đời, có khi nhanh nhất trong một đời, tùy vào sự tinh tấn, nỗ lực của các Ngài, nhân duyên của các Ngài.
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có ai bố thí cho 100 người chánh kiến, và có ai bố thí cho một vị Nhất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Trong trường hợp này dùng cúng dường mới phù hợp, từ bố thí là cho những người thấp hơn, còn những bậc cao hơn thì nên dùng cúng dường. Ý câu trên nói là cúng dường cho 100 vị Dự lưu không bằng cúng dường một vị Nhất lai là Tu-đà-hoàn. Nhất lai có nghĩa là có một lần trở lại nữa thôi, có thể trở lại trong cõi người hoặc là cõi trời, tức là kiếp cuối cùng, như mấy ngày qua chúng ta học về Thánh ni thời Đức Phật. Những vị đời này chứng A-la-hán là kiếp cuối cùng thì chính kiếp của Ngài đó, trước đời đó thì tính đời này là Nhất lai, trở lại một lần nữa là kết thúc sanh tử.
“Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 người Nhất lai, và có ai bố thí cho một vị Bất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Tức cúng dường cho 100 vị Nhất lai không bằng cúng dường cho một vị Bất lai, là quả Anahàm, tức là Thánh quả thứ ba, Bất lai nghĩa là không trở lại. Tức là vị này sẽ từ ở Tịnh cư thiên và nhập Niết-bàn, không trở lại thế gian này nữa. Bất lai là đoạn bao nhiêu phiền não?
Trước hết, Thánh quả Dự lưu là phá thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ là được vào Thánh quả thứ nhất – Tu-đà-hoàn. Kế đó Nhất lai thì phá thêm tham, sân mỏng, mòn, muội lược, là tham sân còn rất mỏng, rất ít, đi đến chỗ như bại liệt, không còn mạnh mẽ như xưa. Bấc lai là sạch tham, sân, tức là phá, cắt được năm hạ phần kiết sử, năm sợi dây cứng chắc này: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân. Vị này sạch được năm thứ này là vị này thành tựu được Bất lai Thánh quả, không trở lại thế gian này nữa vì không còn tham, dục nữa, vì các vị này không còn dục nữa nên các vị này không ở trong dục giới nữa mà ở các tầng trời tịnh cư thiên.
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 vị Bất lai, và có ai bố thí cho một vị A-la-hán, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Như vậy Bất lai là phá được năm hạ phần kiết sử, vị A-la-hán là phá thêm năm thượng phần kiết sử: sắc ái, vô sắc ái, mạng, trạo cử và vô minh. Đây là năm thượng phần kiết sử, tức là năm loại phiền não hết sức vi tế. Ngày trước chúng ta đã từng học về sáu tầng trời cõi dục, các vị Bất lai rồi và hướng tới A-la-hán thì gọi là A-la-hán đạo, khi đắc được A-la-hán thì gọi là A-la-hán quả.
Như vậy, tâm của một vị hướng tới quả A-la-hán thì vị này phải phá được năm thượng phần kiết sử, năm phiền não vi tế là sắc ái, tức là yêu thích ở những cõi trời. Cõi trời này không phải của dục giới mà là của sắc giới, mới gọi là sắc ái. Cõi trời của sắc giới là hình sắc hết sức vi tế, rất trong sáng, thanh tịnh, đẹp đẽ, cực kì mỹ diệu, vi diệu, vi tế.
Ví dụ như những đứa trẻ nhà nghèo được cho cái gì thì chúng cũng thích, như cho cái bánh, cái kẹo là chúng thích, hay là các đồ chơi bằng nhựa là chúng đã hài lòng. Còn đối với đứa trẻ nhà giàu ở Sài Gòn thì cho chúng như vậy chúng có chịu không? Chúng đòi Iphone, Ipad… để chúng chơi game. Còn đứa trẻ con của tỷ phú, triệu phú thì chúng đòi những thứ cao cấp hơn, chúng muốn trực thăng hay phi cơ.
Như vậy là tùy theo cấp độ và dục tham tăng trưởng lên từng cấp độ. Nên ở loài người mình thì được cái nhà là rất mừng, đi thì hất hất mặc lên, hỉnh mũi lên “Tôi cho nhà đó nha! Nhà tôi mới cất một tỉ thôi!” Nhưng đối với những người nhà giàu, triệu phú thì người ta nhìn cái nhà giống như cái gì? Không là gì đối với người ta vì nhà của các vị đó như là cả tòa cung điện, người ta nhìn đó giống như mình nhìn nhà lá, nhà dột. Cũng vậy, chúng sanh ở trong thế giới loài người là ưa thích những thứ thấp kém, hạ liệt.
Qua khỏi loài người mình đi lên, tới cõi trời dục giới thì thích cao cấp hơn, còn lên cõi sắc giới thì rất vi tế. Chính vì vậy bậc Bất lai Thánh quả thành tựu quả thứ ba rồi và hướng tới A-la-hán đạo thì phải phá được sắc ái, nên thích ở cõi trời.
Ví dụ, khi mình ở nhà ở Sài Gòn thì quá nóng nực, lên đây thì mát mẻ, không khí trong lành, mây bay lững lờ, mặt trời lên, chim hót, trúc xanh, hoa nở thì thích. Như vậy vẫn là ái. Lúc đầu thì cho phép mượn nó lúc đầu để tu, nhưng về sau ở lâu nhưng vẫn còn ham thích thì phải phá tâm ái đó. Sắc giới còn phá được huống chi là dục giới. Phải tập từ từ, lúc mới lên thì cho vui để tu nhưng ở lâu thì phải phá.
Như vậy thì các bậc Thánh Bất lai hướng vào A-la-hán đạo để đạt được A-la-hán quả thì các Ngài phải phá tâm yêu thích sắc vi tế của chư thiên thù diệu.
Chúng ta để ý lại trong việc tu có nhiều điều hay như nhiều lúc mình không thích những cái ở ngoài nhưng mình thích tượng Phật, suốt ngày đi sưu tầm tượng Phật. “Tôi thích cái này là tốt mà. Tôi thích tượng Phật là tốt.” thì đó cũng vẫn là thích. Nên đi sâu vào là khi mình có thích một cái nào thì nó sẽ làm cho mình khổ.
Ví dụ như trong câu chuyện thiền Nhật Bản, sư cô này có một tượng Phật, cô rất quý, cô để thờ kế bên các cô khác. Đến khi sư cô ấy và sư cô kế bên không hợp nhau thì cô đốt trầm cúng cho tượng Phật của cô ấy nhưng cô nghĩ là nếu đốt vậy thì tượng Phật kế bên cũng ngửi thấy thì cô làm một cái ống đưa thẳng lên tượng Phật của cô để trầm lên thẳng tượng Phật thôi. Vài ngày sau mũi tượng Phật bị đen.
Nên ý nói, nếu mình chấp một cái gì thì cái đó thành ô nhiễm. Tâm của mình nhỏ hẹp.
Vậy nên phá sắc ái đến phá vô sắc ái. Mình phải tu sâu, hành thiền nhiều thì mình mới cảm nhận được đôi phần vô sắc là như thế nào, là chỉ sống bằng tâm tưởng.
Mình tạm ví dụ Tam giới thành ba cấp độ cho mình dễ hiểu. Mình thấy người đó cả đời họ chỉ đi tìm dục thôi, họ chỉ muốn hưởng những dục lạc là hạng thứ nhất. Còn người cả đời họ không nặng về dục mà nặng về vật chất, họ muốn tạo ra tài sản, sự nghiệp. Tức là họ không nặng về tình cảm mà họ nặng về vật chất, họ phải lập nghiệp, vương danh ở đời này, phải thành công thì đó là hạng thứ hai. Hạng thứ ba là người này sống về đời sống tinh thần, tâm linh rất nhiều, họ không chú trọng về hưởng dục mà họ cũng không chú trọng vật chất, mà họ chú trọng về tinh thần, tâm linh.
