Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 6
Tinh Hoa Nikāya
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 6
Thích Minh Thành
Ngày 24 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận rõ ngũ uẩn PAGEREF _Toc121061963 \h 1
II. Huấn luyện tâm mê PAGEREF _Toc121061964 \h 8
I. Nhận rõ ngũ uẩn
Khi chúng ta học về Thánh trí ngũ uẩn, thì chúng ta sẽ giải mã được các bí mật của thân tâm và thế giới. Khi chúng ta chưa biết về ngũ uẩn thì thế giới này là một cái gì nó to lớn, vĩ đại, bí mật lắm. Nhưng khi chúng ta học qua được trí tuệ về ngũ uẩn mà Đức Phật chứng ngộ, mà nói lại là phải học đúng Chánh pháp, học không có đúng thì mình không có giải mã được đâu. Bằng chứng là chúng ta đọc “Tâm Kinh Bát Nhã” mấy chục năm phải không? Chúng ta có biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức đâu. Biết là biết trên chữ nghĩa thôi, chúng ta đâu có nhìn được một cách chính xác. Cho nên cái quan trọng ở đây là phải thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng, đó là 8 cái đúng của bậc Thánh. Mà đầu tiên là phải thấy đúng, tức là thấy ngũ uẩn, không thấy ngũ uẩn là không thấy đúng.
Tám cái đúng đó thì nói tiếng Việt mình dễ nhớ hơn phải không? Làm đúng, tức là Chánh nghiệp đó. Sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng và thấy đúng, đó là chính là thấy về ngũ uẩn. Thành ra cả thế giới này, chỉ là ngũ uẩn thôi không có gì hết. Cả từ vô lượng, vô biên kiếp vừa qua và ngay hiện tại cũng là ngũ uẩn, cũng là sắc, thọ, tưởng, hành, thức hết. Là một cái đống vật chất với những đống cảm giác, những đống hình bóng (tưởng), những đống suy nghĩ và những đống nhận thức, ngoài ra không có gì khác nữa hết. Quá khứ nó cũng là 5 uẩn, hiện tại nó cũng là 5 uẩn và sau này vô lượng vô biên kiếp cũng là 5 uẩn. Nếu không có ly tham, không có phá vỡ vô minh, chấp thủ ở trong 5 uẩn, thì vô lượng, vô biên kiếp cũng ở trong ngũ uẩn.
Cho đến khi nào mà nó nhìn thấy được ngũ uẩn, là nó phá vỡ được vô minh, đoạn trừ khát ái, diệt tận chấp thủ, thì lúc đó tâm thức này nó mới giải thoát ra khỏi ngũ uẩn, lúc đó gọi là tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Khi mình phá vỡ vô minh thì gọi là tuệ giải thoát, cái trí tuệ của mình được bung ra, được mở ra. Khi mình diệt tận khát ái là tâm giải thoát, thì lúc đó tâm được mở ra, trở về trạng thái vô biên vô lượng. Còn cái tâm mình bây giờ là nó bị niêm phong, phong tỏa, phong ấn, bị đóng, bị gói. Cái tâm mình nó làm hang, làm ổ ở trong cái thân này. Cái thọ, tưởng, hành, thức của mình nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt ở trong cái sắc uẩn, sắp pháp, sắc tướng, sắc thân này. Nó cho “là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi”.
Vì không thấy, không biết về ngũ uẩn, cho nên nó tham đắm, nó nắm giữ, nó điên đảo, nó tham, sân, si, hơn thua, giành giật ở trong ngũ uẩn. Mà nó không biết đó là bọt nước, là bong bóng, là những thứ vô thường, những thứ biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Nó tưởng đâu là bền chắc, tưởng đâu là hằng hữu, kiên cố, trường viễn, bất diệt. Nhưng mà nó không biết rằng cái pháp này là pháp sanh diệt. Pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là pháp sanh diệt, tan hoại, hủy hoại, biến diệt, diệt tận. Không biết cho nên nó mới say đắm, mới nắm giữ, rồi nó mới sầu, bi, khổ, ưu, não, bất an, lo lắng, sợ hãi, khổ sầu, giành giật, tranh đấu, đấu đá, hơn thua, mưu mô, xảo quyệt, thủ đoạn, gian trá, mánh khoé. Ghê gớm là cái ngũ uẩn này, cái thọ, tưởng, hành, thức này là khủng khiếp.
Khi mình nhìn ra được rồi, mình mới thấy mình sợ chính mình luôn. Mình nhìn ra được cái tâm thức của mình rồi, mình thấy mình ê chề lắm. Thì lúc đó mình mới có sự nhàm chán, muốn thoát ra, thì lúc đó bắt đầu mới là vào các thứ bậc của hướng dự lưu và nhập lưu Thánh quả. Mình không còn yêu thích sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa. Như vậy thì cái gọi là thích hay là ghét, ưa hay là ghét ở trong cuộc sống này. Trong mỗi chúng ta, mỗi chúng sanh là hai chiều hướng vận hành khác nhau của thọ, tưởng, hành, thức. Một chiều là nó thích, nó khoái, nó ham, nó ái, nó dục. Một chiều thì nó ghét, nó không ưa, nó bực bội, tức giận, sân hận. Đó là hai chiều đó thôi, mình nói tiếng Việt mình dễ hiểu là những cảm giác, nghĩ tưởng là thọ, tưởng, hành đó.
Cho nên từ chuyện thương ghét của thọ, tưởng, hành này nó đưa đến những thứ gọi là tham, sân, si. Nếu mình ưa mến thì mình sanh ra tham ái, tham muốn, muốn nắm giữ, muốn cất giữ. Nếu ghét bỏ thì mình sanh ra sự xa lánh, chán ghét, muốn đẩy đi, muốn đuổi đi, muốn đập phá, muốn tàn phá, muốn hủy hoại, muốn phá hoại, muốn hủy diệt. Chúng ta thấy rõ không? “Rõ”. Phải thấy rõ, thấy cho thật rõ để nhàm chán, để mình không tham muốn nữa, để mình từ bỏ, thoát ra, mình mới giải thoát được chứ, thoát ra những cái cảm giác này. Mà nếu không thấy ưa hay là ghét gì, mà mình không có nhìn rõ được nội tâm, không thấy rõ trạng thái ngũ uẩn lúc đó. Mà mình lầm lũi, mình sống ở trong sự không thấy, không biết, như vậy gọi là vô minh, là tâm si mê.
Tại vì khi mình không thấy ngũ uẩn là lúc đó mình thấy có mình, hễ khi nào mình thấy ngũ uẩn là lúc đó mình không thấy có mình. Chúng ta rõ không? Khi mình thấy có mình, là lúc đó không thấy nhận diện ngũ uẩn. Khi nhận diện ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thì lúc đó không thấy có một cái mình. Cho nên không thấy ngũ uẩn là chúng sanh, phàm phu, vô minh, si mê, mà thấy được ngũ uẩn là giác ngộ, là hướng đến các bậc Thánh. Chẳng hạn như mình ngồi đây nè, mình suy nghĩ: “Tôi đang ngồi học ở đây tôi mệt quá à”, cái suy nghĩ đó là suy nghĩ của vô minh, của tà kiến, của sự chấp ngã. Mà chúng ta nghĩ cái này nhiều không ạ? Hoài hoài luôn, thường trú luôn. Thì chúng ta địa chỉ thường trú là trong vô minh, trong chấp ngã, trong si mê, mà chúng ta lại tưởng đâu mình thông minh mới chết đó chứ.
“Người ngu tưởng mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí,
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi trí ngu.”
Cho nên khi nào mình ngồi đây mà mình nói: “Ờ sắc uẩn này giờ nó có cảm thọ hơi mệt”, thì cái đó mới là Đa văn Thánh đệ tử. Phải loại bỏ cái suy nghĩ tôi ta ra khỏi suy nghĩ của mình. Mà mình muốn như vậy thì là cả một công trình tu học, cả một công phu chứ không phải chuyện đơn giản. Chúng ta thấy không? Tuy là mình xuất gia, tuy mình ở chùa mấy chục năm, thậm chí tới chết luôn nhưng mà cái suy nghĩ về tôi, về ta, mình bứng ra được bao nhiêu? Đốn nó được bao nhiêu? Mình trị nó được bao nhiêu? Thì chúng ta biết rằng cái vô minh này khủng khiếp thế nào. Chính vì mình nghĩ rằng là tôi, cho nên ai nói lời gì mà tâng bốc lên là khoái liền. Chính vì mình nghĩ đây là tôi, nên ai mà chê, chỉ trích, chửi mình một cái là sân, bực bội lên liền, tại vì cái này có cái tôi thật mà.
Chính vì mình nghĩ đó là tôi, cho nên có một cái tự ngã chần dần, một đống, chình ình, chạm tới nó một cái là nó sừng sộ, phẫn nộ, nói tới một cái là nó khó chịu à. “Đừng có đụng tới tôi, tôi không có đụng tới ai hết nên đừng có ai mà đụng chạm, nói gì tới tôi hết. Tôi không nói ai, đừng có nói tôi à nha”. Đó thấy chưa? Là như vậy đó thì làm sao mà tu? Một khi mà đặt tâm sai hướng, mình tu suốt đời là tu trong vô minh, tu ở trong phát huy cái ảo tưởng về tự ngã. Mình muốn mình là càng ngày phải càng cao lên, càng bự lên, càng to lên, càng lớn lên, thì cái tu đó là trật lất hết, vì đâu có đúng Chánh pháp. Tu là để đập vỡ cái thân kiến, phá vỡ cái chắp ngã, diệt cái ngã hoàn toàn.
Còn bây giờ mình tu mà mình phát huy cái tôi lên, thành ra tu hết một đời, rồi tu thêm 10 kiếp, 100 kiếp, 1000 kiếp, rồi nhiều trăm, nhiều ngàn kiếp, thì tu ở trong luân hồi này. Cái này là một cái chỗ hết sức là thâm sâu, để chúng ta chiêm nghiệm. Từ cái bước đầu đã đi sai rồi, thì làm sao đến đích được. Cái xuất phát điểm của mình bây giờ mình vô, mình nghe là: “Con phải học cho giỏi, con phải có bằng cấp, con phải làm giảng sư, phải làm trụ trì”, phải làm cái gì đó. Mình học với một người như vậy, là mình đạt được tận cùng cũng như vậy thôi. Cho nên tại sao con mới nói cái pháp này là cái pháp hiếm có, hy hữu, khó gặp, khó được nghe, chứ không phải dễ được nghe.
Xuất phát điểm của mình đặt sai rồi, đặt tâm sai hướng rồi, thì làm sao đi tới được cái pháp ly tham đối với ngũ uẩn được. Làm sao mình có thể nhàm chán, thoát ra đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức này được. Chúng ta nhìn lại đi rồi chúng ta thấy, nhìn tự thân mình, nhìn những người xung quanh mình, rồi chúng ta thấy có xót xa hay là không? Có xót xa cho tự thân mình tu hành hay là không? Mình đã tu bao nhiêu năm, mình đã học bao nhiêu năm, mà cuối cùng nhìn lại thân tâm của mình nó như thế nào. Chúng ta phải tự kiểm điểm, kiểm tra, kiểm toán, kiểm kê, kiểm sát nội tâm của mình bằng cái thước đo. Đập vỡ cái bản ngã này, cái kiến chấp, cái thân kiến, cái vô minh, tham ái trong ngũ uẩn này, lấy cái đó làm thước đo của bậc Thánh.
