Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nhận Diện Năm Uẩn Để Làm Gì 2a-2b

2026-03-03 00:53:43
Tinh Hoa Nikāya

NHẬN DIỆN NĂM UẨN ĐỂ LÀM GÌ 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bóng đêm của vô minh PAGEREF _Toc74041661 \h 1

II.Vì sao phải nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc74041662 \h 3

III.Chiếu phá năm thủ uẩn PAGEREF _Toc74041663 \h 6

1.Sắc thủ uẩn PAGEREF _Toc74041664 \h 6

2.Thọ thủ uẩn PAGEREF _Toc74041665 \h 9

3.Tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn PAGEREF _Toc74041666 \h 14

IV.Buông bỏ gánh nặng năm thủ uẩn PAGEREF _Toc74041667 \h 15

Bóng đêm của vô minh

Kính thưa đại chúng, vừa rồi trong thất mất điện, khi mất điện Minh Thành thấy một bóng đêm, tối đen hết, muốn làm cái gì cũng không biết cầm nắm ở chỗ nào, cầm ổ khoá mà cầm hoài không biết mở chỗ nào.

Minh Thành mới nhớ lại cách đây mấy năm trước có một Phật tử mời đi dùng cơm, nói chỗ này rất là đặc biệt, lúc đi đến đó thì quả thật rất đặc biệt. Khi đi vào đó thì người sau vịn vai người trước, bốn, năm người vịn vai với nhau. Trước khi vào thì người ta cho ngồi trước bóng đèn mờ để tập quen với sự thiếu thốn anh sáng. Lúc người ta vén cái màn lên để vào trong là tối thui, không có bất cứ một ánh sáng gì. Bên trong có một người sẽ hướng dẫn mình làm theo. Mình rê lại tới ghế ngồi, ngồi chờ đem đồ ăn lên thì thấy tối thui. Mò mò trong trong bóng đêm thì lấy được cái nĩa, cái muỗng rồi mình cắm đại món gì đó, đưa vô mình cũng phải vịn. Người ta bưng nước lên thì cũng không thấy, ly nước chỗ nào mình cũng không biết. Người ta nói hướng bên nào thì mình mò mò nhẹ mới chụp trúng được cái ly. Chụp trúng được cái ly, đưa lên uống thì mình phải kê sát vô. Minh Thành thấy như vậy khổ quá, ăn một tiếng mấy, hai tiếng rất là vất vả, rất là khó khăn. Đó là mình có sự chánh niệm, chứ còn người thô tháo có thể xỉa cái nĩa làm chảy máu miệng. Ăn xong là một tiếng rưỡi đồng hồ hơn, đi ra ngoài mới nhìn thấy ánh sáng, thấy mặt trời. Minh Thành thấy rằng, chỉ có một tiếng rưỡi trong bóng đêm mà vô cùng khó khổ, dù chỉ ngồi ăn, không phải làm gì hết, nhưng rất rất là khổ, rất là bất tiện.

Lúc dưới thất mất điện, Minh Thành liên hệ đến các tưởng trong quá khứ. Minh Thành chợt nhớ lại có lần đi giảng pháp ở Nha Trang, đi tới chỗ đó là hàng trăm người mù, có rất nhiều người từ khi sanh ra đã mù. Mình hỏi thấy cái gì không thì họ trả lời không thấy gì cả. Khi đi đến chỗ chia sẻ pháp thì không phải một trăm người, mà ba, bốn trăm người, họ đi nhận quà, họ đi nghe pháp mà phải vịn vai nhau đi. Chúng ta thấy rằng, chỉ chịu hơn một tiếng trong bóng đêm mà ta đã thấy khó khăn, bất tiện, khổ sở, vậy mà có những người phải chịu trong bóng đêm mười mấy, hai mươi năm, thậm chí có người phải chịu suốt cuộc đời, người ta gọi là “sanh manh”, tức là người mù bẩm sinh, sinh ra là đã mù, mù suốt cuộc đời.

Nếu chúng ta rơi vào những tình cảnh đó thì mình có tưởng tượng được không quý vị? Có biết bao nhiêu khó khăn, cực nhọc, chưa nói đến tủi hờn trong cảnh mù lòa nhưng cái mù đó không thể nào bằng với cái mù của vô minh. Cái mù bẩm sinh chưa là gì đối với cái mù của vô minh, si ám và tất cả hữu tình chúng sanh thì đang trong bóng đêm vô minh. Chúng ta cứ tưởng đâu là mình nhìn thấy xanh đỏ, trắng, vàng, biết người này, người kia, nhưng thật ra đối với Thánh trí thì tất cả những cái đó là mù. Đức Phật, các bậc A-la-hán, những vị đã thành tựu Chánh tri kiến đều nhìn chúng sanh là mù hết. Đừng nói gì những người mù, người có mắt như mình đây, rõ ràng chứng kiến việc đó như vậy mà mình hiểu còn sai. Dù thấy rõ ràng, nghe rõ ràng, mình tưởng như vậy mà trở ra là không phải như vậy.

Cho nên, vừa rồi nhân cái vụ cúp điện dưới thất, Minh Thành quán chiếu cảnh mù loà vô minh và thấy hết sức lo lắng cho chúng ta. Dù ở trong cảnh mù như vậy mà giành giật, tranh đấu, chém giết, sát hại, lợi dụng, mưu mô, quỷ quyệt, xảo trá, gian manh, thủ đoạn, lừa gạt và tạo ra không biết bao nhiêu thứ ác nghiệp. Đó là hiện trạng của thế giới, là sự thật của cuộc đời. Hằng ngày, nhìn trên báo chí, trên tin tức, báo đài, thấy tất cả những sự việc trên cuộc đời này không những mù mà còn điên loạn. Một bệnh mù đã khổ không biết bao nhiêu rồi mà còn điên nữa. Đó Đức Phật gọi là Vô Minh và Điên Đảo.

