Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TUỆ NĂM UẨN VÀ TRÍ LẬU HOẶC

2026-03-03 00:52:17
Tinh Hoa Nikāya

TUỆ NĂM UẨN VÀ TRÍ LẬU HOẶC

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trái tim của Thánh giáo PAGEREF _Toc78127216 \h 1

II.Trí tuệ về ngũ uẩn PAGEREF _Toc78127217 \h 2

III. Trí tuệ về lậu hoặc PAGEREF _Toc78127218 \h 4

1.Dục lậu PAGEREF _Toc78127219 \h 9

2.Hữu lậu PAGEREF _Toc78127220 \h 9

3.Vô minh lậu PAGEREF _Toc78127221 \h 10

IV. Tu Thánh đạo, đạt Thánh quả PAGEREF _Toc78127222 \h 11

Trái tim của Thánh giáo

Chúng ta ngồi tại cội cây này là đang gợi nhớ lại hình ảnh của Bồ Tát, gợi nhớ lại dáng ngồi bất tử, gợi nhớ lại tinh thần bất khuất của một đại anh hùng trong tam giới, bậc đại chiến thắng, đại phá ma quân. Hình ảnh này ngày xưa đã làm cho ma cung chấn động, đó chính là hình ảnh cội bồ đề tọa đại phá ma quân. Tất cả ma dục, ma tham, ma ái hoàn toàn bị đánh gục, đánh sập, đánh tan, đánh vỡ, đánh nát, sụp đổ, tan tành dưới cội bồ đề này. Sự tham ái, chấp thủ vào đời sống, thân xác, tâm thức, ngũ uẩn hoàn toàn bị sụp đổ; gốc rễ của tham, sân, si bị đánh tan; vô minh và bản ngã bị diệt tận hoàn toàn, không còn sanh khởi trở lại trong tương lai. Nơi đó được gọi là Bồ Đề Đạo Tràng – nơi được chư Thiên và loại Người đều tôn kính. Chúng ta từng đến đó, những dòng nước mắt đã tuôn chảy, những tiếng khóc đã vang dội, làm chấn động Thánh tích, nơi đó đã trở thành bàn thờ vĩ đại của chư Thiên, loài Người và không chỉ riêng thế giới loài Người.

Bồ Tát với tâm định tĩnh, thuần nhất, vững chãi đi vào trạng thái của thiền định. Đầu tiên, Ngài chứng Bốn Thánh trí về Ngũ Uẩn, chứng ngộ Bốn Thánh trí về Lậu Hoặc và cuối cùng trở thành bậc Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đây là điều hết sức quan trọng để chúng ta thực tập theo. Khi tu học, chúng ta cứ nghe nhắc đến “nhận diện ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn”, đó là để chứng Bốn Thánh trí về Ngũ Uẩn. Lúc nào không có sự nhận diện ngũ uẩn là lúc đó mình ở trong vô minh, chỉ thấy một cái tôi. Còn lúc nào nhìn thấy được ngũ uẩn là lúc đó thấy được chân lý.

Chính vì vậy, Trí về Ngũ Uẩn và Trí về Lậu Hoặc là trái tim, là cốt tủy của Thánh giáo, của trí tuệ Như Lai. Chúng ta phải biết ngũ uẩn là gì, tại sao ngũ uẩn sanh, tại sao ngũ uẩn diệt và con đường đưa đến sự chấm dứt ngũ uẩn. Chúng ta cũng phải biết lậu hoặc là gì, vì sao lậu hoặc sanh, vì sao lậu hoặc diệt và con đường đưa đến chấm dứt lậu hoặc. Thế nên, sự nhận diện ngũ uẩn là tuyệt đối quan trọng. Khi chúng ta quên nhận diện ngũ uẩn thì lúc đó sẽ có mình, có tôi; lúc nào có sự nhận diện ngũ uẩn là lúc đó mình trú trong pháp; còn mọi việc ra khỏi sự nhận diện ngũ uẩn là trở lại phàm. Cho nên, tu là phải chứng Bốn Thánh trí về Ngũ Uẩn và chứng Bốn Thánh trí về Lậu Hoặc.

