Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thứ Lớp Tu Hành

2026-03-03 00:53:41
Tinh Hoa Nikāya

THỨ LỚP TU HÀNH

Thích Minh Thành

Sư Thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thượng tọa giáo thọ sư, kính thưa toàn thể đại chúng, con có một số thắc mắc về các bài học mà chúng con đã được nghe, đã được học, đã được tìm hiểu qua các bài giảng của thầy. Khi chúng ta học nhận diện năm uẩn của giáo thọ sư, trong cuộc sống hằng ngày chúng ta là những vị Tăng Ni từ khắp mọi miền đất nước đã vào đây cùng học tập dưới mái trường Hòa Khánh này. Khi nghe thượng tọa giảng về sự nhàm chán năm uẩn, nhàm chán thân này, sắc; thọ; tưởng; hành; thức hiện hữu trong mỗi con người chúng ta. Chúng ta nhận diện nó và nhàm chán để ly tham, đoạn diệt để vào con đường Chánh đạo. Thế nhưng từ bấy lâu nay do hoàn cảnh mỗi người một hướng, có nghe thượng tọa giảng nhưng làm thế nào để chúng con trong thời gian đang tu học và đang theo học tại mái trường có thể cảm nhận được năm uẩn rõ ràng và thực hành pháp về năm uẩn để chúng ta một mực hướng đến con đường đoạn diệt để tiến lên trên bước đường tu nhân học Phật. Con kính xin trên thượng tọa chỉ đường cho chúng con.

Sư Thầy 2: Mô Phật. Kính bạch trên thầy cùng toàn thể đại chúng. Khi nãy con có nghe thầy giảng về ý hành, con rất hoan hỉ khi nghe nhưng xin thầy chỉ thêm ý hành là suy nghĩ bên trong tâm mình, mình tưởng lại hình bóng ví dụ như khi đi dạo quanh hồ Xuân Hương hay là mình thấy hồ Xuân Hương thì theo con nghĩ nó chưa tạo nên tam nghiệp. Theo con nghĩ tam nghiệp là nó thúc đẩy ví dụ như khi mình đi Đà Lạt thêm lần nữa thì mới thuộc về sắc, còn cái này vẫn còn là suy nghĩ nên con nghĩ nó còn là tưởng.

Sư Phụ: Chúng ta có sáu tưởng: Sắc tưởng; thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng; xúc tưởng; pháp tưởng, nghĩa là tất cả hình bóng trong tâm được Đức Phật phân ra thành sáu loại. Hình bóng về sắc gọi là sắc tưởng, có lúc Minh Thành nói đơn giản cho nên chỉ nói chung chung, còn học kĩ sắc sẽ khác với sắc tưởng. Khi thầy vừa rồi đứng lên phát biểu thì Minh Thành thấy sắc thân của thầy, khi trở về không còn gặp nữa nhưng nhớ lại thầy đã đứng lên hỏi câu hỏi đó thì đó là sắc tưởng.

"Này các Tỳ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn". (Tương Ưng Bộ, tập III - Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Tự Mình Làm Hòn Đảo, VI. Các Uẩn)

Chữ Uẩn là tổ hợp của sắc, tổ hợp của sắc là một sự tích tụ, tập hợp chứ không phải chỉ có một cái sắc, có rất nhiều tứ đại tập hợp trong đó cho nên gọi là sắc uẩn. Tất cả các "sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần" đều gọi là sắc uẩn. Trong chữ sắc uẩn này cũng bao hàm cả sắc tưởng, tức là sắc của quá khứ giống như mình nhớ lại thời còn trẻ của mình. Mình nghĩ rằng sau này mình sẽ trở thành Ni trưởng, sư bà, Hòa Thượng… thì đó là sắc vị lai và sắc tưởng này cũng nằm trong sắc uẩn. Sắc và sắc tưởng khác nhau nhưng sắc và sắc tưởng đều nằm trong sắc uẩn và sắc uẩn là sắc do tứ đại tạo thành.

