Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

5 Giải Thoát Xứ

2026-03-03 00:53:43
5 Giải Thoát Xứ

Thích Minh Thành

Ngày 31 tháng 01 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trình pháp PAGEREF _Toc133067872 \h 1

II. Giải thoát xứ thứ nhất PAGEREF _Toc133067873 \h 7

III. Giải thoát xứ thứ hai PAGEREF _Toc133067874 \h 8

IV. Giải thoát xứ thứ ba PAGEREF _Toc133067875 \h 9

V. Giải thoát xứ thứ tư PAGEREF _Toc133067876 \h 9

VI. Giải thoát xứ thứ năm PAGEREF _Toc133067877 \h 19

I. Trình pháp

Phật tử số 1 trình pháp:

Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Hiện tại con đang rất xúc động, con như cảm nhận được sư phụ thấu được tâm con. Khi con được nghe thấy sư phụ mở khóa tu vào ngày đầu xuân, con đã rất hoan hỷ, tâm con đã hướng về Linh Quy ngay từ khi sư phụ mở khóa tu. Con ước muốn được trở về Linh Quy để được tu tập với sự chỉ dạy của sư phụ, quý thầy, quý sư cô và tu tập cùng đại chúng, ước muốn đã thành sự thật.

Trong những ngày con được tu tập cùng đại chúng tại Linh Quy này, con thật sự đã được tưới tẩm tình thương, lòng bi mẫn của sư phụ, cũng như của quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng trong đạo tràng Nikāya. Cảm thọ con lúc này rất xúc động.

Đúng là từ lâu con sống trong mê muội,

Không biết tâm mình rất uế nhơ,

Dục ái sân si không xấu hổ,

Bản ngã vươn cao chẳng thẹn thùng.

Nay con được thấy cảnh pháp tối thượng của Đức Thế Tôn, con được nghe những lời chỉ dạy của sư phụ. Nếu như không được gặp Thánh pháp tối thượng của Đức Thế Tôn, không được nghe những lời chỉ dạy của sư phụ thì không biết con sẽ trôi lan đến bao giờ. Giờ đây con đã thấm đẫm cái khổ mà con đã chịu đựng từ trong vô lượng kiếp, cũng như kiếp này con đã thấy khổ lắm sư phụ. Con nhớ ơn và biết ơn Đức Thế Tôn nhiều lắm, con biết ơn, nhớ ơn sư phụ nhiều lắm.

Nếu như Thánh pháp của Đức Thế Tôn mà không có sự chỉ dạy của sư phụ thì với tâm u mê, ngu si như con chắc cũng không thể hiểu hay thấy được.

Con nghĩ đến cái thân, cái tâm này, cái thân năm uẩn này mà con thấy rất sợ. Có những lúc con ngồi chiêm nghiệm cái thọ, tưởng, hành, thức này đúng là những uẩn thật đáng sợ. Nó đã sai sử, sai khiến, hành hạ con và tất cả muôn người, muôn loài. Nếu như không gặp được Thánh pháp của Đức Thế Tôn, không gặp được những bậc chân nhân như sư phụ thì sẽ không bao giờ thấy được. Chỉ nghĩ đến đây, con trào dâng một cảm xúc thương xót cho tất cả muôn người, muôn loài.

Hôm nay con được nghe bài thiền quán mà sư phụ chỉ dẫn cho chúng con, con thật sự thấy đây là tiếng rống của sư tử mẹ đã đi vào tim con, đi vào tâm con.

Con nguyện trước sư phụ, con sẽ lấy những lời chỉ dạy của sư phụ là hành trang để con tu tập mỗi ngày.

Phật tử số 2 trình pháp:

Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô và tất cả các hiền thiện. Con xin được nói lên cảm nhận của con trong những ngày tu vừa qua.

Đây là một mùa xuân đặc biệt nhất đối với con, đúng là mùa xuân được mang tên mùa xuân đẹp nhất mà sư phụ đã nói. Dù mùa xuân này chúng con không bánh chưng, không mứt, không trà nhưng chúng con về Linh Quy lại được ăn rất nhiều loại bánh, đó là bánh tâm hỷ, bánh tâm vô lượng từ tâm, là bánh tâm thương rộng mở đến muôn nơi. Chúng con còn được ăn bánh tâm hiền theo bài thầy dạy.

Chúng con thật sự thấy vô cùng hạnh phúc, đã từ bỏ được ngôi nhà lửa với niềm vui rộn ràng của người thế gian để về đất Linh Quy hưởng một mùa xuân thanh tịnh được tắm trong dòng sữa pháp của Đức Thế Tôn đã để lại hai ngàn sáu trăm năm mà nay sư phụ là người tiếp bước con đường hiểu thấu Thánh pháp của Đức Thế Tôn, để dìu dắt chúng con trên con đường thành đạo.

Chúng con là những đứa con mù loài, lang thang đã bao nhiêu kiếp, nay được sư phụ dẫn dắt, chỉ lối, mở cho chúng con đôi mắt tuệ để nhìn thấu giữa thân tâm của mình, biết thân mình chỉ là năm uẩn, là sự giả tạo, vô thường, vô ngã rồi nó cũng phải biến hoại, nát tan. Chúng con thấm nhuần được sự khổ đau trong bao nhiêu kiếp lặng lội và cả kiếp này, khi được hưởng niềm vui trên Linh Quy. Với một mùa xuân đệ nhất, chúng con có được một tâm hoan hỷ, vui sướng và chỉ nghĩ mang được niềm vui này chia sẻ tới ông bà, cha mẹ, tổ tiên, anh chị em, con cháu đang còn hiện hữu trên thế gian này cũng được thấm nhuần dòng Thánh pháp tối thượng này, để biết được thân mình và cũng biết quay về con đường Chánh pháp.

Mùa xuân này sư phụ đã đặt tên là mùa xuân đệ nhất, chúng con cũng thẩm thấu được đệ nhất xuân này. Trong suốt khóa tu chúng con đã nhận diện ra được cái khổ, cũng đã nhận được pháp để trừ diệt cái khổ, tham, sân, si, ái dục, từ bỏ tất cả cấu uế, lậu hoặc và luôn nhớ, niệm lời sư phụ để hành trì trên con đường học đạo.

Con kính tri ân trên sư phụ, cảm ơn tất cả thầy, cô, các quý vị đã phục vụ cho chúng con trong mùa xuân này được hưởng một mùa xuân đệ nhất.

Phật tử số 3 trình pháp:

Con xin kính lễ trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô, quý ni cô cùng toàn thể đại chúng. Con là Sa-di Hiền Thủy, là Phật tử ở Hải Phòng.

Xuân Quý Mão này con vô cùng hạnh phúc khi được trở về Linh Quy Pháp Ấn, con rất xúc động. Từ trước đến nay con chưa bao giờ được đón một mùa xuân nhẹ nhàng, an lành và hạnh phúc đến như vậy.