Vô minh bao phủ hết hành tinh này, điên đảo, lộn ngược, rối loạn, hỗn loạn, đầy rẫy khắp thế gian. Con giết mẹ, vợ giết chồng, anh em ruột sát hại lẫn nhau, cướp giật, cướp bóc, khổ đau đầy rẫy. Những người nghèo còn bị lừa, có người nào đó lại cho tiền, rồi đưa hộ khẩu, chứng minh nhân dân cho người ta, rồi họ lấy vào ngân hàng để vay. Sau đó, người này té ngửa ra, ngân hàng đến nói thiếu mấy chục triệu. Đủ thứ những thủ đoạn lừa gạt, đầy rẫy thế gian. Hơn nữa, hiên giờ thế giới đang bị dịch bệnh, thêm một ổ dịch thứ hai nữa mới xuất hiện ở Trung Quốc, rồi qua một tỉnh khác nữa. Việt Nam mới nhiễm thêm ba người đi bên đó về, bốn giờ khuya xếp hàng đi mua khẩu trang. Qua đó chúng ta thấy rằng, thế gian này bị bao phủ bởi vô minh và ác nghiệp.

Vì sao phải nhận diện ngũ uẩn

Chính vì sự vô minh, điên đảo đó, mà chúng ta phải học nhận diện ngũ uẩn. Vậy, học nhận diện ngũ uẩn để làm gì? Nếu không thấy được năm uẩn là chúng ta bị mù. Người mà không học năm uẩn, không nhìn thấy năm uẩn, không biết ngũ uẩn, không thấy được thân tâm của mình là như người mù vì không thấy được chính mình. Quý vị ra ngoài, gặp người đi chùa lâu năm, hỏi họ “tâm là cái gì?” thì họ sẽ trả lời một ngàn định nghĩa khác nhau, chứ không biết được tâm là thọ, tưởng, hành thức.

Cho nên chúng ta phải học ngũ uẩn và nhận diện ngũ uẩn. Bước nhận diện đó là mình phá được vô minh. Khi thấy được sắc là sắc, tức là những thân thể, vật chất, mọi thứ trên cuộc đời này là sắc; thấy những cảm giác này là thọ; thấy được những hình bóng trong tâm là tưởng; thấy rõ biết là thức… khi thấy được như vậy thì những tia đầu tiên của ánh sáng mặt trời đã bắt đầu soi chiếu. Như vậy, chúng ta phải biết nhận diện năm uẩn để nhìn thấy và biết tự thân, tự tâm.

Chính vì thế, hai chữ “tự giác” của Đạo Phật tuyệt vời lắm. “Tự” là tự mình; “giác” là phát giác, phát hiện, giác ngộ, giác biết, giác hiểu, giác tri. Và giác tri là giác tri sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chúng ta đừng có chán, đừng có lờn, đừng có xem thường điều này, rớt cái này xuống là mình mù, là điên loạn. Rớt cái này xuống là mình rớt cái tròng con mắt. Đức Phật gọi bậc pháp nhãn, bậc minh nhãn, bậc minh kiến là bậc có con mắt của trời và người, con mắt này mở ra Thánh trí năm uẩn cho chúng sanh. Mở trí huệ này ra là giải mã hết tất cả những gì bí mật của nhân sinh và vũ trụ.

Thánh trí năm uẩn giải mã hết, giải phá hết, giải toả hết, giải phóng hết, giải thoát hết. Không còn cái gì ở ngoài năm uẩn nữa hết. Không có cái gì ngoài năm uẩn, cho nên, Thánh trí này là tối thượng, tối cao, tối tôn, tối đệ nhất. Giáo trìnhmt dạy ở trường Phật học là tóm thâu hết tất cả những lời dạy năm uẩn trong kinh Nikāya. Minh Thành gọi là tiểu tạng Nikāya, bao gồm tất cả những lời dạy của Phật về năm uẩn trong tạng kinh Nikāya.

Đức Phật tuyên bố xác quyết về con đường của bậc Chánh Đẳng Giác như thế nào?

Này các Tỷ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Nhưng này các Tỷ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. (Tương Ưng Bộ Kinh III, I. Phẩm Tham Luyến, kinh Thủ Chuyển)

Như vậy, sự giác ngộ tối thượng, cùng tột của Đức Phật là sự thấu triệt, trọn vẹn, triệt để, hoàn toàn về năm uẩn. Và bây giờ chúng ta đang đi trên con đường đó. Chúng ta đang nhìn lại thân tâm, nhìn lại tự thân chính mình và tự giác. Cho nên, sự mình tu học là sự thấu hiểu chính mình. Thấu hiểu chính mình một cách trọn vẹn và triệt để, không còn xót một cái gì nữa hết. Như vậy, vô minh tức là không nhìn thấy được năm uẩn, đây là lớp đầu tiên của vô minh.

Bây giờ chúng ta cứ làm một bài thí nghiệm. Khi gặp bất cứ người nào mình hỏi: “thân này là cái gì làm ra?”, “tâm này có những gì?”. Rồi mình nghe người ta nói mới thấy rằng họ không biết cái gì hết trơn, ngay cả những nhà bác học, khoa học trên thế giới cũng vậy. “Tôi suy nghĩ, tức là có tôi” nhưng đó mới có hành thôi. “Tôi có cảm giác, tức là có tôi” thì mới có thọ thôi. “Tôi có nhận thức cho nên có tôi” thì mới chỉ là thức thôi. Tất cả cúng sanh, vô văn phàm phu nếu không có học thì sẽ cho rằng tôi là mấy chục kí lô thịt. Chỉ có trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác mới đầy đủ tất cả mọi khía cạnh của thân tâm, đó gọi là Chánh tri kiến, là viên mãn kiến về tự thân, tự tâm.

Có nhiều người mới qua dòng pháp này nói: “Con nhận diện một lượt năm cái khó quá”. Đó là tại vì từ đó giờ quen ngồi thở vô, thở ra, rồi thở ra, hoặc không ngồi lại, sáng trưa chiều tối chỉ tu một câu thôi, không cần tu cái gì hết trơn. Rồi khi nhận diện năm uẩn thì kêu khó quá. Như vậy tu tìm đạo, tìm sự thật, hay tìm cái khó cái dễ. Mình nói khó dễ nên đi tìm cái dễ thì đó đâu phải cầu đạo. Hoặc có khi nói tu ít tu nhiều nữa, mình nói cái này nhiều quá, cái kia có một cái nên đi tìm cái gì ít ít, nếu vậy là đi tìm tu nhiều tu ít chứ đâu phải tìm sự thật. Rồi lại nói tu sướng với tu khổ nữa. Tu bên kia sướng, không phải làm gì hết trơn; còn tu cái này thấy khổ, cứ nhìn thấy tham, sân, si, bản ngã hoài, tu hoài mà nó cũng còn hoài.