Thầy lớp trưởng hỏi đạo lộ tu học, xin thưa đại chúng nếu không chịu khó thì lời Minh Thành chia sẻ sẽ trở thành kỉ niệm, Minh Thành không muốn chúng ta có nhân duyên gặp nhau dài lâu như vậy nhưng chỉ là những kỉ niệm. Minh Thành muốn trao gửi cho đại chúng một pháp hành, chính vì vậy những bước quan trọng là thứ nhất chúng ta phải nhận diện được năm uẩn, muốn nhận diện năm uẩn thì phải biết năm uẩn là gì, muốn biết năm uẩn là gì thì chúng ta phải học thuộc bốn định nghĩa về năm uẩn, những định nghĩa này bắt buộc học thuộc chứ không thể nói là nhớ sao nói vậy, như vậy là sai hoàn toàn. Khi biết được ngũ uẩn là gì thì mới tập nhận diện năm uẩn, nhưng tập nhận diện năm uẩn không phải chỉ lúc ngồi thiền hoặc lên lớp làm bài tập mà là phải nhận diện thường xuyên và liên tục, ví dụ còn vài phút là đến giờ ra về, lúc đó mình phải nhìn lại cảm thọ và có cái tưởng gì, nó sẽ có một cảm thọ thúc giục mau ra về, trong tâm có hình bóng mình dắt xe chạy đi… Đó là các pháp vận hành và tâm mình rõ biết điều đó, mình nhận diện trong một tiếng chuông reng để kết thúc ngày học, mình thấy trong đó năm uẩn vận hành như thế nào, khi đứng lên có đứng một cách an tịnh, lắng dịu, khoan thai hay là đứng một cách thúc giục, hối hả. Nếu đứng lên một cách hối hả thì năm triền cái hoạt động, có dục tham trong đó, có chướng ngại như bị kẹt xe hoặc ra về trễ giờ thì sân sanh khởi lên, trong lúc chạy xe không bình tĩnh mà chạy nhanh để về thì lúc đó là trạo cử, lăng xăng, đang chạy lại không chú ý mà lờ đờ thì có nguy cơ gây tai nạn giao thông, hoài nghi có mặt. Cho nên cần kiểm tra năm triền cái thường xuyên, nếu tu mà không thấy, không biết năm triền cái, không nhiếp phục, không đánh đuổi, đoạn tận năm triền cái thì sự tu mãi mãi không thành tựu, không phá được năm triền cái thì không bao giờ vào được sơ thiền, sơ thiền không phải chỉ có lúc ngồi thiền mà bất cứ lúc nào không có năm triền cái, tâm hỷ lạc, hoan hỉ, phấn khởi, thanh tịnh thì lúc đó đang trú trong sơ thiền. Cho nên trong tinh thần học kinh Nikāya này không thuộc lòng thì không thể tu vì những điều học thuộc đó là những định lý được Đức Phật chứng ngộ nên phải y cứ vào đó. Nếu không biết tên của năm triền cái thì làm sao biết được mặt mũi nó trong tâm mình, không biết mặt mũi thì làm sao biết tánh tình, nó sanh khởi, an trú, vận hành và chi phối, áp đảo ra sao? Như vậy thì làm sao nhiếp phục và đoạn tận được nó? Nói đến năm triền cái mà lẫn lộn thì bước đầu tiên văn đã không thành tựu thì làm sao đến tư thành tựu, mà tư không thành tựu thì làm sao đến tu?

Nhận diện ngũ uẩn khi ăn phải xem trong lúc ăn có cảm giác, hình bóng, suy nghĩ như thế nào. Khi được người ta khen, đảnh lễ, cúng dường thì năm uẩn lúc đó ra sao. Khi bị mất mát một cái gì phải xem năm uẩn ra sao. Phải thường xuyên nội quán, gọi là chiếu kiến ngũ uẩn, chiếu kiến là soi thấu, soi rọi, đừng quan trọng bên ngoài mà hãy nhìn vào nội tâm, khi bị chửi đừng quan trọng người chửi là ai, không quan tâm họ nói cái gì mà hãy nhìn vào cảm thọ lúc đó, nó đang ra sao, có bị động không, bị động ở mức độ nào và hãy nhiếp phục được như thế nào. Cảm thọ sân đó sanh khởi ra sao, an trú như thế nào, nó áp đảo, hành hạ mình ra sao đều phải được nhìn thấy, Đức Phật và các bậc Thánh Tăng ngày xưa tu như thế đó.