Sư phụ sưởi ấm lòng con bằng tâm hiền, tâm hỷ, tâm thương. Điều mà từ trước tới nay con chưa bao giờ nghĩ đến bởi cuộc đời thật lắm chông gai, đau khổ mà con vì vô minh, con chìm ngập trong đau khổ đó không biết lối thoát ra. May nhờ giáo pháp của Đức Thế Tôn để lại, được sư phụ giảng dạy cho con thấu hiểu thế nào là khổ, khổ tập, khổ diệt, thế nào là con đường đi đến khổ diệt. Con đang cố gắng từng ngày sửa sai bản thân mình. Con biết trong tâm con có quá nhiều cấu uế, tham chấp, sân hận mà nhiều lúc con nghĩ không biết đến lúc cha mẹ mình mất liệu mình có rơi nổi nước mắt không.

Con thật cảm ơn sư phụ, từ khi con lên Linh Quy, lòng con như mềm ra, nước mắt con rơi không ngững, con đã khóc, giọt nước mắt hiếm hoi mà từ lâu con nghĩ nó không thể chảy nổi nữa … 20:09 chai sạm của cuộc đời.

Con rất cám ơn sư phụ, mỗi khi nghe lời bài hát Tình thầy lòng con vô cùng xúc động, con là người không biết ngoan ngoãn nhưng khi nghe bài hát, trong lòng con lại vô cùng xúc động, nước mắt lại tuôn rơi. Con gửi gắm tình cảm của mình vào lời bài hát đó, vào sự tri ân của thầy.

Đó là những lời chia sẻ của con, con không biết nói gì hơn, con xin cảm ơn sư phụ, quý thầy, quý sư cô, quý ni sư cùng tất cả đại chúng.

Phật tử số 4 trình pháp:

22:46 Ngày mùng một tết Quý Mão năm nay, chúng con đã đứng dậy, bỏ tất cả những những phiền não, những oán giận, tâm rộn ràng, những tất bật của đời thường để chúng con thật hân hoan, rộn ràng đi về Linh Sơn, đi về quê hương, về nhà Chánh pháp.

Trong con …23:58 đã hòa nhập vào tình thương yêu rộng lớn, bao la của Linh Sơn, của tất cả quý thầy, quý sư cô và cùng toàn thể đại chúng. Hằng ngày chúng con được hưởng …24:28 pháp, được tẩm ướp, được thẩm sâu 24:38 Chánh pháp tối thượng mà Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã truyền dạy và sư phụ, bậc đạo sư đã có nhiều phương pháp, phương tiện cùng các bậc quý thầy, quý sư cô và các bậc hiền thiện đã tạo điều kiện cho chúng con được thấm nhuần dòng pháp Nikāya tối thượng này.

Chúng con được hưởng nhiều lạc thọ chánh pháp, chúng con …25:50 chúng con được đón một mùa xuân bất tử, một mùa xuân thật …26:00 chưa từng thấy, chưa bao giờ có, đối với bản thân con, bảy mươi sáu năm đón xuân nhưng năm nay con được đón một mùa xuân thật an tịnh, an lạc và hạnh phúc, thật hiếm có. Con xin khắc sâu cái xuân đặc biệt này, một cái xuân hiếm có này mà sư phụ nói một mùa xuân đẹp nhất, đệ nhất.

Tụi con lên Linh Quy Pháp Ấn đến đây, chúng con luôn luôn hằng ngày được nghe được …27:17 tôn thượng của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chúng con được sư phụ dẫn về cội pháp. …27:40 của pháp ly tham. Trong lúc con tưởng tượng được … 27:56 một tăng đoàn mà Phật đã hy sinh 28:01 – 28:11 và con lại tưởng tượng cho sư phụ như người cha đã dẫn chúng con về đây để biết ơn, nhớ ơn Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, cho chúng con được tri ân và được nghe những lời giáo pháp của Đức Bổn Sư, nghe những lời truyền dẫn của sư phụ.

Cảm xúc con trào dâng, con … 28:53, từng tế bào.

Sáng nay lại được nghe sư phụ 29:26-29:41, con đau xót vì ngu si, mê muội mà con đã phạm, chịu đựng đau khổ, xót xa trong những năm qua và tùy miên, luân hồi tùy miên. Chúng con không biết dùng từ ngữ gì để nói lên được tấm lòng của sư phụ cùng quý sư thầy, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền thiện, hiền trí nhiều lĩnh vực dù là trực tiếp hay gián tiếp đã tạo mọi điều kiện cho chúng con tu hành. Con xin cố gắng nỗ lực tu tập nội tâm hiền thiện theo Thánh pháp của bậc đạo sư, theo Chánh pháp của Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Con nỗ lực tu tập với tám điều Đức Phật dạy, những lời truyền trao của sư phụ. Con xin cảm ơn.

Sư phụ giảng giải:

Chúng ta sẽ nghe về Năm giải thoát xứ.

Phật tử số 5 trình pháp:

Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con pháp danh Hiền Hỷ.

Thật là hy hữu, hiếm có khi được sư phụ tạo điều kiện đủ duyên cho chúng con được về Linh Quy Pháp Ấn dự một mùa xuân. Vì lòng thương tưởng cho chúng con, vì hạnh phúc, an lạc cho chúng con mà sư phụ đã tạo điều kiện, tạo duyên lành cho chúng con từ khắp mọi nơi trở về Linh Quy để hưởng một cái tết thật hy hữu, đúng là mùa xuân bất tử, đệ nhất xuân như sư phụ đã nói.

Chúng con hầu hết đều rất vui và cảm xúc trong Chánh pháp khi nghe sư phụ tạo điều kiện để tổ chức cho chúng con lên tu một khóa xuất gia gieo duyên. Mặc dù gia đình con tết hôm nay có nhiều phận sự, là mừng thọ cho bố chồng con chín mươi lăm tuổi và ngày giỗ bố con, tất cả anh chị em ở khắp nơi về tổ chức.

Nhưng con biết là sư phụ đã tổ chức cho chúng con về chùa để tu tập, con cố gắng bỏ qua mọi thứ vui của thế gian, khi con ra đến sân bay lòng con nhẹ nhõm, rất là hỷ lạc. Vì con biết rằng khi con về Linh Quy Pháp Ấn thì con mới trọn vẹn được hưởng mùa xuân tối thượng, mùa xuân của hỷ lạc trong pháp và chúng con cũng biết rằng sư phụ vì lòng thương tưởng chúng con đã tạo điều kiện cho chúng con về đây. Không một lý do gì mà chúng con không cố gắng.

Khi về đến chùa thì con cảm nhận được một không khí tràn đầy hạnh phúc trong pháp, ai ai cũng tỏ một thái độ hoan hỷ, an lạc, hạnh phúc chưa từng thấy.