Như vậy, vấn đề ở đây là cái nhìn nông cạn, thấp kém, ấu trĩ, của vô văn phàm phu, vô minh, si mê với một cái nhìn thâm sâu, tuệ giác, Thánh trí là hoàn toàn khác nhau. Cái nào vô văn phàm phu giống mình thì mình ưa, còn cái nào Thánh trí thì mình nói cái này khó quá, vậy thì làm sao thể nhập Thánh trí, làm sao đi vào tri kiến của bậc Thánh. Đi làm ở ngoài, mình nói đưa công việc nào nhẹ nhàng, lương nhiều đưa tôi, vậy có được không? Rồi đi tu cũng lựa môn nào dễ ợt thì sẽ không đạt được gì hết. Quý vị thấy cái vô minh của mình nó dầy chưa!

Vô minh là không thấy được Khổ Thánh đế, đó là lớp thứ hai của vô minh. Không thấy khổ mà cứ tưởng đâu là còn ăn được hoài, cứ tưởng đâu là còn ngủ được hoài, cứ tưởng đâu là còn chụp hình được hoài, còn lướt facebook được hoà, còn zalo hoài. Cứ tưởng đâu là nhảy lên xe là phượt hoài, trong khi mấy ông đi phượt chết đó, thấy không? Đó là không thấy được Khổ Thánh đế.

Minh Thành dùng những ví dụ thực tế trong đời sống để quý vị dễ nắm. Không thấy khổ là khi người ta bệnh rần rần, còn mình nói “ai bệnh thì bệnh, còn tôi đâu có bệnh”. Người ta chết thì thấy chết tội nghiệp quá, mà chỉ tội nghiệp người ta chứ không tội nghiệp mình. Chúng ta chỉ toàn là hướng ngoại. Thấy người ta tham, xảy ra chuyện này chuyện kia tội nghiệp quá, nghĩ rằng mình không có tham. Khi nhìn thấy một vụ án xảy ra vì dục, vì tham, chúng ta phải thấy nguy hiểm vì bên trong chính mình vẫn còn mầm mống này, cho nên, mình phải dẹp đi, nếu không cẩn thận là mình đi theo cái dấu đó, đó mới là Như Lý Tác Ý.

Cho nên, để phá lớp vô minh thứ hai này là đầu tiên phải thấy được sự thật về đau khổ. Mà quý vị có biết, cái gì là khổ không? Bài kinh “Khổ Pháp”, Đức Phật nói: “Sắc thủ uẩn là khổ, thọ thủ uẩn là khổ, tưởng thủ uẩn là khổ, hành thủ uẩn là khổ, thức thủ uẩn là khổ. Đây là khổ pháp”. Nếu không học Chánh tri kiến này, không học dòng pháp này thì không bao giờ đọc những câu kinh này mà hiểu nổi. Làm sao hiểu nổi những câu này, những câu này là khẩu quyết của Chánh Đẳng Giác, là định lí của bậc Thánh. Như vậy, thấy được chân lí thứ nhất về Khổ Thánh đế, thấy được nguyên nhân có ra những thứ khổ và từ đó mình tìm được phương pháp diệt cái khổ đó thì đó mới gọi là phá được vô minh.

Cho nên, đầu tiên chúng ta thấy được cái khổ trên cuộc đời này, phải nhìn thấy, phải mở con mắt trí tuệ ra để nhìn tất cả thế giới này. Chứ không phải ngồi đây rồi chỉ nhìn ở đây. Hãy nhìn hết, nhìn ông bà, cha mẹ của mình đã đi qua và những người thân của mình. Hãy nhìn bao nhiêu cảnh trên cảnh trên cuộc đời mà mình đã nghe, đã tiếp xúc hoặc đã được nhìn trên màn ảnh. Hãy nhìn cho thật là sâu sắc thế gian này, chứ không có nhìn phớt phớt, vì nhìn phớt phớt là bị gạt. Lâu lâu mua đồ có bị gạt không? Chơi hụi có bị gạt không? Còn nhiều thứ bị gạt nữa không? Tình cảm có bị gạt không? Ngồi khai tới tối cũng chưa hết vì biết bao nhiêu những thứ nó gạt.

Từ đó, chúng ta phải nhìn ra khổ pháp, nhìn ra chữ “thủ” ở trong năm uẩn.Cho nên Cô hay nhắc đi nhắc lại câu “tóm lại năm thủ uẩn là khổ”. Câu này là con mắt của tạng kinh Nikāya, ai mà hiểu được, thật sự thấy, thật sự biết được câu này là Nhập Lưu. Đức Phật đầu tiên nói: “Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương mà xa lìa là khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ”. Cuối cùng là “tóm lại năm thủ uẩn là khổ”. Đọc câu này là mình phải lạy vỡ cái sọ đầu của mình ra, như vậy còn chưa chắc là mình chứng nghiệm được. Người nào thấy được đúng như vậy, thấp nhất là Dự Lưu Thánh quả, cao nhất là A-la-hán.

Chiếu phá năm thủ uẩn

Sắc thủ uẩn

Đầu tiên, chúng ta khoan nói trời đất, vũ trụ gì hết, đối với cái đống thịt trên thân này có chấp thủ nó không? Thủ cỡ chừng bao nhiêu thì đụng vào đi rồi biết. Nhìn thấy hiền vậy đó, nhìn thấy tu vậy đó mà đụng vô đi rồi biết mặt. Cho nên, tu không phải dễ, mà cần phải có một sự thâm quán, thâm sâu trí huệ mới phá được cái sắc thủ uẩn này.

Chính vì vậy, hương vị bất tử - Thân Hành Niệm gồm sáu pháp, tức là muốn phá sắc thủ uẩn phải đầy đủ sáu phương diện, học với Chánh Đẳng Giác là như vậy, còn học với phàm phu là đơn giản thôi. Mỗi ngày mình quán chín giai đoạn của một tử thi, quán tứ đại được mấy lần? Còn yếu kém nhiều lắm phải không? Sờ sờ đi vô toilet như vậy mà cũng không thấy được bất tịnh. Trong sự tu, chúng ta cần phải thâm nhập, thâm quán, tác ý. Vừa rồi Minh Thành nhập thất là Như Lý Tác Ý suốt hai tháng. Phải tác ý mạnh mẽ, tác ý phá vỡ cái đống sắc này, nó chấp thủ, bám chặt lắm. Không biết từ hôm lên khoá tu, quý vị nhìn bộ xương được mấy lần. Nhiều khi đi ngang qua mà nhìn chỗ khác, rồi lo nghĩ chuyện đâu đâu. Trong mấy ngày tết mà một trăm ba mươi mấy người chết, bị thương một trăm bảy mươi mấy người. Như vậy thương vong là hơn ba trăm người, đó chỉ mấy ngày tết thôi. Vậy mà chúng ta chấp thủ là cứ việc thủ chứ không thấy được bản chất của sắc. Do đó, điều trọng tâm, cốt yếu mà Đức Phật dạy là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với sắc. Nhiếp phục sự thúc giục, ham muốn, ưa thích, khao khát, khoan khoái, kiếm tìm, đuổi bắt, truy tầm, bám chắt, nắm chặt sắc uẩn. Nhiếp phục, diệt tận được sắc uẩn, chính là lõi của giáo pháp.