Trí tuệ về ngũ uẩn

Mỗi một ngày chúng ta nhận diện ngũ uẩn được bao nhiêu tiếng? Trong sự tu này, nhớ về trí ngũ uẩn được bao nhiêu tiếng, sống với trí ngũ uẩn được bao nhiêu giờ thì những giờ đó là giờ chúng ta tu. Còn dù chúng ta đang ngồi thiền mà không có sự nhận diện ngũ uẩn thì giờ đó cũng không kể là giờ tu. Bởi vì khi nhìn thấy được ngũ uẩn là lúc tan biến cái tôi và của tôi, tan biến bản ngã, thế nên, Bồ Tát mới chứng ngộ được Bốn Thánh trí về Ngũ Uẩn. Mọi người phải nhớ rằng, chữ “chứng ngộ” khác với chữ “nhận diện”. Nhận diện là chỉ nhìn cho biết mặt, chứ chưa chứng được. Còn chứng ngộ là lúc nào cũng chỉ nhìn thấy ngũ uẩn, chứ không có một con người, không có một cái tôi, không có một cái ta, không có bản ngã. Lúc nào cũng nhìn thấy có năm nhóm đang hoạt động, như vậy mới gọi là chứng. Duy trì cái thấy đó được liên tục, thường trực, cho đến một lúc nào đó thường trú trong cái thấy đó thì gọi là Nhập Lưu Thánh quả, phá được thân kiến.

Để được như vậy, chúng ta phải tập trong khi nói, khi làm đều nhìn thấy được ngũ uẩn, thấy hành đang nói, tưởng đang hoạt động, thọ đang sanh diệt. Trong bài Niệm Chánh Niệm Tỉnh Giác 2 có nói, vị Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác là:

Tỷ-kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt;

Rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt;

Rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt. (Kinh Tôn Giả Nanda, Tăng Chi Bộ Kinh III, tr510)

Chữ “tầm” giải thích đơn giản chính là hành, suy nghĩ, sự hướng tâm của mình. Khi rõ biết các thọ, các tưởng, các tầm như vậy thì gọi là chánh niệm tỉnh giác, chúng ta không rõ biết những điều đó thì không có sự chánh niệm tỉnh giác. Ví dụ, khi nghe âm thanh lúc giảng bị trục trặc, phải xem lại trong thọ, hành của mình có khó chịu không; khi nghe tiếng xe ồn ào chạy qua lại mình có khó chịu không, bên trong đang có suy nghĩ gì mình phải thấy biết tất cả. Chúng ta thấy được ngũ uẩn ngay những lúc đó thì đó là sự tu, đó là hành thiền, đó là ngồi ở Bồ Đề Đạo Tràng; còn ngồi trước tượng Phật mà suy nghĩ về dục, tham, sân, si, bản ngã thì vẫn là cách xa Phật.

Cho nên, chứng trí tuệ về ngũ uẩn mới phá được thân kiến, phá được bản ngã. Sau khi phá được thân kiến, phá được bản ngã thì chứng được trí về lậu hoặc. Như vậy, bản ngã phá rồi thì tham, sân, si mới diệt; bản ngã chưa phá thì tham, sân, si chưa diệt. Đó là lí do tại sao đầu tiên chúng ta phải phá được bản ngã trước thì mới vào được dòng pháp này. Nhận diện ngũ uẩn là đánh gục bản ngã, người còn bản ngã lớn là người chưa nhận diện ngũ uẩn, chưa thấy được ngũ uẩn, còn khi thật sự thấy được ngũ uẩn thì bản ngã sẽ được lắng dịu, giảm thiểu. Đây là chỗ hết sức quan trọng trong sự hành trì của mình. Vì thế, chứng trí về ngũ uẩn trước rồi sẽ chứng trí về lậu hoặc. Chúng ta phải thường trực, thường xuyên, thường luôn, thường ngày, thường giờ, thường phút, thường giây thấy được ngũ uẩn, thấy được sự duyên sanh, sự vô thường, sự phiền não, sự sanh diệt của ngũ uẩn thì sẽ không thấy bản ngã. Thế nên, phải thành tựu trí ngũ uẩn thì mới có khả năng đánh phá được lậu hoặc.

