Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa Nikāya - Thế Nào Là Bậc Chân Tu 3A

2026-03-03 00:53:43
Tinh Hoa Nikāya

Thế Nào Là Bậc Chân Tu (A)

Thích Minh Thành

Ngày 10 tháng 11 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhắc tâm PAGEREF _Toc119683584 \h 1

II. Khất sĩ PAGEREF _Toc119683585 \h 6

III. Trình pháp PAGEREF _Toc119683586 \h 8

IV. Tham – Sân – Si PAGEREF _Toc119683587 \h 11

I. Nhắc tâm

Kính bạch quý chư tôn hiền đức, kính thưa tất cả quý Phật tử hiền trí.

Mấy ngày nay chúng ta nếm được hương vị của người xuất gia chưa? Có thấy được oai nghi, Thánh hạnh của một người tu chưa? Có giống người tu, giống người xuất gia chưa? Đức Phật nói là hãy có cái vỏ cây, vỏ ngoài, vỏ trong, rồi giác cây, rồi mới đi vào cái lõi cây. Cho nên ngày nào chúng ta cũng phải đọc tụng oai nghi, giới luật thanh quy của đạo tràng Nikāya, đó là phần vỏ cây. Và chúng ta thiền quán, thiền định thì đó là cái lõi cây, thân cây. Cai vỏ cây là cái đi, đứng, ngồi, nằm, cử chỉ, hành vi ở phía bên ngoài, đó gọi là cái vỏ cây của đời sống phạm hạnh. Chúng ta mỗi ngày phải đọc tụng oai nghi và giới của Sa-di cộng với thanh quy của đạo tràng. Oai nghi và giới là phần vỏ cây và ở trong thanh quy của đạo tràng chúng ta có lõi cây, có tuệ giác sâu sắc trong đó.

Cho nên là mình không phải chỉ tu cái vỏ ở ngoài, mình phải có được cái thân và cái lõi bên trong. Nhưng mà cái cây nó không có cái vỏ thì cái cây cũng không trọn vẹn, cho nên phải có đầy đủ, viên mãn tất cả các pháp. Chúng ta có nhớ 10 điều tâm niệm của người xuất gia không ạ? Về chúng ta có học không? Ni sư có in cái bài đó ra để phát cho các chú không, bữa con có dặn không biết còn nhớ hay quên rồi? “Quên rồi hả?” In cái bài mười điều tâm niệm đó, học thuộc lòng, tác ý ngày đêm “bây giờ mình không còn là người thế tục nữa, mình đã là người tu, mình đã là người xuất gia rồi” mình phải tác ý như vậy đó. Mười cái pháp đó là tác thành cứu cánh Phạm hạnh của mình, trở thành bậc Thánh là mười điều tâm niệm đó. Con mời quý thầy, quý cô ai thuộc mình đọc lên bài kinh đó.

Phật tử 1:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kích bạch trên sư phụ, Sư, Ni Sư, cùng toàn thể đại chúng. Con xin đọc bài kinh “Các Pháp”, kinh Tăng Chi Bộ tập I.

“Này các Tỷ-kheo, có mười pháp này, người xuất gia phải luôn luôn quán sát. Thế nào là mười?

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta nay đi đến tình trạng là người không giai cấp”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Đời sống của ta tùy thuộc vào người khác”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Nay cử chỉ oai nghi của ta cần phải thay đổi”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không?”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Mọi vật khả ái, khả ý của ta bị đổi khác, bị biến hoại”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ quy hướng của nghiệp; phàm nghiệp gì ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Thời gian trôi qua bên ta và nay ta đã là người như thế nào?”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta có hoan hỷ trong ngôi nhà trống hay không?”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta có chứng được các pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không, để đến những ngày cuối cùng, các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ?”.

Này các Tỷ-kheo, mười pháp này, người xuất gia phải luôn luôn quán sát”

(Tăng Chi Bộ kinh tập I – kinh Các Pháp)

Chúng ta phải nhớ tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng, lấy định lực thượng thủ, lấy giải thoát làm lõi cây. Cho nên tác ý và niệm (nhớ), là làm cho pháp nó sanh khởi lớn mạnh, tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi và lấy niệm làm tăng thượng. Niệm này là trong Tứ Niệm Xứ, và trong Thất Giác Chi đều có niệm hết. Cho nên mình tác ý mình nói: “Ờ mình là người tu, mình không còn là người đời nữa, mình đã trở thành người xuất gia rồi”. Chúng ta có nhớ bài hôm qua con đọc: “Thân ơi, tâm đã xuất gia rồi”, đó là bài tác ý đó. Cho nên Đức Phật dạy mình là: “Nay cử chỉ, oai nghi của ta cần phải thay đổi”. Mình cứ nhớ tới nhớ lui, cái bài kinh này là mỗi ngày đều phải đọc hết suốt khóa tu này. Mỗi ngày trong thời tụng oai nghi và giới luật đọc bài kinh này, chứ không thôi mình quên.