Chúng ta không khéo là cả cuộc đời tu của chúng ta xót xa lắm. Con đã từng trải qua nên con mớivthấu hiểu, cảm thông và thương yêu chúng ta hết mức, bằng tất cả tấm lòng, bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng để chia sẻ với chúng ta. Thật sự là khó chứ không phải dễ, sự tu học ngày nay của chúng ta rất là xót xa, rất là cay đắng. Một khi chúng ta không nhìn thấy được ngũ uẩn, chúng ta nghĩ coi: “Có phải mình đang phát huy cái sắc uẩn không? Có phải mình lấy sự phát huy sắc uẩn làm thành tựu, thành công không? Có phải mình đi tìm cảm giác dễ chịu không?” Chúng ta nhìn lại đi, chiêm nghiệm cho thật là sâu sắc.
Cho nên: “Nếu mà không thấy ưa ghét gì và cũng không nhìn rõ được nội tâm, không thấy rõ được ngũ uẩn. Trong trạng thái không ưa ghét này rồi lầm lũi sống trong sự không thấy, không biết này, đây gọi là vô minh, là tâm si mê. Như vậy cuộc sống này gọi là cuộc sống của ngũ uẩn, cuộc sống của tâm si mê, vô minh đối với ngũ uẩn. Cái gọi là tham, sân, si, cũng chính là tham lam, sân hận và si mê đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp này. Tâm bị vô minh, tâm của thọ, tưởng, hành, thức hoạt động trong vô minh dẫn dắt và chi phối.”
Cái này nó thâm sâu lắm, vì chúng ta học buổi này nên chúng ta phải giải thích, chứ cái này đúng ra phải học lâu, rồi mới hiểu được cái này. Nhưng mà thôi cái duyên, lỡ ngày mai con chết rồi sao, thôi bữa nay nói. “Ủa sao trố mắt? Lạ lắm hả?” Có thể chút xíu bước ra chết liền bây giờ, chứ không đợi ngày mai nữa. Phải an trú vô thường trong tất cả thời, phải niệm tử thường xuyên, bất cứ mọi lúc mọi nơi, bất cứ lúc nào mình cũng có thể ngã ra mình chết hết, nói ngày mai là đã là chậm rồi đó chứ không phải nhanh đâu. Chúng ta thấy lạ phải không? Lạ không? Chúng ta chưa có quen Thánh trí huệ, chúng ta quen với cái suy nghĩ thường tình: “Mình còn ở đây, còn ngày mai, còn tuần sau, còn tháng sau, còn năm sau, rồi 5 năm sau, còn 10 năm sau, còn 30 năm sau. Còn thượng tọa, rồi xong tới Hòa thượng, rồi đại lão Hòa thượng”.
Hòa thượng còn chưa chịu nữa, “trưởng lão Hòa thượng nữa”, không có. Sự sống của chúng ta có chỉ ngay giây phút này thôi, một hồi bước ra không biết có chuyện gì. Chúng ta thấy máy bay nó rớt không? Chúng ta thấy tai nạn giao thông, xe nó đụng không? Chúng ta thấy bất thình lình là người đó nghe ung thư giai đoạn cuối không? Bất thình lình là lên tăng xông, đột quỵ không? Đó là chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc, đang phát biểu về trái sầu riêng, phát biểu rồi khiêng xuống chết queo. Mình phải thấm được cái vô thường, mình phải nhớ được cái vô thường. Mà cái vô thường nó đi vô trong da, vào trong thịt, rồi nó thấm vô xương, rồi đó ngấm vô tận tủy. Chứ không phải đợi đi đám ma thì lúc đó mới vô thường.
Mà đang ngồi đây, sắc, thọ, tưởng, hành, thức nó vô thường, nó biến chuyển, nó sanh diệt, nó là cái thứ vô thường, bại hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, tiêu ma. Đó là cái thứ tan vỡ bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, dù cho sắc ở quá khứ hiện tại, tương lai, thắng liệt, xa gần, thô tế, tất cả các sắc đều là vô thường, khổ, vô ngã. Phải nhìn thấy được trí huệ, mình phải nhìn thấy được như vậy. “Tất cả các sắc dù là quá khứ, sắc hiện tại, sắc tương lai, sắc thô, sắc tế, sắc thắng, sắc liệt, sắp xa, sắc gần, sắc trong, sắc ngoài, tất cả các sắc. Này các Tỳ-kheo phải như thật tuệ tri đó là vô thường, khổ đau, tiêu ma, hoại diệt, hủy hoại, tan nát, tan hoại, biến diệt”. Phải thâm nhập được các trí huệ đó, thì nếu mà thâm nhập vô rồi thì lỡ xe nó đụng mình thì cũng bình thường. “Nó là vậy, mà bản tánh nó là vậy, tính chất nó là vậy, không thể vượt khỏi tánh chất ấy”, đó là kinh Tứ Niệm Xứ đó.
Bình thường, không có gì bất ngờ hết, tâm mình vẫn an trú được trong pháp, dù cho mình chết. Cho nên khi Đức Phật còn tại thế, có một thầy Tỳ-kheo đó bị rắn độc cắn. Lúc đó Ngài Xá Lợi Phất và đệ tử đến thăm, Ngài hỏi: “Thật vi diệu thay, thật hi hữu, thật đặc biệt thay. Hiền giả Upasena gần viên tịch rồi mà sắc diện vẫn tươi sáng hồng hào không lo âu sợ hãi”. Ngài trả lời: “Thưa tôn giả, chính từ lâu tôi đã không coi cái thân này là của mình, nên hôm nay ở bối cảnh này tôi vẫn an lạc như vậy.” Ngài kêu các Ngài Tỳ-kheo khiêng mình ra ngoài trời, không có ở chết trong thất. Xong cái thân Ngài rã ra giống như nắm rơm, tức là cái nọc độc nó phát tác làm thân Ngài rã ra mà cái tâm của Ngài bất động. Chúng ta thấy dễ sợ không? Đó là bậc Thánh Tăng thời Đức Phật.
Mình bây giờ nghe tiếng động một chút thôi là động, nghe tiếng micro rú một chút thôi là lính quýnh hết, dao động. Nghe cái cửa đập cái rầm, là quay lại dòm coi là ai. Tâm mình rất là dễ vì ngoại cảnh tác động, không có an trú, không có định tĩnh, không có niệm, không có định, không có tuệ, không có được tu tập một cách sâu sắc. Cho nên có cái gì đó là mình dao động, lăn xăn, lo sợ. Như lúc nãy mình cầm cái micro đó nó hú là bắt đầu run sợ. Tại sao mình sợ? Tại vì mình sợ mình nói trật, mình sợ mình nói dở, mình sợ mình nói sai thì ta cười, đó là bản ngã đó. “Tôi phải hay, tôi phải giỏi, tôi phải như thế nào đó, chứ tôi thấp là không được” 26'54" sâu sắc lắm. Chúng ta học đi rồi chúng ta sẽ thấy hết tất cả, giải mã hết tất cả nhân sinh, vũ trụ, thế giới, hành tinh, Thánh trí ngũ uẩn. Ta có thấm được không ạ? Ngồi ngẩn ngơ vậy? Phải thấm, phải tập cho nó quen với vô thường tưởng.
Cho nên hàng ngày là chúng ta sống trong vô minh, trong tham ái và trong chắp ngã của thân kiến mà chúng ta không có biết. Mình cứ tưởng đâu cứ chuông gõ “boong boong” là tới giờ ăn cơm, cứ “boong boong” là tới giờ đi tụng kinh, cứ “boong boong” là tới giờ lao tác, rồi tới giờ đi học. Tưởng vậy là “mình tu ngon lành rồi, đâu có tham, sân, si gì đâu”. Mình tưởng đâu mình tu dữ lắm, nhưng ai ngờ đâu là chưa ngon, “đụng vô đi rồi biết mặt”. Nó ngủ ngầm ở trong đó, Đức Phật gọi là tham tùy miên, sân tùy miên, vô minh tùy miên. “Tùy miên” là đi theo mình miên man, nó ở trong con người mình. Nhiều khi mình thấy hai người đó ngồi im ru như vậy, thì mình nghĩ người đó: “Thanh tịnh quá ha”. Hoặc là mình nhiều khi mình cũng ngồi im ru trên bồ đoàn đó, nhưng mà trong này nghĩ: “Bực cái bà kia, bả ngồi đó”.
Ngồi nhắm mắt im re, nhìn thì thanh tịnh nhưng mà trong bụng đang bực. Cái hình ảnh đó ám ảnh: “Hồi sáng nay bả cự tôi, tôi có làm sai đâu mà cự tôi”. Mà ở trong này, cái cảm giác nó sân, cái hình ảnh nó ám ảnh, rồi cái suy nghĩ: “Ngày mai gặp bả, mình nói câu gì cho nó tám lạng nửa cân, nó bù lại chứ. Hồi nãy mình im re, mình không nói gì hết trơn vậy? Sao mình ngu vậy?” Đang ngồi đó, nhưng mà bên trong là ác và bất thiện pháp này sanh khởi. Và mình chấp nhận cái pháp đó, mình nuôi dưỡng các pháp đó, làm cho cái pháp đó nó tăng trưởng. Chúng ta thấy nó sâu sắc như vậy, chứ không phải căn cứ trên sắc uẩn là xác định được đâu. Phải nhìn ra được thọ, tưởng, hành, thức ở bên trong nữa. Thì chúng ta thấy đó là cái giáo pháp nguyên chất của Đức Phật, đó là Nikāya, đó là tinh túy, tinh hoa, trí huệ của Đức Phật truyền trao cho mình.
II. Huấn luyện tâm mê
Cho nên đời sống của chúng ta là sự vận hành của sự không thấy, không biết về ngũ uẩn. Sự ham thích, khoan khoái, say mê ở trong ngũ uẩn. Sự nắm giữ ở trong ngũ uẩn và sự lầm tưởng, ảo tưởng, cho rằng: “Một cái tôi, một cái của tôi, một cái tự ngã của tôi” ở trong ngũ uẩn. Chính vì vậy mà chúng ta bị suy suyễn, thay đổi. Bị nói một chút thôi, mà đừng có nói tới nói, chỉ có nhìn thôi à. Nhìn bằng ánh mắt là bực bội rồi à, liếc một cái thôi là “mệt rồi, tối ngủ không được rồi, ngồi thiền không được rồi”. Liếc con mắt, trợn một cái ánh mắt thôi, là cũng làm cho mình bất an nữa. Khổ chưa? Khổ không? Mà nói khổ là trả lời: “Tôi có khổ đâu ạ”. Một ánh mắt thôi đã làm cho mình nhức nhói, một lời nói thôi làm cho mình bất an, một hành động thôi làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu não.
Tu như vậy thì tới chừng nào mới đạt được tâm bất động giải thoát? Vì mình nhìn thấy mình thật, người kia cũng là người thật, ai cũng là tôi hết “Nguyễn Thị Sờ, Trần Văn ổi”. Chứ mình không biết ngũ uẩn với nhau, tham sân si với nhau không à. Toàn là vô minh, tham sân si không à, thì hơn thua với nhau làm cái gì. Đã khổ muốn chết rồi mới cạo đầu vô chùa, mà vô đây lại thành khổ với nhau nữa. Đã khổ muốn chết rồi mới đi vô chùa, mà vô chùa rồi hành tỏi, hành hạ, hành xác với nhau, “khôn quá ha!” Mình nói mình như vậy đó. Mỗi lần cái tâm hơn thua với huynh đệ, tỷ muội, sanh khởi lên mình nói: “Nhà ngươi khôn quá ha! Ngươi khổ đau, ngươi mới cạo đầu, bỏ cha, bỏ mẹ, ngươi đi vô chùa. Bây giờ ngươi đi vô đây ngươi kiếm chuyện phải không? Gây sự phải không? Hơn thua phải không? Tại sao mà ngươi cứ gây sự hoài vậy? Ngươi tan biến khỏi tâm ta một cách hoàn toàn đi. Cái cảm thọ này phải hiền thiện, phải an tịnh, lắng dịu, dễ chịu xuống coi. Ngươi sống cho khiêm cung, khiêm hạ, khiêm hòa, khiêm tốn coi. Hỡi này cái tâm mê, ngươi có nghe hay không?”