Minh Thành hỏi đại chúng, quý vị chạy từ nhỏ đến lớn để đi tìm cái gì? Tất cả mọi thứ mình chạy đuổi, đi tìm có phải là sắc uẩn không? Vậy mà cứ tìm hoài, chết cũng không hết tìm, chết rồi đi tìm tiếp cho nên lòi ra sắc uẩn thứ hai. Sắc uẩn thứ hai đó không biết hình dáng là cái gì, là con ma, hay là con giòi, hay là con chuột, hay là con tắc kè. Có phước một chút thì mặt coi còn đỡ đỡ. Không có phước thì mù, què, câm, ngọng, cụt tay, cụt chân, chất độc màu da cam, bị dị tật, dị hình, dị dạng. Đó là sắc uẩn, là khổ pháp thứ nhất, vậy mà cứ bám chặt vào đó.

Khi mình thấy được bản chất của sắc mình sẽ bớt bám vào, mà càng bớt bám vào thì mình càng đỡ khổ. Giờ quý vị có bớt bớt được chút nào chưa? Về nhà sắm một bộ xương, nếu mà nhà có người sợ thì mình cất vô hộp, bữa nào ngồi thiền thì mới lấy ra để trước mặt. Chỗ chánh điện của ngài Ajahn Chah có treo một bộ xương, thường khi bước vào những trường thiền lớn ở Myanmar thường sẽ thấy một bộ xương cao. Có một hoa hậu trước khi chết là phát nguyện là cúng bộ xương, để cho người ta nhìn thấy được hoa hậu cũng là bộ xương thôi. Đại chúng ở đây có ai phát nguyện cúng bộ xương cho Linh Quy Pháp Ấn không?

Bộ xương nhắc cho mình nhớ: “Đẹp nhất đây nè, một mét tám mươi lăm đây, giờ chỉ còn bộ xương”. Nhìn như vậy để phá sắc uẩn, khổ pháp. Lúc nào nhìn vào gương, mình nói: “Cái thứ khốn khổ này, đừng có mê nó nữa”. Lúc nào mình thấy nó ưa, nó mê, nó thích, nó ham, mình nói: “Cái thứ khốn khổ, mày là cái thứ khốn khổ này nè, cái thứ này là cái thứ tạo ra hoạn nạn, tham muốn hoài, ưa thích hoài, mê đắp mê sai hoài, cái đồ ngu”. Đó là Như Lý Tác Ý, là Thánh trí, chỉ có thực tập như vậy mới bớt khổ thôi, còn không thôi đụng vào là khổ lắm.

Thậm chí chưa có đụng, mới nhìn thôi mà cũng giận, mà có khi vì không nhìn nên cũng giận nữa. Kì cục vậy đó. Nhìn cũng giận, không nhìn cũng giận, nhìn phân nửa con mắt cũng giận. Kiểu gì cũng khổ được hết trơn, cho nên thân này là thứ đại khổ uẩn. Nhìn ra thấy được cái thứ này rồi thì mình khoẻ lắm, ai liếc, ai ngoáy, ai làm gì cũng kệ. Hãy nhìn vào cảm giác này nè, không thèm nhìn ngoài kia. Bây giờ kiếng áp tròng giờ nhiều lắm, đôi khi sáu cái tròng luôn, chứ không phải hai tròng không đâu. Có mắt kiếng tùm lum tròng, nó muốn tròng nào cũng được, muốn nhìn ra ngoài bao nhiêu cũng được, còn mình chỉ nhìn vào cảm giác xem nó ra sao. Đó chính là lá bùa bình an, bí quyết của hạnh phúc.

Bây giờ ngồi đây Minh Thành nói bảy ngày, bảy đêm về cái sắc thủ uẩn này cũng chưa hết. Biết bao nhiêu những cái mình cần tập quán cho thâm sâu. Nhìn ra bản chất của nó rồi mình xả ly bớt cái chấp. Cái gì cũng khổ, cái gì cũng cau có, cái gì cũng rắc rối, bực bội, nực nội, nóng bức, cái giống gì cũng kiếm chuyện gây sự hết. Thiệt tình khổ vô cùng, khổ hết chỗ nói, khổ không còn từ gì để diễn tả. Giờ ngồi đây cũng khổ.

Chúng ta càng hiểu về khổ, càng biết về khổ, càng nghiên cứu khổ, càng thông đạt cái khổ, thì mình có phương pháp nhiếp phục và diệt tận khổ đau. Cho nên, quý vị đừng sợ học về cái khổ. Càng học về cái khổ, càng hiểu cái khổ, càng biết cái khổ, càng thấy cái khổ, càng chiêm nghiệm cái khổ thì mình càng có khả năng nhiếp phục, chinh phục và diệt tận cái khổ. Đây là chỗ tối thượng của đạo Phật.

Thọ thủ uẩn

Thứ hai, “thọ thủ uẩn là khổ”, ngày nào chúng ta cũng cần nhìn lại cảm giác, nhiều khi nhìn lại cảm thọ mình thấy đặc biệt lắm quý vị. Cho nên cảm giác toàn thân là phải luôn luôn an trú vào đó, quan trọng lắm. Cảm giác toàn thân không được quên, đi đứng gì cũng phải nhìn lại cảm giác toàn thân của mình. Trú vô trong cảm giác toàn thân cho thật vững chắc.