Thì đó là ví dụ về dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Tức là đời sống họ chỉ chú trọng trong dục vọng như ăn ngon, nghe tiếng hay, nam nữ đi chơi… là chú trọng về dục. Còn dạng là họ chú trọng về sắc như cảnh đẹp, đồ đẹp, là họ chú trọng về sắc. Nhưng có hạng không chú trọng về dục, cũng không chú trọng về vật chất, sắc đẹp mà họ chú trọng về tinh thần, tâm.
Ở đây nói về vô sắc giới là gì, tại sao các bậc A-la-hán phải phá được sắc ái và vô sắc ái? Vô sắc giới là họ sống trong một tâm gọi là không vô biên xứ, là vị đó ngồi quán tất cả trời đất vũ trụ này trùm khắp, rộng khắp. Lúc nào họ cũng sống trong một tâm rỗng không như vậy, bao la, không có một thứ gì trong đó, vô sở hữu xứ. Họ chỉ thích ngồi im và sống trong tâm đó, họ không thích chạy theo dục, sân hay vật chất… Họ chỉ muốn ngồi im như vậy, rỗng không, vô sở hữu.
Có những vị như vậy, chỉ sống với tinh thần nội tâm, tâm linh, không thích những thứ ở ngoài, đó là vô sở hữu xứ. Không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi tưởng xứ. Không vô biên cũng giống vậy, không bờ, thức vô biên là thức trùm khắp, không bờ mé, nhưng có nhiều người tưởng đâu thức rỗng không, rộng khắp như vậy là chân tâm Phật tánh nhưng đó là thức vô biên xứ định. Là thức rỗng lặng, không bờ mé, muốn trong đó hoài.
Sống trong những tâm như vậy và người ta thích ở trong đó. Mình nhớ tuổi thọ trong các tâm đó đều là đại kiếp, từ con số 1 đến 140 con số không, các vị ở tầng trời đó bốn lần hoặc tám lần như vậy. Họ ở trong đó và định ở trong đó luôn. Nên ngày trước có vị hỏi ở cõi trời mà sao lại rơi xuống địa ngục vì ở như vậy thì không tạo thêm công đức gì, ở thuần trong cảm thọ đó nên có câu ngồi ăn núi cũng lở, núi vàng nếu mình xài hoài, hưởng hoài thì có hết không? Lúc hết rồi thì đi ăn mày, ăn xin.
Vậy nên ở trong lục đạo này là cảnh thăng trầm sanh diệt, trèo cao thì té đau hay trèo cao té nặng, lên cao té đau là vậy, vì cứ ở trong đó hưởng hoài. Như chư thiên ở dục giới, suốt ngày ăn rồi phất tay áo hiện lầu đài, hoặc suy nghĩ gì là hiện ra ngay trước mặt. Xài hoài thì sẽ hết, hưởng không, vui không nhưng không có ai bố thí, cúng dường thì làm sao thấy được Khổ Thánh Đế?
Chính vì vậy sanh cõi trời được xem là một tai nạn trong Phật giáo. Nếu sanh cõi trời là Thánh đệ tử thì tốt. Còn sanh cõi trời là phàm phu thiên thì không tốt. Nên ở đây, bậc chư thiên phá vô sắc ái, tức là phá sự yêu thích trong cảm thọ lặng lẽ, thanh tịnh như vậy. Các sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền cũng như vậy, những vị này chứng đắc thiền định thì sẽ sanh lên tầng trời tương ứng, tương thích như vậy, ở trong các tầng thiền như vậy khi hết thì rơi sâu xuống.
Còn mạng, trạo cử rất sâu, bản ngã còn rất nhẹ. Trạo cử là sự dao động của tâm, vô minh thì cực kỳ vi tế, thâm sâu. Chúng ta học vô minh thì chúng ta chỉ học những cái thô, tương đối, còn thực ra rất sâu, cực kỳ thâm sâu. Mình đang nói, đang làm, thậm chí mình đang quán pháp thì vẫn trùm trong đó nhiều lớp, che trong đó nhiều lớp.
Còn nếu không có vô minh trong đó thì ai, ai phá hết vô minh? Vậy nên ai chỉ mình vô minh là mình sân lên ngay, bởi vậy nên mình mới vô minh. Nếu người ta chỉ vô mình và nói “Thầy tu sao còn vô minh vậy?” thì trả lời “Dạ đúng rồi, vì con chưa tới A-la-hán.” Nên ví dụ về vô minh giống như bóng đèn, điện yếu thì bị mờ, chớp nháy hay tắt luôn. Có khi chớp chớp, giật giật, có khi lại lờ mờ. Chỉ có bậc chứng được Thánh trí thì độ sáng của nó đầy đủ, viên mãn hết tất cả ở trong năm thủ uẩn.
Còn đèn của mình thì một ngày chớp được mấy lần? Hay là tắt luôn hoặc vô nghe pháp lóe lên được một lúc, hay đang ngồi nghe pháp lại bị sụp xuống, tắt, cúp điện?
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 vị Bất lai, và có ai bố thí cho một vị A-la-hán, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.
Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn hơn, và có ai bố thí cho một vị Độc Giác Phật, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Độc Giác Phật, tức Viên Giác, là vị này sanh ra đời không gặp được bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, vị này tự chiêm nghiệm, quán chiếu, viên khởi và được giác ngộ, chứng đắc đạo quả, nên gọi là bậc Viên Giác, Độc Giác. Độc là một mình, tự chiêm nghiệm duyên khởi mà giác ngộ. Bậc Độc giác thì có những kiếp các Ngài có xuất hiện ở thế gian, các Ngài có khi không độ ai hoặc rất ít người để lại đạo lộ, Thánh đạo cho chúng sanh. Chỉ có bậc Toàn giác, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác để lại cả một hệ thống, đạo lộ Thánh đạo cho chúng sanh.
Vậy nên không dễ dàng gì với Trái đất này thành lập rồi tồn tại, biến hoại, diệt vong nhiều trăm, nhiều ngàn, nhiều trăm ngàn lần mới có một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện. Chúng ta ngay trong thời bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện sau hai ngàn sáu trăm năm mà được nghe Chánh pháp gốc của Đức Phật.
Thật tuyệt diệu, cực kỳ hy hữu, hiếm có, khó gặp, vì trong một thời gian ngắn nữa thôi sẽ không còn nữa. Thậm chí Tam Bảo cũng không còn trên thế gian, không ai biết chữ Phật là gì và sau đó không ai còn biết được năm giới nữa, không còn ai biết tam quy, ngũ giới là gì nữa. Đừng nói chi là các pháp Tứ Thánh Đế, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực là hoàn toàn diệt vong hết.
Hai ngàn năm nữa thôi là tất cả các pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là không còn gì nữa hết. Các pháp tương tự, kinh giả cũng không còn, đừng nói đến là kinh thật. Chúng ta bây giờ không giải thoát, không leo lên thiền bát nhã, con rùa mù không chui vào bọng cây nổi thì lúc đó đã vào kỷ nguyên của màn đêm bao phủ trong thái dương hệ, là kỷ nguyên đen tối, vô minh bao trùm hết tất cả tam thiên, đại thiên thế giới, mười ngàn địa cầu. Không còn một ai biết đến danh từ Phật, tam quy ngũ giới, bát quan trai giới, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni giới, Bát Chánh Đạo hay Tứ Thánh Đế.
Bây giờ, ngay lúc Chánh pháp Phật Thích Ca Mâu Ni còn sót lại một chút ít trong thời đại này, thì mình nhìn thấy có bao nhiêu người biết? Chúng ta thấy được là có bao nhiêu người biết được Phật pháp? Trên tám tỉ người này thì số liệu khoảng năm trăm triệu người quy y, đệ tử Phật. Và trong khoảng năm trăm triệu người đó thì bao nhiêu người mê tín? Và ngay cả người xuất gia mình đi tu, mấy người có cơ duyên mà được học các trường Phật học, được tìm hiểu sâu về giáo pháp? Không phải là cạo tóc, xuất gia là ai cũng được vào trường Phật học? Và khi vào các trường Phật học rồi thì có được bao nhiêu người được đi thẳng vào trong Phật pháp nguyên chất thật sự của Đức Phật? Có giống như con rùa mù gặp bọng cây nổi lên một trăm năm một lần không?