Mà mình quay trở lại mình dạy cái tâm của mình, mình kêu cái cảm thọ của mình: “Ngươi làm ơn làm phước, ta lạy ngươi, ngươi đừng có hất mặt vênh váo, ưỡn ngực. Ta lạy ngươi, ta nhục dữ lắm, ngươi làm ơn cúi đầu xuống giùm ta coi. Ngươi khiêm hạ xuống giùm ta coi, tại sao mi cứ hơn thua hoài vậy? Tại sao ngươi cứ đúng sai hoài vậy? Tại sao ngươi cứ sân si hoài như vậy? Ở ngoài sân si, sầu, bi, khổ não chưa đã hay sao, khổ như vậy chưa đủ hay sao, mà vô đây còn kiếm chuyện khổ nữa?” Mình dạy dỗ, giáo dục, huấn luyện, chỉnh sửa cái tâm của mình, như vậy gọi là tu tâm. Con thưa các bậc hiền trí, như vậy gọi là tu tâm sửa tánh. Mình thấy cái bất thiện pháp ở trong thọ, tưởng, hành, là mình phải dạy dỗ nó liền, mình phải như lý tác ý liền.
Mình đánh cho nó một trận nên thân luôn, mình đánh cho nó bầm dập hết, mình cho nó khóc giàn giụa nước mắt cũng được nữa. Mình đánh nó, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, hạ gục cái tâm của mình. Hạ gục cái bản ngã xuống, làm cho cái bản ngã này phải cúi đầu xuống, thấp cái đầu xuống, quỳ mợp xuống. Và bất cứ người nào nó cũng quỳ xuống lạy được hết trơn, giống như mình lạy Phật vậy. Lạy Phật chính là phương pháp diệt ngã đó, và tăng trưởng cái tâm cung kính. Không những mình học mình lạy Phật, mà bất cứ một người nào mình cũng có thể quỳ xuống mình lạy ngay tại chỗ. Con thưa các thầy, các cô, là trên Linh Quy Pháp Ấn của chúng con, con quỳ xuống, con lạy mấy thầy, mấy cô đệ tử hoài, lạy bình thường, lạy hoan hỉ, lạy ngọt ngào.
Lạy mà thích thú, hân hoan, lạy để diệt bản ngã của mình, hạ thấp cái tôi mình xuống. Mà người nào có lỗi là quỳ lạy với nhau nữa, hai người mà thấy khó chịu với nhau hay gì đó là quỳ xuống lạy với nhau, lạy xin lỗi, lạy xuống. Lạy thứ nhất: “Con nguyện con chôn vùi cái bản ngã này”, lạy thứ hai là: “Con nguyện tẩy sạch cái bản ngã này”, lạy thứ ba là: “Con nguyện con diệt tận cái bản ngã này, không cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai”. Mình lạy, mình tác ý, nếu mình không tác ý là pháp nó không có tăng. Mình cứ niệm hoài như vậy, ví dụ như mình sanh khởi bản ngã hơn thua lên, mình muốn hơn thua với người ta, bắt đầu mình quay vô cái tâm mình nói liền: “Nè cô ơi là cô, cô có thương cha mẹ cô không?” Mình kêu tên của mình đó.
Ví dụ mình tên là Diệu Hạnh, mình nói là: “Diệu Hạnh ơi Diệu Hạnh! Diệu Hạnh có thương ba mẹ của Diệu Hạnh không? Diệu Hạnh có thương Diệu Hạnh không? Tại sao mình tu rồi mà mình cứ hơn thua với nhau hoài vậy? Những chuyện nhỏ nhặt, nhỏ nhít, nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ bé như vậy rồi mình sanh ra thành kiến lửa nghe không? Cái tâm mình còn hơn thua như vậy, còn nhỏ nhặt, nhỏ nhít, nhỏ mọn, nhỏ nhoi như vầy là đời sau mình sanh ra làm con rệp, con vi trùng, vi khuẩn, virus covid 19 nghe không?” Mình nói với tâm mình như vậy đó. Thì chính những thứ đó cũng là ngũ uẩn đó, nó cũng có đời sống, cũng có sắc, thọ, tưởng, hành, thức đó. Nhưng vì cái tâm nó như vậy, cho nên mới sanh ra cái thân tương ưng với cái nghiệp ác của nó.
Mình huấn luyện, dạy dỗ cái tâm mình như vậy đó. Mình cứ dạy tâm hoài, thấy nó ác bất thiện pháp là mình dạy. Mình thấy nó tham dục, tham lam, tham muốn những cái thế gian là bắt đầu mình dạy nó nữa. Mình có nhớ rằng mình đã cạo mái tóc này không? “Vô đi, vô coi cái đầu trọc đi, vò cái đầu cho kỹ đi. Vô cái gương nhìn đi, mình đã là người xuất gia rồi, mình đã rồi mình có nhớ không? Tại sao mình lại còn đi tham đắm những cái thấp hèn, những cái hạ liệt, những cái phàm phu, những cái mà mình đã khạc nhổ. Mình hốt lại, mình liếm lại những cái đàm giãi, cứt mũi”, mình phải dạy cái tâm mình như vậy đó. Khi nó khởi lên những cái dục, tham ái của thế gian, thì mình phải huấn luyện cái tâm mình như vậy đó, mình phải tác ý như vậy đó.
Tác ý cho mạnh, càng mạnh chừng nào mà mình thấy trong người xấu hổ, nhục nhã. Là lúc trong đó nó có sự biến chuyển bên trong, “nhục nhã sanh Thánh quả”, là tàm quý đó. Là dòng dãi của tam quý, là đi đến Thánh quả, “nhục nhã sanh Thánh quả”, về nghe cái bài đó. Mình tu mà mình không có nhục là mình không có tu được, phải thấy mình nhục. Nhục khi mình tham, khi mình dục, mình ái, mình sân. Mình thấy mình nhục khi mà bản ngã lên với huynh đệ, với người chung quanh. Mình thấy mình nhục, mình về mình lạy sám hối, thậm chí là mình quỳ mình lại ngay người mà mình sanh bản ngã đó, bắt nó quỳ xuống lạy luôn: “Thưa sư tỉ, muội thấy muội xấu hổ quá. Muội tu 10 năm rồi mà cái bản ngã còn lớn, cái tâm sân còn mạnh mẽ như vậy. Muội thấy muội xấu hổ, muội xin sám hối, xin lỗi sư tỷ”, quỳ xuống lạy.
Đó là sự huấn luyện, giáo dục tâm của mình đó. Về nghe bài “Huấn Luyện Ngũ Uẩn”, nghe kỹ cái bài đó. Đó là tu tâm, đó là sửa tánh, trong Tăng Chi Bộ kinh Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, ta không thấy có một pháp nào đem đến lợi ích lớn lao, đem đến quả báo lớn, đem đến an lạc lớn giống như là tâm được tu tập. Tâm được tu tập, này các Tỳ-kheo, đem lại lợi ích lớn, quả báo lớn, an lạc lớn”. Tâm được tu tập chính là nãy giờ nói đó, là cách huấn luyện, điều chỉnh, sửa chỉnh, dạy dỗ, giáo dục những thọ, tưởng, hành, cảm giác của mình. Phải có tàm quý, tàm quý là một trong bảy tài sản của bậc Thánh. “Tính, Giới, Văn, Thí, Tàm, Quý và Tuệ”, là Thất Thánh Tài, là 7 tài sản của bậc Thánh.
Mỗi khi mình sanh khởi lên những cái dục ái, mình phải thấy xấu hổ, nhục nhã, thấy mình thật là thấp hèn, tồi bại, bẩn thỉu. Thí dụ mình thấy buổi chiều mình ăn rồi là mình đã không có giữ cái giới ăn chiều, mà tối mình còn muốn ăn nữa. Khi mình thấy nó như vậy, thúc giục những thọ, tưởng, hành về những món ăn đó, mình phải la rầy, quở trách tâm của mình, không phải nó muốn là mình cứ chiều theo nó. Muốn tức là cái thúc giục, mình phải quở trách tâm mình, nhiếp phục cái dục ăn đó, chứ không phải muốn ăn là mình cho nó ăn. Cứ đồ ăn sẵn đó, muốn là cứ việc xé ra, chế ra, “muốn thì cứ ăn thôi”. Thì như vậy là không có tu tập, không có nhiếp phục dục tham. Ăn vô rồi cái bụng chan bang, rồi đâu có ngồi thiền, đâu có tu được.
Ăn vô rồi nằm ra ngáy khò khò, tu như Trư Bát Giới vậy, tu riết rồi thành đệ tử của Trư Bát Giới. Phải nhìn thấy được cái dục nó thúc giục, cho nên mình nhìn lại thọ, tưởng, hành là nó hết trơn à. Thúc giục là mình biết liền, nếu mình để ý, mình nhìn lại, nhận diện ngũ uẩn, phải chưa? Bây giờ ví dụ tối mình muốn ăn mì, thì tự nhiên có cảm giác thúc giục, hình bóng gói mì, tô mì nó hiện ra nè. Suy nghĩ một hồi chế mỳ đi, mì cay Hàn Quốc, hay gì đó ví dụ như vậy. Nói là vận hành liền đó, thì mình thấy hết trơn à. Nhận diện ngũ uẩn nó làm mình thấy hết trơn, nó mới vừa nhóm lên, nhen nhóm, manh nha thôi là mình phải dập liền, quở trách liền: “Giờ này đâu phải giờ ăn, giờ này là giờ học kinh, giờ này là giờ ngồi thiền, là giờ đi kinh hành. Nhà ngươi ăn vô lượng, vô biên kiếp rồi còn thèm khát cái gì nữa? Thèm khát hoài vậy?”
Rầy tâm, quở tâm, trách tâm, Đức Phật gọi là: “Tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình”, ở trong kinh “Pháp Cú”, Trung Bộ kinh đó, là như lý tác ý đó. Tự mình dò xét mình tức là nhận diện ngũ uẩn đó, mình coi coi hiện tại bây giờ cảm giác làm sao? Trong tưởng nó có hình bóng gì? Nó đang suy nghĩ cái gì? Cho nên pháp nhận diện ngũ uẩn là bất cứ lúc nào mà con đi về đây, các thầy các cô con chỉ một người nào là phải nhận diện ngũ uẩn, không được nói: “Giờ này con chưa biết”, là không được. Mình phải tập cho nhuần nhuyễn, thuần thục, vì cái này là cái chìa khóa mở cánh cửa nội tâm. Mình mà không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao mà tu được, không có chìa khóa thì làm sao mình mở cửa vô nhà được?
Trong nhà nó dơ, toilet thì nó thối rình, mà bên đây là chuột chết, tắc kè chết, rồi ba con gián, rồi tùm lum rác bẩn hết, làm sao mà lau quét? Không có chìa khóa để mở cánh cửa, thì làm sao mà dọn cái nhà dơ vô lượng, vô biên kiếp. Cho nên nhận diện ngũ uẩn là chiếc chìa khóa mở cánh cửa nội tâm. Những lúc đánh chuông như vậy cho nó tỉnh đó, mà không biết tỉnh chưa? Không đánh chuông là một hồi mê luôn đó. Như lý tác ý tức là mình lấy chổi mình quét nó, nãy giờ là chỉ cho chúng ta cách như lý tác ý đó. Lấy chổi quét, lấy đồ hốt lại, rồi có khi có những cái rác mà nó cứng đầu, có những cái rác mà nó dính ở dưới lâu ngày rồi, mà không phải quét hay chùi nó ra đâu, mà phải dùng bàn chải sắt, phải dùng thuốc tẩy. Thì có những cái pháp mình phải sám hối, mình phải lạy sám hối hoài như vậy.