Nhiều khi Minh Thành để ý cảm giác, thấy nó khởi lên là chạy rần rần trong thân, rồi nó ấm lên, nóng lên giống như máy sưởi vậy. Khi đó, mình thấy cái thứ này là cái thứ ác, phải để cho nó lắng dịu. Khi nóng lên, phải đóng cửa lại, không cho mày nói cái gì hết, kiếm băng keo dán vô miệng. Giận lên mà nói là tiêu đời, là tan nhà, nát của hết. Vì vậy, giận lên là vào phòng đóng cửa, leo lên bồ đoàn, ngồi kiết già, quán chiếu cảm giác toàn thân để nhìn ngọn lửa trong này. Chừng nào hoá giải cơn giận được tan biến, làm cho khổ pháp này lắng dịu hoàn toàn, khi nào an tịnh hết, mát dịu rồi bước ra, muốn nói cái gì thì nói. Đó là Minh Thành nói luôn tới Đạo đế.

Còn Tập đế – nguyên nhân của khổ là những thứ rần rần bên trong, rần rần mặt, rần rần lỗ tai, rần rần miệng, rần rần rung lên như vậy. Cái thứ cảm giác đó ác độc lắm, chính thứ bên trong chứ không phải cái ở ngoài. Cái thứ cảm giác ác độc đó, cảm giác nóng giận đó, nổi giận là mặt đỏ lên hoặc xanh lên, tay chân rung lên, nhiều khi tim đập mạnh, gần như đứt gân máu chết. Cho nên cái cảm giác rất là quan trọng.

Hồi chiều có Phật tử ở đây nói: “Thầy ơi, con thực tập cảm giác toàn thân, bây giờ con thấy nó rõ lắm. Cơ thể nó biến động gì một chút là mình biết được liền, là còn thay đổi chế độ ăn uống”. Thực tập cảm giác toàn thân là lắng dịu cảm giác mỗi khi nó sanh khởi. Thực tập cảm giác toàn thân là có khả năng phát giác ra bệnh, có khả năng chặn đứng cơn bệnh và có khả năng trị bệnh mau hết, đó là mới nói bệnh về thân.

Cảm giác toàn thân này tuyệt vời lắm. Phải an trú cảm giác toàn thân. Nhất là khi giận lên, tham lên, bản ngã lên, hay là si mê sanh khởi là lúc đó phải làm đủ mọi cách, tuyệt đối phải trú vững mạnh trong cảm giác toàn thân. Đức Phật ví dụ như người bị cháy trên đầu, cháy cái búi tóc này, rồi cháy vào tới da luôn. Lửa cháy trên đầu mình rồi thì làm sao? Uống café hả, hay là đi shopping? Lửa nó cháy lên mái tóc rồi làm gì? Hay vô bếp nấu đồ ăn? Lúc đó, ngay lập tức phải dập liền những cảm giác tham dục, sân hận, si mê, bản ngã. Phải xem những thứ đó là lửa cháy trên đầu, xem nó là rắn độc, xem nó là dao, là súng, xem nó là những thứ nguy hiểm. Những thứ làm cho mình khổ là những thứ đó, những cảm giác đó. Phải luôn luôn, thường trực kiểm soát cảm giác của mình. Quý vị làm được là hay lắm, tuyệt diệu vô cùng. Phải thường trực kiểm soát cảm giác, để ý cảm giác, dò xét cảm giác, theo dõi cảm giác, canh phòng, canh chừng, đề phòng, bảo vệ, bảo dưỡng, bảo hiểm cảm giác. Cảm giác đó chính là khổ pháp.

Ví dụ, chẳng hạn, giờ ở nhà mở pháp lên nghe, sau đó ngồi thiền, kế đó đọc Căn Bản Trí. Bỗng nhiên bên trong đòi đi Thái Lan chơi, không thôi là đòi đi Vũ Hán chơi. Rồi mình theo sự thúc giục bên trong, mình đi xong rồi về có sướng không, hay mệt gần chết chứ có sướng gì đâu. Ngồi máy bay cũng bị delay (trì hoãn), ngồi xe thì xốc qua xốc lại. Cách đây tám năm con dẫn thầy Pháp An đi máy bay lần đầu tiên, lúc đó người mời họ mua hãng Jetstar, đi ra ngoài Bắc giảng mà một giờ rưỡi đêm mới tới. Từ đó về sau con mời ông Pháp An đi nữa thì ông nói: “Dạ, thôi thôi, thầy đi đi, con già rồi”.

Minh Thành xin thưa đại chúng, quý vị hãy bớt đi chơi lại để tu, nhất chí không? Làm ơn bớt đi chơi lại, già hết trơn còn mê chơi cái gì? Có gì nữa đâu mà chơi, dòng dòng có nhiêu đó hoài. Bớt thời gian đi chơi để tu, bớt thời gian nói chuyện để nghe pháp, bớt thời gian hưởng thụ để đi làm phước, tích tụ phước báu. Chuyển hướng lại như vậy là mình thương mình, mình lo cho mình. Chúng ta phải coi thọ, tưởng, hành vận hành làm sao? Cảm giác thúc giục ở trong này như thế nào, phải nhớ kỹ những loại cảm giác, có nhiều loại cảm giác thúc giục mình lắm. Chúng ta tu phải nhìn kỹ các cảm giác. Khi có trí huệ năm uẩn quý vị sẽ thấy hay lắm, các cảm giác nhỏ nhiệm, vi tế, tinh vi vô cùng.

Ví dụ, nãy giờ không khát nước, mở pháp lên năm phút là nó khát nước. Nãy giờ không có gì hết trơn, tới giờ bắt chân lên ngồi thiền là bắt đầu chợt nhớ lại còn quên cái gì ở dưới: “Hồi nãy để đồ ở dưới đó, đồ cũng hơi quan trọng, không biết có ai lượm không? Thôi giờ mở ra đi, mở bộ đoàn ra, xuống lấy đồ cất”. Vậy có nghe theo không, nghe theo là thua rồi. Đầu tiên cảm giác bên trong thúc giục mình. Chúng ta phải biết đó là chướng đạo, ma chướng. Chướng đạo là ngăn chướng Thánh đạo, ngăn bước đường tiến của mình trên Thánh đạo, những cảm giác thúc giục đó làm chướng ngại. Đúng ra là Nhập Lưu, mà do món đồ đó nên bị tụt trở lại, không được Hướng Dự Lưu. Hỏi ra thì cái bóp trong đó có năm ngàn tiền việt chứ không phải đô. Không có cái gì quan trọng hết mà bên trong vẽ ra tùm lum. Lúc đó nghĩ: “Để đó không được đâu, coi chừng mất, hồi nãy thấy có người để ý rồi”, bên trong làm tùm lum hết, rồi mình nhập cuộc luôn.