Mình được cái khó, ở trong cái khó, siêu việt ở trong đó nên mình phải sống chết với Chánh pháp, chết một ngàn mạng không là gì, pháp mới quan trọng. Nếu mình chết một tỉ mạng, ngàn tỉ mạng, vô lượng tỉ mà mình không đắc được Chánh pháp mà giờ mình gặp mà mình không chịu cố gắng thì rơi vào kỷ nguyên của vô minh, màn đêm của địa cầu này sau hai ngàn năm nữa. Cả thế giới này thì không còn ai biết về Thích Ca Mâu Ni Phật nữa, A-di-đà, Quán Âm, Xá-lợi-phất, Mục -kiền-liên là ai, không còn ai biết nữa. Tứ Thánh Đế, Tứ Niệm Xứ không còn, thiện pháp không còn, nói chi tới Thánh pháp.
Đó là một thời kỳ hỗn loạn, khủng khiếp như đọc trong kinh Khởi thế nhân bổn, Trường Bộ Kinh, chúng sanh sẽ rơi vào một giai đoạn khủng khiếp, kinh hoàng, kinh hãi chưa từng có. Bốc cái gì vào cũng thành vũ khí hết.
Như giờ mình thấy con giết cha mẹ, cha mẹ giết con, chú cháu, dượng cháu giết nhau, nói vài câu thì rất ghê gớm, đừng nói chi tới giai đoạn đó. Vậy nên hãy tu lẹ đi, tu nhanh đi, để giải thoát mau, thoát lẹ cho nhanh chốn này. Vượt ra, thoát ra mau.
“Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có người bố thí cho 100 vị Độc Giác Phật, có ai bố thí cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.
Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ…
… và có ai xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương...
… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và Tăng…
… và có ai với tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ không đắm say rượu men, rượu nấu...
… và ai tu tập từ tâm giải thoát, cho đến trong khi khoảnh khắc vắt sữa bò, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.
Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, nhưng nếu có ai bố thí một vị đầy đủ chánh kiến... … và có ai bố thí một vị Bất lai... và có ai bố thí trăm vị Bất lai… và có ai bố thí một vị A-la-hán... và có ai bố thí trăm vị A-la-hán... và có ai bố thí một vị Độc giác Phật, và có ai bố thí Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác... và có ai bố thí chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, và có ai cho xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương... và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và chúng Tăng... và có ai tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh... từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu...
… và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc vắt sữa bò, tu tập từ tâm…
… và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng vô thường, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Tu tập tưởng vô thường là ngồi đó chiêm nghiệm về tưởng vô thường chỉ trong khoảnh khắc búng ngón tay thì phước lớn hơn tất cả những phước nãy giờ nói. Đó là an trú vô thường tưởng.
Ý nói, cúng dường cho chúng Tỳ-kheo với Đức Phật là thượng thủ, đầy đủ Phật Pháp Tăng là phước vô lượng. Sau đó, xây dựng tinh xá cho chúng tăng trong bốn phương, giống như giờ chúng ta thấy xây chùa cũng nhiều, nhưng ở trong chùa đó có chúng tăng tu hành hay không là thứ nhất, thứ hai là chúng tăng đó có tu hành đúng Chánh pháp không? Có tu chân chánh không? Tùy theo mức độ thì phước được nhân lên. Không phải là xây một tinh xá to đùng là có phước thật nhiều, đó là có phước nhưng chưa chắc là nhiều hay ít.
Tiếp theo là tâm tịnh tín quy y Phật Pháp Tăng là phước tăng lên. Sau đó là tịnh tín chấp nhận học pháp, giữ gìn năm giới. Tiếp theo là tu tập từ tâm giải thoát cho đến trong khoảnh khắc, tức là trong chớp mắt thôi. Cuối cùng là có ai dù chỉ trong một cái búng ngón tay tu tập tưởng vô thường thì sự cúng dường này lớn hơn các sự cúng dường kia.
Vậy nên mỗi ngày chúng ta thiền quán công đức bao nhiêu? Đừng lên ngồi đó ngủ, hay là tâm đi chơi, nên an trú vào thiền quán đó, trú vào vô thường tưởng, trú vào tâm từ, sanh khởi lòng tin đối với Phật Pháp Tăng, tác ý về giới. Tu tập được như vậy thì phước còn hơn lúc đầu bố thí bao nhiêu bát vàng, bạc, bao nhiêu là xe cộ, đồ ăn. Chỉ trong một thời gian tích tắc như vậy quán về vô thường, thấy được sự vô thường, sanh diệt của đời sống này, sự bất an, sự tai họa, sự đau khổ, biến hoại, hủy hoại, bại hoại, tiêu vong, diệt tận, tiêu ma của sắc, thọ, tưởng, hành, thức này thì công đức đó siêu việt, tối thượng.
Vì sao vậy? Vì sao phước nhiều như vậy, phước không tưởng tượng nổi như vậy với cuối cùng là vô thường tưởng?
Vì khi vô thường mà mình thấm được rồi thì mình nhớ trong tất cả hàng nhiều ngàn bài kinh trong Nikāya:
“Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Thế Tôn!
- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
- Là khổ, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: " Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi "?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập III. Thiên Uẩn – Phần Năm Mươi Kinh Ở Giữa - Phẩm Tham Luyến - Bài kinh Năm vị (Vô ngã tưởng))
Phải như thật, quán tri bằng trí tuệ. Ngũ uẩn này, đời sống này là vô thường, khổ đau, trống rỗng. Một người thấy được như vậy thì người này hướng đến Thánh pháp ấn của chư Phật, tức là nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn. Như vậy thì công đức đó lấy gì so sánh được? Đó là vô vi, vô lậu, vô tướng, vô chấp.
Còn bố thí kia thì khi mình tu nhiều mình có thấy là tôi cho không? Mình cho này có nghĩ là mai mốt tôi hưởng không? Là hữu tướng bố thí, bố thí trong trước tướng, chấp tướng, trong có mình, có ta, có món đồ vật, để mong cầu được hưởng, hưởng là nằm trong Tam Giới mà Tam Giới là khổ. Còn cái kia là diệt khổ, ra khỏi cảnh khổ thì cái khổ này mà một tỉ thứ có nằm trong khổ thì có bằng người không có gì hết nhưng không có khổ không? Đó là công đức vô lượng ở tại đó.
Dù cho có một tỉ thứ mà ở trong địa cầu lửa, còn người ta không có gì mà được tự do, tự tại, vậy có an lạc không? Ở trong quả cầu lửa có một tỉ cây vàng, so với một người đứng ra ngoài địa cầu này được thanh lương, mát mẻ, an lạc, tự tại thì nên chọn cái nào? Đó là công đức vô lượng, vô vi, vô lậu.
II. Trình pháp
Phật tử số 1 trình pháp:
Cho con xin hỏi về vô sắc giới và thức vô biên xứ, nhờ sư phụ giảng thêm để chúng con rõ.
Sư phụ giảng giải:
Vô sắc giới là cảnh giới không có sắc tướng, các vị đó sống bằng tâm tưởng, các vị đó chỉ ở trong thiền định, không có thân tướng giống như mình. Cũng không có hình bóng giống như mình nằm chiêm bao, chỉ thuần là tâm tưởng, không có hình tướng. Đó là những cảnh thiền định.
Phật tử số 2 trình pháp:
Con thấy pháp bố thí ngày hôm nay thầy giảng dạy thì con thấy mục đích cuối cùng của pháp bố thí là cũng chỉ đạt được tâm ly tham. Để nó đưa đến mục đích cuối cùng là được sự tu tập tự thân. Ngay từ những lời đầu bài, pháp bố thí có phước báo của nó nhưng trong thực chất, lợi ích của việc bố thí là đạt được tâm ly tham, xả ly khỏi sự tham đắm vào những vật dụng cũng như các sự yêu thích của mình đối với cuộc đời, mình không yêu thích gì nữa.