Từ ngày hôm nay tới đến hết khóa tu chúng ta phải thọ trì pháp y, nhớ nha. Bất cứ thời khóa tu nào cũng phải đắp y, vì chúng ta được đắp y ít lắm, cho nên chúng ta thọ trì pháp y. Thời Đức Phật tấm y là chiếc áo luôn rồi, không có cái khác, cho nên phải nhắc mình. Mình muốn cái pháp nào có trong người mình, thì mình phải nhắc cái pháp đó, phải niệm cái pháp đó. Mình không có niệm thì cái pháp đó không có sanh, mình phải khởi động tâm ý, tác động tâm ý của mình, làm cho cái pháp đó nó sanh khởi, làm cho cái pháp đó hiện hữu và làm cho cái pháp đó tăng thượng, đó là tứ chánh cần đó. Chúng ta thấy bây giờ nhìn lên bàn trên đây, chúng ta thấy khói của lọ trầm đang bốc lên. Tại sao mà có khói này? Là do có viên trầm. Nhưng nếu có viên trầm mà không đốt, thì nó có khói không?

Như vậy thì viên trầm đó giống như là tác ý, khói giống như là niệm, nhớ hoài, nhắc hoài, thì mới tỏ ra hương, tỏa ra mùi thơm, tỏa khói bốc lên. Còn bằng không viên trầm để trong đó thì mình có nghe thơm, nhưng thơm rất là ít. Cũng vậy, mình đã được học pháp rồi nhưng mà mình không có tác ý, thì giống như viên trầm để trong hũ đậy nắp lại vậy đó. Khi nào mình đốt lên thì mới tỏa khói lên, tỏa cái mùi lan rộng, tùy theo trầm đó thiệt hay là giả, trầm pha nhiều hay là pha ít. Cũng vậy, nếu cái đó thật sự là Chánh pháp 100%, thì công năng của nó sẽ đánh phá vô minh, tham ái, chấp thủ. Còn nếu cái đó là trầm nó bị pha rồi, thì cái mùi nó sẽ phơn phớt thôi. Còn nếu hoàn toàn là mạt cưa không, thì là xài đồ giả, dù có đốt lên nữa mình ngửi mình còn bệnh thêm, nữa chứ không có khỏe.

Chúng ta thấy không ạ? Nó để hóa chất trong đó, mình đốt lên nó bệnh thêm thôi chứ không có khỏe. Cũng vậy, mình không có biết, mình không có thấy đúng về pháp, thì những cái suy nghĩ, những sự nhớ tưởng của mình là trong giả, mà mình tưởng mình đang tu Chánh pháp ly tham. Nhưng mà đó là pháp tăng trưởng thêm lòng tham ái, chúng ta thấy không ạ? Chỉ cái việc đốt trầm thôi chúng ta có thấy pháp. Bây giờ chúng ta đã học cách nhận diện ngũ uẩn, phương pháp nhận diện ngũ uẩn, phương pháp nhìn nhận cái cảm thọ thấy được tham, sân, si, bản ngã. Nhưng chúng ta không tác ý, thì những cái pháp đó nó sẽ lắng xuống, dịu xuống, nó bị khoả lắp, nó không phát huy công dụng của nó ra được.

Cho nên mà sáng nay chúng ta thiền quán, mỗi ngày chúng ta đều thiền quán. Mình thiền chỉ thì nó là tốt cho cái bước đầu, nhưng mình thiền chỉ riết rồi cái tâm mình nó ù lì, nó trì trệ, nó không muốn hoạt động, không muốn suy nghĩ gì nữa hết, chỉ muốn yên tịnh thôi, thì đó là thụ động, không có tuệ lực. Chúng ta thấy trong kinh tạng Nikāya, 80% - 90% là thiền quán, chỉ có tứ thiền là thiền chỉ thôi. Nhưng mà có những vị là chưa chứng các tầng thiền, vẫn có khả năng đốt hết tất cả các lậu hoặc. Cho nên thiền chỉ, thiền định là hỗ trợ, chứ không phải là quyết định, quyết định là thiền quán. Mà thiền quán là cái gì? Là nhắc cái tâm mình đó. Nhắc tâm mình tương ưng với cái thấy biết, cái trí tuệ, cái sự thật của Đức Phật chứng ngộ.

Nhắc tâm mình, một ngày mình nhớ được mấy tiếng ạ? Nhớ nhìn lại ngũ uẩn mấy tiếng? Nhớ ly tham được mấy giờ? Nhớ tâm từ được bao nhiêu thời gian? Nhớ đánh gục, hạ gục, đạp đổ được cái bản ngã này mấy canh giờ? Hay là học xong rồi để đó, chừng nào thầy mở cái bài gì ra thì nghe cái bài đó còn không mở thì thôi? Như vậy là chúng ta học một cách thụ động. Cho nên là khi chia sẻ chúng ta là cái khích lệ thôi, còn chúng ta là phải tự mình tác động tâm ý một cách thật là mạnh mẽ. Cho nên ngày xưa mình không hiểu, mình tưởng mình học bài kinh vậy là xong rồi mình sẽ học qua bài mới. Chừng nào mà cái khổ Thánh trí mà nó không bao giờ quên với mình nữa, thì lúc đó mới học xong.