Trí tuệ về ngũ uẩn là hết sức quan trọng. Chúng ta phải đọc được những cảm giác, nghĩ, tưởng luôn sanh diệt liên tục, chúng vận hành, hoạt động, chi phối, xâm chiếm, áp bức bên trong; phải đọc được sự khống chế, sự áp đảo của ngũ uẩn; phải đọc được sự chấp thủ ngũ uẩn. Bản thân phải biết được sự chấp thủ ngũ uẩn của mình đang ở mức độ nào. Khi một ý niệm sanh khởi lên, mình bám vào ý niệm đó bao nhiêu phần thì phải thấy được. Khi một hình bóng hiện ra trong nội tâm thì phải thấy được mình và hình bóng đó đồng hóa đến mức độ nào; mình nhận diện nó ở mức độ nào; mình tách nó ra được ở mức độ nào; mình xem xét nó thế nào hay là mình thường trực bị đồng hóa, nếu bị đồng hóa với nó thì mình chưa nhận diện được ngũ uẩn. Dù biết được đó là sắc, đó là thọ, đó là tưởng, đó là hành, dù học thuộc lòng, trả bài đúng hết nhưng trở về thực tế thì mình không thấy được thì mình sẽ bị đồng hóa và nhập cuộc theo ngũ uẩn này.

Người tu phải đọc được cuốn kinh sống về năm uẩn trong thân tâm chính mình, sau đó cách ly, viễn ly, xả ly, đoạn ly và không chấp nó, đây là bước hết sức quan trọng. Không được nhìn nhận ngũ uẩn này là mình, là của mình; là tôi, là của tôi; là ta, là của ta; là tao, là của tao. Mỗi ý nghĩ, cảm giác, hình bóng khởi lên là phải tách hết tất cả ra khỏi mình, như vậy là chúng ta phá thân kiến, tách trong từng ý nghĩ, từng cảm giác, từng hình bóng. Khi có suy nghĩ tham muốn khởi lên, phải tác ý “có gì mà ham, tất cả đều là vô thường”; khi có suy nghĩ sân hận, bực bội khởi lên, phải tác ý “có gì đâu mà bực, thiêu đốt để làm gì”; khi có suy nghĩ bản ngã khởi lên, phải tác ý “bản ngã gì ở đây, mày điên khùng vừa vừa, ngu vừa vừa thôi”.

Chúng ta phải dạy tâm này trong từng ý niệm, từng hình bóng, từng cảm giác, như vậy mới tách từ từ ra khỏi ngũ uẩn, đó mới là thiền, đó mới là người tu, đó mới là sự thể nhập Thánh trí, dần dần đi vào Thánh đạo. Mỗi một ý nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm sanh khởi lên, chúng ta đều phải nhận diện, bắt chụp, chộp lấy nó ngay lập tức. Bằng không dù học ngũ uẩn thì học như vậy nhưng ra thực tế thì mình với nó là một, những cái thô thì thấy được, những cái vừa vừa thì không thấy được và những cái vi tế thì không cần nói tới.

Vì vậy, trong sự tu, chúng ta phải điểm mặt ngũ uẩn hoài hoài: “Sắc nè, thọ nè, tưởng nè, hành nè, thức nè – đây là kẻ ác độc, kẻ giết người, đây là mũi tên, gai nhọn, hố than hừng, vực thẳm”, có như vậy thì mới gọi là tu viễn ly, xả ly, thoát ly, xuất ly.

Trí tuệ về lậu hoặc

Chính từ chỗ nhìn thấy ngũ uẩn thường trực như vậy thì mới xuất hiện thêm lậu hoặc, không nhìn thấy ngũ uẩn thì không nhìn thấy lậu hoặc. Cho nên, Bồ Tát chứng trí về ngũ uẩn trước rồi mới chứng trí về lậu hoặc. Sau khi chứng trí về lậu hoặc, thấy được “đây là khổ” thì Bồ Tát mới lậu hoặc, đoạn tận nguyên nhân của khổ. Cái gọi là thấy được “đây là khổ” là rất thâm sâu, đó chính là Thánh trí. Khi nhìn thấy được sắc, cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức thì giống như việc mở một cái bao ra và biết bên trong là thịt ôi thiu, hôi thối, biết bên trong là rác bẩn, đồ dơ. Cũng vậy, sau khi thường trực nhìn ngũ uẩn liên tục thì chúng ta sẽ thấy được tham, sân, si bên trong.