Vậy theo con hiểu như vậy có đúng không ạ? Nhờ Thượng tọa giảng giải giúp con.
Sư phụ giảng giải:
Phật tử hiểu như vậy rất tốt. Để kết luận cho buổi chia sẻ hôm nay, nên lấy câu này để tóm lại cho chúng ta dễ hiểu.
Vì đối trị với tham nên Đức Phật dạy bố thí, nhưng bước đầu tiên của sự bố thí là mình sẽ được kết quả. Vì làm gì có kết quả mình mới làm, nên làm mà không có kết quả thì không ai muốn làm. Nên kết quả của sự bố thí là mình sẽ được đầy đủ những vật dụng, những thực phẩm, nhu yếu hay tài sản, vật chất.
Nhưng đầy đủ ở đây không phải là để cho mình đam mê, say đắm đối với một người có chánh kiến trong Phật pháp. Mà đầy đủ ở đây là giúp cho mình có phương tiện, điều kiện, giúp cho mình những thứ cần yếu trong cuộc sống cũng như tự mình lo cho cuộc sống mình để mình tu và mình giúp đỡ cho những người khác cùng tu. Đó là giai đoạn thứ hai của bố thí, tức là kết quả được đầy đủ, sung túc và tất cả những vật chất, tài sản.
Theo kinh, Đức Phật từng nói là bố thí được những quả báo là sống lâu, sắc đẹp, được an vui, có danh tiếng và sẽ phát triển. Đây là năm phước báo của sự bố thí: thọ mạng, sắc đẹp, an lạc, danh tiếng và tăng thượng phát triển. Người có tu sự bố thí thì có năm kết quả, quả báo, phước báo này, năm công đức này.
Nếu người này ở trong cuộc đời của kiếp con người, làm người thì người này luôn luôn vượt hơn tất cả những người khác về năm phương diện này. Tức là người này có sức khỏe, tuổi thọ, sắc đẹp hơn người khác và có nhiều niềm vui hơn người khác, nổi tiếng hơn người khác. Có những người sống trên cuộc đời này nhưng đến chết không ai biết, có những người sống trên đời này có rất nhiều người biết vì nhờ người này có bố thí.
Thứ năm là người này luôn luôn phát triển, ở trong phương diện, lĩnh vực, nghề nghiệp nào, thì người này sẽ phát triển lên, nhờ công bố thí có năm quả báo. Nếu người này sanh lên thiên giới, thì người này cũng vượt hơn tất cả chư thiên khác về phương diện này. Thọ mạng, sắc đẹp, thiên lạc, danh tiếng cũng như sự tăng thượng của vị này đều hơn chư thiên khác.
Nếu người này đi tu thì có được phước khác. Có bài pháp Minh Thành giảng về người này đi vào xuất gia được nhiều người cúng y, nhiều người mời, thỉnh dâng cơm, người này được nhiều người làm cho vui lòng, nghe lời, mọi điều mà người này mong muốn đều dễ thành tựu.
Đó là quả báo, phước báo, công đức của người bố thí. Nhưng tất cả những cái đó, đối với người tu Chánh kiến thì mượn đó làm phương tiện và không bị dừng lại ở chỗ hưởng thụ. Nếu dừng lại ở chỗ hưởng thụ đó thì chư thiên rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, là vì họ dừng lại hưởng thụ. Còn người chánh kiến thì họ mượn đó để họ đạt tới chỗ mục đích sau cùng, tức là ly tham, giải thoát tất cả sự vô thường, khổ, vô ngã ở trong năm thủ uẩn.
Đó là tóm tắt ý nghĩa của bài kinh hôm nay.
Kết Quả Cuối Cùng Là Gì?
Thích Minh Thành
Ngày 22 tháng 06 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn sự thù thắng của bố thí PAGEREF _Toc146358253 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc146358254 \h 15
I. Bốn sự thù thắng của bố thí
Kính bạch chư tôn thiền đức tăng ni.
Kính thưa quý nam nữ Phật tử hiền trí.
Hôm nay chúng ta sẽ nghe bài kinh Velàma, Tăng Chi Bộ Kinh tập bốn nói về kết quả thiện lành, an lạc, thù thắng của sự tu học. Nâng cấp lên đối với sự bố thí, cúng dường, phước quả của sự bố thí cũng như phước quả của tu tập các Pháp khác như tín, giới, tâm từ, trí tuệ.
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
- Này Gia chủ, Ông có bố thí trong gia đình của Ông không?
- Bạch Thế Tôn, trong gia đình của con có bố thí, nhưng chỉ có món ăn thô tệ làm bằng hột gạo bể, và cháo chua.
…
4. Thuở xưa, này Gia chủ, có một vị Bà-la-môn tên là Velàma. Vị ấy bố thí rộng lớn như sau:
1. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng vàng đựng đầy bạc.
2. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng bạc đựng đầy vàng.
3. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng đồng đựng đầy châu báu.
4. Vị ấy bố thí 84.000 con voi với đồ trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng và 84.000 cỗ xe, được trải da sư tử, được trải với da cọp, được trải với da báo, được trải với mềm màu vàng, với những trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng.
5. Vị ấy bố thí 84.000 con bò sữa, cột bằng những sợi dây gai mịn với những thùng sữa bằng bạc.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Như chúng ta thấy có những chương trình tặng những con bò sữa ở những vùng sâu vùng xa. Người ta nuôi bò lấy sữa hoặc lấy thịt. Có những chương trình, người ta ở vùng nghèo đói, khổ sở mà cho được con bò hay con trâu thì người ta rất mừng, người ta xem như một món quà rất lớn, như một gia tài đối với những người nghèo khổ.
“6. Vị ấy bố thí 84.000 thiếu nữ, trang sức với những bông tai bằng châu báu.
7. Vị ấy bố thí 84.000 giường nằm trải nệm bằng len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, có đầu gối chân màu đỏ hai phía.
8. Vị ấy bố thí 84.000 thước vải, bằng vài gai mịn màng nhất, bằng vải lụa mịn màng nhất, bằng vải bông mịn màng nhất.
9. Và ai có thể nói về các đồ ăn, đồ uống, loại cứng, loại mềm, các loại đồ ăn nếm và các loại nước đường. "Chúng tôi nghĩ chúng chảy như dòng sông".”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Ý nói cho số lượng không thể tính kể. Chúng ta thấy trong mùa dịch, có rất nhiều thầy dấn thân, ở Sài Gòn có những chùa nấu cả chục ngàn suất cơm. Hoặc ở đây có chùa Phổ Hiền đem hàng chục tấn, hàng trăm tấn rau, củ, quả để đi về Sài Gòn. Hoặc có nhiều người hy sinh đi cho những thực phẩm, thức ăn nhưng bị nhiễm dịch bệnh chết. Cũng có một số vị đi giúp người, đem những thực phẩm, rau, củ, quả, đồ ăn, lương thực trong lúc khó khăn như vậy. Nên chúng ta biết rằng vị này bố thí đồ ăn, lương thực với mức độ chảy như sông.
5. Có thể, này Gia chủ, Ông nghĩ: "Có thể Bà-la-môn Velàma là một người nào khác, vị đã bố thí một cách rộng lớn như vậy". Này Gia chủ, chớ có nghĩ như vậy. Chính lúc ấy, Ta là Bà-la-môn Velàma, chính Ta đã bố thí rộng lớn ấy.
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Đó là tiền thân của Đức Thế Tôn, bố thí tất cả mọi thứ, những thứ quý giá, những thứ khó cho, những vật gọi là khả ái, quý trọng. Còn chúng ta bây giờ thì cho những đồ mình không xài, thậm chí là cho đồ dạt, hiếm khi, trừ khi ân nghĩa mới cho được đồ quý. Nên tiền thân của Thế Tôn bố thí rất rộng lớn. Bố là rộng khắp, thí là cho nên bản thân chữ bố thí đã là sự cho tặng rộng lớn, là rộng khắp.
