Tội Ác Của Tham Sân Si
Tinh Hoa Nikāya
Tội Ác Của Tham Sân Si
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện tham – sân – si PAGEREF _Toc209282295 \h 1
II. Sự nguy hại của tham – sân – si PAGEREF _Toc209282296 \h 3
III. Bệnh thân – bệnh tâm PAGEREF _Toc209282297 \h 12
IV. Thực tập tâm hiền PAGEREF _Toc209282298 \h 16
I. Nhận diện tham – sân – si
Kính bạch chư tôn đức và kính thưa chư vị hiền trí, sáng hôm nay chúng ta đã được nhận diện ngũ uẩn là thấy biết được thân tâm của mình, sau đó chúng ta đã được nhận diện tham, sân, si để thấy được ở trong ngũ uẩn này có những nguyên nhân làm cho mình khổ đau. Ba chữ tham, sân, si này ai cũng nói được, ai cũng đã từng nghe, thậm chí là mình nghĩ là mình hiểu nhưng mà đối với tinh thần của kinh tạng Nikāya không đơn giản như mình hiểu, ba chữ tham, sân, si này rất là thâm sâu, nó rất là sâu kính.
Để hiểu được ba chữ tham, sân, si này là cả một cái trí tuệ mà trí tuệ không phải của người phàm, dầu cho mình có học bao nhiêu cái bằng tiến sĩ đi nữa mình cũng không biết, chỉ duy nhất chỉ có một người ở trong tam thiên, đại thiên thế giới này chỉ ra cho mình được đó là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Như vậy đầu tiên mình phải biết tham, sân, si ở đâu, sau đó mình phải biết là tại sao có tham, sân, si và tiếp theo mình phải biết cái hành tướng của tham, sân, si tức là tham, sân, si khi sanh khỏi cái tướng trạng nó làm sao, nó vận hành làm sao, kế đó là mình phải biết được cái tác hại, cái tai họa, cái sự đau khổ mà nó đưa đến cho mình, sau cùng mình phải biết cái phương pháp, cái cách thức nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận tham, sân, si.
Một bậc để nhìn thấy tham, sân, si một cách chính xác, rõ ràng là thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, là bậc chánh kiến, bậc minh kiến, là bậc nhìn thấy được tham, sân, si. Những vị đã nhiếp phục, chế ngự, quét dọn, lau chùi khấm khá là nhị quả với tam quả, và đến khi sạch sẽ hoàn toàn không còn chút nào nữa là tứ quả, là bậc thánh tối cao ở trong Phật giáo, không còn có thánh nào cao hơn đó nữa. Như vậy toàn bộ cái tiến trình tu học chúng ta là thấy được tham, sân, si, nhiếp phục, chế ngự tham, sân, si, đoạn tận, tẩy sạch hết tham, sân, si, chỉ bấy nhiêu đó thôi, chúng ta tu có ba chữ thôi, không có nhiều nhưng tu mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, đi chùa từ đầu xanh cho tới đầu bạc mà mình thấy tham, sân, si chưa? Chúng ta nghe vài cái bài kinh thì chúng ta mới thấy cái giá trị lớn của nó.
"Rồi du sĩ ngoại đạo Moliyasìvaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, său khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ ngoại đạo Moliyasìvaka bạch Thế Tôn:
-Pháp là thiết thực hiện tại, Pháp là thiết thực hiện tại, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
- Vậy này Sìvaka, ở đây Ta sẽ hỏi Ông; nêu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời. Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham'? Nội tâm không có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham'. Nội tâm không có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham'. Như vậy này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có sân...(Như trên)...Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si'? Hay nội tâm không si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không si'?
-Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si', hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không si'. như vậy, này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có tham pháp,... hay nội tâm có sân pháp..., hay nội tâm có si pháp..., Ông có biết: 'Nội tâm ta có si pháp'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Hay nội tâm không có si pháp. Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si pháp'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có si pháp, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si pháp', hay nội tâm không có si pháp, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si pháp. "Như vậy, này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
- Thật vi diệu thay! ... Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng." (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (V). Cho Ðời Này (1))
Không có thời gian tức là không phải đợi tới ngày mai, tuần sau, tháng sau, năm sau hay là không phải đợi tới chết mới có kết quả mà pháp của Phật là ngay đây, ngay lập tức có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, không có chờ đợi trải qua thời gian gì hết, có khả năng làm cho mình đi lên, được người trí tự mình thấy biết giác hiểu. Đức Phật nói cái bài kinh đó xong thì cái ông này đổi đạo, cãi đạo đi theo Đức Phật làm đệ tử tại gia. Như vậy thì thiết thực hiện tại là ở chỗ nào? Cái giáo pháp của Đức Phật thiết thực hiện tại là ở chỗ nào? Còn rất là nhiều bài kinh, có một vị đến hỏi thế nào là Niết-bàn, chính là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si là Niết-bàn, hết tham, hết sân, hết si là Niết-bàn.
II. Sự nguy hại của tham – sân – si
"Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nàlaka.
Rồi du sĩ Jambukhàdaka đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sàriputta:
-- 'Niết-bàn, Niết-bàn', này Hiền giả Sàriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.
-- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
-- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
-- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, I. Nibbàna (Niết-bàn))
Như vậy Niết-bàn ở đâu? Ở trong tâm nhưng tâm còn tham, sân, si là tâm đó không có Niết-bàn, cái tâm hết tham, sân, si mới là Niết-bàn. Bây giờ quý vị còn tham, sân, si mà đòi chỉ Niết-bàn thì làm sao chỉ?
"Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
- Pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
- Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Tham ái được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu."
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VI. Phẩm Các Bà-La-Môn, Vị Bà-La-Môn)
Như vậy khi mình bị say đắm ở trong lòng tham, mình bị cái tham đó chinh phục mình, bị lòng tham đó xâm chiếm thì mình nghĩ hay làm những điều hại mình, hại người, hại cả hai là như thế nào? Thí dụ mình có gia đình rồi mà mình gặp người vừa lòng thích ý mình có cái tham ái rồi mình dính líu, phạm giới tà dâm, lúc đó có hại mình, hại người, hại cả hai không? Bản thân mình có lo lắng, có khổ đau không? Rồi chồng hay vợ mình có đau khổ không? Rồi đi đến hậu quả con cái có khi là phải chia lìa, vợ chồng phân ly thì đó có phải là bị tham ái say đắm, bị tham ái chinh phục, tâm bị tham ái xâm chiếm cho nên nghĩ điều hại mình, nghĩ điều hại người, suy nghĩ đều hại cả hai. Thấy rõ chỗ này chưa? Và cảm thọ tâm khổ tâm ưu, cái tâm đó là một cái tâm khó chịu, một tâm sầu não, một tâm buồn khổ, một tâm lo lắng, cái tâm sợ hãi.
Bây giờ mình tham đi trộm cắp đồ của người ta thì cái việc ăn cắp đồ đó có hại mình, hại người không? Có hại cả hai không? Có đem đến cái cảm thọ khổ ưu không? Có sầu, bi, khổ, ưu, não không? Có đem đến lo lắng, bất an, sợ hãi, sống ở trong cái lo sợ hoài thì đó là bị tham ái làm cho say đắm, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm cho nên suy nghĩ làm những điều hại mình, hại người, hại cả hai và cảm thọ này làm cho cái tâm mình khổ, tâm mình ưu cho nên quý vị thấy cái giới của Đức Phật nếu như mình giữ là mình nhiếp phục và chế ngự được tham rất là nhiều. Trộm cắp có phải tham không ạ? Tà dâm có phải tham không ạ? Sát sanh có phải tham không?
Nói dối có vì mục đích để tham không? Có khi lừa gạt, dối trá người ta, rồi say sưa rượu men, rượu nấu, say sưa những chất nghiện ngập đó có phải vì mình tham không? Mình khoái không? Mình thích không? Mình say đắm trong đó không? Như vậy năm giới của Phật là cái sự nhiếp phục và chế ngự những cái tham thô trọng, cái chỗ này là cái chỗ rất sâu sắc để quý vị thấy cái ý nghĩa của giới đó chứ không phải Đức Phật bắt phải bỏ cái này, phải làm cái kia mà Đức Phật biết rằng cái tham này một khi mà mình say đắm trong đó, mình bị chinh phục trong đó, mình bị xâm chiếm trong đó thì nó sẽ làm hại mình, hại người, hại gia đình mình, hại bản thân mình, hại xã hội, hại nhân loại.
Bây giờ quý vị thấy chiến tranh có phải lòng tham không? Có tham, sân, si trong đó không? Bao nhiêu con người đau khổ, phải sống ở trong hồi hộp, sống trong lo lắng, sống trong sợ hãi, sống ở trong máu đổ đầu rơi, nhà tan cửa nát. Cứ vài phút là có một em bé ra đi, cứ vài phút là có những hài nhi tan xương nát thịt, cứ vài phút là có những tấm thân hình ngã xuống, đổ xuống, sụp xuống và không nhìn ra ai hết, văng đầu một chỗ, tai chân một chỗ, bầy nhầy gan ruột, thịt da. Tất cả những cái đó có phải là từ tham không? Nhìn thấy sợ chưa cho nên mình phải ý thức, nhận thức một cách sâu sắc cái tầm vóc nguy hiểm, tác hại, sự tai họa, sự khổ nạn, khổ ách, khốn đốn, hoạn nạn của cái tham, cái ái, cái dục này thì mình mới có một c sức mạnh để chế ngự nó, nhiếp phục nó, rời xa nó, từ bỏ nó, thoát ra nó. Còn nếu mình thấy nó bình thường, thường thường thì thôi thoát làm chi? Mình đâu có muốn thoát ra đâu.
Bây giờ mình nhìn thấy cái con đó nhỏ xíu kế bên mình thấy ôi kệ nó nhưng nếu mình nhìn, mình biết con này có chất độc khủng khiếp lắm, tuy nó là con rắn rất nhỏ nhưng mà con rắn này rắn độc chỉ cần nó cắn mình một miếng thôi là mình xong cuộc đời thì lúc đó mình có lo lắng, sợ hãi, mình có muốn đi xa, tránh xa, từ bỏ, thoát ra khỏi nó không? Còn nếu mình thấy nó bình thường, con này dễ thương, vuốt vuốt, rờ rờ, nó mổ rồi sùi bọt mép, giật giật rồi ngã xuống là xong. Cũng vậy, khi mình không thấy được thật sự cái bản chất ác độc của tham, sân, si thì mình không có sức mạnh để nhiếp phục, chế ngự, rời xa, từ bỏ và thoát ra, đây gọi là thánh trí về tham, sân, si chứ không phải như trước nay mình học về tham, sân, si đơn sơ, đơn giản vậy đâu.