Con thấy năm nay, tất cả Phật tử ở khắp các nơi đều hào hứng, đều đắm mình trong hỷ lạc của Chánh pháp. Không biết nói gì hơn, con chỉ biết tri ân sư phụ, và sống trong lòng biết ơn, cảm ơn tất cả vì lòng thương tưởng, lòng từ bi của sư phụ và các quý thầy, quý sư cô, quý ni sư và đại chúng.

Tất cả chúng con về đây đều cảm nhận được không khí của tâm hiền, tâm từ bi và không khí tràn đầy trong Chánh pháp, bỏ sau tất cả những cái khổ của thế gian. Tất cả chúng con về đây đều được những dòng pháp quý báu, không có gì đánh đổi được. Thật là hy hữu, chúng con về đây biết thế nào là thân tâm của mình, biết thế nào là khổ và nguyên nhân của khổ, con đường diệt khổ. Chúng con luôn luôn cố gắng tự nhắc mình phải cố gắng để tu tập tinh tấn, hành trì tâm hiền, tâm từ, tâm thương, tâm vô lượng và tỏa rộng cho tất cả chúng sinh còn đang vô minh, khát ái, còn đang đắm chìm trong những cái khổ mà không biết là khổ.

Con cảm nhận sau cái tết vừa rồi, nhìn ra xã hội, ai ai cũng rộn ràng, tất bật của sự mua sắm, của sự sân si, nào là gà, vịt, tôm, cá để đạt được những bữa mà họ gọi là vui, hưởng thụ nhưng thực sự với trí tuệ của Đức Phật mà sư phụ đã truyền dạy cho chúng con đó là khổ mà họ không biết khổ, đắm chìm trong khổ. Thật là vô minh.

Con mong rằng sư phụ với lòng từ bi, thương tưởng tất cả chúng sanh mở rộng Chánh pháp, một người nhận được Chánh pháp là một người bớt khổ. Con cũng mong tất cả Phật tử đã về đây mang Chánh pháp của Đức Phật mà sư phụ truyền trao để hướng dẫn tất cả các chúng sinh được tu tập theo chánh pháp, bỏ lại tham, sân, si để thoát khổ.

Con chỉ biết tri ân sư phụ, quý thầy, quý sư cô tại Linh Quy Pháp Ấn đã tạo duyên lành cho chúng con để về đến Linh Quy tu tập. Con cảm ơn sư phụ.

II. Giải thoát xứ thứ nhất

Sư phụ giảng giải:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Đạo Sư thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo.

 Tùy theo bậc Đạo Sư, hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Đạo Sư thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy, vị Tỷ-kheo tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy.

 Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp, nên hân hoan sanh.

 Do hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý hoan hỷ, thân được khinh an.

 Do thân được khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ.

 Do lạc thọ, tâm được định tĩnh.

Đây là giải thoát xứ thứ nhất; ở đấy, vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, thời tâm chưa giải thoát được giải thoát, hay các lậu hoặc chưa được đoạn diệt hoàn toàn, đi đến đoạn diệt hoàn toàn, hay vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt, được đạt tới.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2 - Chương Năm Pháp - Phẩm Năm Phần - Bài kinh Giải thoát xứ)

Ý nói, này các hiền giả, khi vị Tỳ-kheo nghe bậc đạo sư hay một bậc đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, vị ấy đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý, hiểu cả văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú nên khoan khoái sanh. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu cả câu từ nên trong lòng sanh ra sự khoan khoái, thích thú, nhờ đó hỷ sanh, vui mừng sanh khởi. Nhờ tâm vui mừng, tâm hỷ nên thân được nhẹ nhàng, khinh an sanh khởi.

Nhờ hiểu được nghĩa lý của pháp, hiểu được câu từ trong sinh nên tâm sanh ra cảm giác khoan khoái, thích thú nên lòng vui mừng, nhờ vui mừng nên thân được nhẹ nhàng, khinh an. Nhờ thân nhẹ nhàng khinh an nên cảm giác lạc thọ sanh khởi. Nhờ lạc thọ nên tâm được định tĩnh, đây là giải thoát xứ thứ nhất.

III. Giải thoát xứ thứ hai

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Đạo Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Và vị Tỷ- kheo ấy thuyết pháp rộng rãi cho các người khác như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị Tỷ-kheo ấy thuyết pháp rộng rãi cho các người khác như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng, như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy, vị ấy tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan sanh. Do hân hoan sanh nên hỷ sanh... tâm được định tĩnh. Đây là giải thoát xứ thứ hai, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm... được đạt tới.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2 - Chương Năm Pháp - Phẩm Năm Phần - Bài kinh Giải thoát xứ)

Ý nói, vị Tỳ-kheo không nghe bậc đạo sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp nhưng vị ấy theo điều đã nghe (tức là nhớ lại), theo điều đã học (tức suy nghĩ lại, tác ý). Vị ấy nhớ, nghe theo những điều đã được nghe, đã được học và vị ấy thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Khi đó, vị ấy đối với pháp hiểu được nghĩa lý và hiểu được câu từ, nhờ đó khoan khoái sanh. Khi vị ấy trình bày pháp nghĩa, khi vị ấy chia sẻ pháp, khi vị ấy trùng tuyên lại pháp bảo, tâm vị ấy sanh khởi lên sự khoan khoái, thích thú nên trong lòng hoan hỷ sanh.

Nhờ tâm vui mừng, thích thú nên thân nhẹ nhàng khinh an, lạc thọ sanh khởi, những cảm giác an vui, lạc thọ sanh khởi. Nhờ vào đó mà tâm vị ấy được định tĩnh, đây là giải thoát xứ thứ hai.

Năm sự giải thoát này trong kinh phúng tụng, bài kinh số 33, Trường Bộ tập hai.

IV. Giải thoát xứ thứ ba

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Đạo Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo đọc tụng pháp như vậy, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng, một cách rộng rãi như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy vị Tỷ- kheo ấy tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh... tâm được định tĩnh. Đây là giải thoát xứ thứ ba, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm... được đạt tới.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2 - Chương Năm Pháp - Phẩm Năm Phần - Bài kinh Giải thoát xứ)

Ý nói, vị Tỳ-kheo không được nghe bậc đạo sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, đã học thuyết pháp một cách rộng rãi cho người khác. Vị ấy theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng.

Như vậy, giải thoát xứ thứ nhất là nghe pháp vui thích, thân nhẹ nhàng, tâm an tịnh, thứ hai là chia sẻ pháp, nhắc lại pháp, trùng tuyên pháp, vị này vui thích, lạc thọ, tâm được an tịnh. Thứ ba là vị này tụng đọc lại pháp.

Khi vị này đọc lại, tụng lại, học thuộc lòng một cách rõ ràng thì vị Tỳ-kheo ấy theo điều đã nghe, điều đã được tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Do vậy đối với pháp hiểu được nghĩa lý và câu từ, vị này thân nhẹ nhàng, tâm hoan hỷ, an lạc, lạc thọ sanh khởi. Nhờ lạc thọ nên tâm được định tĩnh, đây là giải thoát xứ thứ ba.