Có những tội lỗi mình phải lạy hoài như vậy, rồi khóc đầm đìa nước mắt ở trước mặt như vậy đó, mình thấy xấu hổ, mình thấy nhục nhã. Mình lạy như vậy đó tức là tự mình chà nó ra, thì nó mòn từ từ, nó bớt, rồi lạy riết, sám hối riết. Rồi mình kiếm các bậc tôn đức, giới đức, đạo hạnh để mình đến phát lồ sám hối, thì cái đó nó mới được phơi bày ra. Rồi cái cảm thọ của mình nó mới được nhẹ nhàng từ từ, mình lạy riết, mình tác ý riết rồi nó mòn từ từ, rồi cuối cùng cái tâm mình nó nhẹ nhõm, nó không còn hối hận nữa. Cái trạo hối nó hết thì mình mới đi vào các tầng thiền được, chứ còn trạo hối là không có đi vào sơ thiền được. Khi mình nghĩ về cái đó là tâm mình nó ray rứt, suy nghĩ về cái tội lỗi, là tâm mình nó bất an, mình nghĩ về cái tội lỗi là tâm mình nó hối hận. Thì làm sao cái tâm hối hận, bứt rứt, bất an như vậy đi vào trạng thái sơ thiền được.
Cho nên trạo hối là một trong năm triền cái, chướng ngại khi mà đi vào sơ thiền. Cái tâm nó hối hận, hối lỗi, ray rứt hoài thì làm sao nói yên tịnh để đi vào sơ thiền được. Và một cái tâm mà nó nhẹ nhàng, khinh an, an lạc, thanh tịnh, khi nhìn trở lại nó không thấy nó có lỗi lầm, không có sai quấy thì lúc đó cái tâm nó mới yên được. Thì cái tâm nó an, nó hỷ lạc do ly dục sanh, thì lúc đó nó mới vào được trạng thái sơ thiền “ly sanh hỷ lạc”. Ly dục là nó có được sự hỷ lạc, an lạc. Cho nên tâm do tâm vô minh, dính mắc với ngũ uẩn. “Cho nên tâm không được an tịnh, không được trong sạch, không được vắng lặng, không được tinh khiết. Và tâm này bị ám ảnh, bị dao động, bị thúc giục, bị đòi hỏi, bị ái luyến đối với ngũ uẩn. Do tâm bị ám ảnh, bị luyến ái đối với ngũ uẩn nên sanh mạng chung. Tâm này tiếp tục bị sự ám ảnh và ái luyến này đẩy đi hướng ngoại, tìm cầu các ngũ uẩn. Vì vậy mà ngũ uẩn mới do tâm si mê lại được hình thành, lại được tiếp tục, lại được tiếp diễn, đó gọi là sanh.”
Chúng ta đang nói đến cận tử nghiệp: “Vì cái tâm không thấy, không biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vì nó hôn mê nó dính mắc ở trong ngũ uẩn này, cho nên nó không được an tịnh, không được trong sạch, không được vắng lặng, không được tinh khiết bởi cái tâm này bị ám ảnh”. Chúng ta thấy không? Ví dụ một người nào đó, cái người nào làm cho mình nhớ nhất? Người nào làm cho mình nhớ không quên? Một là người mình rất thương, hai là người mình rất ghét. Yêu và hận, thì 2 người này ám ảnh trong tâm của mình. Tại vì sao mà 2 người này ám ảnh? Tại vì 2 người này làm cho cái thọ của mình nó huân tập, những cái cảm thọ, lạc thọ hoặc là khổ thọ. Cho nên những người này cái tâm thức bị ám ảnh, rồi cái cảnh cũng như vậy nữa.
Cái cảnh mà mình yêu thích quá, thì cái cảnh đó làm cho mình đi đâu cũng nhớ hết trơn, con người cũng vậy, rồi món đồ cũng vậy. Ví dụ như mấy ông mà thích xe, là nằm chiêm bao thấy xe không à. Thích chơi kiểng là cái suy nghĩ trong đầu, thọ tưởng, hành, thức cũng toàn là kiểng không à. Chúng ta thấy phải không? Người mà thích chơi xe, ngồi nói chuyện một hồi là nói tới xe, biết đủ hết các loại, mấy chục loại, bao nhiêu đời mới, chiếc gì biết hết trơn. Vì những hình bóng, những suy nghĩ, nhận thức, cảm giác đó nó ám ảnh. Mà bình thường nó đã huân tập, đã ám ảnh như vậy, thì khi chết đi nó theo những cái đó. Tùy theo những cái nghiệp, nếu cái nghiệp lành, thì đi theo những cái đó ở trong tương đối thì là đỡ khổ hơn. Nếu cái nghiệp dữ, thì đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
“Cho nên tâm bị ám ảnh, bị dao động, bị thúc giục, bị đòi hỏi, bị luyến ái đối với ngũ uẩn”, mấy cái chữ này dữ dằn, thâm sâu lắm. Bây giờ ăn có bị ám ảnh không? Có bị ám ảnh món ăn không? Ám ảnh là tối ngày xuống dưới bếp hoài, đi chợ hoài, ngồi lại là món này hiện, món kia hiện ra đó, là hết tu, hết học. Rồi bây giờ thích đi du lịch, mấy cái cảnh đẹp nó ám ảnh hoài, đi hoài. Đi đến 70 tuổi rồi cũng không chịu tu nữa, xách giỏ đi tối ngày. Nai lưng ra làm, làm cho đã đời rồi để dành cho đủ tiền rồi đi du lịch. Đi nhìn thấy mấy cảnh đẹp, khoái hơn nữa, nghe người ta nói cái dục nói: “Cố gắng, phải đi nữa, đi xa hơn nữa”. Cứ như vậy đi hoài, ám ảnh cái dục nó thúc giục đi hoài. Đi hoài như vậy dính covid, dính đậu mùa khỉ, thấy chưa? (Cười)
Nó thúc giục mà mình phải nhìn ra được, những cái hình ảnh đó nó ám ảnh trong tâm mình phải nhìn ra được, phải nhận diện được. Còn bằng không suốt cuộc đời chúng ta là bị những cái hình ảnh, những cái cảm giác, những cái suy nghĩ đó nó xâm chiếm, áp đảo, dày vò, hành hạ, chứ có gì đâu. Bây giờ người ăn trộm có bị ám ảnh không ạ? Lại đập tiệm vàng có bị ám ảnh không? Nó ám ảnh cái tiệm vàng đó, nó suy nghĩ đến cái đó hoài: “Lại đập đi có tiền nhiều, hốt vàng chứ không phải hốt bạc, hốt vàng”. Nó cứ suy nghĩ như vậy, cái hình ảnh nó cứ ám ảnh như vậy, nó cứ thúc giục như vậy, rồi xong đi đập. Đập xong rồi sao ở tù, thấy chưa? Nó tưởng tạo thành không à chứ có gì đâu, thúc giục thôi.
Rồi tu không chịu tu, nhiếp phục, chế ngự, ở một chỗ lo tu. Cứ đi chỗ này, chỗ kia, chỗ nọ hoài, có giục hoài đi hoài, đi tìm cảnh sắc bên ngoài, đi tìm tới chết cũng vậy thôi. Nó cũng đất, nước, gió, lửa thôi chứ có gì đâu, có cái gì khác đâu. Mà càng đi, càng nhìn, càng tiếp xúc, thì cái giục càng sanh khởi ra thêm, cái muốn nó càng ra thêm nhiều nữa. “Càng hưởng dục, dục càng hăng. Càng không thỏa mãn, càng nhiều dục tham”. Thì như vậy mà không được cái khổ, đi không được thì tủi thân: “Mình nghèo, mình không có điều kiện đi, mình thấy người ta đi mình tủi thân quá”. Rồi đi được thì nhìn cái này rồi còn cái kia nữa, mà mình không được đi thì buồn, rồi được đi chỗ đó rồi mình muốn quay trở lại “chỗ này sướng quá”, ví dụ như đi Mỹ chẳng hạn. Rồi lần sau đi quay trở lại nữa, cái cảm giác, cái hình ảnh, cái suy nghĩ đó nó ám ảnh.
Rồi cứ như vậy hoài, đưa đi hoài, dao động, ám ảnh, thúc giục, đòi hỏi, ái luyến hoài như vậy rồi mệt mỏi, nhọc nhằn. Rồi bây giờ cái tâm của chúng ta là một cái tâm nghèo khổ, một tâm ốm đau, bệnh hoạn, không bao giờ nó thấy đủ. Bây giờ mình ăn 50 năm rồi có thấy đủ chưa? Còn thèm ăn không? “Còn”. Đi chơi 60 năm trời còn thèm đi chơi không? “Còn, chưa đủ”. Có ham ngủ không? Ngủ 20 năm rồi còn ngủ đủ không? Sáng tới giờ gõ “beng beng” là: “Thôi, bữa nay mệt quá, ngủ chút xíu nữa đi”. Lăn qua, trở lại xong rồi nướng, nướng một hơi khét nghẹt, khét không? Nó bị thọ, tưởng, hành nó gạt như vậy đó. “Thôi mệt lắm rồi, hôm nay làm công chuyện, đi học chi. Hôm nay nằm thêm một chút nữa không sao đâu, chút xíu nữa rồi mình đi”. Nó nói như vậy đó, thì cái gì nó nói đó? Rồi có hình bóng không? Rồi có suy nghĩ không? Rồi có cảm thọ êm êm, đã không? Lăn qua, trở lại, rồi lấy cái mền trùm vô cái đầu, nằm co lại, phải không?
Rồi xong một hồi lăn qua trở lại, nướng qua, nướng lại, nướng tới, nướng lui, một hồi khét nghẹt, sáng bét. Phải nhìn ra được tất cả, là phải nhìn trong ngũ uẩn, nhiếp phục, chế ngự cái cảm thọ. Đó là sự tu của chúng ta, là nhận diện ngũ uẩn từ đầu cho tới cuối, cho đến ngày mà mình chết, mình đi vô Thánh quả A-la-hán tối cao, thì mình cũng phải nhận diện ngũ uẩn, không có đi ra ngoài pháp nhận diện ngũ uẩn. Ngũ uẩn là thân tâm của mình, mà mình không biết thì làm sao mình tu. Cho nên những lần sau mà con gặp quý thầy, quý cô, là bất cứ lúc nào là kêu: Nhận diện ngũ uẩn nha, nhận diện cơn giận coi nó ra làm sao? Nhận diện lúc mình tham nó ra làm sao? Lúc mình tham ăn, lúc mà mình ăn cái món ngon đó, mình phải nhận diện ngũ uẩn coi nó ra làm sao? Mình đi chơi du lịch đó, chụp hình này nọ kia đó, mình coi nhận diện ngũ uẩn nó ra làm sao?
Rồi lúc mình hơn thua với nhau đó, mình coi nhận diện ngũ uẩn nó ra như thế nào? Ghi nhật ký tu học, ghi lại để nó quên: “Hôm nay là ngày 8 tháng 9 năm 2022, nhật ký tu học ‘Nhận diện cơn giận’”, chấm than một cái. Cơn giận làm sao? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức ra làm sao. Tu như vậy đó, ngon lành không? Tu như vậy mới là Thánh đệ tử, đệ tử của bậc Thánh, sát sao, khít khao, rõ ràng như vậy. Bây giờ trong lòng cảm giác nó ra làm sao ạ? Có nhìn đồng hồ chưa ạ? Nó thúc giục mình phải nhận diện ngũ uẩn một cảm giác thúc giục đang có mặt: “Chừng nào chuông reo thì lúc đó mình đi về, không có thúc giục gì hết trơn. Cái đó có người khác lo mà, mình không cần lo. Có thầy đứng bấm chuông mà, đứng sát bên cái chuông đó”. Thành ra mình tu cái ngũ uẩn này nó tuyệt diệu, tuyệt vời lắm.