Nên chúng ta chỉ vừa cho được một chút như mấy gói mì thì nói là “Tôi bố thí!” thì đó chỉ là thí, chưa có bố. Còn từ mình trân trọng thì mình gọi là cúng dường là đối với các bậc tôn kính.
Trong sự bố thí thì tạm chia làm ba cấp bậc, có ba mảnh ruộng để chúng ta gieo trồng công đức. Mảnh ruộng thứ nhất, thấp nhất là xót thương những người nghèo khổ, đói khát, thiếu thốn, tật nguyền, cơ nhỡ, gọi là bi điền. Mảnh ruộng thứ hai để mình gieo trồng phước báo, công đức là mảnh ruộng ân nghĩa, tức là ông bà, cha mẹ, anh chị em, cô bác của mình, những ân nhân giúp đỡ cho mình. Mình phải có trách nhiệm, có tâm quan tâm, chăm sóc, phụng dưỡng cho những người đó, bố thí, cúng dường. Đó gọi là ân điền, mảnh ruộng ân đức, ân nghĩa, ân tình. Mảnh ruộng thứ ba là mảnh ruộng cung kính, tức là Tam Bảo, Phật Pháp Tăng, gọi là kính điền. Ba mảng ruộng này là ba nơi để cho mình gieo trồng công đức.
“Này Gia chủ, chớ có nghĩ như vậy. Chính lúc ấy, Ta là Bà-la-môn Velàma, chính Ta đã bố thí rộng lớn ấy. Nhưng này Gia chủ, khi bố thí ấy được cho, không có một ai xứng đáng để nhận bố thí. Không có một ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Tức bây giờ Ngài nhìn lại những việc của Ngài làm, những việc Ngài làm chưa có ai xứng đáng.
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, nhưng nếu có ai bố thí cho một người chánh kiến, bố thí này lớn hơn quả lớn kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Ý nói, chánh kiến là Nhập lưu Thánh quả thứ nhất, Dự lưu. Nên sau khi Ngài làm rất nhiều những 84000 bát bằng vàng, 84000 bát bằng bạc, 84000 con voi, 84000 cỗ xe… Và bao nhiêu là những gấm vóc, lụa là, thức ăn, thức uống, bao nhiêu là những thực phẩm và cho rộng lớn cùng khắp như vậy. Nhưng Ngài nói khi bố thí được cho thì không một ai xứng đáng để nhận bố thí, không ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy.
Chúng ta có nhớ các bậc A-la-hán có một đức hiệu gì? Là Ứng Cúng, nghĩa là xứng đáng được cúng dường, trong kinh Nikāya thì Thế Tôn nói đó là Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh. Các vị đó xứng đáng được cúng dường, được đảnh lễ, được chắp tay, được cung kính, được đảnh lễ, được cúng dường.
Vậy nên Thế Tôn nói tuy là bố thí như vậy nhưng không một ai xứng đáng để nhận bố thí, không một ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy. Vì khi Bồ Tát chưa thành tựu được Chánh Đẳng Chánh Giác thì không có ai thuyết về Thánh đạo, nên làm gì có Thánh quả nên làm gì trong đời lúc đó có Bốn Đôi Tám Chúng Hiền Thánh, làm gì có bậc Dự lưu. Chính vì vậy nên Ngài nói bố thí rộng lớn như vậy nhưng không ai xứng đáng hết.
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, nhưng nếu có ai bố thí cho một người chánh kiến, bố thí này lớn hơn quả lớn kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Chánh kiến ở đây nói về bậc Dự lưu, thấy rõ được năm uẩn và tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã trong năm uẩn và hướng một tâm quyết định, xác quyết chắc chắn để đi đến chỗ đoạn tận, đoạn diệt, diệt tận. Tịnh tín bất động đối với Thánh trí huệ năm uẩn này. Đó là bậc Chánh tri kiến, bậc Dự lưu.
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có ai bố thí cho 100 người chánh kiến, và có ai bố thí cho một vị Nhất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Chánh kiến là thất lai, bảy đời, còn trở lại chốn nhân thiên. Chúng ta cần nhớ vị Dự lưu sẽ qua lại ở trong nhân thiên, chậm nhất là bảy đời. Nhưng chỉ ở cõi nhân thiên, còn đóng ở ba các đạo, bốn đường ác, tức là không bao giờ đọa địa ngục súc sanh và A-tu-la nữa, là chỉ qua lại ở cõi nhân thiên chậm nhất bảy đời, có khi nhanh nhất trong một đời, tùy vào sự tinh tấn, nỗ lực của các Ngài, nhân duyên của các Ngài.
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có ai bố thí cho 100 người chánh kiến, và có ai bố thí cho một vị Nhất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Trong trường hợp này dùng cúng dường mới phù hợp, từ bố thí là cho những người thấp hơn, còn những bậc cao hơn thì nên dùng cúng dường. Ý câu trên nói là cúng dường cho 100 vị Dự lưu không bằng cúng dường một vị Nhất lai là Tu-đà-hoàn. Nhất lai có nghĩa là có một lần trở lại nữa thôi, có thể trở lại trong cõi người hoặc là cõi trời, tức là kiếp cuối cùng, như mấy ngày qua chúng ta học về Thánh ni thời Đức Phật. Những vị đời này chứng A-la-hán là kiếp cuối cùng thì chính kiếp của Ngài đó, trước đời đó thì tính đời này là Nhất lai, trở lại một lần nữa là kết thúc sanh tử.
“Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 người Nhất lai, và có ai bố thí cho một vị Bất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Tức cúng dường cho 100 vị Nhất lai không bằng cúng dường cho một vị Bất lai, là quả Anahàm, tức là Thánh quả thứ ba, Bất lai nghĩa là không trở lại. Tức là vị này sẽ từ ở Tịnh cư thiên và nhập Niết-bàn, không trở lại thế gian này nữa. Bất lai là đoạn bao nhiêu phiền não?
Trước hết, Thánh quả Dự lưu là phá thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ là được vào Thánh quả thứ nhất – Tu-đà-hoàn. Kế đó Nhất lai thì phá thêm tham, sân mỏng, mòn, muội lược, là tham sân còn rất mỏng, rất ít, đi đến chỗ như bại liệt, không còn mạnh mẽ như xưa. Bấc lai là sạch tham, sân, tức là phá, cắt được năm hạ phần kiết sử, năm sợi dây cứng chắc này: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân. Vị này sạch được năm thứ này là vị này thành tựu được Bất lai Thánh quả, không trở lại thế gian này nữa vì không còn tham, dục nữa, vì các vị này không còn dục nữa nên các vị này không ở trong dục giới nữa mà ở các tầng trời tịnh cư thiên.
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 vị Bất lai, và có ai bố thí cho một vị A-la-hán, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Như vậy Bất lai là phá được năm hạ phần kiết sử, vị A-la-hán là phá thêm năm thượng phần kiết sử: sắc ái, vô sắc ái, mạng, trạo cử và vô minh. Đây là năm thượng phần kiết sử, tức là năm loại phiền não hết sức vi tế. Ngày trước chúng ta đã từng học về sáu tầng trời cõi dục, các vị Bất lai rồi và hướng tới A-la-hán thì gọi là A-la-hán đạo, khi đắc được A-la-hán thì gọi là A-la-hán quả.
Như vậy, tâm của một vị hướng tới quả A-la-hán thì vị này phải phá được năm thượng phần kiết sử, năm phiền não vi tế là sắc ái, tức là yêu thích ở những cõi trời. Cõi trời này không phải của dục giới mà là của sắc giới, mới gọi là sắc ái. Cõi trời của sắc giới là hình sắc hết sức vi tế, rất trong sáng, thanh tịnh, đẹp đẽ, cực kì mỹ diệu, vi diệu, vi tế.
Ví dụ như những đứa trẻ nhà nghèo được cho cái gì thì chúng cũng thích, như cho cái bánh, cái kẹo là chúng thích, hay là các đồ chơi bằng nhựa là chúng đã hài lòng. Còn đối với đứa trẻ nhà giàu ở Sài Gòn thì cho chúng như vậy chúng có chịu không? Chúng đòi Iphone, Ipad… để chúng chơi game. Còn đứa trẻ con của tỷ phú, triệu phú thì chúng đòi những thứ cao cấp hơn, chúng muốn trực thăng hay phi cơ.