Cảm giác thúc giục, cảm giác thích thích, cảm giác khoái khoái luôn thúc giục bên trong chúng ta. Chẳng hạn như mình nói: “Thôi, giờ cũng rảnh rảnh rồi, mình mở coi tin tức một chút. Mình coi năm phút thôi, xong là mình đi tụng nghi thức tu học Nikāya”. Nói mở xem năm phút thêm con số không thành năm chục phút, nhiều khi còn hơn nữa. Minh Thành nói đại mà không biết có trúng không. Mở tin tức coi năm phút, kéo kéo xuống thấy cái này cũng quan trọng, bữa nay sao có vụ này ta. Sau đó, kéo xuống thêm chút nữa, rồi “ủa vụ này có nữa hả”. Kế tiếp kéo xuống chút nữa, rồi kéo kéo, quẹt quẹt. Cuối cùng đổi lại không tu năm uẩn nữa mà “tu quẹt”, quẹt riết rồi bỏ giờ ngồi thiền. Vào mê hồn trận đó là ái, thích thích, khoái khoái, muốn nữa, muốn nữa. Muốn nữa là tham. Ngay chỗ cái xem đó mà chúng ta nhìn thấy được dục, ái, tham nơi cảm giác.

Nhiều cái nhỏ nhỏ trong sự tu hay lắm. Chẳng hạn bây giờ lo học bài mà không chịu học, suy nghĩ: “Lâu quá không điện thoại, thôi điện thoại hỏi thăm bà đó xem sao”. Bên trong bắt đầu thúc giục mà mình không thấy, nếu là chuyện quan trọng, cần thiết thì mình gọi điện bình thường, không có vấn đề. Mà tự nhiên mình hứng lên, bên trong có cảm giác buồn buồn, rồi nó thúc giục: “Kệ, lâu lâu mới gọi điện, lâu lâu cho phép mình bà tám một chút không sao”. Mà đúng thiệt, bà này bà tám thiệt, kể hết trơn mấy bà kia nói mình sao sao, rồi bỏ ngồi thiền, phải đi lại tôi gặp bà đó liền. Như vậy là mất hết tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học, tăng thượng định học mà lo chạy theo cảm giác, những điều này vi tế lắm.

Ngay lúc bây giờ không nhập thất nhưng có con gì chết kiến bu Minh Thành cũng để nguyên đó. Lúc đi kinh hành dù thấy cũng không dừng lại, khi thấy là ý hành kêu mình quét, nhưng không, phải tiếp tục đi kinh hành chứ không quét trong giờ tu của mình, sau giờ tu thì mình học luôn. Cho nên, chúng ta phải cân nặng xem cái nào nặng, cái nào nhẹ, cái nào quan trọng, cái nào thứ yếu. Còn không là mình đi trật mục tiêu hết. Mình muốn làm cái này rồi cuối cùng mình làm cái kia. Mình muốn đi một hướng rồi quẹo sang hướng khác mà mình không hay. Tới chừng mình hay là lúc đó đã muộn, mình nằm trên giường rồi. Sau đó tiện lợi được nhiều cái lắm, không cần quét dọn gì hết. Cuối cùng quán bất tịnh, mấy con kiến bu quanh chỉ còn bộ xương, nó ăn hết, chỉ còn lại bộ xương trắng xoá như mạt cưa vậy đó. Lấy đó làm đề tài quán luôn, không mất thời gian mà còn được cửu tưởng quán.

Thành ra, khi tu là mình tập giữ tâm không động. Nhất là trong thời khóa tu, thấy cái gì cũng dao động hết là mình chết. Tập kiểm soát tất cả những cảm giác, nghĩ, tưởng thì sau này mới làm chủ được thân tâm của mình. Luôn luôn kiểm soát dục, tham và ái với bất cứ mọi trường hợp. Ví dụ, đúng ra bữa đó vào thiền quán, quán bất tịnh nữa là vào được Nhị quả, nhưng cuối cùng bị mắc nấu bún riêu nên cả Hướng Dự Lưu cũng không được. Hôm đó vào ngồi quán là chứng Nhị quả, mà bị tô bún này, bị tô phở, bị tô bánh canh này xúi giục đi ra chợ mua đồ về nấu. Mà không phải nấu cho mình ăn mà nấu đãi cho người này, người kia ăn, vì thích vậy đó. Như vậy, chúng ta phải biết cái gì cần làm, làm trong lúc nào, trong khi nào, trong hoàn cảnh nào và kiểm soát cảm giác. Khi kiểm soát được những thứ này thì hay lắm.

Quý vị đừng tưởng đâu cái sân đơn thuần chỉ là cái sân. Minh Thành phân tích rồi quý vị thấy, nếu có nhận diện năm uẩn một cách sâu sắc thì giận không chỉ có một pháp giận thôi đâu. Chẳng hạn, mình đang vui vẻ, thoải mái, bình thường, không có vấn đề gì hết, tự nhiên mình gặp, thấy mặt người đó rồi mình buồn. Hoặc là về mình bực, cái kiểu cách họ đối xử với mình, cái thái độ họ đối xử làm mình bực. Trong đó có đến mấy chục pháp, chứ không phải chỉ có cái sân.

Do duyên có con mắt; do có sắc của người đó, mặt của người đó, hành động của người đó và sự rõ biết của mình – ba pháp này giao thoa hội tụ với nhau sanh khởi nhãn thức. Con mắt này khi tiếp xúc sẽ sanh ra cảm giác. Cảm giác này là cảm giác khó chịu, rong cảm giác khó chịu này có bản ngã, có một cái gọi là “chạm vào tự ái của tôi”, chạm vào cái mà tôi yêu quý, tại sao dám hành động như vậy đối với cái này của tôi, đối với thân thể của tôi. Như vậy, trong đó có ái không? Có sân không? Rồi có đúng sai, cao thấp, phải quấy không? Có nhân ngã, bỉ thử không? Trong một cơn sân là dài mấy chục pháp như vậy đó.

Chúng ta nhìn và quán như vậy mới thấy cảm giác sân này là thứ vô thường, thứ duyên sanh. Trước khi gặp cái bà đó mình đâu có giận, tự nhiên mình gặp rồi quay về là khó ăn, khó ở, khó chịu, khó ngủ: “Cái thứ đồ giả này, cái thứ duyên sanh này, cái thứ vô thường, cái thứ vô ngã, cái thứ khổ pháp này, tan biến đi. Vô thường, tan thành mây thành khói, thành hư không đi. Cái thứ trống rỗng này, cái thứ làm cho ta khổ này. An tịnh đi, lắng dịu đi, yên đi, yên tịnh đi”. Chúng ta phải đánh tan cảm giác đó để trở lại sự yên tịnh, lắng dịu, bình an.