Mình đã thấy ớn tham, sân, si chưa? Có sợ tham, sân, si không? Có ngao ngán với nó chưa? Có chán chường nó chưa? Vì Đức Phật nói tâm bị sân làm uế nhiễm, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm cho nên làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Những trái lựu đạn, những cái mưa bom bão đạn, những giọt nước mắt và những cái sông biển bằng máu xương chất thành núi, máu chảy thành sông đều từ cái tâm sân hận này ra, đều từ cái tâm si mê này ra, cái tâm mê mờ này, cái tâm dạ khờ này, cái tâm mờ tối, cái tâm mù lòa, cái tâm trong bóng đêm, bóng đen này thì nó không nhận thức được vui hay là khổ, thiện hay là bất thiện, đúng hay sai, phải hay quấy.
Khi cái tâm mờ tối thì nó chỉ là sống theo bản năng, theo một cái tôi, một cái ta, một cái ngã mạn, một cái ngạo mạn, một cái kiêu mạn. Nhiều khi cha mẹ mình mà có khi mình có bản ngã không ta? Vợ chồng với nhau sống mấy chục năm mà có bản ngã với nhau không? Sao kỳ vậy? Như vậy cái tâm này là cái tâm có sáng không hay là cái tâm si? Mà cái này nó thường xảy ra nhiều không? Từ cái tâm si này có tham, có sân và đây là cái đống khổ là cái nguyên nhân để đưa đến hận thù, chiến tranh, nước mắt, máu hồng, đưa đến sự rạn nứt, sự chia rẻ, sự đổ vỡ, sự tan nát, tan tành, tan hoang, tan rã, tiêu tan tất cả tình thương.
Tất cả hiếu thảo, tất cả lễ nghĩa trên cuộc đời này khi tham, sân, si này xâm chiếm vô, bản ngã nó xâm chiếm vô rồi thì không còn nữa hết. Quý vị có nhìn thấy vụ án bà mẹ chia đất cho con gái nhưng người này không hài lòng, so đo, phân bì tại sao chia cho con trai ở mặt tiền còn mình ở trong hẻm, sau đó cô này đốt nhà, lan tới mẹ rồi mấy người trong đó chết và bản thân cô này mất mạng luôn. Như vậy cái này là xăng nó đốt, dầu nó đốt, lửa nó đốt hay là cái tâm sân nó đốt?
Đâu phải xăng, đâu phải dầu, đâu lửa mà cái động cơ thật sự bên trong là cái lòng tham, tham không được thì sân, mà từ đâu mà nó có ra cái tham, cái sân này, chính là si mê, vô minh, không thấy được sự hiếu thảo, không thấy ân nghĩa không thấy ân đức sanh thành. Lúc đó cái tâm bị si mê, bị vô minh, bị hôn ám, bị mù lòa, nó bị không mắt, Đức Phật nói tham, sân, si này tác thành không mắt, tác thành mù lòa, yếu ớt trí tuệ, hại mình, hại người, hại cả hai, hại nhân loại, hại cả thế giới. Đó là một cái ví dụ thực tế, nhân chứng sống để chúng ta thấy một khi lòng tham này nổi lên thì không còn cha con, mẹ con, anh em, vợ chồng gì nữa hết.
Chúng ta có nhìn thấy không, nhiều khi là có mấy tờ giấy thôi, một hai triệu đồng, hay chỉ có năm trăm ngàn mà nói qua nói lại hai vợ chồng sát hại nhau. Bây giờ những chuyện này có nhiều không? Như vậy có phải là cái tờ giấy đó giết người hay là cái tâm tham đó nó giết người? Con người đó giết cái con người hay là cảm giác sân hận, bản ngã đó giết người? Thành ra kẻ vô văn Phàm phu của mình chỉ nhìn thấy cái ngọn thôi, nhìn thấy cái miếng đất đó, nhìn thấy cái can xăng đó, nhìn thấy cái đống lửa đó nhưng mình không nhìn thấy được cái cảm thọ tham, sân, si bên trong, chúng ta thấy chưa?
Đó mới gọi là thánh trí tham, sân, si, đó là trí tuệ của bậc thánh, đó mới gọi là thánh trí tuệ, là sự thấy biết của bậc thánh, sự nhìn xuyên thủng, xuyên thấu, xuyên suốt qua, thâm sâu vào trong ngũ uẩn này, vào trong cái bản chất của cái đời sống này, vào trong nguyên nhân của tất cả đau khổ ở trong cuộc đời này, ở trên thế gian này, ở trên toàn thể thế giới, trên địa cầu này, tất cả cái khổ đều bắt nguồn từ tham, sân, si vậy mà chúng ta sống chung với nó, chúng ta ăn chung với nó, uống chung với nó, ngủ chung với nó, ở chung với nó mà mình rất cưng nó.
Có cưng nó không? Có làm bạn tri âm, tri kỉ với tham, sân, si không? Nó khởi lên là mình nghe theo, nó kêu "thôi bây giờ ngủ đi chứ ngồi thiền gì, mệt lắm, vô ngủ đi", mình có nghe lời không, nó kêu "thôi giờ ăn đi, đói bụng quá mà nghe pháp gì" thì nhiều khi lâu lâu cũng nghe lời của nó nữa, rồi nó kêu "phải phải nói cho ra lẽ mới được, không chịu thua, mình nhịn hoài người ta nói mình ngu à" rồi nghe lời nó không, vậy là mình có thông minh không hay là vô minh. Cái nào nhiều hơn? Bởi vậy mới khổ, nhất chí không?
Cho nên cái rất quan trọng là mình phải nhìn thấy được tham, sân, si này, mình không thấy nó là mình chết tức, chết tưởi, chết cay, chết đắng, chết nhục, chết nhã, chết oan, chết ức, chết bờ, chết bụi, chết bất đắc kỳ tử, chết mà không biết tại sao mình chết là tại vì mình không biết tham, sân, si, tại vì mình không thấy tham, sân, si, tại vì mình không hiểu tham, sân, si, tại vì mình có học được ở trong của bậc thánh đâu mà mình biết.
Như vậy bây giờ mình được học tham, sân, si mình hạnh phúc không? Hoan hỉ không? Đầu tiên mình phải biết tham, sân, si ở đâu ở đâu, chính là ở trong cảm thọ, trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác khó chịu có sân, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu có si, như vậy đó là mình mới biết được ở trong tâm mình thôi, bây giờ tham, sân, si biểu hiện trên thân, nó có chỗ biểu hiện trên thân luôn. Bây giờ trước khi chỉ cái này thì mình phải để ý hồi sáng nay đó chúng ta ngồi thiền có thực tập cảm giác toàn thân để thực tập cái cảm giác toàn thân để mình mới nhận diện ra được. Mình phải thực tập cái cảm giác toàn thân vì cái này rất quan trọng, cực kỳ quan trọng cực kỳ, mình thường thường để ý trở lại, mình kiểm tra từ ở trên đầu, trên mặt, trên vai, trên tay, cánh tay, ngực, bụng, lưng, mông, chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân, mình rà hết từ trên xuống dưới giống như đi qua hải quan người ta kiểm tra an ninh. Người ta kéo qua kéo lại chỗ nào tít tít là phải vô kiểm tra, như vậy mình phải thường xuyên an trú cảm giác toàn thân để mình nhận diện ra nó có đồ hàng lậu trong đó không. Tại vì Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, cái câu này rất quan trọng.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây"
(Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Mình muốn biết trong con người mình có cái gì thì chỉ cần để ý vô cảm thọ là nó hiện ra hết, cảm thọ là cái kho chứa của tâm. Bây giờ chẳng hạn như mình đi qua Đà Lạt, mình đi về Sài Gòn, mình đi xuống Hà Tiên, Rạch Giá, mình đi qua Thái Lan, qua Mỹ, tất cả cái cảnh mình từng đi rồi mình cũng đi qua, tất cả con người mình từng tiếp xúc rồi cũng qua, mình cũng quên, rồi tất cả những thức ăn mình ăn rồi cũng qua nhưng mà có những cái cảm giác suốt đời mình không có quên, có những cái cảm giác suốt đời mình không có quên.
Tại vì cảm thọ là cái kho chứa của tâm, có những người sanh ra từ nhỏ tới lớn tánh tình điềm đạm, hiền lành, ít nói mà nhẹ nhàng, nhưng có những người đó từ nhỏ tới lớn cái tánh dữ dằn, cái tánh là nóng tánh, cọc cằn, dễ nổi nóng, dễ sân hận giống như Trương Phi, đó là nó huân tập từ đời trước, còn có những người thì cái tánh rất là sắc bén, rất là bén nhạy, rất là lanh lợi, rất là linh hoạt, nhưng cũng có những người giống như cục bột, để đâu ngồi y chỗ đó, hỏi thì nói, có khi hỏi cũng không nói nữa.
Tất cả những cái tánh tình đó là nó huân tập ở trong cảm thọ này từ đời trước cho nên bây giờ nó sanh ra tiếp tục cái cảm thọ đó. Chúng ta có để ý cái này không? Chính vì vậy mà bây giờ mình tu là mình thường xuyên quay chở về để mình coi cái cảm thọ của mình, bài học hồi chiều này chúng ta có nghe là an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, đó là mình tưới tẩm và nuôi dưỡng cảm thọ cho nên cái cảm giác toàn thân này là cực kỳ quan trọng, tu mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi khắc, không lúc nào để cho lãng quên cái pháp hành này hết là cảm giác toàn thân.