Cứ tác ý, nhắc tâm mình phải nhớ: “Cái tôi này là cái ác độc nè!”, nhớ: “Cái ta này là thuốc phiện nè!”, nhớ: “Cái tôi này là dao găm nè! Cái bản ngã này là súng ống, đạn dược nè!” Hãy nhớ: “Cái ý niệm về tự ngã này là bom nguyên tử, là sự hủy diệt”, phải nhớ. Mỗi khi mình bình thường mình không có nhắc, không nhớ, không quán, không tác ý, thì tới chừng đụng chuyện làm sao mình thấy được. Bình thường còn không nhớ, thì đụng chuyện làm sao mình nhớ. Cái người mà họ tới có những lời nói, hành động, họ khinh miệt, họ chỉ trích, họ mắng chửi mình, thì lúc đó làm sao mình nhớ được, bình thường mình còn không nhớ nữa rồi tới lúc đó làm sao mà nhớ. Cho nên bình thường các pháp đó nó phải được sanh khởi, phải được an trú, phải được tăng thượng trong thâm tâm chúng ta.

II. Khất sĩ

Có mấy chú học trò đến thăm con, đi chung với con nói: “Thầy ơi con nhìn thầy sao giống giám đốc quá”, con mới nói: “Dạ thầy nhìn lộn rồi đó, con là ăn mày”, biết đó là nói chơi thôi, nhưng con vẫn nói nhẹ lại để nhắc nhở. Thì những cái pháp đó phải an trú trong thân tâm của mình không có mất, bất cứ lúc nào cũng phải nhớ: “Mình là người cư sĩ”. Cho nên ôm cái bình bát đó chính là cái cách không phải mình làm hình thức, chính là cái cách để nhớ mình là người ăn xin. Có mấy Phật tử lại thăm, con chỉ con nói: “Đó, bây giờ đi ăn xin đó, đi khất thực”. Tại vì sao? Vì mình ở lâu trong chùa mình sẽ quên, mình ngồi đó người ta quỳ, người ta lạy, người ta dâng lên, thì mình tưởng đâu mình ngon lắm. Cái ta mình ngày càng lớn lên, cái bản ngã mình ngày càng to lên, cái địa vị sư phụ, sư trưởng, sư ông, sư bà của mình càng ngày càng lớn theo năm tháng.

Tại vì sao? Tại vì nó không có tác ý: “Đời sống ta tùy thuộc vào người khác”, tức là ăn xin đó. Thành ra những câu kinh nói như vậy, mình phải hiểu được cái từ của bây giờ. Từ ngữ bây giờ nói mình hiểu liền, “đời sống của ta tùy thuộc vào người khác”, mình không hiểu là cái gì phải không? Đó chính là ăn xin. Cái ăn, cái mặt, cái ở của mình là do Đàn-na tín thí phát tâm, tùy thuộc vào những người đó, gọi là ăn xin. Mà cái ăn xin này là ăn xin của hiền Thánh, của bậc giác ngộ. Mà những pháp đó là nó phải tồn tại, nó phải có mặt ở trong thân tâm của mình bất cứ mọi lúc mọi nơi, chứ không phải là tới lúc học mình mới nhớ, những pháp đó là nó phải có.

Sự khác biệt giữa một người Tỳ-kheo và một người ăn xin, Tương Ưng Bộ tập 1.

“Nhân duyên ở Sāvatthi.

Rồi Bà-la-môn Bhikkhaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi một bên.

Ngồi một bên Bà-la-môn Bhikkhaka bạch Thế Tôn:

—Thưa Tôn giả Gotama, con là người khất thực và Tôn giả cũng là người khất thực. Vậy có sự sai khác gì giữa chúng ta?

(Thế Tôn):

Không phải ai xin ăn,
Cũng gọi là khất sĩ.
Nếu chấp trì độc pháp,
Không còn gọi Tỳ-kheo.
Ai sống ở đời này,
Từ bỏ các phước báo,
Ðoạn trừ mọi ác pháp,
Hành trì theo Phạm hạnh,
Sống đời sống chánh trí,
Vị ấy xứng “Tỳ-kheo”.

Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Bhikkhaka bạch Thế Tôn:

—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!”

(Tương Ưng Bộ kinh tập I – kinh Bhikkhaka)

Khất thực tức là người ăn xin, khất là xin, thực là đồ ăn, ăn xin thức ăn. Sau khi nghe lời Thế Tôn thuyết pháp, “thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!” ổng sụp xuống lạy Đức Phật. “Con xin quy y Thế Tôn, con xin quy y những lời dạy của Ngài, con xin quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến ngày con nhắm mắt trọn đời quy ngưỡng và trở thành đệ tử cư sĩ của Đức Phật”, đó là một Bà-la-môn ngoại đạo. Nhưng mà tại sao? Tại vì câu nói của Đức Phật này mình nghe qua mình chưa có hiểu đâu. “Không phải ai xin ăn, cũng gọi là khất sĩ. Nếu chấp trì độc pháp, không còn gọi Tỷ-kheo”. “Độc pháp” là gì ạ? “Sư cô nói một pháp hả?” Độc pháp là gì ạ? Sao ngoài im ru như ngồi thiền vậy?

Cho nên mình nghe mà mình không hiểu, thì làm sao mình quỳ xuống mình lạy, mà mình quy y được. Cái ông Bà-la-môn này ổng hiểu, ổng cảm thọ được, ổng thấm thía được ổng mới đổi đạo luôn mà. Ngay tại chỗ đó ổng đổi đạo Bà-la-môn qua làm đệ tử Phật, mà mình không hiểu thì làm sao mình đổi. “Nếu chấp trì độc pháp”, sao gọi là độc pháp? Mình suy nghĩ câu nói của Đức Phật. “Chưa hiểu nữa hả? Chưa biết độc pháp là cái gì nữa hả?” Con xin thỉnh ba Ni Sư, quyền trợ giúp cho các giới tử.