Khi nhận diện năm uẩn thường xuyên như vậy sẽ qua bước thứ hai là bắt đầu phát hiện ra tham sân si, một khi nhìn thấy năm uẩn thì pháp nhãn, đạo nhãn, tuệ nhãn bắt đầu xuất hiện. Lúc này mình sẽ bất ngờ, tức là thấy được cái tâm cấu nhiễm đầy rác bẩn, trước nay mình cứ nghĩ mình tu giỏi nhưng nay sẽ thấy được sự sanh khởi, an trú, vận hành và hoạt động của kẻ thù giấu mặt đang trú ngụ trong tâm là: Dục ái, tham sân si, vô minh và bản ngã, đây là những rác bẩn chính trong nội tâm. Suốt một ngày từ khi thức giấc cho đến khi đi ngủ chỉ có những thứ này vận hành, thậm chí những thứ này hoạt động trong cả giấc chiêm bao. Nhưng khi đã nhìn ra được những thứ này thì người này sẽ vượt qua địa vị của vô văn phàm phu, không còn là kẻ phàm phu bình thường nữa, dù chưa nhập Thánh nhưng cái thấy biết của người này không còn là cái thấy biết của một chúng sanh tầm thường vô văn nữa, người này sẽ nhìn thấy được một nội tâm đầy cấu nhiễm rác bẩn và người này luôn trú trong trạng thái vô cùng tàm quý, khi đó tàm quý sẽ xuất hiện.

Tàm là hổ thẹn, quý là sợ hãi. Tàm quý nghĩa là xấu hổ, hổ thẹn và sợ hãi. Tại sao người này xấu hổ và sợ hãi? Vì người này nhìn thấy quá nhiều rác bẩn trong tâm, đừng lấy lý do tiếp duyên xúc cảnh mới sanh ra ác bất thiện pháp mà thậm chí ngồi một mình trong phòng là bao nhiêu hình ảnh của dục, sân, si, bản ngã sanh khởi trong tâm, ý xúc, ý thức làm việc liên tục sanh ra thọ do ý xúc sanh. Ngồi một mình là những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm hiện ra và mình bị khổ đau vì những hình bóng đó, nó trói buộc, ràng buộc, hệ lụy, làm cho chúng ta sầu bi khổ ưu não, trong tâm là một cảm giác thúc giục, đòi hỏi, khao khát, tưởng mơ, ảo tưởng về một hạnh phúc, ảo tưởng về một tương lai, ảo tưởng về một ngày mai tươi sáng mà không biết ngày mai có thể là huyệt mộ, là hủ tro cốt sau khi lò thiêu làm xong nhiệm vụ, đó là kết cuộc của đời người. Nếu người tu không nhìn nhận lại ngũ uẩn, không học nhận diện ngũ uẩn thì khi ngồi lại là trong tâm rối bời, không biết cái nào là thọ thì làm sao biết đó là thọ gì, dẫn đến việc không biết trong thọ có tham sân si, kể cả tưởng cũng vậy, chỉ biết là "tôi nghĩ", "tôi tưởng", "tôi khổ", "tôi thấy thường thường"… đều là vô minh. Như vậy nếu không học Thánh pháp, không nghe Thánh pháp, không thực hành Thánh pháp thì suốt một ngày hai mươi bốn tiếng đều trú trong vô minh và tham ái, nếu biết tu thì chỉ làm được một chút ít thiện pháp nhưng vô minh và tham ái vẫn y nguyên, trừ bậc Đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy được năm uẩn, phát giác ra dục tham ái, sân si, vô minh, bản ngã, một nội tâm đầy cấu nhiễm và họ sanh khởi lên nội tâm đầy xấu hổ và sợ hãi đối với ác bất thiện pháp.