Đặc biệt rõ biết ở trước mặt là con mắt khi mình ngồi thiền phải mở ra và nhìn xuống về phía trước, đừng có nhắm lại vì nhắm một hồi là ngủ luôn cho nên phải rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác, mình phải biết rõ thọ; tưởng; hành ở bên trong. Bây giờ mình thường an trú trong cảm giác toàn thân này, mình thường để ý cái cảm thọ, cảm xúc của mình, cái cảm giác của mình thì mình sẽ phát hiện ra tham, sân, si nó biểu hiện trên thân. Khi mình giận thì lúc đó ra sao? Ai nóng tánh mình biết liền tới chừng mình nóng mình không biết nó tự đâu ra nữa, phải không? Thấy chưa? Mình giận lên là từ chỗ lồng ngực nóng lên, nó bốc hỏa lên, hơi nóng từ lồng ngực bốc lên gương mặt nên nó đổi màu đỏ, lỗ tai lùng bùng, con mắt lờ đờ, cái miệng thì giật giật.
Như vậy từ ở chỗ lồng ngực này khởi động, đây là trung tâm của tất cả các cảm thọ cho nên khi có chuyện gì là chỗ này biến động. Khi mình nóng lên, bực lên, tức lên, giận lên, sân lên thì từ chỗ này nó bốc lên một cái khí nóng, một cái hơi nóng, nó thiêu đốt thân tâm của mình và nó biểu hiện ở trên gương mặt mình đỏ, lỗ tai mình đỏ, con mắt mình đỏ rồi bắt đầu làm cho cái miệng tung ra những từ không hay, gọi là sát thương nhau bằng vũ khí của miệng lưỡi, đó là từ trong kinh tạng Nikāya. Như vậy sân là nằm ngay chỗ lồng ngực, cái dục là ở chỗ phát dục, khi có ham muốn thì chỗ đó sẽ động chuyển, nó thay đổi và khi si là nó biểu hiện ở trên con mắt và cái gương mặt của mình. Nhìn vô ánh mắt có biết si không?
Con mắt là cửa sổ của tâm hồn mà cái này đóng cửa sổ, lúc mình buồn ngủ, lúc cái tâm lờ mờ nhìn vô là biết liền, lúc ngồi thiền nhìn ai si là biết ngay, quý vị nào có đi thiền viện sẽ biết cây thiền bảng, đánh không có đau nhưng tạo âm thanh hết hồn đó, người nào ngồi gần tim đập liên hồi tưởng đau nhưng không có đau, người ta làm miếng ván rất mỏng đánh xuống tạo ra âm thanh để mình tỉnh táo.
Cho nên cái si biểu hiện trên hai con mắt với gương mặt, mình thấy ngồi mà mắt nhướng lên nhưng cứ sụp xuống, lờ đờ là si biểu hiện ra đó, sân biểu hiện ở lồng ngực và tham dục biểu hiện ở cái chỗ phát dục, đó là biểu hiện trên thân, còn trong tâm thì hôm qua chúng ta đã nói trong ba cảm thọ. Bây giờ tại sao có tham, sân, si? Đức Phật nói là có thức của tham, sân, si, ăn vì mình cho nó ăn cho nên càng ngày nó càng lớn mạnh, nó mập mạp ra. Thức ăn của tham mà cái danh từ chuyên môn gọi là tịnh tướng, mình cho nó là đẹp, là mình thích nó hoài, ngày nào mình còn cho cái đó là đẹp thì ngày đó mình còn thích cái đó. Điều này Đức Phật nói, là sự chứng ngộ của Đức Phật.
Mình nhìn thấy chiếc xe đẹp mình có thích không? Thấy căn nhà đẹp mình có thích không? Mình có món đồ đẹp mình có thích không? Và con người đẹp mình có thích không? Đó là thức ăn của tham, là mình cho nó là đẹp, cái bao rác mà nó hôi, nó dơ như vậy, mấy cái đồ ăn à mình để giòi bò trong đó rồi mình còn muốn ăn nữa không? Như vậy để đối trị cái tham này Đức Phật đưa ra cái bất tịnh tướng, chúng ta thấy bệnh nào thuốc nấy rõ ràng lắm, không có lờ mờ, không phải là cái nào vô cũng đưa một câu niệm hết. Mình muốn cho mình đừng có tham cái đó nữa mình phải thấy được cái tính chất bẩn thỉu, giả dối, bất tịnh, những cái tính chất xấu xa ở trong đó, chẳng hạn bây giờ hai vợ chồng nói "thôi giờ đường anh anh đi, đường tôi tôi đi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi" lúc đó là lúc xấu xa quá rồi, "Tôi chán quá rồi, Tôi chịu hết nổi, đường ai nấy đi" thì lúc đó là có phải nhìn thấy được cái bất tịnh tướng không? Thấy rõ chưa?
Lúc mình mới gặp thì lúc đó là tịnh tướng không? Mới gặp, mới quen thì mình toàn thấy tịnh, cái dáng đi cũng dễ thương, cái gương mặt cũng đẹp trai, ánh mắt rồi nụ cười có duyên, cái gì cũng giỏi hay hết, tới chừng về ở chung ôi cha mèn đét ơi, trời đất ơi, ôi trời ơi, trời ơi là trời. Lúc đầu là mình thấy tịnh, mình nhìn những cái khía cạnh, những cái góc độ tốt đẹp, mình đứng xa xa nhìn mới đẹp nhưng mà tới chừng ở chung rồi lộ ra hết, có cái gì là bày ra hết, những cái tập khí xấu xa, cái tánh ích kỷ, sân hận, bản ngã này kia bung ra hết, lúc đó mình nhìn thấy ôi cha ơi, trời đất ơi, thôi đường anh anh đi, đường tôi tôi đi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi. Đó là ví dụ để cho mình dễ hiểu, bây giờ đi sâu vào cái pháp đó là khi nhìn thấy cái thân này là thấy cái lớp da trơn láng, mình nhìn cái vẻ ngoài rồi thêm phấn son nữa, trang sức, mỹ phẩm thì đẹp rồi nhưng nếu nhìn sâu vào bên trong lớp da là máu, thịt, mỡ, mủ rồi xương, tim, gan, phèo, phổi. Trong này khủng khiếp quá, ớn quá, nghe nói sợ người hết trơn rồi.
Đức Phật kêu mình nhìn sâu vô, nhìn bằng trí tuệ sâu sắc vô để quán chiếu, cái chữ quán tuyệt vời lắm, quán xong chưa đủ còn thêm chữ chiếu vô nữa. Tức là không phải cái nhìn bình thường của phàm phu mà phải nhìn sâu vô xuyên qua cái lớp da này, xuyên qua cái mỡ này, cái thịt này, cái máu này, nhìn vô phân, nước tiểu, ruột, màn ruột, phổi rồi gan, tim, phèo, lá lách, bao tử, dạ dày. Nhìn thấy một đống như vậy bên trong rồi có bớt tham không? Ngay tại chỗ này đang nói thì mình thấy ớn ớn không? Mình thấy ngán ngán không? Mình thấy chán chán không? Thiết thực hiện tại là vậy đó, hiệu quả tức thời là vậy đó, lúc nào mình nhớ cái đó thì lúc đó mình sẽ bớt tham ái, tham dục, ái dục đối với tự thân mình cũng như đối với thân người khác.
Tại sao mình giận? Nếu mình không học là không bao giờ mình biết hết, tại sao mình giận? Gọi là chướng ngại tướng là chướng tai gai mắt, nói tiếng Việt của mình là chướng tai gai mắt, hễ ngày nào trong tâm mình còn suy nghĩ đối tượng đó là chướng tai gai mắt thì lúc đó còn giận, còn tức, còn sân, còn bực, không bao giờ hết.
Thầy Thiện Huệ:
Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng bất động đối với Đức Phật ngài là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chánh pháp, pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng, diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng, chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời.
Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với thánh giới, giới được các bậc thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định.
III. Bệnh thân – bệnh tâm
Sư Phụ: Cái món đồ đó, sự việc đó, con người đó là mình thấy khó chịu, mình bực bội, bất mãn, bất bình, còn cái suy nghĩ đó, cái tư tưởng đó thì cái tâm giận này không thể hết được, cái tâm sân này sẽ còn tồn tại. Đó là lý do tại sao mình giận là vì mình cho đó là chướng tai gai mắt, đó là thức ăn của cơn giận, như vậy làm sao để thì hết giận Đức Phật dạy mình từ tâm giải thoát, từ đây cho đến cuối khóa mình sẽ được thực tập từ vô lượng tâm. Khi mình có một cái tâm từ, có cái tâm thương thì tự động mình sẽ thoát ra khỏi cái tâm bực bội, khó chịu đó, mình không có tâm thương thì mình không đi ra khỏi được tâm giận, lúc nào mình có tâm thương thì tự động là mình sẽ thoát ra cơn giận đó, tình thương đó giúp cho mình đi ra khỏi cơn giận.
Bây giờ nói thí dụ quý vị dễ hiểu, đứa con quý vị còn nhỏ năm ba tuổi thôi, nó bệnh nên nửa đêm khóc, nó la, nó hét đủ thứ hết, nó làm cho mình thức giấc, mình ăn không ngon, mình ngủ cũng không yên nhưng mà mình có giận không? Tại sao không giận? Vì mình thương đó là con mình, nó đang bệnh mà, khi mình hiểu mình thương thì mình không có giận, cũng vậy tất cả mình cũng là bệnh nhân, bệnh trầm kha bệnh, rất nặng, Đức Phật nói có thể có một người tự cho rằng từ khi sanh ra cho đến chết không có bệnh thân, nhưng không có ai không có bệnh tâm dầu chỉ trong một giây phút. Có thể có người cho rằng từ khi sanh ra cho đến già, đến chết không có bệnh thân, nhưng không có ai không có bệnh tâm dầu chỉ trong một giây phút.
"- Này các Tỳ-kheo, có hai loại bệnh này. Thế nào là hai? Bệnh về thân và bệnh về tâm.
Này các Tỳ-kheo, chúng ta thấy có chúng sanh tự nhận mình là không thân bệnh được một năm, tự nhận mình là không thân bệnh được hai năm, được ba ... được bốn ... được năm ... được mười ... được hai mươi ... được ba mươi ... được bốn mươi ... tự nhận mình là không thân bệnh được năm mươi năm, tự nhận mình là không thân bệnh được một trăm năm. Các chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình là không tâm bệnh dầu chỉ trong một khoảnh khắc, trừ những vị đã đoạn trừ các lậu hoặc."