V. Giải thoát xứ thứ tư

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Đạo Sư, không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng một cách rộng rãi cho người khác. Vị ấy không đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã nghe, như đã được học thuộc lòng. Nhưng vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý quán sát pháp như đã được nghe, như đã được đọc tụng. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, do với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý quán sát pháp như đã được nghe, như đã được đọc tụng như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy, vị Tỷ- kheo ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp, nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh... tâm được định tĩnh. Đây là giải thoát xứ thứ tư, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm... được đạt tới.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2 - Chương Năm Pháp - Phẩm Năm Phần - Bài kinh Giải thoát xứ)

Giải thoát xứ thứ tư là vị này tầm tứ …48:46, tức dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát …48:51. Điều thứ nhất là nghe, khoan khoái, thích thú, hân hoan, hoan hỷ, lạc thọ, tâm định tĩnh. Thứ hai là nhắc lại, chia sẻ, giải thích, trình bày thì vị này hân hoan, phấn khởi, lạc thọ, tâm định tĩnh. Thứ ba là vị này đọc tụng thuộc lòng như mỗi buổi sáng chúng ta trùng tuyên pháp bảo, đảnh lễ pháp bảo.

Khi đọc chúng ta có thấy hân hoan, hoan hỷ, lạc thọ không? Tâm mình có được định tĩnh không? Đó là giải thoát xứ thứ ba. Chúng ta nghe chính lời của các bậc Thánh tăng nói trong kinh tạng Nikāya vì nhiều khi nghe pháp mà chúng ta không biết là chúng ta đang trú trong giải thoát xứ. Mỗi khi chúng ta ngồi và được nghe tác ý, thiền quán như vậy hoặc là hỷ tâm, từ tâm, bi tâm, xả tâm hoặc là đánh thức tâm mê hay bao nhiêu pháp diệt trừ bản ngã thì tâm của chúng ta có được sự hỷ lạc, hân hoan, khoan khoái, thích thú, khinh an, định tĩnh.

Đó là một trong những chỗ giải thoát mà Đức Phật và các bậc Thánh an trú.

Chúng ta thấy mình có thưởng thức được, có nếm được không? Nhiều khi chúng ta không biết tác ý thì ngồi đó và đơ ra. Rất uổng phí vì chúng ta đang ở trong giải thoát xứ. Khi mình nghe mình không thọ được pháp, mình không được vào giải thoát xứ, còn khi mình thọ được là mình đi vào chỗ giải thoát. Nhiều khi mình trình bày cho mọi người mà tâm mình hân hoan, hoan hỷ. Còn mình lên nói giống như “Tại vì bị bắt nên tôi mới lên nói, chứ tôi không muốn nói!”

Vậy nên tất cả các vị trình bày tâm đắc Nikāya phải nghe lại bài của mình, nghe lại mười lần, xem chỗ nào mình còn chưa được hoàn chỉnh thì ghi ra. Mình nhận diện ngũ uẩn, rà soát tinh vi trong lúc mình trình bày, bắt sâu trong đó ra.

Còn không thì nói “Tôi giờ không muốn nói nữa! Tôi giờ pháp sâu lắm rồi!” Nên phải xem cho kĩ, nhiều khi mình nói thì tâm mình hân hoan, hoan hỷ vì mình được chia sẻ cái mà mình tu học, lúc đó mình sẽ an trú pháp và mọi người có sự an trú pháp. Đó là thiện pháp, mình hân hoan, hoan hỷ, hạnh phúc, tâm mình lạc, thân mình khinh an thì mình đi vào trong giải thoát xứ.

Thứ hai tức là mình chia sẻ pháp. Vị Tỳ-kheo theo điều đã được nghe, theo điều đã được học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho người khác, vị ấy đối với pháp hiểu được nghĩa lý, văn cú nên sanh ra khoan khoái thích thú, nên vị ấy tâm sanh ra hỷ, mừng vui. Vì tâm mừng vui nên thân được nhẹ nhõm, khinh an nên tâm có ra lạc thọ, một sự vui nhè nhẹ trong tâm. Khi tâm như vậy thì vui nhẹ đó mới đưa mình vào trạng thái định tĩnh, đây là giải thoát xứ thứ hai.

Chúng ta có thấy không? Minh Thành không đưa chúng ta đi vào chỗ ràng buộc, mà Minh Thành đặt để chúng ta vào giải thoát xứ. Mình cứ chờ khi nào mình chứng Thánh quả thì mình mới trình pháp, nói pháp còn mình cứ nói chuyện tào lao thế gian không là suy nghĩ sai lầm, nặng nề. Tại sao chuyện thế gian mình nói nhiệt tình, nói hoài không hết còn khi đến trình pháp thì “Tôi không muốn nói!” Đó là một suy nghĩ sai lầm. Mình nghĩ như vậy thì Chánh pháp khó mà được lưu truyền, lan rộng, phổ biến.

Nên giải thoát xứ thứ hai là người chia sẻ pháp.

Vừa rồi chúng ta đã chia sẻ tâm đắc tu học rất tốt, tuy nhiên Minh Thành nói để chúng ta tốt hơn nữa. Nên chúng ta phải biết là chúng ta đang tu học ở trong chỗ giải thoát đó. Đây là năm giải thoát xứ trong bài kinh phúng tụng trong Trường Bộ Kinh tập hai, bài kinh số 33.

Mỗi khi chúng ta đọc trùng tuyên Thánh điển, chúng ta thấy hạnh phúc, khoan khoái, lạc thọ, thấm đẫm, thấm nhuần, nhuần thấm, hân hoan, định tĩnh, khinh an không? Đó là giải thoát xứ thứ ba, tức là trùng tuyên Thánh điển. Vậy nên cần cố gắng học thuộc lòng.

Minh Thành kể lại giây phút Minh Thành qua Myanmar, khi đến diện kiến đảnh lễ Ngài Tam Tạng, bước vào chùa có một ấn tượng mà suốt đời không bao giờ quên là rất nhiều các sư nhỏ, các chú tiểu đang học kinh Nikāya, tiếng vang lừng, mỗi người cầm một cuốn đi tới đi lui mà một nhà có năm, sáu hay bảy hàng. Mỗi người cầm cuốn kinh hay tờ giấy kinh mà đọc lầm rầm.

Đó là chỗ mà các Ngài đào tạo ra Tam Tạng pháp sư mà vừa rồi mình cúng dường, mình cũng có cúng dường cho các chùa nghèo ở trong vườn, cúng gạo. Bên đó đang có nội chiến, binh biến nên chùa rất khó khăn, nên Minh Thành nhân dịp thi Tam Tạng Pháp Sư, đào tạo ra các bậc Nhất Tạng, Nhị Tạng, Tam Tạng thì Minh Thành cũng đã gửi tiền của quý Phật tử hỗ trợ họ. Minh Thành cũng chỉ là kẻ ăn xin, không có tiền, chỉ là làm dùm.