III. Trình pháp

Phật tử 2:

“Kính bạch trên sư phụ, các thầy, các sư cô, cùng toàn thể đại chúng. Theo con nghĩ “độc pháp” là các pháp không chơn chánh để đi đến giải thoát và chứng ngộ.”

Chưa, mình chưa trả lời đúng cái ý cần thiết. Thầy nghĩa nói sao ạ? “Thân kiến ngũ uẩn hả?”, chưa luôn. Rất là đơn giản.

Phật tử 3:

“Dạ mô Phật, sư phụ cho con xin thưa có phải “độc pháp” là chấp thủ pháp của ta là một đường giác ngộ không ạ?”

 Phật tử 4:

“Dạ mô phật, “nếu chấp trì độc pháp, không còn gọi Tỷ-kheo”, có phải muốn nói là một vị Tỳ-kheo cứ chấp vào một cái pháp môn, hay là chấp vào một người ăn xin. Mà phải là thêm thiền định, thiền quán”

Phật tử 5:

“Dạ Mô Phật, con kính bạch sư thầy, đó là một vị Tỳ-kheo thuyết pháp không đúng với cái pháp của Đức Phật và nghe những cái pháp đó”

Không đúng, chúng ta thấy không, một chữ trong kinh không phải dễ hiểu.

Phật tử 6:

“Mô Phật, kính bạch trên sư phụ, quý Ni Sư cùng toàn thể đại chúng. Theo hiểu biết của con thì ý nghĩa của chữ khất sĩ là trên còn Phật đạo, dưới là mình xin thức ăn của Đàn-na. Và mình nhận và mình phải cho, mình nhận thức ăn của Đàn-na, thì mình phải cho lại Chánh pháp, giáo pháp”

Chưa đúng.

Phật tử 7:

“Dạ con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý Ni Sư cũng toàn thể đại chúng. “Nếu chấp trì độc pháp, không còn gọi Tỷ-kheo”, trong bài kinh này đang hỏi về sự khác biệt giữa người khất thực và Tỳ-kheo. Và cái ông đó hỏi rằng: “Có sự khác biệt gì về sự khất thực giữa ông và Đức Phật?” Thì Đức Phật trả lời: “chấp trì độc pháp” thì con nghĩ là sự chấp giữ, thọ trì một pháp. Và cho rằng chỉ là việc đi xin ăn, không có sự ly tham, không có sự từ bỏ đối với cái đó. Con xin hết”

Phật tử 8:

“Dạ Mô Phật, con kính thưa quý sư thầy, sư cô, cùng toàn thể đại chúng. Con hiểu thêm ý cho câu lúc nãy Ni sư trả lời, thì con hiểu “độc pháp” theo ý trong bài Đức Phật trả lời ông Bà-la-môn này, con hiểu cái từ “độc pháp” này là theo cái nghĩa đơn giản nhất theo cái chữ “độc” là độc ác, thuốc độc. Nếu là cái pháp này đưa đến hại người, hại mình, thì cái pháp đó là không xứng đáng là Tỳ-kheo. Thì cái chữ “độc” đó là có đúng vậy không ạ? Dạ Mô Phật”

Phật tử 9:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính trên sư phụ, con kính trên quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Dạ cho con xin nêu lên suy nghĩ của con về từ “độc pháp” ở đây là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Độc ở đây là một là ác nghiệp, có một sự chấp thuận, bên này là có một cái tôi và một cái là mình, có một cái tôi đang xin ăn. Còn bên này là không có một cái tôi đang đi xin ăn. Dạ Mô Phật”

(Mình để 2 cái micro 2 bên cho dễ, bên nào xài bên đó)

Phật tử 10:

“Suy nghĩ của con cái từ “độc pháp” này, độc có nghĩa là độc nhất. Nếu như một vị chỉ Tỳ-kheo duy nhất một cái pháp, mà ở đây là cái pháp xin ăn thôi, thì không gọi là Tỳ-kheo. Bởi vì Tỳ-kheo là phải thọ rất là nhiều pháp, để mới có thể tẩy sạch được cái lậu hoặc để hoàn thành được các Phạm hạnh của mình. Dạ con xin hết”

Phật tử 11:

“Dạ con kính thưa sư phụ, quý chư Ni và quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Theo con nghĩ nếu như những vị mà thường niệm, thường nhớ nghĩ những cái pháp không có chân chính giống như là tám đúng. Mà thường niệm, thường nhớ những cái pháp độc, không có nhớ nghĩ những cái pháp thiện lành”

Phật tử 12

“Dạ Mô Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và các chư hiền. “Chấp trì độc pháp” theo sự hiểu biết của con, đó là chấp trì những pháp không chân chính, không đưa đến nhàm chán, ly tham, giải thoát. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

IV. Tham – Sân – Si

Nãy giờ trả lời nhiều lắm rồi, cũng giống giống nhau không à. Cái chỗ “độc pháp” ở đây có hai nghĩa, tại vì nhìn chữ Hán Việt mình không có thấy, để mình tìm cái bảng Pali hoặc là bảng Hán tạng, chữ “độc” này là “chỉ”, hay độc là tam độc. Nếu như mình giải thích theo nghĩa tam độc là: “Nếu mà còn nắm giữ tham, sân, si, thì không có gọi là Tỳ-kheo”, thì cái nghĩa nó mới là viên mãn, nhất trí không? Độc pháp là tam độc, mà nãy giờ không ai suy nghĩ ra hết trơn. Mình còn nắm giữ tham, sân, si, thì sao gọi là Tỳ-kheo được, dù cho mình có là ăn xin, một người khất sĩ. Chữ chấp trì là gì? Là nắm giữ những cái tâm tham dục, những tâm sân hận, những tâm si mê, vô minh, bản ngã, thì sao gọi là Tỳ-kheo được.