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XVI. Phẩm Các Căn, (VII). Bệnh)
Như vậy mình là bệnh nhân, bệnh tâm thần, cái tâm mình bị tham, sân, si là mình bệnh tâm thần đó. Mình thấy một người giận lên giống một cơn điên không? Người ta nói giận là một cơn điên ngắn mà nếu mà giận hoài như vậy thành cơn điên dài là điên thật luôn, như vậy khi có tham, có sân, có si thì lúc đó là tâm bệnh và cái tâm bệnh này cần phải được trị. Mình phải ý thức được cái nguy hiểm, cái tác hại, cái mức độ, cái sự nghiêm trọng của bệnh trạng này nếu như mà mình không có ý thức, không nhận thức, không hiểu biết một cách tận tường, sâu sắc và đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ, tai hại mà cái bệnh này đem lại thì mình sẽ không có nỗ lực, cố gắng để mình trị bệnh và lâu ngày thì nó đi đến một giai đoạn cuối, rồi ung thư giai đoạn cuối còn trị được không, hết trị rồi. Nếu lúc đầu phát hiện thì còn có thể điều trị tích cực được nhưng khi đã đưa ra một cái kết quả bác sĩ chạy rồi, bác sĩ chê rồi đưa về là xong.
Tại vì mình xem thường cái chứng bệnh, những cái triệu chứng cho nên ở đây tu chính là mình trị cái bệnh tâm của mình và cái bệnh sân này nó cần cái tâm từ để trị, cái bệnh tham này cần cái bất tịnh để trị, mình tu tập cái tâm thương này để hóa giải triệt để cái tâm sân. Bây giờ tại sao mình có si? Trong kinh Đức Phật nói rõ lắm, thức ăn của si là ăn no, làm biếng, uể oải, dã dượi, đó là thức ăn thụ động của si, cái này mình có không ta? Ăn một tô bự như vậy lên ngồi thiền thì làm sao ngồi nổi vì thế khi sắp sửa tới giờ ngồi thiền thì ăn vừa phải thôi cho nên thụ động, biếng nhác, ăn no, uể oải, dã dượi là thức ăn của si. Bây giờ muốn thoát khỏi cái si thì Đức Phật dạy tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh với mạnh mẽ lên, tinh tấn lên, làm cho cái tâm mình mạnh mẽ lên, tinh tấn lên, dõng mãnh lên, quật cường lên rồi mình quán chiếu cái trí tuệ thì mình phá được cái si mê.
Đức Phật nói từng cái, từng cái một chúng ta thấy rõ ràng không? Đó là mình nói khái quát, sơ lược, tham, sân, si biểu hiện ba chỗ ở trên thân, ở trong tâm thì nó ở trong ba cảm thọ. Sự vận hành của tham, sân, si mình diễn tả nãy giờ rồi, tại sao có tham, sân, si, thức ăn của nó là mình thấy rõ rồi, làm sao để diệt tham, sân, si là thấy rõ luôn. Đó là thánh trí huệ của Đức Phật, mình để ý cho thật kỹ vào trong cái cảm giác của mình, mình để ý cho thật kỹ vào trong cái cảm thọ của mình, mình để ý cho thật kỹ vào trong cái cảm xúc của mình để mình đừng có bị ba cái tên giặc này, ba cái loại thuốc độc này, ba cái con rắn độc này, ba cái thứ giết người làm hại mình trong vô lượng, vô biên kiếp này.
Bây giờ để cho nó lắng dịu tham, sân, si mình tu tập tâm hiền, cái này tuyệt diệu, con xin thưa với quý vị là trong đạo tràng Nikāya chúng con người mới vô tu tám tháng tâm hiền rồi mới tu tới những cái khác. Phải làm sao thường thường để ý cái cảm thọ hiền của mình, dễ bảo, dễ nghe và dễ mến, lắng dịu, dễ chịu, hiền thiện, làm cho cái tâm mình rất nhẹ nhàng, cái thân mình rất là ung dung và cái thọ của mình rất là hỷ lạc. Mình an trú cái tâm hiền này rất là tuyệt vời, hồi xưa mình chưa có tu tập tâm hiền thì chỉ cần nhìn thấy một sự việc, một con người hay là nghe một câu nói gì đó là mình bực lên liền, đó gọi là cái tâm vết thương, tâm vết thương là chạm tới là sừng sộ lên, la lối lên, chạm tới nó la oai oái lên thì bây giờ mình tu tập cái tâm hiền là nhìn thấy, hay là nghe chuyện không vừa lòng thì lúc đó có thể gợn lên khó chịu nhưng sau đó mình tác ý là nó tan liền, nó lắng dịu liền. Nhưng muốn được như vậy phải có một sự thực tập bền bỉ, dụng công phu rất là nhiều ở trong cái cảm xúc thường xuyên của mình, thường xuyên nhắc cái cảm thọ của mình.
Khi ăn mình có tu tâm hiền được không ạ? Không có húp nghe sồn sột, không có nhai rồn rột. Khi đi mình có tu tâm hiền được không ạ? Đi nhẹ nhàng. Khi nói phải kiểm tra giọng nói của mình, cái khẩu khí của mình. Khi suy nghĩ về người khác thì kiểm tra coi mình có nghĩ hiền không, có nghĩ về người ta theo góc độ tốt của người ta không, hay là mình khai thác góc độ xấu, hay là mình chỉ nhìn vào những cái tập khí, những cái nghiệp của người ta mà mình không có sự hiểu thương để cảm thông. Cho nên mình thường xuyên tưới tẩm tưới tẩm mình xông ướp, mình huân tập, giống như cơ thể mình mà không uống nước thì nó sẽ khô khan, con người mình lần lần tiều tụy, héo hon, còn người có đủ nước thì nhìn tươi tắn, tươi trẻ, nó khỏe, nó tươi nhuận, cái sắc nó đẹp cũng giống như cái cây nếu thiếu nước thì nó cũng éo uột, nó cũng héo.
Khi mình thường thường tưới nước vào, thường thường mình tưới tẩm cho cảm thọ mình dễ chịu, ngọt ngào, lắng dịu, hiền thiện, hiền từ, hiền nhân, hiền hậu, hiền hòa, hiền đức, hiền lương, hiền lành, hiền kính, hiền trí thì cái này nhiều cái để mình tu lắm, nhiều góc độ của tâm hiền chứ không phải nói đơn giản chỉ có một chữ hiền thôi, nhiều góc độ, nhiều khía cạnh của tâm hiền. Thí dụ hiền lành, hay là hiền hậu, hay là hiền đức là chẳng những hiền mà còn lành nữa, hiền mà còn lành nữa, chọn điều lành làm, không chẳng những hiền mà còn hậu nữa là sống có hậu, thí dụ như người đó làm sai sót cái gì đó, đúng ra là sai sót tới năm chuyện nhưng khi nhắc nhở, mình chỉ nói vừa phải hai chuyện, ba chuyện thôi, rồi tới lúc nào phù hợp mình nhắc tiếp. Hoặc là món ăn đó mình ăn hết nhưng mà mình chừa lại chút xíu cho có cái hậu, cho người sau còn để ăn, chẳng hạn như giờ mình đi ăn buffet tự chọn thì mình biết phía sau mình còn huynh đệ mà cái dĩa đó còn lại mấy miếng, mình hốt hết thành ra cái đó cũng có tham mà cũng không có hậu nữa. Hậu là còn phía sau nữa, để cái hậu lại, phai vừa hiền vừa có hậu nữa, rồi hiền đức nữa.
Người trồng cây kiểng người chơi
Ta trồng cây đức để đời cháu con
(Ca dao)
Vừa hiền vừa sống còn có đức nữa, nhiều cái hay lắm, thành ra trong cái tâm hiền này có nhiều công đức, nhiều khía cạnh, nhiều thiện pháp tuyệt vời ở trong đó, từ từ mình tu tập đi rồi tự động mình sẽ thấy, tự động mình sẽ tăng trưởng, tự động mình phát triển rồi tự động mình sanh ra trí tuệ để nhìn được mọi mặt của tâm hiền và khi mình có được tâm hiền này thì mình rất là dễ chịu, gặp người khó chịu mình vẫn dễ chịu, gặp người bực bội mình vẫn có thể nhẹ nhàng, gặp người gây sự kiếm chuyện với mình, mình cũng vẫn có thể trải tình thương với họ.
Chỗ này là cái chỗ tuyệt diệu cho nên gặp người mà dễ chịu với mình thì mình dễ chịu lại đó là chuyện bình thường, gặp người khó chịu với mình mà mình dễ chịu với họ thì cái này mới là tuyệt diệu. Người ta khó chịu với mình mà mình khó chịu lại bình thường, người ta khó chịu với mình mà mình vẫn dễ chịu với họ thì cái này mới là tuyệt diệu, đó là người có tu tâm hiền trong mọi hoàn cảnh mọi sự việc thậm chí là bao nhiêu chuyện tới với mình mà mình vẫn lắng dịu, nhẹ nhàng, bình thản, không sao hết, từ từ giải quyết, không có vấn đề gì hết.
Tất cả đều có nhân quả nghiệp báo, tất cả các pháp là do nghiệp vận hành, nhân quả vận hành, mình muốn xen vô cũng không được nữa, mình cứ an tịnh, lắng dịu và tâm mình cứ bình tĩnh, sáng suốt rồi mình sẽ nhìn ra được những cái chính xác, đúng đắn và những cách giải quyết của mình rất là tuyệt vời nếu mình có một cái tâm lắng dịu, hiền hòa, hiền trí.
Thật sự con thưa với quý ngài là con trói voi bỏ rọ, khóa tu của chúng con là hai tuần mà chúng ta có hai ngày rưỡi thôi, không biết làm sao mà con gói hết thánh trí huệ, đem hết trái tim cho quý vị trong hai ngày rưỡi thôi, thành ra con với thầy Huệ phải suy nghĩ thật là nhiều cách làm sao trong thời gian ngắn nhất để quý vị tiếp thu nhanh nhất, sâu nhất và những cái quan trọng nhất trong hai ngày rưỡi thôi. Thành ra cố gắng cùng với con nha, cố gắng cùng với quý thầy.
IV. Thực tập tâm hiền
Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên trái
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía sau,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía trên,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía dưới,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bề ngang,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Tâm hiền này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm hiền này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
./.