Cúng dường cho Ngài Tam Tạng, cho các thí sinh đang thi khóa đào tạo Tam Tạng Pháp Sư, có người học thuộc một tạng luật, cũng có người học thuộc một tạng kinh Nikāya, có người học thuộc tạng luận, cũng có những vị học thuộc luôn ba tạng.

Khi Minh Thành đi vào chùa của Ngài Tam Tạng, những học viên sau này trở thành Tam Tạng thì Minh Thành bị chấn động hết, đập vào mắt mình là hình ảnh sung sướng, hạnh phúc, khoan khoái, ngưỡng mộ, Minh Thành quỳ xuống, sụp xuống lạy. Lạy bằng tất cả tấm lòng chân thành, cung kính, dập đầu xuống đất. Nhờ có bậc trì pháp, bậc tổng trì pháp, những bậc nắm giữ pháp, truyền bá pháp như vậy thì giáo pháp mới còn được …60:00 tồn tại dài lâu, duy trì phát triển.

Nên tâm vô minh của mình, mình suy nghĩ là pháp diệt hết, mình không muốn nói pháp, chia sẻ pháp, mình ưa thích nói chuyện thế gian, nói những chuyện phù phiếm, tào lao thì nói hoài không hết nhưng khi nói pháp thì mình khó khăn,mệt nhọc, phí sức nhiều lắm trong khi việc tu của mình tất cả lời nói đều là pháp.

Minh Thành rất mong muốn, hy vọng, ước ao những vị trẻ tuổi làm sao để cố gắng. Minh Thành đã treo thưởng rất lớn là ai có thể học thuộc hết được Tương Ưng Bộ, chưa nói là cả tạng kinh thì giải thưởng là đưa vị đó qua thăm Bồ Đề đạo tràng, Tứ động tâm của Đức Phật.

Vậy nên việc học thuộc lòng rất quan trọng mà Đức Phật và các bậc Thánh tán thán khen ngợi, xưng tụng, là pháp hành trì khi Đức Thế Tôn còn tại thế là học thuộc lòng kinh. Một là nghe pháp, hai là chia sẻ pháp đúng như trong pháp, ba là thuộc lòng, trùng tuyên (nhắc lại) trở lại. Đó đều là giải thoát xứ, là chỗ giải thoát vì lúc mình nghe, tâm của mình được thoát ra si mê, vô minh, bản ngã, hôn ám. Chỗ đó là mình được giải thoát, nên mới gọi là giải thoát xứ.

Khi mình chia sẻ cho mọi người thì tâm mình phải an trú vào pháp thì mình mới chia sẻ được. Lúc mình chia sẻ thì tâm mình an trú vào pháp, lúc mình đang trình pháp mà mình trình cho đúng thì lúc đó mình đang trú vào giải thoát xứ. Mình chia sẻ pháp đúng thì mình đang ở trong chỗ giải thoát, giải thoát ngay lúc mình chia sẻ, trình bày.

Khi lúc mình đọc tụng, trùng tuyên pháp bảo mỗi buổi sáng mà tâm mình thật sự an trú vào trong pháp thì lúc đó là mình đang ở trong chỗ giải thoát, giải thoát xứ.

Chúng ta thấy mỗi ngày mình đi tới đi lui chỗ giải thoát nhiều lần không? Mình có biết là mình đang giải thoát không? Hay là lên đó ngồi rồi mệt quá, buồn ngủ? Tâm mê khổ như vậy, xả bỏ phàm tâm tập Thánh tâm. Xả bỏ tâm chống đối, tâm hôn ám để học theo tâm hiền thiện, tâm dễ nghe, dễ bảo, dễ dạy, dễ tu, dễ học, hiền lành, ngoan ngoãn. Đó là mình đang đi vào giải thoát xứ thứ ba. Nên lúc nào mình học kinh là mình đang ở trong chỗ giải thoát, lúc nào mình nói kinh, chia sẻ pháp đàm là mình đang ở trong chỗ giải thoát, lúc nào mình ngồi trong pháp đường, ngay bây giờ là mình đang ở trong giải thoát xứ.

Tại sao ngày nào Minh Thành cũng duy trì chia sẻ pháp cho chúng ta vì Minh Thành muốn chúng ta ở trong chỗ giải thoát, không phải ở trong chỗ ràng buộc.

Khi mình nghe Chánh pháp, mình đặt để hết tâm mình vào trong đó thì mình hiểu được nghĩa lý, câu từ, sanh ra khoan khoái, thích thú, tâm mình hân hoan, thân nhẹ nhàng, khinh an, được định tĩnh, lạc thọ sanh, đưa vào trạng thái định tĩnh. Bằng chứng như quý thầy lớn trong ban trị sự đến ngồi chứng minh các Ngài khen thì thấy có vui không? Một hội chúng hiền thiện, tinh ba, trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, biết ơn, phẳng lặng như tờ hàng trăm người mà không có một tiếng động.

Chúng ta có nghe được thượng tọa phó ban trị sự nói không? Ngài nói khi vào đây tôi thấy không khí linh thiêng, trang nghiêm, khó tả. Có cảm thấy hạnh phúc không? Thấy mình tu có tiến không? Phải nắm bắt những thiện pháp để làm cho mình hân hoan hơn, không phải vậy rồi tâm mình đóng lại. “Coi chừng bản ngã!” Không phải vậy, lúc đó là để cho mình được hỷ lạc, mình hân hoan, sanh khởi lên để mình nhìn thấy đó là sự thật, Ngài nói đúng như vậy. Như vậy thì công chia sẻ của Minh Thành không uổng.

Chúng ta thấy hàng trăm vị quỳ thẳng, chắp tay trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, biết ơn như vậy. Tâm hiền, tâm từ, hòa hợp, hòa kính như vậy, tuyệt vời, hạnh phúc, ấm áp, dào dạt, sung mãn không? Trong cả một thiền đường? Ngay lúc đó chúng ta ở trong giải thoát xứ, tức là ở trong chỗ giải thoát.

Hãy nhớ kĩ, thứ nhất là mình nghe pháp, thứ hai là mình chia sẻ pháp, thứ ba là trùng tuyên đúng pháp, không chia sẻ bằng bản ngã, thị phi. Đọc kinh thì đọc tâm thành kính, cung kính, không đọc sai lệch. Mình nghe pháp thì nghe bằng tâm của người học trò, tâm cúi đầu, tâm cung kính pháp thì lúc đó mình ở trong chỗ giải thoát.