Tiếp theo Như lý tác ý là chổi thần quét rác nội tâm. Thiếu Lâm Tự có một ông già giữ Tàng Kinh Các, buổi sáng thì ông cầm chổi quét lá đa, có nhiều người thấy vị này già cả nên vào chọc ghẹo, ăn hiếp thì bất ngờ bị vị này cầm chổi quét làm những người đó văng xa. Cũng vậy, người nào có được Như lý tác ý như cầm được thanh kiếm Thánh trí huệ để trảm tà ma trong nội tâm của mình. Những ma quỷ, yêu tinh trong phim Tây Du Kí thật ra đều xuất phát từ nội tâm chúng ta, đi thỉnh kinh là đi đến Thánh quả, còn trải qua chặng đường dài chính là ác ma, yêu tinh trong tâm mình, dục tham ái là ác ma. Ngày nào mình còn dục tham ái thì ngày đó mình còn ở chung với ác ma, khi nào sạch hết dục tham ái thì khi đó mình thể nhập thế giới bất tử không còn ở dưới quyền thống trị của ác ma nữa, còn tất cả chúng ta hiện giờ đều ở dưới quyền thống trị của ma vương, tức là người nào còn dục tham ái là người đó còn bị chà đạp, chinh phục của ác ma, người nào diệt tận tham ái thì người đó ra khỏi tam giới không còn ở trong phạm vi cai quản, thống trị của ác ma, cho nên dục ái trong tâm chính là ác ma, ngày nào mình còn nghe lời ác ma thì ngày đó mình còn sầu bi ưu não. Những lời Đức Phật dạy trong tạng kinh Nikāya đều là Như lý tác ý, mình đọc kinh để biết tác ý, trong Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh Xuất gia, tập IV, Đức Phật đã dạy người xuất gia:

"Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia;

Các pháp bất thiện được sanh không có chinh phục tâm và không tồn tại;

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường;

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô ngã;

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng bất tịnh;

Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại"; (Tăng Chi Bộ, chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (IX). Xuất Gia)

Mình cần so lại bây giờ với khi mình mới xuất gia thì tâm cung kính, sự trang nghiêm, nết hạnh của mình như thế nào, lòng nhiệt thành tha thiết so có bị giảm đi không, tham sân si, bản ngã sanh khởi lên có chinh phục tâm mình không, còn ở trong tâm mình không, khi ngồi yên lại thì những hình bóng của dục tham ái có xuất hiện không, những suy nghĩ, cảm giác về sân có xuất hiện không, những hình bóng về ngã kiến, tự thân, sự ảo tưởng về một cái tôi có xuất hiện không, nếu có thì cần nỗ lực tác động tâm ý đánh đuổi nó ra, làm cho những hình bóng, cảm giác đó tan ra, không cho nó lưu trú trong tâm mình. Không những phải thực hành mà còn phải chất chứa thật nhiều những tư tưởng nguy hiểm và tác hại của đời sống này, điều này quyết định sự tu học của mình vì nó rất quan trọng, chúng ta phải phá nát cảm giác an toàn trong người của mình, chúng ta tu không tiến vì trong người chúng ta có suy nghĩ, cảm giác cho rằng mình được bình an, an ổn, ngày mai cũng sẽ giống hôm nay, nếu chúng ta không phá vỡ được suy nghĩ, cảm giác đó thì chúng ta tu không tiến bộ được, bắt buộc chúng ta phải quán tưởng sự nguy hiểm và tác hại của đời sống này. Vừa mới đây ngoài Hà Nội có vụ cháy làm chết bốn người, vậy trước đó một tiếng hay ba mươi phút những người đó có biết rằng đêm nay là đêm cuối cùng của họ không? Những người chết vì tai nạn giao thông trong dịp lễ tết có biết rằng mình sẽ chết đi không? Những người bị nhiễm và chết vì dịch bệnh có nghĩ được rằng mình sẽ bị như vậy không? Đó chính là vô thường nhưng chúng ta lại không nghĩ đến là do vô minh, ngu si, tham ái đối với đời sống này, chúng ta cứ nghĩ rằng người ta chết, người ta bị tai nạn chứ không phải mình, đó là suy nghĩ vô minh, ngu si, chỉ khi nào phá được suy nghĩ này thì tu mới tiến. Có một bài kinh Đức Phật nói rằng lúc đó ngài tu tập rất nỗ lực tinh cần, tinh tấn nhưng vẫn không chứng được Chánh Đẳng Giác, sau khi xem lại thì ngài thấy rằng do ngài chưa quán sự nguy hại cho sung mãn cho nên sau đó ngài quán chiếu sự nguy hại này đầy đủ, viên mãn, tăng trưởng quảng đại thì ngài chứng Chánh Đẳng Chánh Giác.