Tội Ác Của Tham Sân Si
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện tham – sân – si PAGEREF _Toc209282295 \h 1
II. Sự nguy hại của tham – sân – si PAGEREF _Toc209282296 \h 3
III. Bệnh thân – bệnh tâm PAGEREF _Toc209282297 \h 12
IV. Thực tập tâm hiền PAGEREF _Toc209282298 \h 16
I. Nhận diện tham – sân – si
Kính bạch chư tôn đức và kính thưa chư vị hiền trí, sáng hôm nay chúng ta đã được nhận diện ngũ uẩn là thấy biết được thân tâm của mình, sau đó chúng ta đã được nhận diện tham, sân, si để thấy được ở trong ngũ uẩn này có những nguyên nhân làm cho mình khổ đau. Ba chữ tham, sân, si này ai cũng nói được, ai cũng đã từng nghe, thậm chí là mình nghĩ là mình hiểu nhưng mà đối với tinh thần của kinh tạng Nikāya không đơn giản như mình hiểu, ba chữ tham, sân, si này rất là thâm sâu, nó rất là sâu kính.
Để hiểu được ba chữ tham, sân, si này là cả một cái trí tuệ mà trí tuệ không phải của người phàm, dầu cho mình có học bao nhiêu cái bằng tiến sĩ đi nữa mình cũng không biết, chỉ duy nhất chỉ có một người ở trong tam thiên, đại thiên thế giới này chỉ ra cho mình được đó là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Như vậy đầu tiên mình phải biết tham, sân, si ở đâu, sau đó mình phải biết là tại sao có tham, sân, si và tiếp theo mình phải biết cái hành tướng của tham, sân, si tức là tham, sân, si khi sanh khỏi cái tướng trạng nó làm sao, nó vận hành làm sao, kế đó là mình phải biết được cái tác hại, cái tai họa, cái sự đau khổ mà nó đưa đến cho mình, sau cùng mình phải biết cái phương pháp, cái cách thức nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận tham, sân, si.
Một bậc để nhìn thấy tham, sân, si một cách chính xác, rõ ràng là thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, là bậc chánh kiến, bậc minh kiến, là bậc nhìn thấy được tham, sân, si. Những vị đã nhiếp phục, chế ngự, quét dọn, lau chùi khấm khá là nhị quả với tam quả, và đến khi sạch sẽ hoàn toàn không còn chút nào nữa là tứ quả, là bậc thánh tối cao ở trong Phật giáo, không còn có thánh nào cao hơn đó nữa. Như vậy toàn bộ cái tiến trình tu học chúng ta là thấy được tham, sân, si, nhiếp phục, chế ngự tham, sân, si, đoạn tận, tẩy sạch hết tham, sân, si, chỉ bấy nhiêu đó thôi, chúng ta tu có ba chữ thôi, không có nhiều nhưng tu mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, đi chùa từ đầu xanh cho tới đầu bạc mà mình thấy tham, sân, si chưa? Chúng ta nghe vài cái bài kinh thì chúng ta mới thấy cái giá trị lớn của nó.
"Rồi du sĩ ngoại đạo Moliyasìvaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, său khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ ngoại đạo Moliyasìvaka bạch Thế Tôn:
-Pháp là thiết thực hiện tại, Pháp là thiết thực hiện tại, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
- Vậy này Sìvaka, ở đây Ta sẽ hỏi Ông; nêu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời. Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham'? Nội tâm không có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham'. Nội tâm không có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham'. Như vậy này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có sân...(Như trên)...Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si'? Hay nội tâm không si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không si'?
-Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si', hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không si'. như vậy, này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có tham pháp,... hay nội tâm có sân pháp..., hay nội tâm có si pháp..., Ông có biết: 'Nội tâm ta có si pháp'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Hay nội tâm không có si pháp. Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si pháp'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có si pháp, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si pháp', hay nội tâm không có si pháp, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si pháp. "Như vậy, này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
- Thật vi diệu thay! ... Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng." (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (V). Cho Ðời Này (1))
Không có thời gian tức là không phải đợi tới ngày mai, tuần sau, tháng sau, năm sau hay là không phải đợi tới chết mới có kết quả mà pháp của Phật là ngay đây, ngay lập tức có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, không có chờ đợi trải qua thời gian gì hết, có khả năng làm cho mình đi lên, được người trí tự mình thấy biết giác hiểu. Đức Phật nói cái bài kinh đó xong thì cái ông này đổi đạo, cãi đạo đi theo Đức Phật làm đệ tử tại gia. Như vậy thì thiết thực hiện tại là ở chỗ nào? Cái giáo pháp của Đức Phật thiết thực hiện tại là ở chỗ nào? Còn rất là nhiều bài kinh, có một vị đến hỏi thế nào là Niết-bàn, chính là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si là Niết-bàn, hết tham, hết sân, hết si là Niết-bàn.
II. Sự nguy hại của tham – sân – si
"Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nàlaka.
Rồi du sĩ Jambukhàdaka đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sàriputta:
-- 'Niết-bàn, Niết-bàn', này Hiền giả Sàriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.
-- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
-- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
-- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, I. Nibbàna (Niết-bàn))
Như vậy Niết-bàn ở đâu? Ở trong tâm nhưng tâm còn tham, sân, si là tâm đó không có Niết-bàn, cái tâm hết tham, sân, si mới là Niết-bàn. Bây giờ quý vị còn tham, sân, si mà đòi chỉ Niết-bàn thì làm sao chỉ?
"Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
- Pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
- Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Tham ái được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu."
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VI. Phẩm Các Bà-La-Môn, Vị Bà-La-Môn)
Như vậy khi mình bị say đắm ở trong lòng tham, mình bị cái tham đó chinh phục mình, bị lòng tham đó xâm chiếm thì mình nghĩ hay làm những điều hại mình, hại người, hại cả hai là như thế nào? Thí dụ mình có gia đình rồi mà mình gặp người vừa lòng thích ý mình có cái tham ái rồi mình dính líu, phạm giới tà dâm, lúc đó có hại mình, hại người, hại cả hai không? Bản thân mình có lo lắng, có khổ đau không? Rồi chồng hay vợ mình có đau khổ không? Rồi đi đến hậu quả con cái có khi là phải chia lìa, vợ chồng phân ly thì đó có phải là bị tham ái say đắm, bị tham ái chinh phục, tâm bị tham ái xâm chiếm cho nên nghĩ điều hại mình, nghĩ điều hại người, suy nghĩ đều hại cả hai. Thấy rõ chỗ này chưa? Và cảm thọ tâm khổ tâm ưu, cái tâm đó là một cái tâm khó chịu, một tâm sầu não, một tâm buồn khổ, một tâm lo lắng, cái tâm sợ hãi.
Bây giờ mình tham đi trộm cắp đồ của người ta thì cái việc ăn cắp đồ đó có hại mình, hại người không? Có hại cả hai không? Có đem đến cái cảm thọ khổ ưu không? Có sầu, bi, khổ, ưu, não không? Có đem đến lo lắng, bất an, sợ hãi, sống ở trong cái lo sợ hoài thì đó là bị tham ái làm cho say đắm, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm cho nên suy nghĩ làm những điều hại mình, hại người, hại cả hai và cảm thọ này làm cho cái tâm mình khổ, tâm mình ưu cho nên quý vị thấy cái giới của Đức Phật nếu như mình giữ là mình nhiếp phục và chế ngự được tham rất là nhiều. Trộm cắp có phải tham không ạ? Tà dâm có phải tham không ạ? Sát sanh có phải tham không?
Nói dối có vì mục đích để tham không? Có khi lừa gạt, dối trá người ta, rồi say sưa rượu men, rượu nấu, say sưa những chất nghiện ngập đó có phải vì mình tham không? Mình khoái không? Mình thích không? Mình say đắm trong đó không? Như vậy năm giới của Phật là cái sự nhiếp phục và chế ngự những cái tham thô trọng, cái chỗ này là cái chỗ rất sâu sắc để quý vị thấy cái ý nghĩa của giới đó chứ không phải Đức Phật bắt phải bỏ cái này, phải làm cái kia mà Đức Phật biết rằng cái tham này một khi mà mình say đắm trong đó, mình bị chinh phục trong đó, mình bị xâm chiếm trong đó thì nó sẽ làm hại mình, hại người, hại gia đình mình, hại bản thân mình, hại xã hội, hại nhân loại.
Bây giờ quý vị thấy chiến tranh có phải lòng tham không? Có tham, sân, si trong đó không? Bao nhiêu con người đau khổ, phải sống ở trong hồi hộp, sống trong lo lắng, sống trong sợ hãi, sống ở trong máu đổ đầu rơi, nhà tan cửa nát. Cứ vài phút là có một em bé ra đi, cứ vài phút là có những hài nhi tan xương nát thịt, cứ vài phút là có những tấm thân hình ngã xuống, đổ xuống, sụp xuống và không nhìn ra ai hết, văng đầu một chỗ, tai chân một chỗ, bầy nhầy gan ruột, thịt da. Tất cả những cái đó có phải là từ tham không? Nhìn thấy sợ chưa cho nên mình phải ý thức, nhận thức một cách sâu sắc cái tầm vóc nguy hiểm, tác hại, sự tai họa, sự khổ nạn, khổ ách, khốn đốn, hoạn nạn của cái tham, cái ái, cái dục này thì mình mới có một c sức mạnh để chế ngự nó, nhiếp phục nó, rời xa nó, từ bỏ nó, thoát ra nó. Còn nếu mình thấy nó bình thường, thường thường thì thôi thoát làm chi? Mình đâu có muốn thoát ra đâu.
Bây giờ mình nhìn thấy cái con đó nhỏ xíu kế bên mình thấy ôi kệ nó nhưng nếu mình nhìn, mình biết con này có chất độc khủng khiếp lắm, tuy nó là con rắn rất nhỏ nhưng mà con rắn này rắn độc chỉ cần nó cắn mình một miếng thôi là mình xong cuộc đời thì lúc đó mình có lo lắng, sợ hãi, mình có muốn đi xa, tránh xa, từ bỏ, thoát ra khỏi nó không? Còn nếu mình thấy nó bình thường, con này dễ thương, vuốt vuốt, rờ rờ, nó mổ rồi sùi bọt mép, giật giật rồi ngã xuống là xong. Cũng vậy, khi mình không thấy được thật sự cái bản chất ác độc của tham, sân, si thì mình không có sức mạnh để nhiếp phục, chế ngự, rời xa, từ bỏ và thoát ra, đây gọi là thánh trí về tham, sân, si chứ không phải như trước nay mình học về tham, sân, si đơn sơ, đơn giản vậy đâu.
