Trình Pháp - Tâm Hiền Trí Cao Thượng 4
Tinh Hoa Nikāya
Trình Pháp Tâm Hiền Trí Cao Thượng 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Phước huệ song tu PAGEREF _Toc179574030 \h 1
II. Tâm thế tục PAGEREF _Toc179574031 \h 2
III. Khiêm cung PAGEREF _Toc179574032 \h 4
I. Phước huệ song tu
Nguyện cho con được tăng trưởng tâm hiền, giải trừ nghiệp chướng.
Nguyện cho con an trú cảm thọ an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào để tu tập Thánh pháp.
Nguyện cho con tháo gỡ những oan gia trái chủ từ nhiều đời nhiều kiếp bằng tâm từ bi, tình thương.
Khi mình có những cảm thọ như vậy thì phải xem lại đó là những cảm xúc do thân khó chịu, tâm khó chịu hay ở bên ngoài tác động đến, một là từ bên trong phát ra và hai là từ oan gia trái chủ bên ngoài tác động vào. Khi đó mình phải tác ý an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, tác ý nhiều lần và tác ý tôn trọng Thánh pháp, tôn trọng trí tuệ và tác ý biết ơn tam bảo, sau đó phải lạy sám hối thật nhiều, lạy sám hối tự tâm tức là mình thấy mình bị chướng ngại cái gì, mình mong muốn cái gì thì cứ nói ra rồi lạy, kết hợp với sám hối diệt ngã và phải lạy từng câu. Thứ nhất là để cho tâm mình được dễ bảo, dễ nghe, dễ dạy, được cho cái thân mình an tịnh, lắng dịu.
Thứ hai là hóa giải những nghiệp chướng, những tập khí, những thói quen của dục, sân, của các lậu hoặc, kiết sử. Thứ ba là mỗi ngày phải đọc sám hối oan gia trái chủ và lạy xuống vì mỗi người có nghiệp riêng, có những vị nhẹ nhàng thì tu học được, những người đó phước đức rất nhiều, còn đa số bệnh về tâm hoặc bệnh về thân, bị chuyện gia đình, chuyện cơm áo gạo tiền, gặp những điều bất trắc, đột ngột xảy ra.
Đó là lý do phải có phước huệ song tu và còn phải biết sám hối nghiệp chướng. Khi nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì mình mới biết cảm thọ đó thuộc về dạng gì, là sự thúc giục bên trong hay là sự bực hội, khó chịu hay là cái dục muốn buông thả, không muốn tu. Phải nhận diện được nó rồi sau đó tác ý đúng với cái bệnh của nó, cho uống thuốc đúng bệnh và nếu mình biết đó là oan gia trái chủ thì mình phải sám hối thường xuyên, trải tâm hiền, tâm từ. Mong rằng những vị đó tha thứ cho mình, cùng tu học chánh pháp với mình cho nên sự tu học là trăm đắng ngàn cay, không phải tu rồi là khỏe, suy nghĩ như vậy là suy nghĩ vô minh, nghĩ rằng tu là khỏe, không còn lo gì nữa là không đúng. Đức Phật nói rằng người tu phải bức tóc đấm ngực, nước mắt đầy mặt, đầy sự ưu tư, bị sự bức não của phạm hạnh và là một người chiến sĩ.
II. Tâm thế tục
Thế nào là bức não trong đời sống phạm hạnh? Nói đơn giản là ở nhà mình ăn ngon ngủ kĩ còn lên núi tu học phải thức khuya dậy sớm, thế là con ma ngủ bức não mình. Ở nhà ăn phủ phê, ở đây ăn có giờ giấc, trong khi ăn phải kiểm soát sân si, cái dục bức não mình muốn đi về nhanh để ăn cho đã, không thì mình chống đối nhưng không nói ra miệng mà trong tâm chống đối, miệng đọc chánh quán thọ thực nhưng tâm nghĩ cái này không hợp nên không muốn tu. Nếu không nhận diện ngũ uẩn thì không thấy được đó là những tâm niệm của ác ma, đó là nội ma.
Không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì thấy đó là bình thường, thích thì làm, không thích thì không làm, đó là hoàn toàn trở về địa vị của vô văn phàm phu, dù được nghe chánh pháp nhưng mãi vẫn ở trong phàm phu, sống với tâm chống đối, tâm bản ngã, tâm ngu si mà không biết, cứ nghĩ đó là bình thường, tôi thích thì tôi làm, tôi không thích thì tôi không làm, tôi thích thì tôi trình pháp, tôi không thích thì tôi không trình pháp, đó là tâm ương ngạnh.
Thấy ở bên ngoài thì bình thường nhưng bên trong rất nghiêm trọng, người đó sẽ không tu được vì tâm không nghe lời, tâm không mềm mại, tâm không dễ bảo, dễ nghe, dễ nói, mình đi học với thầy mà thầy nói thì bảo không làm nhưng tâm vô minh, ngu si, bản ngã lại thấy điều đó là bình thường, nhưng đó là bất thường, dù cho không muốn nhưng cũng phải diệt tận ý nghĩ đó, bắt nó phải trình pháp cho nên chúng ta là người chiến sĩ từ có tóc cho đến không tóc, tu trong dòng pháp này phải là người chiến sĩ, dũng sĩ.