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 6
Thích Minh Thành
Ngày 24 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận rõ ngũ uẩn PAGEREF _Toc121061963 \h 1
II. Huấn luyện tâm mê PAGEREF _Toc121061964 \h 8
I. Nhận rõ ngũ uẩn
Khi chúng ta học về Thánh trí ngũ uẩn, thì chúng ta sẽ giải mã được các bí mật của thân tâm và thế giới. Khi chúng ta chưa biết về ngũ uẩn thì thế giới này là một cái gì nó to lớn, vĩ đại, bí mật lắm. Nhưng khi chúng ta học qua được trí tuệ về ngũ uẩn mà Đức Phật chứng ngộ, mà nói lại là phải học đúng Chánh pháp, học không có đúng thì mình không có giải mã được đâu. Bằng chứng là chúng ta đọc “Tâm Kinh Bát Nhã” mấy chục năm phải không? Chúng ta có biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức đâu. Biết là biết trên chữ nghĩa thôi, chúng ta đâu có nhìn được một cách chính xác. Cho nên cái quan trọng ở đây là phải thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng, đó là 8 cái đúng của bậc Thánh. Mà đầu tiên là phải thấy đúng, tức là thấy ngũ uẩn, không thấy ngũ uẩn là không thấy đúng.
Tám cái đúng đó thì nói tiếng Việt mình dễ nhớ hơn phải không? Làm đúng, tức là Chánh nghiệp đó. Sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng và thấy đúng, đó là chính là thấy về ngũ uẩn. Thành ra cả thế giới này, chỉ là ngũ uẩn thôi không có gì hết. Cả từ vô lượng, vô biên kiếp vừa qua và ngay hiện tại cũng là ngũ uẩn, cũng là sắc, thọ, tưởng, hành, thức hết. Là một cái đống vật chất với những đống cảm giác, những đống hình bóng (tưởng), những đống suy nghĩ và những đống nhận thức, ngoài ra không có gì khác nữa hết. Quá khứ nó cũng là 5 uẩn, hiện tại nó cũng là 5 uẩn và sau này vô lượng vô biên kiếp cũng là 5 uẩn. Nếu không có ly tham, không có phá vỡ vô minh, chấp thủ ở trong 5 uẩn, thì vô lượng, vô biên kiếp cũng ở trong ngũ uẩn.
Cho đến khi nào mà nó nhìn thấy được ngũ uẩn, là nó phá vỡ được vô minh, đoạn trừ khát ái, diệt tận chấp thủ, thì lúc đó tâm thức này nó mới giải thoát ra khỏi ngũ uẩn, lúc đó gọi là tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Khi mình phá vỡ vô minh thì gọi là tuệ giải thoát, cái trí tuệ của mình được bung ra, được mở ra. Khi mình diệt tận khát ái là tâm giải thoát, thì lúc đó tâm được mở ra, trở về trạng thái vô biên vô lượng. Còn cái tâm mình bây giờ là nó bị niêm phong, phong tỏa, phong ấn, bị đóng, bị gói. Cái tâm mình nó làm hang, làm ổ ở trong cái thân này. Cái thọ, tưởng, hành, thức của mình nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt ở trong cái sắc uẩn, sắp pháp, sắc tướng, sắc thân này. Nó cho “là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi”.
Vì không thấy, không biết về ngũ uẩn, cho nên nó tham đắm, nó nắm giữ, nó điên đảo, nó tham, sân, si, hơn thua, giành giật ở trong ngũ uẩn. Mà nó không biết đó là bọt nước, là bong bóng, là những thứ vô thường, những thứ biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Nó tưởng đâu là bền chắc, tưởng đâu là hằng hữu, kiên cố, trường viễn, bất diệt. Nhưng mà nó không biết rằng cái pháp này là pháp sanh diệt. Pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là pháp sanh diệt, tan hoại, hủy hoại, biến diệt, diệt tận. Không biết cho nên nó mới say đắm, mới nắm giữ, rồi nó mới sầu, bi, khổ, ưu, não, bất an, lo lắng, sợ hãi, khổ sầu, giành giật, tranh đấu, đấu đá, hơn thua, mưu mô, xảo quyệt, thủ đoạn, gian trá, mánh khoé. Ghê gớm là cái ngũ uẩn này, cái thọ, tưởng, hành, thức này là khủng khiếp.
Khi mình nhìn ra được rồi, mình mới thấy mình sợ chính mình luôn. Mình nhìn ra được cái tâm thức của mình rồi, mình thấy mình ê chề lắm. Thì lúc đó mình mới có sự nhàm chán, muốn thoát ra, thì lúc đó bắt đầu mới là vào các thứ bậc của hướng dự lưu và nhập lưu Thánh quả. Mình không còn yêu thích sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa. Như vậy thì cái gọi là thích hay là ghét, ưa hay là ghét ở trong cuộc sống này. Trong mỗi chúng ta, mỗi chúng sanh là hai chiều hướng vận hành khác nhau của thọ, tưởng, hành, thức. Một chiều là nó thích, nó khoái, nó ham, nó ái, nó dục. Một chiều thì nó ghét, nó không ưa, nó bực bội, tức giận, sân hận. Đó là hai chiều đó thôi, mình nói tiếng Việt mình dễ hiểu là những cảm giác, nghĩ tưởng là thọ, tưởng, hành đó.
Cho nên từ chuyện thương ghét của thọ, tưởng, hành này nó đưa đến những thứ gọi là tham, sân, si. Nếu mình ưa mến thì mình sanh ra tham ái, tham muốn, muốn nắm giữ, muốn cất giữ. Nếu ghét bỏ thì mình sanh ra sự xa lánh, chán ghét, muốn đẩy đi, muốn đuổi đi, muốn đập phá, muốn tàn phá, muốn hủy hoại, muốn phá hoại, muốn hủy diệt. Chúng ta thấy rõ không? “Rõ”. Phải thấy rõ, thấy cho thật rõ để nhàm chán, để mình không tham muốn nữa, để mình từ bỏ, thoát ra, mình mới giải thoát được chứ, thoát ra những cái cảm giác này. Mà nếu không thấy ưa hay là ghét gì, mà mình không có nhìn rõ được nội tâm, không thấy rõ trạng thái ngũ uẩn lúc đó. Mà mình lầm lũi, mình sống ở trong sự không thấy, không biết, như vậy gọi là vô minh, là tâm si mê.
Tại vì khi mình không thấy ngũ uẩn là lúc đó mình thấy có mình, hễ khi nào mình thấy ngũ uẩn là lúc đó mình không thấy có mình. Chúng ta rõ không? Khi mình thấy có mình, là lúc đó không thấy nhận diện ngũ uẩn. Khi nhận diện ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thì lúc đó không thấy có một cái mình. Cho nên không thấy ngũ uẩn là chúng sanh, phàm phu, vô minh, si mê, mà thấy được ngũ uẩn là giác ngộ, là hướng đến các bậc Thánh. Chẳng hạn như mình ngồi đây nè, mình suy nghĩ: “Tôi đang ngồi học ở đây tôi mệt quá à”, cái suy nghĩ đó là suy nghĩ của vô minh, của tà kiến, của sự chấp ngã. Mà chúng ta nghĩ cái này nhiều không ạ? Hoài hoài luôn, thường trú luôn. Thì chúng ta địa chỉ thường trú là trong vô minh, trong chấp ngã, trong si mê, mà chúng ta lại tưởng đâu mình thông minh mới chết đó chứ.
“Người ngu tưởng mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí,
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi trí ngu.”
Cho nên khi nào mình ngồi đây mà mình nói: “Ờ sắc uẩn này giờ nó có cảm thọ hơi mệt”, thì cái đó mới là Đa văn Thánh đệ tử. Phải loại bỏ cái suy nghĩ tôi ta ra khỏi suy nghĩ của mình. Mà mình muốn như vậy thì là cả một công trình tu học, cả một công phu chứ không phải chuyện đơn giản. Chúng ta thấy không? Tuy là mình xuất gia, tuy mình ở chùa mấy chục năm, thậm chí tới chết luôn nhưng mà cái suy nghĩ về tôi, về ta, mình bứng ra được bao nhiêu? Đốn nó được bao nhiêu? Mình trị nó được bao nhiêu? Thì chúng ta biết rằng cái vô minh này khủng khiếp thế nào. Chính vì mình nghĩ rằng là tôi, cho nên ai nói lời gì mà tâng bốc lên là khoái liền. Chính vì mình nghĩ đây là tôi, nên ai mà chê, chỉ trích, chửi mình một cái là sân, bực bội lên liền, tại vì cái này có cái tôi thật mà.
Chính vì mình nghĩ đó là tôi, cho nên có một cái tự ngã chần dần, một đống, chình ình, chạm tới nó một cái là nó sừng sộ, phẫn nộ, nói tới một cái là nó khó chịu à. “Đừng có đụng tới tôi, tôi không có đụng tới ai hết nên đừng có ai mà đụng chạm, nói gì tới tôi hết. Tôi không nói ai, đừng có nói tôi à nha”. Đó thấy chưa? Là như vậy đó thì làm sao mà tu? Một khi mà đặt tâm sai hướng, mình tu suốt đời là tu trong vô minh, tu ở trong phát huy cái ảo tưởng về tự ngã. Mình muốn mình là càng ngày phải càng cao lên, càng bự lên, càng to lên, càng lớn lên, thì cái tu đó là trật lất hết, vì đâu có đúng Chánh pháp. Tu là để đập vỡ cái thân kiến, phá vỡ cái chắp ngã, diệt cái ngã hoàn toàn.
Còn bây giờ mình tu mà mình phát huy cái tôi lên, thành ra tu hết một đời, rồi tu thêm 10 kiếp, 100 kiếp, 1000 kiếp, rồi nhiều trăm, nhiều ngàn kiếp, thì tu ở trong luân hồi này. Cái này là một cái chỗ hết sức là thâm sâu, để chúng ta chiêm nghiệm. Từ cái bước đầu đã đi sai rồi, thì làm sao đến đích được. Cái xuất phát điểm của mình bây giờ mình vô, mình nghe là: “Con phải học cho giỏi, con phải có bằng cấp, con phải làm giảng sư, phải làm trụ trì”, phải làm cái gì đó. Mình học với một người như vậy, là mình đạt được tận cùng cũng như vậy thôi. Cho nên tại sao con mới nói cái pháp này là cái pháp hiếm có, hy hữu, khó gặp, khó được nghe, chứ không phải dễ được nghe.
Xuất phát điểm của mình đặt sai rồi, đặt tâm sai hướng rồi, thì làm sao đi tới được cái pháp ly tham đối với ngũ uẩn được. Làm sao mình có thể nhàm chán, thoát ra đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức này được. Chúng ta nhìn lại đi rồi chúng ta thấy, nhìn tự thân mình, nhìn những người xung quanh mình, rồi chúng ta thấy có xót xa hay là không? Có xót xa cho tự thân mình tu hành hay là không? Mình đã tu bao nhiêu năm, mình đã học bao nhiêu năm, mà cuối cùng nhìn lại thân tâm của mình nó như thế nào. Chúng ta phải tự kiểm điểm, kiểm tra, kiểm toán, kiểm kê, kiểm sát nội tâm của mình bằng cái thước đo. Đập vỡ cái bản ngã này, cái kiến chấp, cái thân kiến, cái vô minh, tham ái trong ngũ uẩn này, lấy cái đó làm thước đo của bậc Thánh.