Qua đó, chúng ta thấy rằng, sự giáo dục, chỉ dạy của Đức Phật đều theo một trình tự hết sức tuyệt vời. Nếu không thấy cảm giác thì sẽ không thấy được tham, sân, si ở trong cảm giác. Đức Phật dạy có ba cảm thọ, khi có cảm giác dễ chịu thì biết chắc chắn rằng có tham tùy miên đi theo miên man bên trong. Bất cứ lúc nào có cảm giác khó chịu, bực bội thì có sân tùy miên đi theo miên man bên trong. Cái đáng sợ nhất chính là cảm giác không dễ chịu không khó chịu, đây là chỗ khiến chúng ta chết dài dài, thần tiên còn phải chết, chứ đừng nói chi là phàm phu. Cảm giác không khó chịu không dễ chịu là cứ đều đều, không thấy ngũ uẩn, không thấy vô thường, không thấy nhân duyên sanh diệt của các cảm thọ, không thấy được “xúc tập khởi nên thọ tập khởi, xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt”. Khi không thấy được nhân duyên sanh diệt của các thọ, các tưởng, các hành, các thức thì đó là vô minh, là si. Cho nên, trong cảm giác không khổ không vui là có vô minh tùy miên, lúc nào cũng có vô minh trú ẩn và đi theo miên man bên trong tâm này, như vậy thì làm sao thấy được các pháp. Chúng ta cứ nghĩ mình không có sân giận với ai, không có tham với ai nhưng mình không thấy được nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn, không thấy được tính chất vô thường, khổ não, tan hoại, sanh diệt của tất cả mọi thứ. Khi đó, chỉ thấy bàn là bàn, ghế là ghế, nam là nam, nữ là nữ, nhà là nhà, cửa là cửa… những cái thấy đó là cái thấy của vô minh, của si mê. Trong cảm thọ đều đều đó là có vô minh tùy miên đi theo nhưng mình không thấy.

Cho nên, từ sự nhận diện được ngũ uẩn mà mình nhận diện được lậu hoặc, biết được lậu hoặc là gì, tại sao lậu hoặc sanh, tại sao lậu hoặc diệt và con đường đưa đến chấm dứt lậu hoặc. Đó là thành tựu trí về lậu hoặc, gồm: dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Nhiều khi tu cả cuộc đời, đừng nói chi cư sĩ, kể cả người xuất gia, dù ở trong chùa đến chết nhưng cũng không biết lậu hoặc là gì. Trí về lậu hoặc là trí của bậc Thánh, nếu không nương theo Chánh tri kiến của tạng kinh Nikāya, không nhìn được ngũ uẩn thì không bao giờ chúng ta thấy được lậu hoặc. Người bình thường, vô văn phàm phu không tu cũng biết sân, cũng biết tham nhưng đó là nhìn theo trí của phàm phu, không cần tu cũng biết. Còn tham, sân, si của Đức Phật nói là hoàn toàn khác. Tham rất ghê gớm, ái rất khủng khiếp, tham ái mà Đức Phật nói đến, cái gọi là lậu hoặc thì không phải là tham như cấp độ của người thường. Giật đồ của người khác, hoặc đi ngang thấy cây ớt chín thì hái đại bỏ vào túi… những việc đó chỉ là tham bình thường, còn tham ái mà Đức Phật nói thì phải tụng kinh Đại Niệm Xứ mới biết được.

Tham ái trong con mắt của chính mình, tham ái trong khuôn mặt mỗi khi nhìn gương. Có những vị trình pháp, nói mỗi khi ngồi thiền thì thấy khuôn mặt của chính mình hiện ra rất hiền, đó chính là tham ái, phải phá cái đó, vì đó chính là thân kiến, là sắc tưởng của tự thân. Nếu tu không khéo, không có thiện xảo trong trí tuệ về chánh kiến thì sẽ lạc qua ái, lạc qua tham mà mình không biết. Có lúc đang quán bất tịnh, quán cát bụi mà lại hiện lên khuôn mặt của mình và mình thấy thích khuôn mặt hiền đó thì thất bại. Vì chúng ta đang thực tập phá thân kiến, mà thân kiến hiện lên nhưng mình lại không biết. Thành ra, pháp này tuy là học như vậy, hiểu như vậy nhưng khi thực hành đòi hỏi phải hết sức thiện xảo, sâu sắc và tinh tế. Nếu không chúng ta chỉ là học trên bài vở, khoa bảng, dạy bài nào thì học bài đó, đến khi ứng dụng thì không nhìn ra được.