Dù cho mình có hình thức của một người khất sĩ, một người ăn xin, thì người đó chỉ là ăn xin hạ liệt, thấp hèn của thế gian thôi. Còn người khất sĩ xuất thế là người từ bỏ tam độc, độc pháp là những cái pháp độc hại. Cho nên ở đây dù cho chữ Hán, hay chữ Pali mà nghĩa là chữ “chỉ”, nhưng mà cái nghĩa nó vẫn đúng. Nếu mà giải thích theo cái này, là nó đúng với cốt tủy của kinh tạng Nikāya. Nếu mình còn nắm giữ tham, sân, si, dù cho mình có khoác lên chiếc áo khất sĩ thì cũng không xứng đáng là một người tu, một vị Tỳ-kheo, nhất trí không? Vậy mà không ai nói tam độc hết trơn, tức là không có để ý nhiều vô tham, sân, si. Hàng ngày có nhớ kẻ thù của mình là tham, sân, si không? Có canh chừng nó từ trong suy nghĩ, từ trong cảm xúc, từ trong những cái tưởng, hình bóng trong tâm, nhận thức không?

Và phải nhận diện được kẻ thù nội tâm. Nhiều khi mình sống chung với nó mình thương nó lắm, mình làm bạn thân với nó nữa, “thâm giao tri kỷ” nữa mới chết đó chứ. Cho nên bây giờ nó độc mình đâu có biết. Bởi vậy một người mà sắc bén, mà thường canh chừng, là khi nói “độc pháp”, là người ta nghĩ ngay là hắn rồi, phải không? Cho nên là mình phải để ý kỹ, biết bao nhiêu những bài về Thánh trí tham, sân, si, nhận dạng về tham, sân, si. Cho nên là Đức Phật nói: “Không phải ai ăn xin cũng gọi là khất sĩ. Nếu nắm giữ tham, sân, si sao gọi được là Tỳ-kheo”. Chúng ta thấy cái nghĩa sáng rực lên chưa?

“Ai sống ở đời này từ bỏ các phước báo”, cái câu này là nó sâu sắc lắm. Quý vị có đang từ bỏ các phước báo không ạ? Các vị xuất gia và các vị xuất gia gieo duyên có không? “Có”. Tức là sao? Người mà không có phước, nghèo khổ thì không nói, nhưng mà mình được phước, mình được đầy đủ, tiện nghi vật chất, tình cảm gia đình ấm áp, ngọt ngào, con cái có hiếu thảo, tài sản, danh vọng, địa vị, tiền bạc mình có, mà mình có thể từ bỏ các phước báo. Thì cái người “từ bỏ các phước báo, đoạn trừ mọi ác pháp, hành trì theo Phạm hạnh, sống đời sống chánh trí, vị ấy xứng Tỳ-kheo”. Thành ra cái chữ “ai sống ở đời này từ bỏ các phước báo” này rất sâu sắc.

Người ta chỉ thấy rằng cái khổ, cái nghèo, cái thiếu làm cho người ta khổ. Nhưng người ta không biết rằng cái giàu có, cái sung túc cũng làm cho người ta khổ. Chỉ có Thánh trí, khổ Thánh trí mới thấy được, đó là trí huệ của bậc Thánh. Người ta chỉ biết rằng giàu cười, nghèo khóc: “Nghèo thì thèm muốn, giàu hả hê. Giàu nghèo gì cũng ê chề tham, sân. Giàu cười nghèo khóc, khóc cười đều mê”. Cho nên mình học cái trí tuệ này, mình thấy chỗ tối thượng của Đức Phật. Còn hồi xưa mình chưa học cái trí huệ này, mình thấy: “Cái người nghèo mới khổ đó chứ, người giàu sướng mà”. Nhưng mà không biết rằng nghèo thì khổ theo nghèo, giàu thì khổ theo giàu, giàu nghèo cũng khóc. Có ai thuộc mấy câu đó không ạ? Ai thuộc mấy câu giàu nghèo đó không đọc lên. Ai thuộc giơ tay lên? Đọc ngay cái đoạn giàu nghèo đó để quán chiếu.

Phật tử 13:

“Nghèo thì có khổ của nghèo

Giàu thì có khổ, của người giàu sang

Nghèo muốn có, giàu muốn thêm

Giàu nghèo gì cũng ê chề tham, sân.

Mãi mê theo đuổi dục trần

Vui trong tham ái, chạy theo bên ngoài

Vui trong hưởng thụ đam mê

Vui trong dục lạc, quên mình quên tâm.