Chúng ta không khéo là cả cuộc đời tu của chúng ta xót xa lắm. Con đã từng trải qua nên con mớivthấu hiểu, cảm thông và thương yêu chúng ta hết mức, bằng tất cả tấm lòng, bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng để chia sẻ với chúng ta. Thật sự là khó chứ không phải dễ, sự tu học ngày nay của chúng ta rất là xót xa, rất là cay đắng. Một khi chúng ta không nhìn thấy được ngũ uẩn, chúng ta nghĩ coi: “Có phải mình đang phát huy cái sắc uẩn không? Có phải mình lấy sự phát huy sắc uẩn làm thành tựu, thành công không? Có phải mình đi tìm cảm giác dễ chịu không?” Chúng ta nhìn lại đi, chiêm nghiệm cho thật là sâu sắc.
Cho nên: “Nếu mà không thấy ưa ghét gì và cũng không nhìn rõ được nội tâm, không thấy rõ được ngũ uẩn. Trong trạng thái không ưa ghét này rồi lầm lũi sống trong sự không thấy, không biết này, đây gọi là vô minh, là tâm si mê. Như vậy cuộc sống này gọi là cuộc sống của ngũ uẩn, cuộc sống của tâm si mê, vô minh đối với ngũ uẩn. Cái gọi là tham, sân, si, cũng chính là tham lam, sân hận và si mê đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp này. Tâm bị vô minh, tâm của thọ, tưởng, hành, thức hoạt động trong vô minh dẫn dắt và chi phối.”
Cái này nó thâm sâu lắm, vì chúng ta học buổi này nên chúng ta phải giải thích, chứ cái này đúng ra phải học lâu, rồi mới hiểu được cái này. Nhưng mà thôi cái duyên, lỡ ngày mai con chết rồi sao, thôi bữa nay nói. “Ủa sao trố mắt? Lạ lắm hả?” Có thể chút xíu bước ra chết liền bây giờ, chứ không đợi ngày mai nữa. Phải an trú vô thường trong tất cả thời, phải niệm tử thường xuyên, bất cứ mọi lúc mọi nơi, bất cứ lúc nào mình cũng có thể ngã ra mình chết hết, nói ngày mai là đã là chậm rồi đó chứ không phải nhanh đâu. Chúng ta thấy lạ phải không? Lạ không? Chúng ta chưa có quen Thánh trí huệ, chúng ta quen với cái suy nghĩ thường tình: “Mình còn ở đây, còn ngày mai, còn tuần sau, còn tháng sau, còn năm sau, rồi 5 năm sau, còn 10 năm sau, còn 30 năm sau. Còn thượng tọa, rồi xong tới Hòa thượng, rồi đại lão Hòa thượng”.
Hòa thượng còn chưa chịu nữa, “trưởng lão Hòa thượng nữa”, không có. Sự sống của chúng ta có chỉ ngay giây phút này thôi, một hồi bước ra không biết có chuyện gì. Chúng ta thấy máy bay nó rớt không? Chúng ta thấy tai nạn giao thông, xe nó đụng không? Chúng ta thấy bất thình lình là người đó nghe ung thư giai đoạn cuối không? Bất thình lình là lên tăng xông, đột quỵ không? Đó là chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc, đang phát biểu về trái sầu riêng, phát biểu rồi khiêng xuống chết queo. Mình phải thấm được cái vô thường, mình phải nhớ được cái vô thường. Mà cái vô thường nó đi vô trong da, vào trong thịt, rồi nó thấm vô xương, rồi đó ngấm vô tận tủy. Chứ không phải đợi đi đám ma thì lúc đó mới vô thường.
Mà đang ngồi đây, sắc, thọ, tưởng, hành, thức nó vô thường, nó biến chuyển, nó sanh diệt, nó là cái thứ vô thường, bại hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, tiêu ma. Đó là cái thứ tan vỡ bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, dù cho sắc ở quá khứ hiện tại, tương lai, thắng liệt, xa gần, thô tế, tất cả các sắc đều là vô thường, khổ, vô ngã. Phải nhìn thấy được trí huệ, mình phải nhìn thấy được như vậy. “Tất cả các sắc dù là quá khứ, sắc hiện tại, sắc tương lai, sắc thô, sắc tế, sắc thắng, sắc liệt, sắp xa, sắc gần, sắc trong, sắc ngoài, tất cả các sắc. Này các Tỳ-kheo phải như thật tuệ tri đó là vô thường, khổ đau, tiêu ma, hoại diệt, hủy hoại, tan nát, tan hoại, biến diệt”. Phải thâm nhập được các trí huệ đó, thì nếu mà thâm nhập vô rồi thì lỡ xe nó đụng mình thì cũng bình thường. “Nó là vậy, mà bản tánh nó là vậy, tính chất nó là vậy, không thể vượt khỏi tánh chất ấy”, đó là kinh Tứ Niệm Xứ đó.
Bình thường, không có gì bất ngờ hết, tâm mình vẫn an trú được trong pháp, dù cho mình chết. Cho nên khi Đức Phật còn tại thế, có một thầy Tỳ-kheo đó bị rắn độc cắn. Lúc đó Ngài Xá Lợi Phất và đệ tử đến thăm, Ngài hỏi: “Thật vi diệu thay, thật hi hữu, thật đặc biệt thay. Hiền giả Upasena gần viên tịch rồi mà sắc diện vẫn tươi sáng hồng hào không lo âu sợ hãi”. Ngài trả lời: “Thưa tôn giả, chính từ lâu tôi đã không coi cái thân này là của mình, nên hôm nay ở bối cảnh này tôi vẫn an lạc như vậy.” Ngài kêu các Ngài Tỳ-kheo khiêng mình ra ngoài trời, không có ở chết trong thất. Xong cái thân Ngài rã ra giống như nắm rơm, tức là cái nọc độc nó phát tác làm thân Ngài rã ra mà cái tâm của Ngài bất động. Chúng ta thấy dễ sợ không? Đó là bậc Thánh Tăng thời Đức Phật.
Mình bây giờ nghe tiếng động một chút thôi là động, nghe tiếng micro rú một chút thôi là lính quýnh hết, dao động. Nghe cái cửa đập cái rầm, là quay lại dòm coi là ai. Tâm mình rất là dễ vì ngoại cảnh tác động, không có an trú, không có định tĩnh, không có niệm, không có định, không có tuệ, không có được tu tập một cách sâu sắc. Cho nên có cái gì đó là mình dao động, lăn xăn, lo sợ. Như lúc nãy mình cầm cái micro đó nó hú là bắt đầu run sợ. Tại sao mình sợ? Tại vì mình sợ mình nói trật, mình sợ mình nói dở, mình sợ mình nói sai thì ta cười, đó là bản ngã đó. “Tôi phải hay, tôi phải giỏi, tôi phải như thế nào đó, chứ tôi thấp là không được” 26'54" sâu sắc lắm. Chúng ta học đi rồi chúng ta sẽ thấy hết tất cả, giải mã hết tất cả nhân sinh, vũ trụ, thế giới, hành tinh, Thánh trí ngũ uẩn. Ta có thấm được không ạ? Ngồi ngẩn ngơ vậy? Phải thấm, phải tập cho nó quen với vô thường tưởng.
Cho nên hàng ngày là chúng ta sống trong vô minh, trong tham ái và trong chắp ngã của thân kiến mà chúng ta không có biết. Mình cứ tưởng đâu cứ chuông gõ “boong boong” là tới giờ ăn cơm, cứ “boong boong” là tới giờ đi tụng kinh, cứ “boong boong” là tới giờ lao tác, rồi tới giờ đi học. Tưởng vậy là “mình tu ngon lành rồi, đâu có tham, sân, si gì đâu”. Mình tưởng đâu mình tu dữ lắm, nhưng ai ngờ đâu là chưa ngon, “đụng vô đi rồi biết mặt”. Nó ngủ ngầm ở trong đó, Đức Phật gọi là tham tùy miên, sân tùy miên, vô minh tùy miên. “Tùy miên” là đi theo mình miên man, nó ở trong con người mình. Nhiều khi mình thấy hai người đó ngồi im ru như vậy, thì mình nghĩ người đó: “Thanh tịnh quá ha”. Hoặc là mình nhiều khi mình cũng ngồi im ru trên bồ đoàn đó, nhưng mà trong này nghĩ: “Bực cái bà kia, bả ngồi đó”.
Ngồi nhắm mắt im re, nhìn thì thanh tịnh nhưng mà trong bụng đang bực. Cái hình ảnh đó ám ảnh: “Hồi sáng nay bả cự tôi, tôi có làm sai đâu mà cự tôi”. Mà ở trong này, cái cảm giác nó sân, cái hình ảnh nó ám ảnh, rồi cái suy nghĩ: “Ngày mai gặp bả, mình nói câu gì cho nó tám lạng nửa cân, nó bù lại chứ. Hồi nãy mình im re, mình không nói gì hết trơn vậy? Sao mình ngu vậy?” Đang ngồi đó, nhưng mà bên trong là ác và bất thiện pháp này sanh khởi. Và mình chấp nhận cái pháp đó, mình nuôi dưỡng các pháp đó, làm cho cái pháp đó nó tăng trưởng. Chúng ta thấy nó sâu sắc như vậy, chứ không phải căn cứ trên sắc uẩn là xác định được đâu. Phải nhìn ra được thọ, tưởng, hành, thức ở bên trong nữa. Thì chúng ta thấy đó là cái giáo pháp nguyên chất của Đức Phật, đó là Nikāya, đó là tinh túy, tinh hoa, trí huệ của Đức Phật truyền trao cho mình.
II. Huấn luyện tâm mê
Cho nên đời sống của chúng ta là sự vận hành của sự không thấy, không biết về ngũ uẩn. Sự ham thích, khoan khoái, say mê ở trong ngũ uẩn. Sự nắm giữ ở trong ngũ uẩn và sự lầm tưởng, ảo tưởng, cho rằng: “Một cái tôi, một cái của tôi, một cái tự ngã của tôi” ở trong ngũ uẩn. Chính vì vậy mà chúng ta bị suy suyễn, thay đổi. Bị nói một chút thôi, mà đừng có nói tới nói, chỉ có nhìn thôi à. Nhìn bằng ánh mắt là bực bội rồi à, liếc một cái thôi là “mệt rồi, tối ngủ không được rồi, ngồi thiền không được rồi”. Liếc con mắt, trợn một cái ánh mắt thôi, là cũng làm cho mình bất an nữa. Khổ chưa? Khổ không? Mà nói khổ là trả lời: “Tôi có khổ đâu ạ”. Một ánh mắt thôi đã làm cho mình nhức nhói, một lời nói thôi làm cho mình bất an, một hành động thôi làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu não.
Tu như vậy thì tới chừng nào mới đạt được tâm bất động giải thoát? Vì mình nhìn thấy mình thật, người kia cũng là người thật, ai cũng là tôi hết “Nguyễn Thị Sờ, Trần Văn ổi”. Chứ mình không biết ngũ uẩn với nhau, tham sân si với nhau không à. Toàn là vô minh, tham sân si không à, thì hơn thua với nhau làm cái gì. Đã khổ muốn chết rồi mới cạo đầu vô chùa, mà vô đây lại thành khổ với nhau nữa. Đã khổ muốn chết rồi mới đi vô chùa, mà vô chùa rồi hành tỏi, hành hạ, hành xác với nhau, “khôn quá ha!” Mình nói mình như vậy đó. Mỗi lần cái tâm hơn thua với huynh đệ, tỷ muội, sanh khởi lên mình nói: “Nhà ngươi khôn quá ha! Ngươi khổ đau, ngươi mới cạo đầu, bỏ cha, bỏ mẹ, ngươi đi vô chùa. Bây giờ ngươi đi vô đây ngươi kiếm chuyện phải không? Gây sự phải không? Hơn thua phải không? Tại sao mà ngươi cứ gây sự hoài vậy? Ngươi tan biến khỏi tâm ta một cách hoàn toàn đi. Cái cảm thọ này phải hiền thiện, phải an tịnh, lắng dịu, dễ chịu xuống coi. Ngươi sống cho khiêm cung, khiêm hạ, khiêm hòa, khiêm tốn coi. Hỡi này cái tâm mê, ngươi có nghe hay không?”