Tu là như vậy đó, đây là duyên sanh pháp. Thấy ra những công đoạn, những sợi dây chuyền, để đi qua cảm giác sân là gồm mấy chục công đoạn. Chúng ta phải phá vỡ, phá sợi dây xích đó ra, chặt dây xích, mắt xích của duyên sanh pháp. Hãy dùng thanh kiếm huệ, dùng Thánh trí để nhứt dao lưỡng đoạn, trảm, chém liền những cảm giác tham, sân, si mỗi khi sanh khởi, không được chần chờ, do dự gì hết. Ý hành nó nói “bỏ đi” thì mình “không, không bỏ”, để yên là ý hành phân tích hoài, mấy tiếng đồng hồ, hoặc một ngày cũng chưa giải quyết xong vấn đề nữa. Cho nên, phải trảm, chém mạnh liền.

Chúng ta phải Như Lý Tác Ý, mình phải nhìn cho ra được cảm giác, phải chửi mạnh cảm giác cứng đầu này. Bây giờ bắt đầu dùng chiêu mạnh, dùng những từ mạnh để sanh ra cảm giác thì tâm này mới sợ, còn dùng từ nhẹ nhẹ như: “Thôi, em nghe lời chị đi, chị cưng” là nó sẽ không nghe. Giờ mình phải đánh nó, đánh mạnh nó. Mình biết rằng cảm giác này cứng đầu, cảm giác này khó dạy lắm. Cảm giác giận, cảm giác tham, cảm giác bản ngã, hóng hách, vênh váo, ta đây, dương dương, hất hất cái mặt, ưởng ưởng cái mặt, cái dáng lúc nào ta cũng hơn, ta đây là nhất thì cái thứ đó dễ trị hay khó trị? Đó là những thứ cứng đầu, cứng cổ, thứ ác độc, thứ giết mình bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp giờ mình nhẹ nhẹ tay là mình chết. Vì vậy, phải dùng đòn đập cho nó nát ra, mạnh tay “nhất đao lưỡng đoạn” – một dao là hai khúc. Quý vị nhớ hình ảnh Bao Công, đưa đao lên là chặt liền, chúng ta cũng phải tác ý cũng giống như vậy. Phải “bức, quăng, chém”, đó là tuệ lực, là sức mạnh của trí tuệ.

Kế đến là cảm giác bản ngã sanh khởi lên. Ví dụ, mình là nấu bếp, làm công quả ở chùa mười năm. Tự nhiên có bà nào mới vô nói mình làm trật lất, không biết làm gì hết thì lúc đó cảm giác mình như thế nào? Phải quán làm sao? Khi gặp trường hợp đó rồi tu làm sao? Không phải mở cuốn kinh lên trước Phật mới tu, mà ngay lúc đó tu làm sao? Lúc đó tâm từ có trải được không? Chúng ta trải tâm từ là trải ngay lúc đó. Bình thường là thực tập, còn thật ra là ngay lúc đó mới trải. Lúc ngồi bình thường, tưởng ra thương này người kia thì mới là tập thôi, lúc gặp chuyện mới là trải tâm từ thật sự. Quý vị trải nổi không? Trải được không? Đây chính là bài tập, là bài thi. Cho nên bình thường mình phải huấn luyện cảm giác cứng đầu, cứng cổ, lì lợm, ương ngạnh, làm cho nó thành hiền lành, dễ thương, ngoan ngoãn, nghe lời, dễ sai, dễ bảo, dễ dạy, dễ biểu. Tới lúc có chuyện mình kêu “thôi nha” là nó nghe lời liền. Quý vị thấy mấy con chó mình nuôi nó sẽ biết nghe lời, mình kêu là nó nghe. Chúng ta cũng phải huấn luyện tâm mình ngoan hiền như vậy, khi kêu là nó nghe. Bây giờ kêu mười lần thì nó nghe được mấy lần? Kêu mười lần, tám lần không nghe, như vậy thì còn phải huấn luyện nữa.

Cho nên, chúng ta phải huấn luyện thật là kỹ, bằng không là mệt cảm giác này lắm. Mấy cái thứ khổ pháp này mệt lắm, chúng ta phải phải huấn luyện chúng.

Tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn

Tưởng thủ uẩn cũng là khổ pháp. Thường thường chúng ta tưởng cái gì? Tưởng theo chiều nào? Thường thường nó tưởng theo chiều thiện nhiều, hay bất thiện nhiều? Sau khi tưởng xong mình có nhập cuộc không? Quý vị có nhìn ra tưởng chưa? Ví dụ, có những hình bóng hiện ra mình nói “đây là tưởng”, lâu lâu có nói như vậy là mắt sáng rồi đó. Chúng ta phải tu cho đến lúc nào hai mắt sáng trưng lên, chứ đừng ba hồi thấy, bốn hồi không, lúc nhìn ra, lúc để nó qua mặt. Thành ra, chúng ta phải tập nhìn cái tưởng đó, vì nó làm hư chuyện hết. Chị em giận nhau, vợ chồng không nhìn mặt, cha con trở thành người dưng, huynh đệ tương tàn – tất cả đều do tưởng. Người ta gọi là “đồng sàn dị mộng”, hai vợ chồng nằm chung mà chiêm bao khác nhau. Cái tưởng đâu giống nhau, nằm thì chung giường mà tưởng thì khác. Tùm lum chuyện ở trong cái tưởng hết, biết bao nhiêu những hình ảnh trong tâm mình, nghiệp nào nặng thì cái tưởng đó nhiều. Cái sân nặng thì tối ngày tưởng cái sân, tưởng ra những hình ảnh, bực bội. Cái tham nặng thì những hình ảnh tham, ái luôn sanh khởi. Bản ngã nặng thì những hình ảnh cái tôi, cái ta luôn xâm chiếm. Tất cả những thứ đó là khổ pháp, sắc, thọ, tưởng.