Thứ tư là các hiền giả theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát, pháp ấy, tức là niệm giác chi, chánh tư duy, như lý tác ý. Ví dụ mình niệm thân, hoặc mình niệm thọ, hay là niệm tâm niệm pháp, mình phải nhớ nên vị Tỳ-kheo theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Tức là cái này không đợi mở pháp lên mà vị này dùng tâm của mình tầm cầu, quán xét, suy tư, nhắc nhở, tự mình khởi lên, làm cho mình sanh khởi lên pháp đó.

Vị Tỳ-kheo theo điều đã nghe, theo điều đã được học dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát, pháp ấy nên đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý. Hiểu được văn cú, câu từ, nhờ đó nên khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh, nên thân khinh an, nhờ khinh an, lạc thọ sanh, nhờ lạc thọ tâm được định tĩnh. Đó là giải thoát xứ thứ tư.

Đây là khi chúng ta thiền quán. Tâm chúng ta hướng về tầm tứ pháp, hướng về pháp, đặt tâm mình vào trong đó, tâm mình bám, trụ vững trong đó. Giống như mình đang cầm một món đồ gì thì mình cầm rất chắc, không cho rớt xuống. Đó là tứ. Tay mình hướng tới món đồ gọi là tầm.

Ví dụ quyển kinh này mình đứng từ xa, mình muốn tới để lấy quyển kinh học thì đó gọi là tầm. Khi mình cầm quyển kinh trong tâm mình mở ra đọc thì đó gọi là tứ. Đó là nói bên ngoài, tâm mình hướng về pháp, ví dụ hôm nay mình tu tập tâm hiền, khi khởi ý đó lên thì tâm mình sẽ hướng vào trong những cảm thọ hiền thiện, những suy nghĩ hiền thiện, những hình bóng hiền thiện, đó gọi là tầm. Khi những suy nghĩ, hình bóng đó, những cảm thọ sanh khởi lên, mình an trú trong đó gọi là tứ.

Ví dụ mình nói hôm nay phải tu quán bất tịnh thì tham muốn, tham dục trong người nhiều rồi thì khi tâm mình hướng tới sự việc đó gọi là tầm. Khi mình đã an trú trong pháp, mình quán thì bắt đầu triển khai thiền quán, quán tứ đại, quán chín giai đoạn một tử thi, quán bộ xương, quán đống tro, quán hũ cốt. Quán bị tai nạn giao thông bầy nhầy, bầm đau, một đống thì gọi là tứ.

Khi mình quán, nghĩ, xét như vậy, nghiền ngẫm, tư duy, an trú như vậy thì mình sẽ hiểu được nghĩa lý trong đó, hiểu được câu từ mà Đức Phật đã nói trong kinh. Mình hiểu được như vậy rồi thì tâm mình sẽ khoan khoái, thích thú, sau đó sẽ sanh hoan hỷ, mừng. Khi tâm mừng, tâm vui rồi thì thân nhẹ nhàng, khinh an, tâm thì vui, nhờ tâm vui đó nên đi vào trạng thái định tĩnh là giải thoát xứ thứ tư. Đó là mình đang tu tập thiền quán, Chánh tư duy, như lý tác ý.

Chúng ta thấy trước nay mình tu học có giống vậy không? Mình có đi đúng theo lời dạy của Đức Phật và các bậc Thánh không? Rõ ràng không? Chính xác, rõ ràng, cụ thể, minh bạch, có kinh điển y cứ. Không phải mình muốn làm gì thì mình làm. Đó là giải thoát xứ thứ tư, tức là suy tầm pháp, suy tư pháp, quán sát pháp, nghiền ngẫm pháp. Tư niệm pháp, nhớ nghĩ về pháp. Tác ý, thiền quán, đây là giải thoát xứ thứ năm.

Chư vị này dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát như vậy, vị ấy nắm giữ một định tướng nào khéo tác ý, khéo hộ trì, khéo thể nhập nhờ vào trí tuệ đó. Khi tư duy quán sát như vậy, vị ấy tiến thêm một bước nữa là nắm giữ một định tướng, đây là chỗ thâm sâu, sâu sắc. Khi mình suy nghĩ một thời gian mình đã thuần thục rồi và mình suy nghĩ nhiều quá thì không có cái nào đi tới cái nào, nó không có cái để xuyên thủng vô minh, tham ái nên mình phải có một định tướng, tức là mình tập trung tâm ý vào một đề mục thôi.

Ví dụ giờ mình mới vào tu, tâm chống đối còn rất nhiều, nhiều khi ở trên sư phụ và quý thầy, đại chúng làm hết mà mình không chịu làm theo. Như vậy, mình thấy vậy rồi thì mình phải tu tâm hiền, tâm nghe lời, tâm tùy thuận. Nếu mình thấy bây giờ tâm mình còn chống đối, còn ương ngạnh lắm, đang cứng cỏi lắm thì giờ mình phải tu tâm mềm ra, tâm mềm mại, tâm nhu nhuyến, tâm hiền thiện, tâm hiền lành, tâm hiền ngoan. Giờ mình lấy tu tâm hiền hoài, mình cứ lấy đó làm định tướng, mình cứ nghe và chọn tất cả bài về tâm hiền mình cứ nghe tới, nghe lui, nghe qua, nghe lại rồi mình cứ suy nghĩ về tâm hiền, mình nhìn nhận về mình những cái nào còn dữ, cái nào chưa hiền, những cái nào còn cứng cỏi thì mình làm cho nó mềm mại xuống.

Mình lấy tâm hiền đó làm định tướng, mình tu tập trong tám tháng về tâm hiền, tu cái gì tu, học cái gì học, cuối cùng mình quay lại đề mục của mình, lấy đó làm chính, cho đến khi nào mình thành tựu tâm hiền. Quán bất tịnh cũng vậy hoặc tu tâm từ cũng vậy, hay là tu tập trí tuệ, quán vì sự sanh diệt của ngũ uẩn cũng vậy. Mình lấy đó làm định tướng, mình cứ làm gì làm rồi xong thì quay trở lại đó. Giờ mình thấy dục trong người mình nặng quá, nó hoành hành mình khốn khổ quá giờ quán bất tịnh, quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trượt, quán chín giai đoạn tử thi, quán bộ xương, cứ làm hoài như vậy sáng trưa chiều tối, ngày nay ngày mai tuần sau tháng sau, ba tháng sau, bảy tháng sau, tám tháng sau, một năm sau… Cứ làm hoài cho đến khi nào thể nhập thì thôi. Tu cái gì tu rồi cũng quay trở lại định tướng của mình, cũng quay trở về đề mục của mình, cũng quay trở về pháp mà mình đang tu tập.

Giống như mình làm cái gì đó chưa xong, có ai kêu chuyện gì bất thình lình, đột ngột thì mình cũng đi, nhưng khi xong rồi thì mình phải làm việc của mình. Không lẽ người ta kêu là mình đi? Mình đi suốt đời mà công việc của mình thì không xong? Làm mọi cho thiên hạ? Tu hướng ngoại, suốt ngày chạy? Nhưng công việc của mình làm chưa xong.