"Này Ananda, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng được Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: 'Lành thay, sự xuất ly! Lành thay, sống viễn ly'. Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy 'Đây là an tịnh'. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: 'Vì Ta không thấy nguy hiểm trong các dục, vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, lợi ích của xuất ly chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi trong xuất ly ấy, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát'. Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: 'Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy', thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta có thấy: 'Đây là an tịnh'". (Tăng Chi Bộ, chương IX – Chín Pháp, IV. Đại Phẩm, (X) Tapussa)

Tại sao chúng ta không nỗ lực tu? Vì chúng ta nghĩ chiều nay cũng giống như sáng nay, ngày mai cũng giống như hôm nay, chừng nào chết thì hay, đó là suy nghĩ của vô minh, chấp thường chấp ngã. Người trí tuệ là người phải thấy hiểm họa tiềm ẩn mọi lúc mọi nơi, Minh Thành thường hay nói hôm nay gặp nhau chia sẻ nhưng không biết lần sau còn gặp lại nhau được không, mọi người đều cười lên nhưng đúng kì sau gặp nhau thì bùng dịch lên phải nghỉ học, Minh Thành cũng nói rất nhiều lần đây là thời kì dịch bệnh, chúng ta ngồi đây học nhưng chưa chắc lần sau mình sẽ trở lại học giống vầy nữa, có thể vô thường xảy ra, có thể do thiên tai, bão lũ, dịch bệnh ngăn cản việc học thì mọi người đều cười do không ai tin nhưng tuần sau dịch bệnh trở lại phải nghỉ học. Những người cười chứng tỏ họ chưa an trú vào vô thường tưởng, vô ngã tưởng, nguy hiểm tưởng, tác hại tưởng, hãy luôn luôn an trú trong một sự suy tưởng, quán tưởng sự đột ngột, đột biến, có thể bất thình lình trong một giây phút tiếp theo chúng ta sẽ chết ngay tại chỗ này, chúng ta phải có được sự suy nghĩ, quán tưởng đó thì người đó mới có thể tăng thượng giới – định – tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Còn một người tu mà cứ trơ trơ, một cái tâm cứng cỏi thì không thể tiến tu, dưới sự hướng dẫn của Đức Phật các vị Tỳ-kheo tu hành trong thời gian ngắn là chứng ngộ, đắc pháp nhãn tịnh từ sơ, nhị cho đến tam, tứ Thánh quả, hiện tại bây giờ cứ nói Phật Giáo phát triển nhưng chỉ trên hình thức, số lượng, không dễ tìm ra người thực sự cầu giải thoát. Chúng ta đang rất an ổn, khỏe mạnh trong một sinh hoạt đều đều mà không thấy rằng Trái Đất này có thể xảy ra núi lửa, sóng thần, đột quỵ, dịch bệnh, sạt lở, bệnh ung thư… chúng ta không quán chiếu thì khi nó đến bất ngờ sẽ hoảng loạn, lo lắng, sợ hãi, khổ đau và chúng ta chết trong sự bất tường vì trong tâm còn đầy rẫy dục tham ái, sân si, vô minh và bản ngã. Những lời này chắc đại chúng không thích nghe vì nó ngược lại với dục ái tham nhưng "thuốc đắng dã tật", chỉ có như vậy mới phá được vô minh, tham ái, chấp thủ của chúng ta, mới phá được thường tưởng, thân kiến, mới phá được suy nghĩ cho rằng hạnh phúc, vui sướng, cho rằng có một cái tôi, cái ta thật sự. Mình thường tác động tâm ý như vậy là mình đang quét rác căn nhà nội tâm chính mình, từ đó mới từ từ phát giác ra lậu hoặc: Dục lậu; hữu lậu và vô minh lậu. Phải là những bậc có thiền định mới có thể nhìn thấy được lậu hoặc, phải là những vị an trú từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền mới thấy được vì đây là những thứ nhỏ nhiệm, vi tế dưới đáy hồ tâm chúng ta. Lậu là rỉ chảy, hoặc là mê lầm nhưng nói cho dễ hiểu thì lậu là đi hàng lậu, qua mặt chúng ta để buôn hàng lậu, vì lậu hoặc này là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động trong thân tâm mà chúng sanh vô văn phàm phu hoàn toàn không thấy không biết, chỉ có các bậc đạo nhãn, pháp nhãn, tuệ nhãn sanh khởi mới bắt đầu nhìn thấy được. Dục lậu là trạng thái dục ngấm ngầm, hoạt động thầm kín vi tế, nhỏ nhiệm xuyên suốt trong thân tâm chúng ta trong cả cuộc đời, chính vì cái này nên mình mới sanh ra trong dục giới cho nên mới có câu: "y báo chánh báo", "nồi nào úp vung nấy", "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu", chính vì bên trong là dục nên mới tương ứng sanh ra dục giới là thế giới của dục và chúng ta được sanh ra từ dục. Đức Phật nói chúng ta ái con mắt, lỗ tai, mũi, đó là sắc thân ái, sắc khả ái, ai đụng vào là xảy ra chuyện, trong từng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân này đều có tham ái trong đó, chấp thủ trong đó. Trạng thái dục này ngấm trong năm uẩn của mình, toàn thể sắc uẩn này đều do dục hình thành, gốc rễ của nó là dục, hình bóng trong tâm mình đa số là dục, khi đói bụng sẽ hiện ra hình bóng món ăn mình ưa thích, đó là sự thúc giục trong đó, những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác, nhận thức đều xoay quanh dục.