Mình đã thấy ớn tham, sân, si chưa? Có sợ tham, sân, si không? Có ngao ngán với nó chưa? Có chán chường nó chưa? Vì Đức Phật nói tâm bị sân làm uế nhiễm, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm cho nên làm hại mình, làm hại người, làm hại cả hai. Những trái lựu đạn, những cái mưa bom bão đạn, những giọt nước mắt và những cái sông biển bằng máu xương chất thành núi, máu chảy thành sông đều từ cái tâm sân hận này ra, đều từ cái tâm si mê này ra, cái tâm mê mờ này, cái tâm dạ khờ này, cái tâm mờ tối, cái tâm mù lòa, cái tâm trong bóng đêm, bóng đen này thì nó không nhận thức được vui hay là khổ, thiện hay là bất thiện, đúng hay sai, phải hay quấy.
Khi cái tâm mờ tối thì nó chỉ là sống theo bản năng, theo một cái tôi, một cái ta, một cái ngã mạn, một cái ngạo mạn, một cái kiêu mạn. Nhiều khi cha mẹ mình mà có khi mình có bản ngã không ta? Vợ chồng với nhau sống mấy chục năm mà có bản ngã với nhau không? Sao kỳ vậy? Như vậy cái tâm này là cái tâm có sáng không hay là cái tâm si? Mà cái này nó thường xảy ra nhiều không? Từ cái tâm si này có tham, có sân và đây là cái đống khổ là cái nguyên nhân để đưa đến hận thù, chiến tranh, nước mắt, máu hồng, đưa đến sự rạn nứt, sự chia rẻ, sự đổ vỡ, sự tan nát, tan tành, tan hoang, tan rã, tiêu tan tất cả tình thương.
Tất cả hiếu thảo, tất cả lễ nghĩa trên cuộc đời này khi tham, sân, si này xâm chiếm vô, bản ngã nó xâm chiếm vô rồi thì không còn nữa hết. Quý vị có nhìn thấy vụ án bà mẹ chia đất cho con gái nhưng người này không hài lòng, so đo, phân bì tại sao chia cho con trai ở mặt tiền còn mình ở trong hẻm, sau đó cô này đốt nhà, lan tới mẹ rồi mấy người trong đó chết và bản thân cô này mất mạng luôn. Như vậy cái này là xăng nó đốt, dầu nó đốt, lửa nó đốt hay là cái tâm sân nó đốt?
Đâu phải xăng, đâu phải dầu, đâu lửa mà cái động cơ thật sự bên trong là cái lòng tham, tham không được thì sân, mà từ đâu mà nó có ra cái tham, cái sân này, chính là si mê, vô minh, không thấy được sự hiếu thảo, không thấy ân nghĩa không thấy ân đức sanh thành. Lúc đó cái tâm bị si mê, bị vô minh, bị hôn ám, bị mù lòa, nó bị không mắt, Đức Phật nói tham, sân, si này tác thành không mắt, tác thành mù lòa, yếu ớt trí tuệ, hại mình, hại người, hại cả hai, hại nhân loại, hại cả thế giới. Đó là một cái ví dụ thực tế, nhân chứng sống để chúng ta thấy một khi lòng tham này nổi lên thì không còn cha con, mẹ con, anh em, vợ chồng gì nữa hết.
Chúng ta có nhìn thấy không, nhiều khi là có mấy tờ giấy thôi, một hai triệu đồng, hay chỉ có năm trăm ngàn mà nói qua nói lại hai vợ chồng sát hại nhau. Bây giờ những chuyện này có nhiều không? Như vậy có phải là cái tờ giấy đó giết người hay là cái tâm tham đó nó giết người? Con người đó giết cái con người hay là cảm giác sân hận, bản ngã đó giết người? Thành ra kẻ vô văn Phàm phu của mình chỉ nhìn thấy cái ngọn thôi, nhìn thấy cái miếng đất đó, nhìn thấy cái can xăng đó, nhìn thấy cái đống lửa đó nhưng mình không nhìn thấy được cái cảm thọ tham, sân, si bên trong, chúng ta thấy chưa?
Đó mới gọi là thánh trí tham, sân, si, đó là trí tuệ của bậc thánh, đó mới gọi là thánh trí tuệ, là sự thấy biết của bậc thánh, sự nhìn xuyên thủng, xuyên thấu, xuyên suốt qua, thâm sâu vào trong ngũ uẩn này, vào trong cái bản chất của cái đời sống này, vào trong nguyên nhân của tất cả đau khổ ở trong cuộc đời này, ở trên thế gian này, ở trên toàn thể thế giới, trên địa cầu này, tất cả cái khổ đều bắt nguồn từ tham, sân, si vậy mà chúng ta sống chung với nó, chúng ta ăn chung với nó, uống chung với nó, ngủ chung với nó, ở chung với nó mà mình rất cưng nó.
Có cưng nó không? Có làm bạn tri âm, tri kỉ với tham, sân, si không? Nó khởi lên là mình nghe theo, nó kêu "thôi bây giờ ngủ đi chứ ngồi thiền gì, mệt lắm, vô ngủ đi", mình có nghe lời không, nó kêu "thôi giờ ăn đi, đói bụng quá mà nghe pháp gì" thì nhiều khi lâu lâu cũng nghe lời của nó nữa, rồi nó kêu "phải phải nói cho ra lẽ mới được, không chịu thua, mình nhịn hoài người ta nói mình ngu à" rồi nghe lời nó không, vậy là mình có thông minh không hay là vô minh. Cái nào nhiều hơn? Bởi vậy mới khổ, nhất chí không?
Cho nên cái rất quan trọng là mình phải nhìn thấy được tham, sân, si này, mình không thấy nó là mình chết tức, chết tưởi, chết cay, chết đắng, chết nhục, chết nhã, chết oan, chết ức, chết bờ, chết bụi, chết bất đắc kỳ tử, chết mà không biết tại sao mình chết là tại vì mình không biết tham, sân, si, tại vì mình không thấy tham, sân, si, tại vì mình không hiểu tham, sân, si, tại vì mình có học được ở trong của bậc thánh đâu mà mình biết.
Như vậy bây giờ mình được học tham, sân, si mình hạnh phúc không? Hoan hỉ không? Đầu tiên mình phải biết tham, sân, si ở đâu ở đâu, chính là ở trong cảm thọ, trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác khó chịu có sân, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu có si, như vậy đó là mình mới biết được ở trong tâm mình thôi, bây giờ tham, sân, si biểu hiện trên thân, nó có chỗ biểu hiện trên thân luôn. Bây giờ trước khi chỉ cái này thì mình phải để ý hồi sáng nay đó chúng ta ngồi thiền có thực tập cảm giác toàn thân để thực tập cái cảm giác toàn thân để mình mới nhận diện ra được. Mình phải thực tập cái cảm giác toàn thân vì cái này rất quan trọng, cực kỳ quan trọng cực kỳ, mình thường thường để ý trở lại, mình kiểm tra từ ở trên đầu, trên mặt, trên vai, trên tay, cánh tay, ngực, bụng, lưng, mông, chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân, mình rà hết từ trên xuống dưới giống như đi qua hải quan người ta kiểm tra an ninh. Người ta kéo qua kéo lại chỗ nào tít tít là phải vô kiểm tra, như vậy mình phải thường xuyên an trú cảm giác toàn thân để mình nhận diện ra nó có đồ hàng lậu trong đó không. Tại vì Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, cái câu này rất quan trọng.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây"
(Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Mình muốn biết trong con người mình có cái gì thì chỉ cần để ý vô cảm thọ là nó hiện ra hết, cảm thọ là cái kho chứa của tâm. Bây giờ chẳng hạn như mình đi qua Đà Lạt, mình đi về Sài Gòn, mình đi xuống Hà Tiên, Rạch Giá, mình đi qua Thái Lan, qua Mỹ, tất cả cái cảnh mình từng đi rồi mình cũng đi qua, tất cả con người mình từng tiếp xúc rồi cũng qua, mình cũng quên, rồi tất cả những thức ăn mình ăn rồi cũng qua nhưng mà có những cái cảm giác suốt đời mình không có quên, có những cái cảm giác suốt đời mình không có quên.
Tại vì cảm thọ là cái kho chứa của tâm, có những người sanh ra từ nhỏ tới lớn tánh tình điềm đạm, hiền lành, ít nói mà nhẹ nhàng, nhưng có những người đó từ nhỏ tới lớn cái tánh dữ dằn, cái tánh là nóng tánh, cọc cằn, dễ nổi nóng, dễ sân hận giống như Trương Phi, đó là nó huân tập từ đời trước, còn có những người thì cái tánh rất là sắc bén, rất là bén nhạy, rất là lanh lợi, rất là linh hoạt, nhưng cũng có những người giống như cục bột, để đâu ngồi y chỗ đó, hỏi thì nói, có khi hỏi cũng không nói nữa.
Tất cả những cái tánh tình đó là nó huân tập ở trong cảm thọ này từ đời trước cho nên bây giờ nó sanh ra tiếp tục cái cảm thọ đó. Chúng ta có để ý cái này không? Chính vì vậy mà bây giờ mình tu là mình thường xuyên quay chở về để mình coi cái cảm thọ của mình, bài học hồi chiều này chúng ta có nghe là an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, đó là mình tưới tẩm và nuôi dưỡng cảm thọ cho nên cái cảm giác toàn thân này là cực kỳ quan trọng, tu mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi khắc, không lúc nào để cho lãng quên cái pháp hành này hết là cảm giác toàn thân.