Như vậy là tùy theo cấp độ và dục tham tăng trưởng lên từng cấp độ. Nên ở loài người mình thì được cái nhà là rất mừng, đi thì hất hất mặc lên, hỉnh mũi lên “Tôi cho nhà đó nha! Nhà tôi mới cất một tỉ thôi!” Nhưng đối với những người nhà giàu, triệu phú thì người ta nhìn cái nhà giống như cái gì? Không là gì đối với người ta vì nhà của các vị đó như là cả tòa cung điện, người ta nhìn đó giống như mình nhìn nhà lá, nhà dột. Cũng vậy, chúng sanh ở trong thế giới loài người là ưa thích những thứ thấp kém, hạ liệt.
Qua khỏi loài người mình đi lên, tới cõi trời dục giới thì thích cao cấp hơn, còn lên cõi sắc giới thì rất vi tế. Chính vì vậy bậc Bất lai Thánh quả thành tựu quả thứ ba rồi và hướng tới A-la-hán đạo thì phải phá được sắc ái, nên thích ở cõi trời.
Ví dụ, khi mình ở nhà ở Sài Gòn thì quá nóng nực, lên đây thì mát mẻ, không khí trong lành, mây bay lững lờ, mặt trời lên, chim hót, trúc xanh, hoa nở thì thích. Như vậy vẫn là ái. Lúc đầu thì cho phép mượn nó lúc đầu để tu, nhưng về sau ở lâu nhưng vẫn còn ham thích thì phải phá tâm ái đó. Sắc giới còn phá được huống chi là dục giới. Phải tập từ từ, lúc mới lên thì cho vui để tu nhưng ở lâu thì phải phá.
Như vậy thì các bậc Thánh Bất lai hướng vào A-la-hán đạo để đạt được A-la-hán quả thì các Ngài phải phá tâm yêu thích sắc vi tế của chư thiên thù diệu.
Chúng ta để ý lại trong việc tu có nhiều điều hay như nhiều lúc mình không thích những cái ở ngoài nhưng mình thích tượng Phật, suốt ngày đi sưu tầm tượng Phật. “Tôi thích cái này là tốt mà. Tôi thích tượng Phật là tốt.” thì đó cũng vẫn là thích. Nên đi sâu vào là khi mình có thích một cái nào thì nó sẽ làm cho mình khổ.
Ví dụ như trong câu chuyện thiền Nhật Bản, sư cô này có một tượng Phật, cô rất quý, cô để thờ kế bên các cô khác. Đến khi sư cô ấy và sư cô kế bên không hợp nhau thì cô đốt trầm cúng cho tượng Phật của cô ấy nhưng cô nghĩ là nếu đốt vậy thì tượng Phật kế bên cũng ngửi thấy thì cô làm một cái ống đưa thẳng lên tượng Phật của cô để trầm lên thẳng tượng Phật thôi. Vài ngày sau mũi tượng Phật bị đen.
Nên ý nói, nếu mình chấp một cái gì thì cái đó thành ô nhiễm. Tâm của mình nhỏ hẹp.
Vậy nên phá sắc ái đến phá vô sắc ái. Mình phải tu sâu, hành thiền nhiều thì mình mới cảm nhận được đôi phần vô sắc là như thế nào, là chỉ sống bằng tâm tưởng.
Mình tạm ví dụ Tam giới thành ba cấp độ cho mình dễ hiểu. Mình thấy người đó cả đời họ chỉ đi tìm dục thôi, họ chỉ muốn hưởng những dục lạc là hạng thứ nhất. Còn người cả đời họ không nặng về dục mà nặng về vật chất, họ muốn tạo ra tài sản, sự nghiệp. Tức là họ không nặng về tình cảm mà họ nặng về vật chất, họ phải lập nghiệp, vương danh ở đời này, phải thành công thì đó là hạng thứ hai. Hạng thứ ba là người này sống về đời sống tinh thần, tâm linh rất nhiều, họ không chú trọng về hưởng dục mà họ cũng không chú trọng vật chất, mà họ chú trọng về tinh thần, tâm linh.
Thì đó là ví dụ về dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Tức là đời sống họ chỉ chú trọng trong dục vọng như ăn ngon, nghe tiếng hay, nam nữ đi chơi… là chú trọng về dục. Còn dạng là họ chú trọng về sắc như cảnh đẹp, đồ đẹp, là họ chú trọng về sắc. Nhưng có hạng không chú trọng về dục, cũng không chú trọng về vật chất, sắc đẹp mà họ chú trọng về tinh thần, tâm.
Ở đây nói về vô sắc giới là gì, tại sao các bậc A-la-hán phải phá được sắc ái và vô sắc ái? Vô sắc giới là họ sống trong một tâm gọi là không vô biên xứ, là vị đó ngồi quán tất cả trời đất vũ trụ này trùm khắp, rộng khắp. Lúc nào họ cũng sống trong một tâm rỗng không như vậy, bao la, không có một thứ gì trong đó, vô sở hữu xứ. Họ chỉ thích ngồi im và sống trong tâm đó, họ không thích chạy theo dục, sân hay vật chất… Họ chỉ muốn ngồi im như vậy, rỗng không, vô sở hữu.
Có những vị như vậy, chỉ sống với tinh thần nội tâm, tâm linh, không thích những thứ ở ngoài, đó là vô sở hữu xứ. Không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi tưởng xứ. Không vô biên cũng giống vậy, không bờ, thức vô biên là thức trùm khắp, không bờ mé, nhưng có nhiều người tưởng đâu thức rỗng không, rộng khắp như vậy là chân tâm Phật tánh nhưng đó là thức vô biên xứ định. Là thức rỗng lặng, không bờ mé, muốn trong đó hoài.
Sống trong những tâm như vậy và người ta thích ở trong đó. Mình nhớ tuổi thọ trong các tâm đó đều là đại kiếp, từ con số 1 đến 140 con số không, các vị ở tầng trời đó bốn lần hoặc tám lần như vậy. Họ ở trong đó và định ở trong đó luôn. Nên ngày trước có vị hỏi ở cõi trời mà sao lại rơi xuống địa ngục vì ở như vậy thì không tạo thêm công đức gì, ở thuần trong cảm thọ đó nên có câu ngồi ăn núi cũng lở, núi vàng nếu mình xài hoài, hưởng hoài thì có hết không? Lúc hết rồi thì đi ăn mày, ăn xin.
Vậy nên ở trong lục đạo này là cảnh thăng trầm sanh diệt, trèo cao thì té đau hay trèo cao té nặng, lên cao té đau là vậy, vì cứ ở trong đó hưởng hoài. Như chư thiên ở dục giới, suốt ngày ăn rồi phất tay áo hiện lầu đài, hoặc suy nghĩ gì là hiện ra ngay trước mặt. Xài hoài thì sẽ hết, hưởng không, vui không nhưng không có ai bố thí, cúng dường thì làm sao thấy được Khổ Thánh Đế?
Chính vì vậy sanh cõi trời được xem là một tai nạn trong Phật giáo. Nếu sanh cõi trời là Thánh đệ tử thì tốt. Còn sanh cõi trời là phàm phu thiên thì không tốt. Nên ở đây, bậc chư thiên phá vô sắc ái, tức là phá sự yêu thích trong cảm thọ lặng lẽ, thanh tịnh như vậy. Các sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền cũng như vậy, những vị này chứng đắc thiền định thì sẽ sanh lên tầng trời tương ứng, tương thích như vậy, ở trong các tầng thiền như vậy khi hết thì rơi sâu xuống.