Càng ngày càng đánh mất mình

Càng làm nô lệ, cho nhiều loại vui

Tưởng rằng ta hưởng thụ đời

Đâu rằng dục lạc, đang ràng buộc ta.

Nằm, ngồi, đi, đứng chẳng yên

Nhớ, ghiền, thèm, muốn, làm điên đảo lòng

Càng hưởng dục, dục càng tăng

Càng không thoả mãn, càng nhiều buông lung”

Tao đang nói về chỗ giàu nghèo, ở đây là từ bỏ các phước báo là cái khó có. Một số người khi còn cơ hàn họ rất là hiền lành, họ rất là chân chất, họ sống rất nghĩa tình, nhưng khi họ phát đạt lên thì họ thay đổi tính tình, “có nhiều không ạ?” Khi đó một thời gian ngắn sau, họ mất cái phước báo, họ rơi xuống. Mà Đức Phật ví dụ: “Người đó từ đất leo lên lưng ngựa, từ lưng ngựa lên lưng voi, từ lưng voi họ lên tầng lầu, từ tầng lầu này họ lên cung điện”, ví dụ cho sự tăng trưởng của phước báo. Nhưng mà không biết tu trí tuệ, thì các phước đó làm hại mình. Cho nên là ngay cả người xuất gia, con đã từng trãi, có những người rất là hiền lành, chân chất, nhưng mà sau khi được Phật tử cúng dường, xây cái chùa thiệt bự. Thay đổi tánh tình, khinh thường những người huynh đệ, thậm chí là những người từng giúp mình, thì một thời gian sau họ bị sụp đổ cái đạo đức.

Có những người do hưởng cái phước quá lớn, người ta cúng dường nhiều, hoặc là người cư sĩ cũng vậy, họ phát triển không ngừng, họ thành công, họ ngủ quên trên chiến thắng, không có quay trở lại để quán sát những cái pháp tham, sân, si, bản ngã, không có tương ứng với pháp ly tham diệt ngã. Cho nên họ bị phước đức, phước báo nhấn chìm, cái này nhiều lắm. Cái này người xuất gia chúng ta quán chiếu thật là kỹ, phước báo có khả năng nhận chìm chúng ta trong biển khổ sanh tử. Có rất nhiều người kêu gọi, hỗ trợ cho con phát triển ở đây thành khu du lịch. Con 5 lần, 10 lượt từ chối mới có ngày hôm nay đạo tràng Nikāya, chứ nếu không giờ này ở đây chắc là khác nhiều lắm. Thành ra cái “từ bỏ phước báo” này là người xuất gia phải nhớ thật là kỹ.

Ở trong “Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính”, Đức Phật nói là khủng khiếp lắm. Sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường, Đức Phật nói là con dao sắc bén, cắt da, cắt thịt, cắt xương và đi vào tới tủy. Ví dụ rất là nhiều, nguyên cái chương đó con giảng rồi mà không dám đưa lên, tại vì cái đó là như sấm sét, như bom nguyên tử vậy đó. Người xuất gia mà hài lòng, tự mãn với những cái phước báo Phật tử cúng dường, Đức Phật ví dụ là con giòi ở trong đống phân. Vênh váo và nói với những con giòi khác: “Mày có thấy không? Có thấy đống phân bự của ta không? Các ngươi không có phân gì hết trơn, ta có đóng phân bự nè”, Đức Phật ví dụ như vậy. Hôm trước chúng ta có học nghiệp đen, nghiệp trắng, nghiệp lẫn lộn giữa đen trắng và chấm dứt tất cả các nghiệp chưa ạ? Nghiệp trắng này là phước báo.

Đúng ra ở đây nó khác lắm, nhưng mà con yêu thích lời dạy của Đức Phật, yêu thích đạo lộ của Đức Phật, chấp nhận hi sinh tất cả. Mà mình tưởng mình hi sinh, nhưng mà mình càng hi sinh thì mình càng hạnh phúc, “phải không ạ?” Mình càng buông bỏ thì mình càng nhẹ, “phải không?” “Giờ này ngồi ở đây nhẹ không?” Không có gì để giữ hết trơn, coi cái nhà này có gì giá trị không? “Từ bỏ các phước báo, đoạn trừ mọi ác pháp”. Chúng ta thấy Đức thái tử Tất-Đạt-Đa có từ bỏ mọi phước báo không ạ? Nếu mà không thì Ngài là thái tử, thì Ngài cất cái chùa bự ở trong hoàng cung chứ, cái chùa bao nhiêu ngàn mét vuông đó, phải không? Để giáo hóa người ta. Tại sao mình bây giờ mình xuất gia, mình yêu thích đi theo cái hình tướng bên ngoài?

Nếu còn nắm giữ tham, sân, si, thì đâu được gọi là Tỳ-kheo. Nếu còn nắm giữ tham, sân, si, đâu được gọi là Phật tử. Còn yêu tham sân si, còn thích tham sân si, còn say đắm ở trong cái bản ngã hơn thua thì đâu gọi là người tu, đâu có xứng đáng gọi là đệ tử của Đức Phật. Mình phải thấy là nhờm gớm tham sân si, phỉ nhổ tham, sân, si, khinh miệt tham sân si. Mình thấy mình tủi hổ, khi tham sân si sanh khởi trong tâm mình. Mình thấy mình nhục nhã, hè hạ, tồi bại, thấp kém, bẩn thỉu khi các bản ngã sanh khởi lên. “Mình thấy rất là nhục, nhục, nhục, nhục. Nhìn vô dùm cái mặt coi có giống người tu không?” Mình thấy mình tham sân, mình vô minh, “nhìn cái gương coi”. Nhìn cái gương ở đây không phải là đợi chạy vô phòng đâu, nhìn gương là gì? Là nhận diện lại ngũ uẩn, nhận diện sâu sắc vào trong ngũ uẩn gọi là xem gương.