Đang lúc trình pháp thì bản ngã, vô minh, dục, sân hận trong đó mà mình không biết, trình pháp nhưng lại kheo khoang, phô trương nhưng không có chánh niệm tỉnh giác là không thấy được điều này, không thì trình pháp nói rằng "con không hiền được", "con tu không được gì cả". Đó là vô minh, tại sao tu không được gì? Ngày xưa không biết nhận diện ngũ uẩn, không biết cảm thọ là gì nhưng bây giờ biết nhận diện ngũ uẩn, biết nguồn gốc của tham, sân, si thì tại sao lại nói tu không được gì cho nên nói như vậy là trình ở trong vô minh mà đến người nghe cũng không biết người nói đang nói trong vô minh.
Người nào trình pháp nói rằng tu tâm hiền mà giờ giống như dã tràng xe cát biển đông thì đó cũng là vô minh luôn. Tại sao lại tu tâm hiền mà như dã tràng như xe cát biển đông được? Hôm nay Minh Thành nói ra những điều nhỏ nhiệm để chúng ta thấy cái tác ý đó là phi pháp, có những suy nghĩ tiêu cực như vậy thì làm sao tu được? Mình đang học Thánh pháp mà sao lại nói như vậy?
Trong kinh giáo giới La-hầu-la Đức Phật dạy rất kĩ trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói đều phải kiểm tra, rà soát vì mình nói trong vô minh nhưng lại không biết gì cả. Mình đang học chủ đề vô minh nhưng lại tạm ngưng rồi sau này mình sẽ thấy mình ăn trong vô minh, nói trong vô minh, sống trong vô minh, hành động trong vô minh, cảm thọ trong vô minh, suy nghĩ trong vô minh, nhận thức trong vô minh mà mình không biết gì cả, không biết đến ngày nào mình ra khỏi vô minh.
Mình còn chưa biết vô minh là cái gì thì làm sao phá được vô minh? Mình cứ nghĩ vô minh là cái gì trừu tượng, xa vời. Mình thấy huynh đệ có lời nói hay hành động làm mình sân si mà mình không biết người ấy đang bị bệnh, đến khi mình hiểu ra thì người này đang bệnh nên khó chịu, có khi là F0 mà cũng không biết. Đối với cái tâm cũng vậy, không có chánh niệm tỉnh giác, không có Thánh trí ngũ uẩn trong đó, không nhìn bằng tam tướng, khổ khổ, hành khổ, hoại khổ, vô thường khổ, vô ngã, vì thế cái vô minh có nhiều cái thô và tế.
Nói chuyện, cự cãi, đánh nhau, gây sự đều ở trong bóng đêm, đánh trong mù lòa, đánh trong điên loạn, hơn thua, tranh luận với nhau trong si ám mà không hề biết vì thế trong khi học phải tập nhiếp phục những cái thô trước rồi từ từ mới đến những cái tế. Tâm bị vô minh, bị năm triền cái che đậy nên mắt, tai, nhận thức không chính xác, nói cái này đi hiểu cái kia, tưởng tượng ra đủ thứ chuyện nên phải chịu khó tu học thêm rất nhiều chứ không phải chỉ tu phất phơ bên ngoài là được, phải chịu khó nhìn liên tục vào trong những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành vi của mình trong từng chút một.
Nếu mình thấy mình chưa hiền thì đó là tốt, chứ ngày trước toàn là cho mình hiền lắm, bây giờ chúng ta phải lấy đề mục tâm hiền trí để chuyên tu trong ba tháng, vừa hiền và vừa có trí. Muốn trú được trong những hình ảnh con bò bị cưa sừng, như nùi giẻ dưới chân, thân lủng lỗ hôi thối, người thấp hèn hạ liệt là phải có trí tuệ sâu sắc mới chịu an trú được, còn không thì không thể được, làm sao có thể chịu làm nùi giẻ được, người ta chỉ mới nhìn thôi đã khó chịu chứ không cần nói ra.
III. Khiêm cung
"Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Pubbàràma (Đông Viên), Migara - màtu pàsàda (Lộc Mẫu giảng đường), cùng với đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều chứng quả A-la-hán.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn, nhân ngày trăng tròn Bố-tát Tự tứ, Ngài ngồi giữa trời, xung quanh chúng Tỳ-kheo đoanh vây.
Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng Tỳ-kheo im lặng, liền bảo các Tỳ-kheo:
Này các Tỳ-kheo, nay Ta mời các Ông nói lên, các Ông có điều gì chỉ trích Ta hay không, về thân hay về lời nói?