Đức Phật nói đôi mắt, đôi môi, khuôn mặt, cái miệng là nơi trú ẩn của tham ái. Chụp ảnh đăng facebook hoài chính là tham ái về hình bóng, đối với người đời thì việc đó là bình thường, không có vấn đề, nhưng chúng ta không muốn làm người đời, không muốn làm phàm phu hoài, cho nên mình phải khác! Những việc làm đó là yêu thích hình bóng của tự thân, cho nên cái ái mà Đức Phật nói rất thâm sâu, phải thấy được trong những việc nhỏ nhất. Ví dụ thực tế để dễ thấy, trời đang nóng 30ºC, 36ºC, vào tắm thì mình xối ào ào, khi xối như vậy chính là dục đang xối, ái đang xối, tham đang xối, có sự thúc giục, khoan khoái, muốn thêm.

Trí huệ về dục lậu của Đức Phật rất thâm sâu, cho nên mới gọi là lậu hoặc. Tức là những cấu nhiễm cứ thấm vào, rỉ vào, chảy vào, rịn vào, qua mặt mình giống như “đi hàng lậu” mà mình không biết nên gọi là lậu hoặc. “Hoặc” là mê hoặc, mê lầm, “lậu” là sự qua mặt sâu kín, sâu xa, nhỏ nhiệm, vi tế mà mình không biết. Hàng ngày như vậy, chúng ta bị nó qua mặt rất nhiều, dù đang trong khóa tu cũng vậy, chứ đừng kể chi ở nhà hay chưa biết tu. Vô văn phàm phu không thể biết được lậu hoặc, nếu tu không đúng con đường Chánh Pháp thì một trăm đời cũng không biết được lậu hoặc là gì, chỉ có Thánh trí mới biết được lậu hoặc.

Cũng như những người cảnh sát giao thông, kiểm tra hải quan, nếu họ không tinh ý thì người khác giấu đồ lậu trong người nhưng họ không biết, họ kiểm tra qua loa, cẩu thả thì tội phạm vẫn lọt qua như thường. Hơn thế nữa, mặc dù kiểm tra kỹ lưỡng nhưng vẫn có trường hợp lọt đồ lậu vào là vì người buôn lậu nuốt đồ vào trong bụng, nhét ở chỗ kín, ngậm ở trong miệng. Nếu không kiểm soát kỹ, không chuyên nghiệp, không chuyên môn, không cẩn thận thì dù sử dụng dụng cụ cũng không phát hiện được. Cho nên, sử dụng bao nhiêu dụng cụ cũng không đủ, mà người có trách nhiệm cần phải hết sức cẩn thận rà soát. Và mặc dù hết sức cẩn thận, rà soát, sử dụng máy móc nhưng vẫn bị lọt qua mặt, như vậy gọi là lậu. Những người kiểm soát kỹ lưỡng là ví dụ cho những người học Chánh tri kiến. Những người tuy đã học pháp, hiểu được trí năm uẩn, trí lậu hoặc nhưng vẫn bị lọt, huống chi là người không biết gì về ngũ uẩn, không biết gì về lậu hoặc thì làm sao diệt tận được lậu hoặc. Phát hiện còn không được thì làm sao mà diệt tận? Thế nên, chúng ta phải lạy Thánh trí Ngũ Uẩn, lạy Thánh trí Lậu Hoặc, chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác mới chỉ ra cho mình, khi biết được rồi thì chúng ta phải trân quý, trân trọng, tôn kính, sử dụng liên tục.