Đặc biệt rõ biết ở trước mặt là con mắt khi mình ngồi thiền phải mở ra và nhìn xuống về phía trước, đừng có nhắm lại vì nhắm một hồi là ngủ luôn cho nên phải rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác, mình phải biết rõ thọ; tưởng; hành ở bên trong. Bây giờ mình thường an trú trong cảm giác toàn thân này, mình thường để ý cái cảm thọ, cảm xúc của mình, cái cảm giác của mình thì mình sẽ phát hiện ra tham, sân, si nó biểu hiện trên thân. Khi mình giận thì lúc đó ra sao? Ai nóng tánh mình biết liền tới chừng mình nóng mình không biết nó tự đâu ra nữa, phải không? Thấy chưa? Mình giận lên là từ chỗ lồng ngực nóng lên, nó bốc hỏa lên, hơi nóng từ lồng ngực bốc lên gương mặt nên nó đổi màu đỏ, lỗ tai lùng bùng, con mắt lờ đờ, cái miệng thì giật giật.
Như vậy từ ở chỗ lồng ngực này khởi động, đây là trung tâm của tất cả các cảm thọ cho nên khi có chuyện gì là chỗ này biến động. Khi mình nóng lên, bực lên, tức lên, giận lên, sân lên thì từ chỗ này nó bốc lên một cái khí nóng, một cái hơi nóng, nó thiêu đốt thân tâm của mình và nó biểu hiện ở trên gương mặt mình đỏ, lỗ tai mình đỏ, con mắt mình đỏ rồi bắt đầu làm cho cái miệng tung ra những từ không hay, gọi là sát thương nhau bằng vũ khí của miệng lưỡi, đó là từ trong kinh tạng Nikāya. Như vậy sân là nằm ngay chỗ lồng ngực, cái dục là ở chỗ phát dục, khi có ham muốn thì chỗ đó sẽ động chuyển, nó thay đổi và khi si là nó biểu hiện ở trên con mắt và cái gương mặt của mình. Nhìn vô ánh mắt có biết si không?
Con mắt là cửa sổ của tâm hồn mà cái này đóng cửa sổ, lúc mình buồn ngủ, lúc cái tâm lờ mờ nhìn vô là biết liền, lúc ngồi thiền nhìn ai si là biết ngay, quý vị nào có đi thiền viện sẽ biết cây thiền bảng, đánh không có đau nhưng tạo âm thanh hết hồn đó, người nào ngồi gần tim đập liên hồi tưởng đau nhưng không có đau, người ta làm miếng ván rất mỏng đánh xuống tạo ra âm thanh để mình tỉnh táo.
Cho nên cái si biểu hiện trên hai con mắt với gương mặt, mình thấy ngồi mà mắt nhướng lên nhưng cứ sụp xuống, lờ đờ là si biểu hiện ra đó, sân biểu hiện ở lồng ngực và tham dục biểu hiện ở cái chỗ phát dục, đó là biểu hiện trên thân, còn trong tâm thì hôm qua chúng ta đã nói trong ba cảm thọ. Bây giờ tại sao có tham, sân, si? Đức Phật nói là có thức của tham, sân, si, ăn vì mình cho nó ăn cho nên càng ngày nó càng lớn mạnh, nó mập mạp ra. Thức ăn của tham mà cái danh từ chuyên môn gọi là tịnh tướng, mình cho nó là đẹp, là mình thích nó hoài, ngày nào mình còn cho cái đó là đẹp thì ngày đó mình còn thích cái đó. Điều này Đức Phật nói, là sự chứng ngộ của Đức Phật.
Mình nhìn thấy chiếc xe đẹp mình có thích không? Thấy căn nhà đẹp mình có thích không? Mình có món đồ đẹp mình có thích không? Và con người đẹp mình có thích không? Đó là thức ăn của tham, là mình cho nó là đẹp, cái bao rác mà nó hôi, nó dơ như vậy, mấy cái đồ ăn à mình để giòi bò trong đó rồi mình còn muốn ăn nữa không? Như vậy để đối trị cái tham này Đức Phật đưa ra cái bất tịnh tướng, chúng ta thấy bệnh nào thuốc nấy rõ ràng lắm, không có lờ mờ, không phải là cái nào vô cũng đưa một câu niệm hết. Mình muốn cho mình đừng có tham cái đó nữa mình phải thấy được cái tính chất bẩn thỉu, giả dối, bất tịnh, những cái tính chất xấu xa ở trong đó, chẳng hạn bây giờ hai vợ chồng nói "thôi giờ đường anh anh đi, đường tôi tôi đi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi" lúc đó là lúc xấu xa quá rồi, "Tôi chán quá rồi, Tôi chịu hết nổi, đường ai nấy đi" thì lúc đó là có phải nhìn thấy được cái bất tịnh tướng không? Thấy rõ chưa?
Lúc mình mới gặp thì lúc đó là tịnh tướng không? Mới gặp, mới quen thì mình toàn thấy tịnh, cái dáng đi cũng dễ thương, cái gương mặt cũng đẹp trai, ánh mắt rồi nụ cười có duyên, cái gì cũng giỏi hay hết, tới chừng về ở chung ôi cha mèn đét ơi, trời đất ơi, ôi trời ơi, trời ơi là trời. Lúc đầu là mình thấy tịnh, mình nhìn những cái khía cạnh, những cái góc độ tốt đẹp, mình đứng xa xa nhìn mới đẹp nhưng mà tới chừng ở chung rồi lộ ra hết, có cái gì là bày ra hết, những cái tập khí xấu xa, cái tánh ích kỷ, sân hận, bản ngã này kia bung ra hết, lúc đó mình nhìn thấy ôi cha ơi, trời đất ơi, thôi đường anh anh đi, đường tôi tôi đi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi. Đó là ví dụ để cho mình dễ hiểu, bây giờ đi sâu vào cái pháp đó là khi nhìn thấy cái thân này là thấy cái lớp da trơn láng, mình nhìn cái vẻ ngoài rồi thêm phấn son nữa, trang sức, mỹ phẩm thì đẹp rồi nhưng nếu nhìn sâu vào bên trong lớp da là máu, thịt, mỡ, mủ rồi xương, tim, gan, phèo, phổi. Trong này khủng khiếp quá, ớn quá, nghe nói sợ người hết trơn rồi.
Đức Phật kêu mình nhìn sâu vô, nhìn bằng trí tuệ sâu sắc vô để quán chiếu, cái chữ quán tuyệt vời lắm, quán xong chưa đủ còn thêm chữ chiếu vô nữa. Tức là không phải cái nhìn bình thường của phàm phu mà phải nhìn sâu vô xuyên qua cái lớp da này, xuyên qua cái mỡ này, cái thịt này, cái máu này, nhìn vô phân, nước tiểu, ruột, màn ruột, phổi rồi gan, tim, phèo, lá lách, bao tử, dạ dày. Nhìn thấy một đống như vậy bên trong rồi có bớt tham không? Ngay tại chỗ này đang nói thì mình thấy ớn ớn không? Mình thấy ngán ngán không? Mình thấy chán chán không? Thiết thực hiện tại là vậy đó, hiệu quả tức thời là vậy đó, lúc nào mình nhớ cái đó thì lúc đó mình sẽ bớt tham ái, tham dục, ái dục đối với tự thân mình cũng như đối với thân người khác.
Tại sao mình giận? Nếu mình không học là không bao giờ mình biết hết, tại sao mình giận? Gọi là chướng ngại tướng là chướng tai gai mắt, nói tiếng Việt của mình là chướng tai gai mắt, hễ ngày nào trong tâm mình còn suy nghĩ đối tượng đó là chướng tai gai mắt thì lúc đó còn giận, còn tức, còn sân, còn bực, không bao giờ hết.
Thầy Thiện Huệ:
Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng bất động đối với Đức Phật ngài là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chánh pháp, pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng, diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng, chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời.
Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với thánh giới, giới được các bậc thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định.
III. Bệnh thân – bệnh tâm
Sư Phụ: Cái món đồ đó, sự việc đó, con người đó là mình thấy khó chịu, mình bực bội, bất mãn, bất bình, còn cái suy nghĩ đó, cái tư tưởng đó thì cái tâm giận này không thể hết được, cái tâm sân này sẽ còn tồn tại. Đó là lý do tại sao mình giận là vì mình cho đó là chướng tai gai mắt, đó là thức ăn của cơn giận, như vậy làm sao để thì hết giận Đức Phật dạy mình từ tâm giải thoát, từ đây cho đến cuối khóa mình sẽ được thực tập từ vô lượng tâm. Khi mình có một cái tâm từ, có cái tâm thương thì tự động mình sẽ thoát ra khỏi cái tâm bực bội, khó chịu đó, mình không có tâm thương thì mình không đi ra khỏi được tâm giận, lúc nào mình có tâm thương thì tự động là mình sẽ thoát ra cơn giận đó, tình thương đó giúp cho mình đi ra khỏi cơn giận.
Bây giờ nói thí dụ quý vị dễ hiểu, đứa con quý vị còn nhỏ năm ba tuổi thôi, nó bệnh nên nửa đêm khóc, nó la, nó hét đủ thứ hết, nó làm cho mình thức giấc, mình ăn không ngon, mình ngủ cũng không yên nhưng mà mình có giận không? Tại sao không giận? Vì mình thương đó là con mình, nó đang bệnh mà, khi mình hiểu mình thương thì mình không có giận, cũng vậy tất cả mình cũng là bệnh nhân, bệnh trầm kha bệnh, rất nặng, Đức Phật nói có thể có một người tự cho rằng từ khi sanh ra cho đến chết không có bệnh thân, nhưng không có ai không có bệnh tâm dầu chỉ trong một giây phút. Có thể có người cho rằng từ khi sanh ra cho đến già, đến chết không có bệnh thân, nhưng không có ai không có bệnh tâm dầu chỉ trong một giây phút.
"- Này các Tỳ-kheo, có hai loại bệnh này. Thế nào là hai? Bệnh về thân và bệnh về tâm.
Này các Tỳ-kheo, chúng ta thấy có chúng sanh tự nhận mình là không thân bệnh được một năm, tự nhận mình là không thân bệnh được hai năm, được ba ... được bốn ... được năm ... được mười ... được hai mươi ... được ba mươi ... được bốn mươi ... tự nhận mình là không thân bệnh được năm mươi năm, tự nhận mình là không thân bệnh được một trăm năm. Các chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình là không tâm bệnh dầu chỉ trong một khoảnh khắc, trừ những vị đã đoạn trừ các lậu hoặc."