Hai lần con đã giảng rồi “soi gương rửa mặt”, còn nhớ không? “Lửa cháy trên đầu”, lúc nào cũng phải soi gương. Và bất cứ làm cái gì cũng phải soi gương, tức là nhìn lại thọ, tưởng, hành của mình, đó gọi là pháp “soi gương”, pháp cảnh là chiếc gương chánh pháp, gương pháp. Một ý nghĩa sanh khởi lên bên trong mà nó phi pháp cũng phải từ bỏ, diệt tận, tẩy sạch, bứng gốc rễ của nó, không có chấp nhận. Phải đưa nó đến chỗ đoạn diệt, diệt tận, không có cho nó có khả năng sanh khởi trở lại trong tương lai, thì đó mới là đệ tử của Như Lai. Những tham pháp, những sân pháp, những si pháp còn gọi là những độc pháp, những pháp ác độc, độc hại, độc tố, độc dược, độc ác. Đang xâm chiếm, áp đảo, điều khiển, sai xử, thiêu đốt, dùi dập tất cả chúng sanh.

Hổm rày những cây xăng họ đóng cửa, họ lên giá, hàng trăm người đứng xếp hàng, phải phân luồn đi vô đổ xăng. Thì có cái ông này ổng chờ lâu quá, ổng móc con dao rựa ra ổng đâm người nhân viên đổ xăng, vì chờ lâu một chút thôi, chúng ta thấy khủng khiếp không? Rồi hai nhà kế bên phơi đồ, mà cái người bên đây phơi lấn bên nhà bên kia, rồi bên kia nói, cãi qua cãi lại là xử nhau chết luôn, chỉ có cái phơi đồ thôi chút thôi là có thể giết nhau chết. Chờ đổ xăng lâu một chút là đâm nhau, nhắc nhở “tại sao trong giờ làm lại đi nghe điện thoại”, là giết chết luôn. Thì chúng ta biết rằng có phải là độc pháp không? Có phải là pháp ác độc, tàn độc, độc hại không? Chúng ta phải quán, phải thiền quán. Không phải ai giết thế gian này, không phải ai đâm ai chém, mà chính là tham, sân, si, bản ngã, chứ không có người nào hết trơn.

Tất cả cái đó đều là thọ, tưởng, hành thôi. Nó thúc giục trong này, nó bốc cháy phừng phực lên, rồi nó sai khiến tâm hành, khẩu hành, thân hành. Chúng ta phải thấy khiếp sợ, lo lắng, phải có một sự rời xa, từ bỏ, nhiếp phục, chế ngự những độc pháp trong con người chúng ta. Phải nhìn hoài để diệt cái tâm hướng ngoại, nhìn vào bên trong mình hoài luôn. Bất cứ mỗi lúc mọi nơi phải đọc những cái ý hành, đọc những cái suy nghĩ, ngắm nhìn những cảm thọ và phải dè chừng từng hình ảnh, các tưởng và những cái nhận thức phải soi chiếu. Như vậy gọi là “đoạn trừ mọi ác pháp”. Hồi nãy là từ bỏ các phước báo, thì như vậy mới đi đến cứu cánh giải thoát chứ.

Bây giờ mình có được một ngôi chùa to rồi mình hài lòng, mình tự mãn, suốt ngày mình chỉ làm cảnh, làm vườn cho nó đẹp không à, mình quên cái bổn phận sự của một người xuất gia. Thì như vậy mình bị dính mắc, đắm chìm trong cái phước báo. Rồi bây giờ tới từ bỏ “đoạn trừ mọi ác pháp”, ác pháp đó là tham, sân, si, bản ngã. Làm sao mà chúng ta phải hiền hòa, là dù nghe mắng, nghe chửi, nghe chỉ trích, thì tâm mình an tịnh, lắng dịu. Phải loại trừ, tiệt nọc, dứt nọc, diệt tận những cái nọc độc ác độc đó. Không còn chân đứng, không còn chỗ đứng trong cảm thọ, tưởng, hành của chúng ta. Những cái tâm chống đối, hơn thua, ngã mạn đó phải diệt tận. Muốn như vậy chúng ta thấy phải ngày đêm nhìn ngó, theo dõi chăm chăm, xử lý.