Hàng ngày, tâm thức này qua mặt mình vù vù, đang ngồi thiền nhưng vẫn bị nó qua mặt, đang nghe pháp nhưng vẫn bị nó qua mặt. Khi thấy tâm này qua mặt xong rồi thì mình không được để cho nó qua luôn rồi thôi mà phải xử lý nó. Dù biết đã bị qua mặt rồi nhưng mình vẫn phải Như Lý Tác Ý, tức là không được để những lậu hoặc này lọt qua một đường tơ kẻ tóc nào thì từ từ mình mới đi đến chỗ thành tựu trí tuệ về lậu hoặc. Còn đã biết lỗi nhưng vẫn không nhận lỗi thì không bao giờ tu thành tựu được. Đâu dễ để có được một đạo tràng biết lỗi, thấy lỗi, nhận lỗi nên quỳ lạy, khóc lóc sám hối. Không có một đạo tràng nào giống như đạo tràng Nikāya, khóc từ trên xuống dưới, lạy rồi khóc rồi hài tội, vạch tội của chính mình ra. Đâu nơi nào thường thường thấy được có người sám hối bản ngã lớn như nơi này. Mà thông thường, một người không biết pháp khi bị người khác nói là bản ngã lớn thì sẽ sân giận. Đó chính là sự khác biệt, sự thành tựu trong tu học chứ không phải là sai dở, vì tu là nhìn thấy được lậu hoặc, chúng ta cần phải nhìn thấy điều đó. Còn tu không đúng con đường là che đậy, khỏa lấp, trốn tránh, không nhắc tới.

Chính vì thế, trí về lậu hoặc là hết sức quan trọng, người tu càng nhìn thấy được cấu nhiễm của mình chừng nào thì trí huệ của người đó càng thâm sâu, tỏa sáng. Người thường trực thấy được những lậu hoặc, cấu nhiễm, những thứ phàm phu, tồi bại, hèn hạ, nhơ nhớp, bẩn thỉu những chừng nào thì người đó càng trú trong tâm tàm quý, bản ngã được lắng dịu. Người luôn luôn nhìn thấy trong người dục đầy, bản ngã đầy, sân si đủ thứ thì người đó không thể vênh vênh tự đắc, không thể kiêu căng được. “Pháp nhĩ là như vậy”, tức là pháp vận hành đương nhiên như vậy. Không thể có một người thường trực thấy thân tâm của mình, thấy các lậu hoặc, phiền não mà người đó vẫn dâng bản ngã cao lên, sự kiện đó không xảy ra.

Cho nên, đi đúng đường là sẽ có kết quả đúng. Người nào còn dương dương tự đắc là người đó chưa vào được cửa dù đang học pháp này, người đó vẫn còn đứng ngoài cửa nhìn vào. Người vào pháp thật sự là tự nhiên lúc nào cũng sẽ an trú trong tàm quý, hổ thẹn, sợ hãi, khiêm hạ, khi nhìn thấy là mình biết được ngay người đó đã vào pháp. Như bài Minh Thành đã chia sẻ, “Từ nhục nhã đưa đến Thánh quả”, người thường trú trong cái nhục là người đó đã gần tới Thánh, còn người cứ hất hất cái mặt, đi đâu cũng ta đây, đi đâu cũng giảng đạo cho người ta nghe, lúc nào cũng làm sư huynh, chúng trưởng, sư phụ thì phải xem lại, người này chỉ mới học được một chút mà gặp ai cũng giảng, cũng dạy người ta.

Như vậy, trí về lậu hoặc là hết sức quan trọng, thấy được lậu hoặc thì sẽ lo lắng, sợ hãi, từ đó mới tinh cần, tinh tấn, nhiếp phục. Đi theo con đường này, tối cao nhất là đoạn tận, còn người nào có sự nỗ lực, tinh tấn đầy đủ, tha thiết, chân thành thì cũng sẽ đạt được Dự Lưu, hoặc tệ nhất là người này cũng đạt được Hướng Dự Lưu. Đi đúng, chân thành, chân thật, cung kính, tha thiết thì chắc chắn tối thiểu nhất cũng đạt Hướng Dự Lưu, sanh lại Người, Trời, thoát ba đường ác. Còn người làm biếng, cẩu thả, bản ngã, hình thức thì không nói đến. Người nào chân thành, chân thật, tha thiết, thật tâm trong sự tu này thì tối thiểu sẽ Hướng Dự Lưu, không thể có chuyện không có kết quả, điều này không xảy ra. Đối với pháp chân chánh, đối với tâm chân chánh thì kết quả sẽ là chân chánh, đó chính là nhân quả. Vì vậy, chúng ta hết sức hạnh phúc khi tu được pháp này.