Đó là vậy, phải có một định tướng nắm giữ một định tướng nào khi khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập, nhờ trí tuệ. Đầu tiên là nắm giữ, kế đến là khéo tác ý, sau đó là thọ trì, cuối cùng là khéo thể nhập vào trí tuệ. Đó là thể nhập tri kiến của bậc Thánh. Có khi dục, tham, sân, si, bản ngã, hơn thua khởi lên thì “Ôm ta lạy mày, mày làm ơn đóng thùng rác này lại, thối quá! Mày đi đâu cũng mang thùng rác thối này đi theo để làm gì vậy?”

Mình quán như vậy, quán riết thì nó cũng chịu cúi đầu xuống thôi, nó tủi hổ, nó xấu hổ, nhục, nó không dám vênh váo, kênh kiệu, kiêu căng, kiêu ngạo, ngạo mạn, nên có ngày mình thiền quán là xả kiêu mạn, lúc mình thiền quán dưới bờ hồ. Những hình ảnh dễ quán là cầu tiêu, là thùng rác, là nùi giẻ rách. Mỗi ngày nhắc mười lần, hai chục lần, ba chục lần, nhắc trăm lần mà hình ảnh đó phải hiện ra trong tâm mình để mình nghĩ tới, nghe tới “mình” là nghĩ tới ngay giẻ rách bị dơ, người ta dặm qua mà không thấy một ông trụ trì, ông sư phụ, ông thượng tọa nào mà thấy một đống này, giẻ đó. Nếu bị nghe chửi, nghe chê thì tác ý là “Nùi giẻ này tàn tạ, hôi thối, dơ!”

Mình nhớ là mình sẽ quán những pháp có nói trong kinh Nikāya, quán đó của mình mới đi thâm sâu vào đúng trí huệ của bậc Thánh còn những cái mình lấy thêm ở ngoài thì nó cũng tốt thôi, hỗ trợ thôi, nó không phải là Chánh quán được. Những pháp quán của mình lấy trong kinh, đào sâu trong đó.

Ví dụ như nùi giẻ rách Ngài Xá-lợi-phất có nói, cái dơ bẩn tủi hổ, mình lấy cái ung nhọt mình quán. Đức Phật nói tâm rác bẩn là có, là thùng rác, có những cái mình quán, mình lấy đó làm định tướng. Lúc nào mình nghĩ về mình là nó hiện ra một cái cầu tiêu “Ta chán mày quá! Hôi thối vừa phải thôi! Mở miệng ra lúc nào cũng hơn thua, cao thấp, đúng sai, mở miệng ra thì ngã mạn. Ta dội mày, lấy cả xô đổ vô. Một xô chưa hết thì đổ thêm hai xô, ba xô!” Lâu lâu quý vị có gặp trường hợp gạt nước mà không có nước không? Gạt ba, bốn cái mà nước không xuống, còn nguyên? Vì sức quán của mình không đủ mạnh để dội cái dơ, cấu uế, bẩn thỉu, xú uế đó. Nên lấy đó làm định tướng, lấy thùng rác, cầu tiêu, nùi giẻ, lấy kẻ hèn hạ nhất cuộc đời này để quán.

Đó là những hình ảnh về phương diện mình diệt các thứ cấu uế, bẩn thỉu, ngược lại, mình làm cho mình hỷ là mình sẽ lấy những cái trong sạch, thanh tịnh, đẹp đẽ, giống như hồ sen. Chúng ta đã được Ngài Xá-lợi-phất dạy, những pháp trị tâm sân, hồ trong xanh, sạch, mát, ngọt, đẹp, rộng. Chúng ta có rất nhiều pháp quán, rất nhiều hình ảnh và chúng ta là dũng sĩ, là chiến sĩ đi theo bậc vô thượng sĩ. Chúng ta quán hình ảnh mình là người dũng sĩ, chiến sĩ, đi phía sau lưng bậc vô thượng sĩ. Mình cầm cây cờ, vẫy cây cờ chiến thắng. Chúng ta thấy mạnh, giàu có trong Thánh pháp không? Có rất nhiều pháp.

Mình có nhiều pháp bảo, nhiều pháp khí, nhiều bảo bối, mình có đầy đủ ba mươi bảy phẩm giác ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, gia tài của Ngài mình có đầy đủ trong tim của mình, mình muốn xài cái gì thì mình lấy cái đó ra xài. Mình không có nghèo nàn, mình rất giàu với Thánh pháp, Thánh trí. Như vậy, mình làm cho mình thành một định tướng.

Nhiều khi có người tới hơn thua này kia, nhưng chúng ta quán “Đống tro cốt này sao dữ dằn quá! Đống tro này chưa biết là nó chuẩn bị vào hũ.” Mình không có sân hận mà chỉ thấy tội nghiệp. Mình thấy tâm mình vênh váo, muốn hơn thua thì tác ý “Mày làm ơn gục đầu của mày xuống. Mày có nhục không vậy cái nùi giẻ? Mày có biết mày là ai không mà bày đặt vênh váo, học theo thói hèn hạ vậy? Hỡi tâm mê? Mày nhìn kĩ lại bộ mặt của mày coi. Mày là ai vậy? Đầu trọc mày có nhìn thấy không? Mày mặc áo bỏ của người ta, áo là người ta bố thí cho, ăn cơm người ta bố thí. Mày là ai vậy tâm mê? Đừng có nhục nha, nhục lắm à nha, đừng có nhục nữa. Cúi đầu xuống, lạy người ta đi. Quỳ lạy người ta đi, đem đầu đặt dưới chân người ta đi.”

Vui lắm, hạnh phúc lắm, tuyệt diệu lắm nên đây là giải thoát xứ thứ năm.

VI. Giải thoát xứ thứ năm

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai vị Đạo Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy không đọc tụng pháp ấy một cách rộng rãi, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy không với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý quán sát pháp như đã được nghe, như đã học thuộc lòng. Nhưng vị ấy khéo nắm giữ một định tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thông đạt với trí tuệ như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy, vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan. Do hân hoan, nên hỷ sanh... tâm được định tĩnh. Đây là giải thoát xứ thứ năm, ở đây, vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm... được đạt tới.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 2 - Chương Năm Pháp - Phẩm Năm Phần - Bài kinh Giải thoát xứ)

Vị Tỳ-kheo nắm giữ một định tướng nào khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập vào trí huệ. Này các hiền giả, vị Tỳ-kheo tùy theo khéo nắm giữ một định tướng nào khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập vào trí tuệ, nên đối với pháp ấy hiểu được ý nghĩa, hiểu được câu từ, văn cú, hiểu được nghĩa lý nên khoan khoái, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm nên thân nhẹ nhàng khinh an, lạc thọ sanh khởi, tâm được định tĩnh, đó là giải thoát xứ thứ năm.