Đưa ra nhiều phương pháp tác chiến, lạy sám hối, như lý tác ý, thiền quán, phát lồ tâm bất chánh hoặc là viết nhật ký tu học, lạy sám hối diệt ngã, lạy đức hạnh Ngài Xá-Lợi-Phất, trải tâm hiền, trải tâm từ. Chúng ta đủ tất cả mọi cái mưu lược, kế sách, những phương pháp tác chiến của chúng ta. Tôn tử có tam thập lục kế, chúng ta có tam thập thất - ba mươi bảy Thánh vũ khí của bậc Chánh đẳng Chánh giác truyền trao. Để chúng ta đánh giặc đó, chúng ta đánh giặc tham, sân, si, bản ngã, là chúng ta có 37 Thánh khí, 37 vũ khí của bậc Thánh. Thì chúng ta phải khéo sử dụng, hễ cần cái gì là có cái nấy, 37 vũ khí của bậc Thánh. Mà nếu chúng ta không nhuần nhuyễn các cái pháp này, thì bây giờ muốn vận dụng thì làm sao vận dụng? Không biết thọ là cái gì thì làm sao mà quán thọ, làm sao mà nhiếp phục, chế ngự các thọ?

Chúng ta thấy không? Không biết là cái bản ngã nó trú ở đâu, thì làm sao mình diệt nó? Thì mình tu trong vô minh, mình tu trong bóng đêm, mình tu trong tưởng tượng. Mình không nhìn thấy được thì làm sao? Cho nên chúng ta phải biết thiện xảo sử dụng các Thánh pháp khí của Đức Phật. Ngày đêm chúng ta phải tác ý, lúc nào an tịnh, lắng dịu, thì mình an chỉ, tịnh chỉ. Thời gian còn lại là mình tác ý, mình niệm giác chi, niệm xứ, niệm những chỗ cần phải niệm, là nhớ những điều cần phải nhớ đó. Chúng ta nhớ 8 đúng là gì ạ? “Là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng” Cái chữ quán này là quán niệm, nhớ xét, cũng có thể gọi từ nôm na là “nhớ”, là chánh niệm đó, một chữ thôi.

Như vậy nhiều khi lâu lâu con đi con gặp, con thấy coi như là lang tang, thả lỏng đó, con hỏi là: “Nhớ không?” Huynh đệ gặp nhau hỏi: “Ủa chị có nhớ không chị? Cô có nhớ không?” Mấy sư cô cũng vậy đó, cứ gặp mấy Phật tử mà họ buông lung này kia, đừng nói nhiều: “Cô nhớ không, hiền giả nhớ không?” Nói nhẹ vậy thôi, được không. Nhớ cái gì? “Nhớ thân làm bằng cái gì không? Có nhớ thân này gồm bao nhiêu bộ phận không? Có nhớ cái thân này khi nó phân hủy nó trải qua bao nhiêu quá trình, giai đoạn không?” Như vậy gọi là nhớ. Mà không phải chỉ nhớ lúc hỏi bài, mà phải nhớ lúc bình thường. Mà mình hễ cái lúc nào là mình cứ nhớ giữ cái đó, như vậy gọi là nhớ, như vậy gọi là an trú tâm trên bốn niệm xứ, an trú tâm trên thân niệm xứ.

Chứ mình quên tứ đại, mình quên 32 thể trượt, mình quên 9 giai đoạn tử thi, thì như vậy mình thấy có cái tôi không? Nó có liền. Cho nên khi vô minh xuất hiện, thì minh vắng mặt. Hôm nay chúng ta thấy được cái chữ Tứ niệm xứ rất là gần gũi không? Nhớ cái đó thì lúc đó là có Chánh niệm, Chánh trí, minh kiến, có sự thấy biết đúng. Còn mình quên cái đó thì lúc đó lập tức là tà kiến, là thấy sai. Rồi khi mình quên cái đó, là mình thấy cái mình, thấy của mình liền không? “Có bằng mình, có thua mình không? Người đó hơn mình không?” Lên trình pháp là: “Con dở lắm, con nghiệp chướng nặng lắm”, nói thì nghe nhìn thấy giống như hay, nhưng mà cái đó là ở trong ngã kiến. Cho nên tự tôn cũng chết và tự ti cũng là chết luôn, không chết cháy cũng chết chìm, cũng là chết hết.

Chứ không phải nói: “À con lúc nào con cũng dở, con dở lắm, con nghiệp lắm, con tội lắm, con sân dữ lắm” là lúc đó vẫn là chắp ngã, chắp một cái ngã tự ti, mặc cảm, không có tu được. Còn cái thứ hai là: “Con giỏi lắm, con tài lắm, con hay lắm, con tôi dữ lắm” (tu mà tu dữ), thì như vậy cả tự tôn và tự ti đều là chắp ngã hết. Cho đến khi nào mình nhớ cái bản chất thân này là như vậy, bạn tánh thân này là như vậy, không phải vượt khỏi tánh chất này. Nhớ hoài, an trú tâm mình vào thân, hành, niệm hoài. Thấy được sự sanh khởi của thân này, thấy được những thứ cấu thành thân này, thấy được sự vận hành của thân này và thấy được sự chấm dứt của thân này, gọi là sanh diệt trí về sắc uẩn, sự tập khởi của thân và sự đoạn diệt của thân.

Đó là Thánh trí huệ, mà mình cứ nhớ đó hoài thì cái thức của mình không còn là cái thức nữa, mà lúc đó cái thức đó thành cái trí. Tại vì nó nhớ sự thật của bậc chứng ngộ. Mình nhớ như vậy đó, lúc đầu mình hay quên, lúc sau từ từ nhớ nhiều hơn, rồi sau này cuối cùng nhớ lên 70%, 80%, rồi bắt đầu hướng dự lưu. Rồi tới chừng nhớ 100% là nhập lưu Thánh quả, chịu không?