Mà mình quay trở lại mình dạy cái tâm của mình, mình kêu cái cảm thọ của mình: “Ngươi làm ơn làm phước, ta lạy ngươi, ngươi đừng có hất mặt vênh váo, ưỡn ngực. Ta lạy ngươi, ta nhục dữ lắm, ngươi làm ơn cúi đầu xuống giùm ta coi. Ngươi khiêm hạ xuống giùm ta coi, tại sao mi cứ hơn thua hoài vậy? Tại sao ngươi cứ đúng sai hoài vậy? Tại sao ngươi cứ sân si hoài như vậy? Ở ngoài sân si, sầu, bi, khổ não chưa đã hay sao, khổ như vậy chưa đủ hay sao, mà vô đây còn kiếm chuyện khổ nữa?” Mình dạy dỗ, giáo dục, huấn luyện, chỉnh sửa cái tâm của mình, như vậy gọi là tu tâm. Con thưa các bậc hiền trí, như vậy gọi là tu tâm sửa tánh. Mình thấy cái bất thiện pháp ở trong thọ, tưởng, hành, là mình phải dạy dỗ nó liền, mình phải như lý tác ý liền.
Mình đánh cho nó một trận nên thân luôn, mình đánh cho nó bầm dập hết, mình cho nó khóc giàn giụa nước mắt cũng được nữa. Mình đánh nó, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, hạ gục cái tâm của mình. Hạ gục cái bản ngã xuống, làm cho cái bản ngã này phải cúi đầu xuống, thấp cái đầu xuống, quỳ mợp xuống. Và bất cứ người nào nó cũng quỳ xuống lạy được hết trơn, giống như mình lạy Phật vậy. Lạy Phật chính là phương pháp diệt ngã đó, và tăng trưởng cái tâm cung kính. Không những mình học mình lạy Phật, mà bất cứ một người nào mình cũng có thể quỳ xuống mình lạy ngay tại chỗ. Con thưa các thầy, các cô, là trên Linh Quy Pháp Ấn của chúng con, con quỳ xuống, con lạy mấy thầy, mấy cô đệ tử hoài, lạy bình thường, lạy hoan hỉ, lạy ngọt ngào.
Lạy mà thích thú, hân hoan, lạy để diệt bản ngã của mình, hạ thấp cái tôi mình xuống. Mà người nào có lỗi là quỳ lạy với nhau nữa, hai người mà thấy khó chịu với nhau hay gì đó là quỳ xuống lạy với nhau, lạy xin lỗi, lạy xuống. Lạy thứ nhất: “Con nguyện con chôn vùi cái bản ngã này”, lạy thứ hai là: “Con nguyện tẩy sạch cái bản ngã này”, lạy thứ ba là: “Con nguyện con diệt tận cái bản ngã này, không cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai”. Mình lạy, mình tác ý, nếu mình không tác ý là pháp nó không có tăng. Mình cứ niệm hoài như vậy, ví dụ như mình sanh khởi bản ngã hơn thua lên, mình muốn hơn thua với người ta, bắt đầu mình quay vô cái tâm mình nói liền: “Nè cô ơi là cô, cô có thương cha mẹ cô không?” Mình kêu tên của mình đó.
Ví dụ mình tên là Diệu Hạnh, mình nói là: “Diệu Hạnh ơi Diệu Hạnh! Diệu Hạnh có thương ba mẹ của Diệu Hạnh không? Diệu Hạnh có thương Diệu Hạnh không? Tại sao mình tu rồi mà mình cứ hơn thua với nhau hoài vậy? Những chuyện nhỏ nhặt, nhỏ nhít, nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ bé như vậy rồi mình sanh ra thành kiến lửa nghe không? Cái tâm mình còn hơn thua như vậy, còn nhỏ nhặt, nhỏ nhít, nhỏ mọn, nhỏ nhoi như vầy là đời sau mình sanh ra làm con rệp, con vi trùng, vi khuẩn, virus covid 19 nghe không?” Mình nói với tâm mình như vậy đó. Thì chính những thứ đó cũng là ngũ uẩn đó, nó cũng có đời sống, cũng có sắc, thọ, tưởng, hành, thức đó. Nhưng vì cái tâm nó như vậy, cho nên mới sanh ra cái thân tương ưng với cái nghiệp ác của nó.
Mình huấn luyện, dạy dỗ cái tâm mình như vậy đó. Mình cứ dạy tâm hoài, thấy nó ác bất thiện pháp là mình dạy. Mình thấy nó tham dục, tham lam, tham muốn những cái thế gian là bắt đầu mình dạy nó nữa. Mình có nhớ rằng mình đã cạo mái tóc này không? “Vô đi, vô coi cái đầu trọc đi, vò cái đầu cho kỹ đi. Vô cái gương nhìn đi, mình đã là người xuất gia rồi, mình đã rồi mình có nhớ không? Tại sao mình lại còn đi tham đắm những cái thấp hèn, những cái hạ liệt, những cái phàm phu, những cái mà mình đã khạc nhổ. Mình hốt lại, mình liếm lại những cái đàm giãi, cứt mũi”, mình phải dạy cái tâm mình như vậy đó. Khi nó khởi lên những cái dục, tham ái của thế gian, thì mình phải huấn luyện cái tâm mình như vậy đó, mình phải tác ý như vậy đó.
Tác ý cho mạnh, càng mạnh chừng nào mà mình thấy trong người xấu hổ, nhục nhã. Là lúc trong đó nó có sự biến chuyển bên trong, “nhục nhã sanh Thánh quả”, là tàm quý đó. Là dòng dãi của tam quý, là đi đến Thánh quả, “nhục nhã sanh Thánh quả”, về nghe cái bài đó. Mình tu mà mình không có nhục là mình không có tu được, phải thấy mình nhục. Nhục khi mình tham, khi mình dục, mình ái, mình sân. Mình thấy mình nhục khi mà bản ngã lên với huynh đệ, với người chung quanh. Mình thấy mình nhục, mình về mình lạy sám hối, thậm chí là mình quỳ mình lại ngay người mà mình sanh bản ngã đó, bắt nó quỳ xuống lạy luôn: “Thưa sư tỉ, muội thấy muội xấu hổ quá. Muội tu 10 năm rồi mà cái bản ngã còn lớn, cái tâm sân còn mạnh mẽ như vậy. Muội thấy muội xấu hổ, muội xin sám hối, xin lỗi sư tỷ”, quỳ xuống lạy.
Đó là sự huấn luyện, giáo dục tâm của mình đó. Về nghe bài “Huấn Luyện Ngũ Uẩn”, nghe kỹ cái bài đó. Đó là tu tâm, đó là sửa tánh, trong Tăng Chi Bộ kinh Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, ta không thấy có một pháp nào đem đến lợi ích lớn lao, đem đến quả báo lớn, đem đến an lạc lớn giống như là tâm được tu tập. Tâm được tu tập, này các Tỳ-kheo, đem lại lợi ích lớn, quả báo lớn, an lạc lớn”. Tâm được tu tập chính là nãy giờ nói đó, là cách huấn luyện, điều chỉnh, sửa chỉnh, dạy dỗ, giáo dục những thọ, tưởng, hành, cảm giác của mình. Phải có tàm quý, tàm quý là một trong bảy tài sản của bậc Thánh. “Tính, Giới, Văn, Thí, Tàm, Quý và Tuệ”, là Thất Thánh Tài, là 7 tài sản của bậc Thánh.
Mỗi khi mình sanh khởi lên những cái dục ái, mình phải thấy xấu hổ, nhục nhã, thấy mình thật là thấp hèn, tồi bại, bẩn thỉu. Thí dụ mình thấy buổi chiều mình ăn rồi là mình đã không có giữ cái giới ăn chiều, mà tối mình còn muốn ăn nữa. Khi mình thấy nó như vậy, thúc giục những thọ, tưởng, hành về những món ăn đó, mình phải la rầy, quở trách tâm của mình, không phải nó muốn là mình cứ chiều theo nó. Muốn tức là cái thúc giục, mình phải quở trách tâm mình, nhiếp phục cái dục ăn đó, chứ không phải muốn ăn là mình cho nó ăn. Cứ đồ ăn sẵn đó, muốn là cứ việc xé ra, chế ra, “muốn thì cứ ăn thôi”. Thì như vậy là không có tu tập, không có nhiếp phục dục tham. Ăn vô rồi cái bụng chan bang, rồi đâu có ngồi thiền, đâu có tu được.
Ăn vô rồi nằm ra ngáy khò khò, tu như Trư Bát Giới vậy, tu riết rồi thành đệ tử của Trư Bát Giới. Phải nhìn thấy được cái dục nó thúc giục, cho nên mình nhìn lại thọ, tưởng, hành là nó hết trơn à. Thúc giục là mình biết liền, nếu mình để ý, mình nhìn lại, nhận diện ngũ uẩn, phải chưa? Bây giờ ví dụ tối mình muốn ăn mì, thì tự nhiên có cảm giác thúc giục, hình bóng gói mì, tô mì nó hiện ra nè. Suy nghĩ một hồi chế mỳ đi, mì cay Hàn Quốc, hay gì đó ví dụ như vậy. Nói là vận hành liền đó, thì mình thấy hết trơn à. Nhận diện ngũ uẩn nó làm mình thấy hết trơn, nó mới vừa nhóm lên, nhen nhóm, manh nha thôi là mình phải dập liền, quở trách liền: “Giờ này đâu phải giờ ăn, giờ này là giờ học kinh, giờ này là giờ ngồi thiền, là giờ đi kinh hành. Nhà ngươi ăn vô lượng, vô biên kiếp rồi còn thèm khát cái gì nữa? Thèm khát hoài vậy?”
Rầy tâm, quở tâm, trách tâm, Đức Phật gọi là: “Tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình”, ở trong kinh “Pháp Cú”, Trung Bộ kinh đó, là như lý tác ý đó. Tự mình dò xét mình tức là nhận diện ngũ uẩn đó, mình coi coi hiện tại bây giờ cảm giác làm sao? Trong tưởng nó có hình bóng gì? Nó đang suy nghĩ cái gì? Cho nên pháp nhận diện ngũ uẩn là bất cứ lúc nào mà con đi về đây, các thầy các cô con chỉ một người nào là phải nhận diện ngũ uẩn, không được nói: “Giờ này con chưa biết”, là không được. Mình phải tập cho nhuần nhuyễn, thuần thục, vì cái này là cái chìa khóa mở cánh cửa nội tâm. Mình mà không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao mà tu được, không có chìa khóa thì làm sao mình mở cửa vô nhà được?
Trong nhà nó dơ, toilet thì nó thối rình, mà bên đây là chuột chết, tắc kè chết, rồi ba con gián, rồi tùm lum rác bẩn hết, làm sao mà lau quét? Không có chìa khóa để mở cánh cửa, thì làm sao mà dọn cái nhà dơ vô lượng, vô biên kiếp. Cho nên nhận diện ngũ uẩn là chiếc chìa khóa mở cánh cửa nội tâm. Những lúc đánh chuông như vậy cho nó tỉnh đó, mà không biết tỉnh chưa? Không đánh chuông là một hồi mê luôn đó. Như lý tác ý tức là mình lấy chổi mình quét nó, nãy giờ là chỉ cho chúng ta cách như lý tác ý đó. Lấy chổi quét, lấy đồ hốt lại, rồi có khi có những cái rác mà nó cứng đầu, có những cái rác mà nó dính ở dưới lâu ngày rồi, mà không phải quét hay chùi nó ra đâu, mà phải dùng bàn chải sắt, phải dùng thuốc tẩy. Thì có những cái pháp mình phải sám hối, mình phải lạy sám hối hoài như vậy.