Dục lậu

Đối với dục lậu, chúng ta phải nhìn thấy được chúng. Minh Thành ví dụ, khi mình nhảy mũi, có người nói “dơ bẩn, ghê gớm quá” thì mình cũng sẽ rất bực, điều đó chửng tỏ rỉ mũi mà chúng ta cũng ái nó, chấp vào nó là của tôi. Chúng ta ái đến mức độ khủng khiếp như vậy, đó gọi là dục lậu, dục ái trong cái lậu hoặc, cái gì cũng ái, ghê gớm như vậy. Khi nhìn thấy được tất cả những điều đó thì mới thấy được dục lậu. Hoặc do không súc miệng, miệng không được thơm nên khi nói chuyện ra thì người ta dội hết, lúc đó mình cũng khó chịu dù miệng mình dơ thật, dù biết điều đó nhưng khi người ta ghê sợ thì mình lại tự ái, đó là mình ái cái miệng hôi thối này. Khủng khiếp lắm, ghê gớm lắm nên mới gọi là dục lậu. Nhìn thấy được những điều đó là Thánh trí bắt đầu khởi động.

Hữu lậu

Hữu lậu là sự dao động, lăng xăng từ thân cho đến tâm. Hữu lậu của nhiều người rất khủng khiếp, họ không được yên, cứ hết chuyện này tới chuyện kia, hết chuyện kia tới chuyện nọ, hết chuyện nọ đến chuyện khác. Nếu điều này có trong việc tu Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc thì sẽ tốt, mà hữu lậu này lại không vận dụng trong việc tu. Người nào mê nấu ăn là vào bếp từ lúc mới đến chùa cho tới lúc về, hữu lậu làm cho tu không được, nó quậy mình, trói cột mình. Mấy ông thích cây kiểng khi đến chùa có vườn kiểng thì không lo tu học gì nữa mà cứ ra vườn cây. Có rất nhiều trường hợp tương tự như vậy, khi nhìn kỹ chúng ta sẽ thấy rõ. Thông thường, học pháp thì chúng ta lại không thích học, mà cứ thích những cái phi pháp, không thích Chánh Pháp, thích những cái tương ưng với các lậu hoặc.

Mỗi một ngày Minh Thành cho đại chúng tu ở mỗi chỗ khác nhau, ai ai cũng hoan hỷ, đó là Minh Thành vận dụng Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc trong khi học pháp. Thay vì đem những điều đó để làm những món ăn, bày vẽ ra đủ chuyện thì chúng ta đem những điều đó vận dụng vào sự tu học. Ở đây không có nghệ thuật gì lạ lùng hết mà đó là Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc trong Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo. Chúng ta muốn, rồi cố gắng, để tâm, suy nghĩ đủ mọi cách tốt để cho mọi người tu học thì đó là Tứ Như Ý Túc. Chúng ta đem hữu lậu, dục lậu của bản thân chuyển sang dục về pháp, chuyển qua suy nghĩ đủ thứ về sự hành trì. Như vậy thì chúng ta mới chuyển hóa được tất cả các lậu hoặc, đưa lậu hoặc trở về pháp.

Vô minh lậu

Vô minh lậu là cái khiếp đảm, khó thấy, khó biết. Trong các cảnh giới tối cao đã học, như tứ thiền bát định, ở trong những cảnh giới đó mà cũng không biết được vô minh lậu. Những chư Thiên tuổi thọ bằng trái đất cũng chưa biết được vô minh lậu. Vô minh lậu vô cùng thâm sâu, sâu kín, chỉ có Thánh trí mới hiển bày được.