Chỗ giải thoát thứ năm của các bậc hiền trí đấy, năm chỗ giải thoát, năm sự giải thoát của bậc Thánh đệ tử đó. Thứ nhất là khéo nắm giữ định tướng, thứ hai khéo tác ý, thứ ba là khéo thọ trì, giữ gìn, đừng cho nó rơi, ví dụ cầm cái chén làm rơi bể, nhiều khi cầm một vé máy bay rồi đi đi làm rơi ở đâu không biết nhưng đi qua nước ngoài. Khổ sở không? Rơi mất - không khéo thọ trì, không khéo nắm giữ.

Ví dụ mình cầm một hộ chiếu, căn cước công dân, mình đi qua nước ngoài rồi mình làm rơi hộ chiếu ở đâu không biết, thì mình có trở về được không? Nó phiền phức, bao nhiêu khó khăn không? Đến hộ chiếu còn như vậy thì huống chi Thánh pháp này mình rơi rồi sao trở về được? Làm sao trở về nhà? Mình sẽ lưu lạc, lang thang, vất vơ vất vưởng, mình sẽ trôi nổi vì mình làm rơi mất Thánh pháp của Đức Phật, các bậc thầy truyền trao cho mình cả một tấm lòng, cả một trái tim, cả một sinh mạng. Đưa cho mình rồi mình cầm chơi chơi không biết rơi mất ở đâu. Học chơi chơi, nghe lướt rồi xong lại thôi, mình không đem một sinh mạng, mình không đem cả một tấm lòng, cả một tâm huyết, cả một trái tim, để mình nắm giữ nó, gọi là khéo thọ trì.

Nên sau khi mình tầm cầu, tư sát, tư duy, quán sát, tác ý rồi thì mình phải nắm giữ một định tướng nào đó. Sau khi mình nắm giữ được định tướng đó rồi thì khéo tác ý, mình làm cho định tướng đó thường xuyên, liên tục. Sau khi mình tác ý như vậy rồi thì mình phải khéo thọ trì và mình khéo hiểu ra, thọ nhận pháp đó và giữ cái đó, phải thọ nhận được, phải có cảm thọ trong pháp đó, phải có cảm xúc trong pháp đó và phải giữ được pháp đó.

Mình tu một thời gian rồi mình không thọ nữa, mình mất cảm thọ, mình vô cảm đối với pháp. Ngồi cho có, quán mở bài lên còn mình ngủ thì cứ ngủ, mình ngồi đơ ra đó rồi nghĩ chuyện đông chuyện tây mà mình không đi theo thiền quán. Như vậy uổng lắm, tội nghiệp lắm, khéo thọ trì và khéo thể nhập nhờ trí tuệ, thể nhập vào pháp đó.

Mình phải thể nhập vào pháp đó bằng trí tuệ, nhờ vậy nên mình hiểu được nghĩa lý, văn từ như vậy mình sẽ thích thú, khoan khoái, hoan hỷ, thân mình nhẹ nhàng, tâm mình vui, an lạc, như vậy đi đến trạng thái định tĩnh, đó là giải thoát xứ thứ năm.

Chúng ta nhắc lại, thứ nhất khi mình nghe pháp là mình được vào trong giải thoát xứ. Thứ hai là khi mình chia sẻ pháp. Thứ ba là khi mình trùng tuyên, mình tụng lại pháp. Thứ tư là khi mình tầm tư, suy tư, quán sát, nghĩa lý. Thứ năm là mình giữ được định tướng và mình khéo thọ trì, thể nhập. Đó là năm chỗ giải thoát của hiền giả Nikāya, năm chỗ giải thoát của Thánh đệ tử, của các bậc hiền trí. Ai trong đạo tràng đều có thể thực tập được.

Mời ni sư chia sẻ cảm thọ của mình sau khi nghe về năm giải thoát xứ này.

Ni sư… trình pháp:

Kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Hôm nay con nghe pháp của sư phụ, cảm thọ con rất hân hoan vì tuy là con học chưa nhiều, thực hành cũng chưa nhiều nhưng trong đó con biết mỗi chỗ con thấy cũng có chút chút. Nhưng khi con bệnh thì lúc đó con rất phiền não, sầu đau. Khi con nghe pháp, con đọc bài pháp, con đọc một bài kinh mà con không nhớ rõ bài kinh đó tên gì, con chỉ nhớ nội dung là: Áo quần nhơ thì lấy cái gì mà rửa? Thân thể nhơ thì lấy cái gì mà rửa? Đức Thế Tôn nói rằng áo quần nhơ lấy nước mà rửa, thân thể đau ốm, bệnh hoạn thì lấy nước giải thoát mà rửa. Tự nhiên trong con nổi lên một niềm hân hoan, thân thể nhẹ nhàng ngay lập tức. Con kêu “Tại sao mình lại ngồi đây sầu não như vậy? Thuốc thật cho đây không chịu uống mà ngồi đó sầu não!”

Trong lòng con rất hân hoan khi con đọc được bài kinh và khi con chia sẻ pháp thì trong lòng con cũng vui nữa, vui vô cùng. Khi con thiền quán về đống tro cốt như vậy để cho nó hòa vào trong vũ trụ thì con nhìn thấy xác thân của mình. Tự nhiên con thấy “Còn gì để sợ hãi nữa không? Làm gì mà còn sợ hãi nữa?” Bây giờ thì đất trả về cho nguyên sơ của nó, nước, gió, lửa cũng vậy, trả về cho tứ đại của vũ trụ thì còn cái gì để lo sợ nữa, còn cái gì để tham, sân, si? Con thấy trong con định tĩnh hơn, không còn dao động nữa.

Mỗi khi tụng Pháp Bảo thì con đứng con nghe, đại chúng mỗi vị đọc tụng một bài thì lúc đó con thiền quán, con thấy Đức Thế Tôn đang nói pháp cho mình nghe, con lắng lòng con nghe. Còn giữ lời đó là của Đức Thế Tôn đang trực tiếp chỉ dạy con, trong lòng con cũng rất hân hoan, rất nhẹ.

Đó là những cảm nghĩ của con. Con nguyện suốt đời theo Chánh pháp này, để nhằm tu tập, làm đệ tử ngoan của Đức Như Lai với tấm lòng không sân hận. Con tác ý nếu mình sân hận, tham lam, sân si thì mình không phải là đệ tử của Phật, mình không phải là người con của Phật, đó là mình đang phỉ báng Tam Bảo.

Đức Phật dạy mình không được tham, không được sân, không được si, mình không chịu nghe, nếu mình sân si như vậy ...100:30

Như vậy con nguyện trọn đời làm con ngoan của Đức Thế Tôn, của bậc đạo sư, của sư phụ, vì Ngài đã dốc lòng thương xót chúng con mà chúng con không nghe thì thật là tồi tệ. Đó là thiền quán của con sáng hôm nay.

Tâm thương này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.