Còn hành uẩn thì như thế nào? Những suy nghĩ, hành uẩn này có hành mình không? Cái hành này có hành mình không? Nó hành dữ không? Nó là hành mà, cho nên phải hành mình. Hành chúng ta cứ suy nghĩ hoài, suy nghĩ rồi buồn. Không tu thì nó cũng buồn, vào tu nó cũng buồn, đi chơi rồi về nó cũng buồn. Tu bốn ngày nó không buồn, mà tu bốn chục ngày chắc nó có buồn. Chúng ta phải phải nhìn thấy được những cảm giác đó, những suy nghĩ đó và trị nó. Suy nghĩ lung tung, lang tang hết.

Thức uẩn cũng là khổ pháp, cái biết này là cái biết không đúng, biết tầm bậy, tầm bạ. Sự rõ biết mà không có Thánh trí dẫn đường thì cái biết đó là cái biết thường tình, đi theo vô minh, theo dục, theo nghiệp, thành ra, sự rõ biết đó không được chân chánh, không biết đúng theo trí tuệ.

Buông bỏ gánh nặng năm thủ uẩn

Như vậy, hôm nay Minh Thành nhắc quý vị phải nhớ mình đang sống trong bóng đêm, đừng quên điều này. Chúng ta phải nhớ mình đang sống trong bóng đêm, nếu không có Chánh Pháp này là âm u, âm trì, trường dạ, tăm tối, không biết gì. Thân mình mà cũng không biết là cái gì, trong tâm là gì mình càng không biết, may mắn nhờ có Thánh Pháp, có Chánh Pháp, nhờ Phật, nhờ Pháp, nhờ Tăng, nhờ bậc thiện tri thức chỉ ra trí năm uẩn để mình bắt đầu vén màn vô minh này từ từ.

Mỗi khi nhìn ra những cảm giác, nghĩ, tưởng thì chính là lúc vén được bức màn vô minh. Còn mỗi lúc mình nhập cuộc, bám chặt, cho thân này là tôi, hình bóng này là tôi, những suy nghĩ này là tôi, nhận thức này là tôi, mấy chục kí lô thịt là tôi thì lúc đó cái màn này đóng lại. Mỗi khi mình chấp vô cái sắc thân này, mình niệm câu thần chú thượng, tối linh, tối tôn: “Sắc này không phải là tôi, sắc này không phải là của tôi, sắc này không phải là tự ngã của tôi. Sắc này là vô thường, là khổ, là vô ngã. Sắc này là không phải tự ngã của tôi, sắc này là vô thường, là khổ, là vô ngã, là tạm bợ, là tan hoại, là tan nát, là huỷ hoại, là biến hoại, là bại hoại”. Chúng ta cứ niệm câu đó hoài, tác ý hoài như vậy.

Khi nào bản ngã khởi lên, tham muốn khởi lên thì cứ niệm: “Cảm giác này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi, cảm giác này là cái thứ khổ, vô thường, vô ngã, như mây khói sanh diệt. Xả ly cảm giác này, không có ưa mến cảm giác này, không có bám víu vô cảm giác này. Không có mê thích vô cảm giác này. Buông ra, xả ra, mở ra, tháo ra, cởi ra, thoát ra. Thoát ra cảm giác đó”.

Những có những hình bóng trong tâm cũng tác ý như vậy: “Hình bóng này, tưởng này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi. Đây là những thứ duyên sanh, do xúc cho nên mới sanh tưởng. Tiếp xúc cho nên mới có những hình bóng này, nếu không tiếp xúc sẽ không có những hình bóng này. Cái tưởng này là ảo ảnh, ảo huyễn, ảo hóa, ảo tưởng, ảo vọng. Những cái tưởng này là cái thứ vô thường, mong manh, biến đổi, sanh diệt, khổ não, vô ngã, trống rỗng”.

Có những suy nghĩ lung tung thì dẹp những suy nghĩ đó: “Suy nghĩ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải là tự ngã của tôi. Suy nghĩ này là vô thường, suy nghĩ này là duyên sanh, suy nghĩ này là vô ngã”. Những suy nghĩ nào là tiêu cực, có ngã thì mình đánh bật, bứng gốc rễ, làm cho nó diệt tận, làm cho nó không thể sanh khởi trong tương lai. Chúng ta phải ban ra những pháp lệnh mạnh để diệt tận nó.

Đối với thức cũng vậy, chúng ta phải tác ý: “Sự nhận thức này, sự rõ biết này, ta không tin tưởng mi. Mi là cái đồ duyên sanh, vô thường. Đây là đồ vô thường, khổ não, trống rỗng, không tin tưởng vào cái biết này. Cái biết làm cho mình sanh ra phiền nào, phải xử nó. Cái biết này không đúng, cái biết này trong khổ thôi”. Cái biết nào làm cho mình khổ, sân hận, bản ngã, làm cho mình đủ thứ phiền não thì phải xả ly cái biết đó. Vì những cái biết này là biết của mê, biết của chấp, biết của thủ, biết của vô minh, không phải cái biết của trí huệ. Cái biết này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải là tự ngã của tôi. Vì vậy, chúng ta phải xả ly cái biết này, để cho tâm ta lắng dịu, thanh tịnh, an lạc, trong lành, nhẹ nhàng, đặt gánh nặng xuống.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời.

Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là gánh nặng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng?

Người, là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng! (Tương Ưng Bộ Kinh III, Chương I. Tương Ưng Uẩn, III. Phẩm Gánh Nặng, bài kinh Gánh Nặng)

Như vậy, sắc thủ uẩn là gánh nặng, những cảm giác là gánh nặng, những hình bóng trong tâm là gánh nặng, những suy nghĩ là gánh nặng, sự nhận thức mê lầm của vô minh là gánh nặng. Thế nào là người mang gánh nặng? Ví dụ, Trần Văn A, Nguyễn Thị Xoài, Trần Văn Mít, sanh ra ở quê đó, có được mấy đứa con đó, vợ đó, chồng đó, đất đó… người đó là người mang gánh nặng.

Như vậy, chúng ta hãy mở chấp thủ ra, buông gánh nặng xuống một cách nhẹ nhàng, bình an, biết ngũ uẩn này là vô thường, khổ, vô ngã. Luôn luôn huân tập trí tuệ chiêm nghiệm, quán xét gánh nặng này. Từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây tác ý, suy tư, quán chiếu, thể nhập, chứng ngộ, sống như thế rồi quý vị sẽ thấy một sự bình an kì diệu xuất hiện, một sự an lạc chưa từng có nó hiện hữu trong thân tâm của mình. Chúc quý vị có một giấc ngủ an lành.

./.