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XVI. Phẩm Các Căn, (VII). Bệnh)
Như vậy mình là bệnh nhân, bệnh tâm thần, cái tâm mình bị tham, sân, si là mình bệnh tâm thần đó. Mình thấy một người giận lên giống một cơn điên không? Người ta nói giận là một cơn điên ngắn mà nếu mà giận hoài như vậy thành cơn điên dài là điên thật luôn, như vậy khi có tham, có sân, có si thì lúc đó là tâm bệnh và cái tâm bệnh này cần phải được trị. Mình phải ý thức được cái nguy hiểm, cái tác hại, cái mức độ, cái sự nghiêm trọng của bệnh trạng này nếu như mà mình không có ý thức, không nhận thức, không hiểu biết một cách tận tường, sâu sắc và đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ, tai hại mà cái bệnh này đem lại thì mình sẽ không có nỗ lực, cố gắng để mình trị bệnh và lâu ngày thì nó đi đến một giai đoạn cuối, rồi ung thư giai đoạn cuối còn trị được không, hết trị rồi. Nếu lúc đầu phát hiện thì còn có thể điều trị tích cực được nhưng khi đã đưa ra một cái kết quả bác sĩ chạy rồi, bác sĩ chê rồi đưa về là xong.
Tại vì mình xem thường cái chứng bệnh, những cái triệu chứng cho nên ở đây tu chính là mình trị cái bệnh tâm của mình và cái bệnh sân này nó cần cái tâm từ để trị, cái bệnh tham này cần cái bất tịnh để trị, mình tu tập cái tâm thương này để hóa giải triệt để cái tâm sân. Bây giờ tại sao mình có si? Trong kinh Đức Phật nói rõ lắm, thức ăn của si là ăn no, làm biếng, uể oải, dã dượi, đó là thức ăn thụ động của si, cái này mình có không ta? Ăn một tô bự như vậy lên ngồi thiền thì làm sao ngồi nổi vì thế khi sắp sửa tới giờ ngồi thiền thì ăn vừa phải thôi cho nên thụ động, biếng nhác, ăn no, uể oải, dã dượi là thức ăn của si. Bây giờ muốn thoát khỏi cái si thì Đức Phật dạy tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh với mạnh mẽ lên, tinh tấn lên, làm cho cái tâm mình mạnh mẽ lên, tinh tấn lên, dõng mãnh lên, quật cường lên rồi mình quán chiếu cái trí tuệ thì mình phá được cái si mê.
Đức Phật nói từng cái, từng cái một chúng ta thấy rõ ràng không? Đó là mình nói khái quát, sơ lược, tham, sân, si biểu hiện ba chỗ ở trên thân, ở trong tâm thì nó ở trong ba cảm thọ. Sự vận hành của tham, sân, si mình diễn tả nãy giờ rồi, tại sao có tham, sân, si, thức ăn của nó là mình thấy rõ rồi, làm sao để diệt tham, sân, si là thấy rõ luôn. Đó là thánh trí huệ của Đức Phật, mình để ý cho thật kỹ vào trong cái cảm giác của mình, mình để ý cho thật kỹ vào trong cái cảm thọ của mình, mình để ý cho thật kỹ vào trong cái cảm xúc của mình để mình đừng có bị ba cái tên giặc này, ba cái loại thuốc độc này, ba cái con rắn độc này, ba cái thứ giết người làm hại mình trong vô lượng, vô biên kiếp này.
Bây giờ để cho nó lắng dịu tham, sân, si mình tu tập tâm hiền, cái này tuyệt diệu, con xin thưa với quý vị là trong đạo tràng Nikāya chúng con người mới vô tu tám tháng tâm hiền rồi mới tu tới những cái khác. Phải làm sao thường thường để ý cái cảm thọ hiền của mình, dễ bảo, dễ nghe và dễ mến, lắng dịu, dễ chịu, hiền thiện, làm cho cái tâm mình rất nhẹ nhàng, cái thân mình rất là ung dung và cái thọ của mình rất là hỷ lạc. Mình an trú cái tâm hiền này rất là tuyệt vời, hồi xưa mình chưa có tu tập tâm hiền thì chỉ cần nhìn thấy một sự việc, một con người hay là nghe một câu nói gì đó là mình bực lên liền, đó gọi là cái tâm vết thương, tâm vết thương là chạm tới là sừng sộ lên, la lối lên, chạm tới nó la oai oái lên thì bây giờ mình tu tập cái tâm hiền là nhìn thấy, hay là nghe chuyện không vừa lòng thì lúc đó có thể gợn lên khó chịu nhưng sau đó mình tác ý là nó tan liền, nó lắng dịu liền. Nhưng muốn được như vậy phải có một sự thực tập bền bỉ, dụng công phu rất là nhiều ở trong cái cảm xúc thường xuyên của mình, thường xuyên nhắc cái cảm thọ của mình.
Khi ăn mình có tu tâm hiền được không ạ? Không có húp nghe sồn sột, không có nhai rồn rột. Khi đi mình có tu tâm hiền được không ạ? Đi nhẹ nhàng. Khi nói phải kiểm tra giọng nói của mình, cái khẩu khí của mình. Khi suy nghĩ về người khác thì kiểm tra coi mình có nghĩ hiền không, có nghĩ về người ta theo góc độ tốt của người ta không, hay là mình khai thác góc độ xấu, hay là mình chỉ nhìn vào những cái tập khí, những cái nghiệp của người ta mà mình không có sự hiểu thương để cảm thông. Cho nên mình thường xuyên tưới tẩm tưới tẩm mình xông ướp, mình huân tập, giống như cơ thể mình mà không uống nước thì nó sẽ khô khan, con người mình lần lần tiều tụy, héo hon, còn người có đủ nước thì nhìn tươi tắn, tươi trẻ, nó khỏe, nó tươi nhuận, cái sắc nó đẹp cũng giống như cái cây nếu thiếu nước thì nó cũng éo uột, nó cũng héo.
Khi mình thường thường tưới nước vào, thường thường mình tưới tẩm cho cảm thọ mình dễ chịu, ngọt ngào, lắng dịu, hiền thiện, hiền từ, hiền nhân, hiền hậu, hiền hòa, hiền đức, hiền lương, hiền lành, hiền kính, hiền trí thì cái này nhiều cái để mình tu lắm, nhiều góc độ của tâm hiền chứ không phải nói đơn giản chỉ có một chữ hiền thôi, nhiều góc độ, nhiều khía cạnh của tâm hiền. Thí dụ hiền lành, hay là hiền hậu, hay là hiền đức là chẳng những hiền mà còn lành nữa, hiền mà còn lành nữa, chọn điều lành làm, không chẳng những hiền mà còn hậu nữa là sống có hậu, thí dụ như người đó làm sai sót cái gì đó, đúng ra là sai sót tới năm chuyện nhưng khi nhắc nhở, mình chỉ nói vừa phải hai chuyện, ba chuyện thôi, rồi tới lúc nào phù hợp mình nhắc tiếp. Hoặc là món ăn đó mình ăn hết nhưng mà mình chừa lại chút xíu cho có cái hậu, cho người sau còn để ăn, chẳng hạn như giờ mình đi ăn buffet tự chọn thì mình biết phía sau mình còn huynh đệ mà cái dĩa đó còn lại mấy miếng, mình hốt hết thành ra cái đó cũng có tham mà cũng không có hậu nữa. Hậu là còn phía sau nữa, để cái hậu lại, phai vừa hiền vừa có hậu nữa, rồi hiền đức nữa.
Người trồng cây kiểng người chơi
Ta trồng cây đức để đời cháu con
(Ca dao)
Vừa hiền vừa sống còn có đức nữa, nhiều cái hay lắm, thành ra trong cái tâm hiền này có nhiều công đức, nhiều khía cạnh, nhiều thiện pháp tuyệt vời ở trong đó, từ từ mình tu tập đi rồi tự động mình sẽ thấy, tự động mình sẽ tăng trưởng, tự động mình phát triển rồi tự động mình sanh ra trí tuệ để nhìn được mọi mặt của tâm hiền và khi mình có được tâm hiền này thì mình rất là dễ chịu, gặp người khó chịu mình vẫn dễ chịu, gặp người bực bội mình vẫn có thể nhẹ nhàng, gặp người gây sự kiếm chuyện với mình, mình cũng vẫn có thể trải tình thương với họ.
Chỗ này là cái chỗ tuyệt diệu cho nên gặp người mà dễ chịu với mình thì mình dễ chịu lại đó là chuyện bình thường, gặp người khó chịu với mình mà mình dễ chịu với họ thì cái này mới là tuyệt diệu. Người ta khó chịu với mình mà mình khó chịu lại bình thường, người ta khó chịu với mình mà mình vẫn dễ chịu với họ thì cái này mới là tuyệt diệu, đó là người có tu tâm hiền trong mọi hoàn cảnh mọi sự việc thậm chí là bao nhiêu chuyện tới với mình mà mình vẫn lắng dịu, nhẹ nhàng, bình thản, không sao hết, từ từ giải quyết, không có vấn đề gì hết.
Tất cả đều có nhân quả nghiệp báo, tất cả các pháp là do nghiệp vận hành, nhân quả vận hành, mình muốn xen vô cũng không được nữa, mình cứ an tịnh, lắng dịu và tâm mình cứ bình tĩnh, sáng suốt rồi mình sẽ nhìn ra được những cái chính xác, đúng đắn và những cách giải quyết của mình rất là tuyệt vời nếu mình có một cái tâm lắng dịu, hiền hòa, hiền trí.
Thật sự con thưa với quý ngài là con trói voi bỏ rọ, khóa tu của chúng con là hai tuần mà chúng ta có hai ngày rưỡi thôi, không biết làm sao mà con gói hết thánh trí huệ, đem hết trái tim cho quý vị trong hai ngày rưỡi thôi, thành ra con với thầy Huệ phải suy nghĩ thật là nhiều cách làm sao trong thời gian ngắn nhất để quý vị tiếp thu nhanh nhất, sâu nhất và những cái quan trọng nhất trong hai ngày rưỡi thôi. Thành ra cố gắng cùng với con nha, cố gắng cùng với quý thầy.
IV. Thực tập tâm hiền
Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên trái
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía sau,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía trên,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía dưới,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bề ngang,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Tâm hiền này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm hiền này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
./.