Vô minh có rất nhiều cấp độ, ví dụ dù đang ngồi nghe pháp nhưng tâm không được sáng tỏ, nặng là rơi vào ngủ gục, nhẹ hơn một chút là hôn trầm, nhẹ hơn chút nữa là tâm lo ra, đơ đơ, hoặc bị nắng chói một chút là mắt nheo nheo hoài. Sâu nhiều hơn nữa là không thấy được ngũ uẩn, không thấy được thân tâm, không thấy thọ, tưởng, hành, chỉ thấy một cục chứ không thấy năm uẩn, chỉ thấy một đại thủ uẩn, một cái tôi, cái ta to tướng. Sâu hơn nữa là dù trong các tầng Thánh quả nhưng vẫn còn vô minh, dù Bất Lai nhưng vẫn còn vô minh. Tức là đối với tham, sân, si, bản ngã, những lậu hoặc vi tế nhỏ nhiệm, cái ái về ngũ thủ uẩn thì nhìn vẫn chưa hết, đọc chưa hết. Còn khi đọc được hết tất cả, không còn gì sót lại, tất cả vô minh đều được phơi bày, không còn một chút nào dù bằng hạt bụi mà không thấy và mình diệt tận hết thì lúc đó mới lậu tận. Chúng ta đang ngồi nghe pháp, giảng pháp ở đây nhưng đều là vô minh, từ trên xuống dưới tất cả đều vô minh. Nhưng khi có ai nói mình vô minh thì lại sân lên, đó là vô minh mà nhận mình là thông minh, cuối cùng sẽ trở thành đại vô minh.

Tu Thánh đạo, đạt Thánh quả

Vì vậy, học pháp này hay lắm, chúng ta phải biết được Bốn Thánh trí về Ngũ Uẩn, Bốn Thánh trí về Lậu Hoặc, tập nhìn ra vô minh, tập nhìn những dục, tham, ái, tập nhìn những sự dao động nơi thân, tâm; tập nhìn những sự lăng xăng, trạo cử, hữu lậu, những chương trình, kế hoạch, tính toán đủ thứ làm mình không tu được. Chúng ta phải nhìn ra được hết và làm giảm bớt, lắng dịu chúng. Khám phá được dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu và có những phương pháp cụ thể, thực tế, mạnh mẽ, sâu sắc, khéo léo, thiện xảo để diệt chúng từ từ và nhiếp phục chúng dần dần. Mỗi ngày khỉa nó một chút, mỗi giờ ngồi thiền khảo nó một chút… mãi như vậy cho đến lúc chuẩn bị nhắm mắt là sẽ đạt được Dự Lưu.

Đức Phật nói: “Này các Tỷ-kheo, một người thường quán mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là vô thường, khổ, vô ngã; thường quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, khổ, vô ngã… người đó cho đến lúc mạng chung không chứng quả Dự Lưu là điều không thể xảy ra”. Một người thường xuyên, thường luôn, thường trực quán ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, phiền não mà đến lúc chết không chứng quả Dự Lưu là điều không thể xảy ra.

Vì thế, chúng ta đừng lo, mỗi ngày cứ đẽo một chút, khỉa một chút, đục một chút, cứ tu cho đến ngày được viên mãn và nhớ rằng phải luôn kiên trì, bền bỉ. Vòi nước ở phòng của Minh Thành dưới chùa Bửu Liên bị hư, Minh Thành cũng quên chưa kịp sửa, khi đó cứ cố gắng chỉnh vòi nước ở mức độ tốt nhất, lâu lâu mới nhiễu được một giọt, vậy mà nửa ngày sau vào là đã đầy thau nước. Sự tu tập cũng vậy, mỗi giờ ngồi thiền quán một chút, mỗi khi nhận diện năm uẩn là tẩy một chút và chúng ta đừng chán, đừng nản, cứ kiên trì, bền chí, làm hoài từng chút một như vậy. Đừng nên nói: “Một giọt thì biết chừng nào đầy, đống vô minh của con lớn quá, ái dục, bản ngã cũng quá lớn, con tu không được đâu”, nói như vậy là mình không có Chánh kiến, vì tất cả là vô thường. Mỗi ngày cứ cố gắng quán chiếu một chút, chiêm nghiệm một chút, tẩy rửa một chút, mỗi buồi ngồi thiền cứ khỉa một chút, cứ quán bất tịnh, quán khổ, quán vô thường hoài, đến một lúc nào đó cái khổ hiện ra là mình chứng khổ, khi đó là vào Thánh quả!

./.