Hữu lậu là yêu thích sự hiện hữu trong năm uẩn, hay còn gọi là hữu ái. Chúng ta rất yêu thích sự hiện hữu này cho nên những chúng sanh ly dục và tu bốn tâm vô lượng từ; bi; hỷ; xả thì các vị này sẽ lên các tầng trời sắc giới, vẫn còn hiện hữu nhưng không có dục. Thân tướng của chư Thiên bằng ánh sáng, khi chúng ta nằm chiêm bao thấy bóng dáng mình thì thân chư Thiên, ngạ quỷ cũng giống như vậy, họ không có hình sắc mà chỉ có bóng, không có da thịt, gân xương mà chỉ có sắc vi tế vì thế địa ngục tuyệt đối có thật, ngạ quỷ có thật, ở trong thế giới đó giống như giấc chiêm bao của mình, nếu mình nằm mơ thấy bị xe đụng thì hoảng hốt, còn thấy trúng số thì vui vẻ, trong thế giới của địa ngục, ngạ quỷ cũng có thọ; tưởng; hành; thức nhưng không có sắc. Cho nên người ly dục sẽ lên sắc giới còn mình không giải thoát được vì còn yêu thích sự hiện hữu trong năm uẩn, mình nhận sắc là tôi, là của tôi, suy nghĩ nào mình cũng nói tôi suy nghĩ, cảm giác nào mình cũng thích thú, khoan khoái, hình bóng nào cũng có tôi. Cái dục, tham, ái này gọi là ngũ thủ uẩn, gắn chặt vào thân thể mình cho nên Đức Phật nói "Sinh là khổ; già là khổ; bệnh là khổ; chết là khổ; yêu thương mà phải xa lìa là khổ, oán ghét mà phải gặp gỡ là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ", câu này là trái tim của tạng kinh Nikāya, con mắt của mười hai phần giáo, là sự chứng ngộ tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tóm lại năm thủ uẩn là khổ, do không thấy được năm thủ uẩn cho nên vô minh.

./.