Còn mạng, trạo cử rất sâu, bản ngã còn rất nhẹ. Trạo cử là sự dao động của tâm, vô minh thì cực kỳ vi tế, thâm sâu. Chúng ta học vô minh thì chúng ta chỉ học những cái thô, tương đối, còn thực ra rất sâu, cực kỳ thâm sâu. Mình đang nói, đang làm, thậm chí mình đang quán pháp thì vẫn trùm trong đó nhiều lớp, che trong đó nhiều lớp.
Còn nếu không có vô minh trong đó thì ai, ai phá hết vô minh? Vậy nên ai chỉ mình vô minh là mình sân lên ngay, bởi vậy nên mình mới vô minh. Nếu người ta chỉ vô mình và nói “Thầy tu sao còn vô minh vậy?” thì trả lời “Dạ đúng rồi, vì con chưa tới A-la-hán.” Nên ví dụ về vô minh giống như bóng đèn, điện yếu thì bị mờ, chớp nháy hay tắt luôn. Có khi chớp chớp, giật giật, có khi lại lờ mờ. Chỉ có bậc chứng được Thánh trí thì độ sáng của nó đầy đủ, viên mãn hết tất cả ở trong năm thủ uẩn.
Còn đèn của mình thì một ngày chớp được mấy lần? Hay là tắt luôn hoặc vô nghe pháp lóe lên được một lúc, hay đang ngồi nghe pháp lại bị sụp xuống, tắt, cúp điện?
“Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 vị Bất lai, và có ai bố thí cho một vị A-la-hán, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.
Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn hơn, và có ai bố thí cho một vị Độc Giác Phật, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Độc Giác Phật, tức Viên Giác, là vị này sanh ra đời không gặp được bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, vị này tự chiêm nghiệm, quán chiếu, viên khởi và được giác ngộ, chứng đắc đạo quả, nên gọi là bậc Viên Giác, Độc Giác. Độc là một mình, tự chiêm nghiệm duyên khởi mà giác ngộ. Bậc Độc giác thì có những kiếp các Ngài có xuất hiện ở thế gian, các Ngài có khi không độ ai hoặc rất ít người để lại đạo lộ, Thánh đạo cho chúng sanh. Chỉ có bậc Toàn giác, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác để lại cả một hệ thống, đạo lộ Thánh đạo cho chúng sanh.
Vậy nên không dễ dàng gì với Trái đất này thành lập rồi tồn tại, biến hoại, diệt vong nhiều trăm, nhiều ngàn, nhiều trăm ngàn lần mới có một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện. Chúng ta ngay trong thời bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện sau hai ngàn sáu trăm năm mà được nghe Chánh pháp gốc của Đức Phật.
Thật tuyệt diệu, cực kỳ hy hữu, hiếm có, khó gặp, vì trong một thời gian ngắn nữa thôi sẽ không còn nữa. Thậm chí Tam Bảo cũng không còn trên thế gian, không ai biết chữ Phật là gì và sau đó không ai còn biết được năm giới nữa, không còn ai biết tam quy, ngũ giới là gì nữa. Đừng nói chi là các pháp Tứ Thánh Đế, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực là hoàn toàn diệt vong hết.
Hai ngàn năm nữa thôi là tất cả các pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là không còn gì nữa hết. Các pháp tương tự, kinh giả cũng không còn, đừng nói đến là kinh thật. Chúng ta bây giờ không giải thoát, không leo lên thiền bát nhã, con rùa mù không chui vào bọng cây nổi thì lúc đó đã vào kỷ nguyên của màn đêm bao phủ trong thái dương hệ, là kỷ nguyên đen tối, vô minh bao trùm hết tất cả tam thiên, đại thiên thế giới, mười ngàn địa cầu. Không còn một ai biết đến danh từ Phật, tam quy ngũ giới, bát quan trai giới, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni giới, Bát Chánh Đạo hay Tứ Thánh Đế.
Bây giờ, ngay lúc Chánh pháp Phật Thích Ca Mâu Ni còn sót lại một chút ít trong thời đại này, thì mình nhìn thấy có bao nhiêu người biết? Chúng ta thấy được là có bao nhiêu người biết được Phật pháp? Trên tám tỉ người này thì số liệu khoảng năm trăm triệu người quy y, đệ tử Phật. Và trong khoảng năm trăm triệu người đó thì bao nhiêu người mê tín? Và ngay cả người xuất gia mình đi tu, mấy người có cơ duyên mà được học các trường Phật học, được tìm hiểu sâu về giáo pháp? Không phải là cạo tóc, xuất gia là ai cũng được vào trường Phật học? Và khi vào các trường Phật học rồi thì có được bao nhiêu người được đi thẳng vào trong Phật pháp nguyên chất thật sự của Đức Phật? Có giống như con rùa mù gặp bọng cây nổi lên một trăm năm một lần không?
Mình được cái khó, ở trong cái khó, siêu việt ở trong đó nên mình phải sống chết với Chánh pháp, chết một ngàn mạng không là gì, pháp mới quan trọng. Nếu mình chết một tỉ mạng, ngàn tỉ mạng, vô lượng tỉ mà mình không đắc được Chánh pháp mà giờ mình gặp mà mình không chịu cố gắng thì rơi vào kỷ nguyên của vô minh, màn đêm của địa cầu này sau hai ngàn năm nữa. Cả thế giới này thì không còn ai biết về Thích Ca Mâu Ni Phật nữa, A-di-đà, Quán Âm, Xá-lợi-phất, Mục -kiền-liên là ai, không còn ai biết nữa. Tứ Thánh Đế, Tứ Niệm Xứ không còn, thiện pháp không còn, nói chi tới Thánh pháp.
Đó là một thời kỳ hỗn loạn, khủng khiếp như đọc trong kinh Khởi thế nhân bổn, Trường Bộ Kinh, chúng sanh sẽ rơi vào một giai đoạn khủng khiếp, kinh hoàng, kinh hãi chưa từng có. Bốc cái gì vào cũng thành vũ khí hết.
Như giờ mình thấy con giết cha mẹ, cha mẹ giết con, chú cháu, dượng cháu giết nhau, nói vài câu thì rất ghê gớm, đừng nói chi tới giai đoạn đó. Vậy nên hãy tu lẹ đi, tu nhanh đi, để giải thoát mau, thoát lẹ cho nhanh chốn này. Vượt ra, thoát ra mau.
“Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có người bố thí cho 100 vị Độc Giác Phật, có ai bố thí cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.
Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ…
… và có ai xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương...
… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và Tăng…
… và có ai với tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ không đắm say rượu men, rượu nấu...
… và ai tu tập từ tâm giải thoát, cho đến trong khi khoảnh khắc vắt sữa bò, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.
Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, nhưng nếu có ai bố thí một vị đầy đủ chánh kiến... … và có ai bố thí một vị Bất lai... và có ai bố thí trăm vị Bất lai… và có ai bố thí một vị A-la-hán... và có ai bố thí trăm vị A-la-hán... và có ai bố thí một vị Độc giác Phật, và có ai bố thí Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác... và có ai bố thí chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, và có ai cho xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương... và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và chúng Tăng... và có ai tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh... từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu...
… và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc vắt sữa bò, tu tập từ tâm…
… và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng vô thường, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Velàma)
Tu tập tưởng vô thường là ngồi đó chiêm nghiệm về tưởng vô thường chỉ trong khoảnh khắc búng ngón tay thì phước lớn hơn tất cả những phước nãy giờ nói. Đó là an trú vô thường tưởng.
Ý nói, cúng dường cho chúng Tỳ-kheo với Đức Phật là thượng thủ, đầy đủ Phật Pháp Tăng là phước vô lượng. Sau đó, xây dựng tinh xá cho chúng tăng trong bốn phương, giống như giờ chúng ta thấy xây chùa cũng nhiều, nhưng ở trong chùa đó có chúng tăng tu hành hay không là thứ nhất, thứ hai là chúng tăng đó có tu hành đúng Chánh pháp không? Có tu chân chánh không? Tùy theo mức độ thì phước được nhân lên. Không phải là xây một tinh xá to đùng là có phước thật nhiều, đó là có phước nhưng chưa chắc là nhiều hay ít.