Có những tội lỗi mình phải lạy hoài như vậy, rồi khóc đầm đìa nước mắt ở trước mặt như vậy đó, mình thấy xấu hổ, mình thấy nhục nhã. Mình lạy như vậy đó tức là tự mình chà nó ra, thì nó mòn từ từ, nó bớt, rồi lạy riết, sám hối riết. Rồi mình kiếm các bậc tôn đức, giới đức, đạo hạnh để mình đến phát lồ sám hối, thì cái đó nó mới được phơi bày ra. Rồi cái cảm thọ của mình nó mới được nhẹ nhàng từ từ, mình lạy riết, mình tác ý riết rồi nó mòn từ từ, rồi cuối cùng cái tâm mình nó nhẹ nhõm, nó không còn hối hận nữa. Cái trạo hối nó hết thì mình mới đi vào các tầng thiền được, chứ còn trạo hối là không có đi vào sơ thiền được. Khi mình nghĩ về cái đó là tâm mình nó ray rứt, suy nghĩ về cái tội lỗi, là tâm mình nó bất an, mình nghĩ về cái tội lỗi là tâm mình nó hối hận. Thì làm sao cái tâm hối hận, bứt rứt, bất an như vậy đi vào trạng thái sơ thiền được.
Cho nên trạo hối là một trong năm triền cái, chướng ngại khi mà đi vào sơ thiền. Cái tâm nó hối hận, hối lỗi, ray rứt hoài thì làm sao nói yên tịnh để đi vào sơ thiền được. Và một cái tâm mà nó nhẹ nhàng, khinh an, an lạc, thanh tịnh, khi nhìn trở lại nó không thấy nó có lỗi lầm, không có sai quấy thì lúc đó cái tâm nó mới yên được. Thì cái tâm nó an, nó hỷ lạc do ly dục sanh, thì lúc đó nó mới vào được trạng thái sơ thiền “ly sanh hỷ lạc”. Ly dục là nó có được sự hỷ lạc, an lạc. Cho nên tâm do tâm vô minh, dính mắc với ngũ uẩn. “Cho nên tâm không được an tịnh, không được trong sạch, không được vắng lặng, không được tinh khiết. Và tâm này bị ám ảnh, bị dao động, bị thúc giục, bị đòi hỏi, bị ái luyến đối với ngũ uẩn. Do tâm bị ám ảnh, bị luyến ái đối với ngũ uẩn nên sanh mạng chung. Tâm này tiếp tục bị sự ám ảnh và ái luyến này đẩy đi hướng ngoại, tìm cầu các ngũ uẩn. Vì vậy mà ngũ uẩn mới do tâm si mê lại được hình thành, lại được tiếp tục, lại được tiếp diễn, đó gọi là sanh.”
Chúng ta đang nói đến cận tử nghiệp: “Vì cái tâm không thấy, không biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vì nó hôn mê nó dính mắc ở trong ngũ uẩn này, cho nên nó không được an tịnh, không được trong sạch, không được vắng lặng, không được tinh khiết bởi cái tâm này bị ám ảnh”. Chúng ta thấy không? Ví dụ một người nào đó, cái người nào làm cho mình nhớ nhất? Người nào làm cho mình nhớ không quên? Một là người mình rất thương, hai là người mình rất ghét. Yêu và hận, thì 2 người này ám ảnh trong tâm của mình. Tại vì sao mà 2 người này ám ảnh? Tại vì 2 người này làm cho cái thọ của mình nó huân tập, những cái cảm thọ, lạc thọ hoặc là khổ thọ. Cho nên những người này cái tâm thức bị ám ảnh, rồi cái cảnh cũng như vậy nữa.
Cái cảnh mà mình yêu thích quá, thì cái cảnh đó làm cho mình đi đâu cũng nhớ hết trơn, con người cũng vậy, rồi món đồ cũng vậy. Ví dụ như mấy ông mà thích xe, là nằm chiêm bao thấy xe không à. Thích chơi kiểng là cái suy nghĩ trong đầu, thọ tưởng, hành, thức cũng toàn là kiểng không à. Chúng ta thấy phải không? Người mà thích chơi xe, ngồi nói chuyện một hồi là nói tới xe, biết đủ hết các loại, mấy chục loại, bao nhiêu đời mới, chiếc gì biết hết trơn. Vì những hình bóng, những suy nghĩ, nhận thức, cảm giác đó nó ám ảnh. Mà bình thường nó đã huân tập, đã ám ảnh như vậy, thì khi chết đi nó theo những cái đó. Tùy theo những cái nghiệp, nếu cái nghiệp lành, thì đi theo những cái đó ở trong tương đối thì là đỡ khổ hơn. Nếu cái nghiệp dữ, thì đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
“Cho nên tâm bị ám ảnh, bị dao động, bị thúc giục, bị đòi hỏi, bị luyến ái đối với ngũ uẩn”, mấy cái chữ này dữ dằn, thâm sâu lắm. Bây giờ ăn có bị ám ảnh không? Có bị ám ảnh món ăn không? Ám ảnh là tối ngày xuống dưới bếp hoài, đi chợ hoài, ngồi lại là món này hiện, món kia hiện ra đó, là hết tu, hết học. Rồi bây giờ thích đi du lịch, mấy cái cảnh đẹp nó ám ảnh hoài, đi hoài. Đi đến 70 tuổi rồi cũng không chịu tu nữa, xách giỏ đi tối ngày. Nai lưng ra làm, làm cho đã đời rồi để dành cho đủ tiền rồi đi du lịch. Đi nhìn thấy mấy cảnh đẹp, khoái hơn nữa, nghe người ta nói cái dục nói: “Cố gắng, phải đi nữa, đi xa hơn nữa”. Cứ như vậy đi hoài, ám ảnh cái dục nó thúc giục đi hoài. Đi hoài như vậy dính covid, dính đậu mùa khỉ, thấy chưa? (Cười)
Nó thúc giục mà mình phải nhìn ra được, những cái hình ảnh đó nó ám ảnh trong tâm mình phải nhìn ra được, phải nhận diện được. Còn bằng không suốt cuộc đời chúng ta là bị những cái hình ảnh, những cái cảm giác, những cái suy nghĩ đó nó xâm chiếm, áp đảo, dày vò, hành hạ, chứ có gì đâu. Bây giờ người ăn trộm có bị ám ảnh không ạ? Lại đập tiệm vàng có bị ám ảnh không? Nó ám ảnh cái tiệm vàng đó, nó suy nghĩ đến cái đó hoài: “Lại đập đi có tiền nhiều, hốt vàng chứ không phải hốt bạc, hốt vàng”. Nó cứ suy nghĩ như vậy, cái hình ảnh nó cứ ám ảnh như vậy, nó cứ thúc giục như vậy, rồi xong đi đập. Đập xong rồi sao ở tù, thấy chưa? Nó tưởng tạo thành không à chứ có gì đâu, thúc giục thôi.
Rồi tu không chịu tu, nhiếp phục, chế ngự, ở một chỗ lo tu. Cứ đi chỗ này, chỗ kia, chỗ nọ hoài, có giục hoài đi hoài, đi tìm cảnh sắc bên ngoài, đi tìm tới chết cũng vậy thôi. Nó cũng đất, nước, gió, lửa thôi chứ có gì đâu, có cái gì khác đâu. Mà càng đi, càng nhìn, càng tiếp xúc, thì cái giục càng sanh khởi ra thêm, cái muốn nó càng ra thêm nhiều nữa. “Càng hưởng dục, dục càng hăng. Càng không thỏa mãn, càng nhiều dục tham”. Thì như vậy mà không được cái khổ, đi không được thì tủi thân: “Mình nghèo, mình không có điều kiện đi, mình thấy người ta đi mình tủi thân quá”. Rồi đi được thì nhìn cái này rồi còn cái kia nữa, mà mình không được đi thì buồn, rồi được đi chỗ đó rồi mình muốn quay trở lại “chỗ này sướng quá”, ví dụ như đi Mỹ chẳng hạn. Rồi lần sau đi quay trở lại nữa, cái cảm giác, cái hình ảnh, cái suy nghĩ đó nó ám ảnh.
Rồi cứ như vậy hoài, đưa đi hoài, dao động, ám ảnh, thúc giục, đòi hỏi, ái luyến hoài như vậy rồi mệt mỏi, nhọc nhằn. Rồi bây giờ cái tâm của chúng ta là một cái tâm nghèo khổ, một tâm ốm đau, bệnh hoạn, không bao giờ nó thấy đủ. Bây giờ mình ăn 50 năm rồi có thấy đủ chưa? Còn thèm ăn không? “Còn”. Đi chơi 60 năm trời còn thèm đi chơi không? “Còn, chưa đủ”. Có ham ngủ không? Ngủ 20 năm rồi còn ngủ đủ không? Sáng tới giờ gõ “beng beng” là: “Thôi, bữa nay mệt quá, ngủ chút xíu nữa đi”. Lăn qua, trở lại xong rồi nướng, nướng một hơi khét nghẹt, khét không? Nó bị thọ, tưởng, hành nó gạt như vậy đó. “Thôi mệt lắm rồi, hôm nay làm công chuyện, đi học chi. Hôm nay nằm thêm một chút nữa không sao đâu, chút xíu nữa rồi mình đi”. Nó nói như vậy đó, thì cái gì nó nói đó? Rồi có hình bóng không? Rồi có suy nghĩ không? Rồi có cảm thọ êm êm, đã không? Lăn qua, trở lại, rồi lấy cái mền trùm vô cái đầu, nằm co lại, phải không?
Rồi xong một hồi lăn qua trở lại, nướng qua, nướng lại, nướng tới, nướng lui, một hồi khét nghẹt, sáng bét. Phải nhìn ra được tất cả, là phải nhìn trong ngũ uẩn, nhiếp phục, chế ngự cái cảm thọ. Đó là sự tu của chúng ta, là nhận diện ngũ uẩn từ đầu cho tới cuối, cho đến ngày mà mình chết, mình đi vô Thánh quả A-la-hán tối cao, thì mình cũng phải nhận diện ngũ uẩn, không có đi ra ngoài pháp nhận diện ngũ uẩn. Ngũ uẩn là thân tâm của mình, mà mình không biết thì làm sao mình tu. Cho nên những lần sau mà con gặp quý thầy, quý cô, là bất cứ lúc nào là kêu: Nhận diện ngũ uẩn nha, nhận diện cơn giận coi nó ra làm sao? Nhận diện lúc mình tham nó ra làm sao? Lúc mình tham ăn, lúc mà mình ăn cái món ngon đó, mình phải nhận diện ngũ uẩn coi nó ra làm sao? Mình đi chơi du lịch đó, chụp hình này nọ kia đó, mình coi nhận diện ngũ uẩn nó ra làm sao?
Rồi lúc mình hơn thua với nhau đó, mình coi nhận diện ngũ uẩn nó ra như thế nào? Ghi nhật ký tu học, ghi lại để nó quên: “Hôm nay là ngày 8 tháng 9 năm 2022, nhật ký tu học ‘Nhận diện cơn giận’”, chấm than một cái. Cơn giận làm sao? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức ra làm sao. Tu như vậy đó, ngon lành không? Tu như vậy mới là Thánh đệ tử, đệ tử của bậc Thánh, sát sao, khít khao, rõ ràng như vậy. Bây giờ trong lòng cảm giác nó ra làm sao ạ? Có nhìn đồng hồ chưa ạ? Nó thúc giục mình phải nhận diện ngũ uẩn một cảm giác thúc giục đang có mặt: “Chừng nào chuông reo thì lúc đó mình đi về, không có thúc giục gì hết trơn. Cái đó có người khác lo mà, mình không cần lo. Có thầy đứng bấm chuông mà, đứng sát bên cái chuông đó”. Thành ra mình tu cái ngũ uẩn này nó tuyệt diệu, tuyệt vời lắm.