Tiếp theo là tâm tịnh tín quy y Phật Pháp Tăng là phước tăng lên. Sau đó là tịnh tín chấp nhận học pháp, giữ gìn năm giới. Tiếp theo là tu tập từ tâm giải thoát cho đến trong khoảnh khắc, tức là trong chớp mắt thôi. Cuối cùng là có ai dù chỉ trong một cái búng ngón tay tu tập tưởng vô thường thì sự cúng dường này lớn hơn các sự cúng dường kia.
Vậy nên mỗi ngày chúng ta thiền quán công đức bao nhiêu? Đừng lên ngồi đó ngủ, hay là tâm đi chơi, nên an trú vào thiền quán đó, trú vào vô thường tưởng, trú vào tâm từ, sanh khởi lòng tin đối với Phật Pháp Tăng, tác ý về giới. Tu tập được như vậy thì phước còn hơn lúc đầu bố thí bao nhiêu bát vàng, bạc, bao nhiêu là xe cộ, đồ ăn. Chỉ trong một thời gian tích tắc như vậy quán về vô thường, thấy được sự vô thường, sanh diệt của đời sống này, sự bất an, sự tai họa, sự đau khổ, biến hoại, hủy hoại, bại hoại, tiêu vong, diệt tận, tiêu ma của sắc, thọ, tưởng, hành, thức này thì công đức đó siêu việt, tối thượng.
Vì sao vậy? Vì sao phước nhiều như vậy, phước không tưởng tượng nổi như vậy với cuối cùng là vô thường tưởng?
Vì khi vô thường mà mình thấm được rồi thì mình nhớ trong tất cả hàng nhiều ngàn bài kinh trong Nikāya:
“Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Thế Tôn!
- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
- Là khổ, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: " Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi "?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập III. Thiên Uẩn – Phần Năm Mươi Kinh Ở Giữa - Phẩm Tham Luyến - Bài kinh Năm vị (Vô ngã tưởng))
Phải như thật, quán tri bằng trí tuệ. Ngũ uẩn này, đời sống này là vô thường, khổ đau, trống rỗng. Một người thấy được như vậy thì người này hướng đến Thánh pháp ấn của chư Phật, tức là nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn. Như vậy thì công đức đó lấy gì so sánh được? Đó là vô vi, vô lậu, vô tướng, vô chấp.
Còn bố thí kia thì khi mình tu nhiều mình có thấy là tôi cho không? Mình cho này có nghĩ là mai mốt tôi hưởng không? Là hữu tướng bố thí, bố thí trong trước tướng, chấp tướng, trong có mình, có ta, có món đồ vật, để mong cầu được hưởng, hưởng là nằm trong Tam Giới mà Tam Giới là khổ. Còn cái kia là diệt khổ, ra khỏi cảnh khổ thì cái khổ này mà một tỉ thứ có nằm trong khổ thì có bằng người không có gì hết nhưng không có khổ không? Đó là công đức vô lượng ở tại đó.
Dù cho có một tỉ thứ mà ở trong địa cầu lửa, còn người ta không có gì mà được tự do, tự tại, vậy có an lạc không? Ở trong quả cầu lửa có một tỉ cây vàng, so với một người đứng ra ngoài địa cầu này được thanh lương, mát mẻ, an lạc, tự tại thì nên chọn cái nào? Đó là công đức vô lượng, vô vi, vô lậu.
II. Trình pháp
Phật tử số 1 trình pháp:
Cho con xin hỏi về vô sắc giới và thức vô biên xứ, nhờ sư phụ giảng thêm để chúng con rõ.
Sư phụ giảng giải:
Vô sắc giới là cảnh giới không có sắc tướng, các vị đó sống bằng tâm tưởng, các vị đó chỉ ở trong thiền định, không có thân tướng giống như mình. Cũng không có hình bóng giống như mình nằm chiêm bao, chỉ thuần là tâm tưởng, không có hình tướng. Đó là những cảnh thiền định.
Phật tử số 2 trình pháp:
Con thấy pháp bố thí ngày hôm nay thầy giảng dạy thì con thấy mục đích cuối cùng của pháp bố thí là cũng chỉ đạt được tâm ly tham. Để nó đưa đến mục đích cuối cùng là được sự tu tập tự thân. Ngay từ những lời đầu bài, pháp bố thí có phước báo của nó nhưng trong thực chất, lợi ích của việc bố thí là đạt được tâm ly tham, xả ly khỏi sự tham đắm vào những vật dụng cũng như các sự yêu thích của mình đối với cuộc đời, mình không yêu thích gì nữa.
Vậy theo con hiểu như vậy có đúng không ạ? Nhờ Thượng tọa giảng giải giúp con.
Sư phụ giảng giải:
Phật tử hiểu như vậy rất tốt. Để kết luận cho buổi chia sẻ hôm nay, nên lấy câu này để tóm lại cho chúng ta dễ hiểu.
Vì đối trị với tham nên Đức Phật dạy bố thí, nhưng bước đầu tiên của sự bố thí là mình sẽ được kết quả. Vì làm gì có kết quả mình mới làm, nên làm mà không có kết quả thì không ai muốn làm. Nên kết quả của sự bố thí là mình sẽ được đầy đủ những vật dụng, những thực phẩm, nhu yếu hay tài sản, vật chất.
Nhưng đầy đủ ở đây không phải là để cho mình đam mê, say đắm đối với một người có chánh kiến trong Phật pháp. Mà đầy đủ ở đây là giúp cho mình có phương tiện, điều kiện, giúp cho mình những thứ cần yếu trong cuộc sống cũng như tự mình lo cho cuộc sống mình để mình tu và mình giúp đỡ cho những người khác cùng tu. Đó là giai đoạn thứ hai của bố thí, tức là kết quả được đầy đủ, sung túc và tất cả những vật chất, tài sản.
Theo kinh, Đức Phật từng nói là bố thí được những quả báo là sống lâu, sắc đẹp, được an vui, có danh tiếng và sẽ phát triển. Đây là năm phước báo của sự bố thí: thọ mạng, sắc đẹp, an lạc, danh tiếng và tăng thượng phát triển. Người có tu sự bố thí thì có năm kết quả, quả báo, phước báo này, năm công đức này.
Nếu người này ở trong cuộc đời của kiếp con người, làm người thì người này luôn luôn vượt hơn tất cả những người khác về năm phương diện này. Tức là người này có sức khỏe, tuổi thọ, sắc đẹp hơn người khác và có nhiều niềm vui hơn người khác, nổi tiếng hơn người khác. Có những người sống trên cuộc đời này nhưng đến chết không ai biết, có những người sống trên đời này có rất nhiều người biết vì nhờ người này có bố thí.
Thứ năm là người này luôn luôn phát triển, ở trong phương diện, lĩnh vực, nghề nghiệp nào, thì người này sẽ phát triển lên, nhờ công bố thí có năm quả báo. Nếu người này sanh lên thiên giới, thì người này cũng vượt hơn tất cả chư thiên khác về phương diện này. Thọ mạng, sắc đẹp, thiên lạc, danh tiếng cũng như sự tăng thượng của vị này đều hơn chư thiên khác.
Nếu người này đi tu thì có được phước khác. Có bài pháp Minh Thành giảng về người này đi vào xuất gia được nhiều người cúng y, nhiều người mời, thỉnh dâng cơm, người này được nhiều người làm cho vui lòng, nghe lời, mọi điều mà người này mong muốn đều dễ thành tựu.
Đó là quả báo, phước báo, công đức của người bố thí. Nhưng tất cả những cái đó, đối với người tu Chánh kiến thì mượn đó làm phương tiện và không bị dừng lại ở chỗ hưởng thụ. Nếu dừng lại ở chỗ hưởng thụ đó thì chư thiên rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, là vì họ dừng lại hưởng thụ. Còn người chánh kiến thì họ mượn đó để họ đạt tới chỗ mục đích sau cùng, tức là ly tham, giải thoát tất cả sự vô thường, khổ, vô ngã ở trong năm thủ uẩn.
Đó là tóm tắt ý nghĩa của bài kinh hôm nay.