-- Này các Tỳ-kheo, nay Ta mời các Ông nói lên, các Ông có điều gì chỉ trích Ta hay không, về thân hay về lời nói?" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VII. Tự Tứ)
Đức Phật mời các thầy Tỳ-kheo đến để hỏi rằng các vị có thấy ta có lỗi trong những hành vi, lời nói, hay chỉ trích ta không thì mời các thầy nói lên. Bậc đạo đạo sư, Nhân Thiên Sư phạm, bậc tối cao của tam giới hỏi đệ tử của ngài có thấy ta có lỗi không thì chỉ lỗi cho ta. Mình nhìn lại mình xem, huynh đệ hay thầy mới chỉ lỗi là nhảy lên bảo rằng không có trong khi Thế Tôn là bậc tối thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà lại hỏi các thầy Tỳ-kheo có nhìn thấy ngài có lỗi gì không thì chỉ giùm cho ngài, chúng ta biết Thế Tôn từ ái, hiền hòa, khiêm hạ như thế nào.
Mình xem phim và nhìn vào các bức tượng thì tưởng tượng ra chắc Phật Thích-ca đi đến đâu là xẹt hào quang đến đó, ngồi trên tòa sen hay bay trên hư không, đó là Phật trong phim, ngày xưa Minh Thành chưa đi vào dòng Nikāya cũng nghĩ như vậy, Phật và các bậc Thánh khủng khiếp lắm nhưng đến khi gặp Thánh thật rồi mới hoàn toàn bất ngờ.
Thánh thật, Phật thật là một đời sống khiêm hạ, hạ thấp cho đến trở thành cái nùi giẻ để chà đạp mà vẫn ngọt ngào, bình yên. Thật là tuyệt vời! Hình ảnh các thầy, các cô và quý Phật tử quỳ lạy xin chỉ lỗi giùm cho con thật sự rất đẹp, đó là hình ảnh đẹp, phải duy trì thật kĩ lưỡng. Khi được người khác chỉ lỗi là mình quỳ lạy rồi cảm ơn, cho nên trong đạo tràng Nikāya phải quỳ lạy đại chúng thật nhiều mỗi khi có cơ hội để giảm bớt ngã mạn, bớt ta đây, mình thấy mình nhỏ bé trước đại chúng, mình thấy mình thấp kém trước các bậc hiền trí.
Mỗi lần mình lạy xuống là mỗi lần dễ thương, mỗi lần mình đánh gục cái vênh váo là mình tiến lên trong tu tập. Ngược lại tu rồi không còn biết xin lỗi, cảm ơn gì nữa, vậy là tẩu hỏa nhập ma rồi, mới vào chùa dễ thương, một chút là cảm ơn, một chút là xin lỗi, tu một thời gian không còn biết cảm ơn ai, không còn biết xin lỗi ai, chỉ lỗi cũng không thèm nhận lỗi, đó là đi đường tà rồi, bị thối đọa.
"Ðược nghe như vậy, Tôn giả Sàriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, chúng con không có chỉ trích gì Thế Tôn về thân hay về lời nói. Bạch Thế Tôn, con đường chưa sanh khởi, Thế Tôn làm cho sanh khởi; con đường chưa được rõ biết, Thế Tôn làm cho rõ biết; con đường chưa được thuyết giảng, Thế Tôn thuyết giảng. Thế Tôn biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo; và bạch Thế Tôn, các đệ tử nay là những vị sống hành đạo, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau. Và bạch Thế Tôn, con xin mời Thế Tôn nói lên, Thế Tôn có điều gì chỉ trích con hay không, về thân hay về lời nói?" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VII. Tự Tứ)
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe Đức Thế Tôn xin đại chúng chỉ lỗi thì ngài vén y, chắp tay quỳ xuống và bạch bậc tôn kính nhất trên đời, chúng con không có chỉ trích bất cứ hành vi, ngôn ngữ nào của ngài. Kính bạch Thế Tôn con đường chưa sanh khởi Thế Tôn làm cho sanh khởi, tất cả tam giới đang quờ quạng trong bóng đêm thì Thế Tôn mở ra con đường chưa từng có ai mở ra, con đường chưa được rõ biết Thế Tôn làm cho chúng sanh rõ biết, tất cả chúng sanh hữu tình vạn loại vô biên vô thỉ kiếp không biết được con đường giải thoát, con đường xuất ly, ngày nay duy nhất được Thế Tôn làm cho chúng con biết được con đường thoát ra.
Ngài Xá-lợi-phất dùng những lời nói vi diệu tối thượng xưng tán bậc đại đạo sư, Thiên Nhân Sư, chúng ta đọc mà vô cùng xuất động. Kính bạch bậc tôn quý nhất trên đời, đạo lộ Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo xưa nay chưa từng có ai thuyết giảng, tuyên thuyết, diễn thuyết, khai thị, hiển lộ đầy đủ, viên mãn nay có Thế Tôn trình bày, hiển thị con đường đó. Ngài Xá-lợi-phất xưng tán, ca tụng những diệu đức, công đức của Như Lai.
Thế Tôn là bậc biết đạo lộ, Thế Tôn là bậc thấu hiểu được đạo lộ thoát ra khỏi đống khổ uẩn này, Thế Tôn biết được phương pháp, biết được con đường, biết được cách thức và Thế Tôn thiện xảo, khéo léo về đạo lộ của bậc Thánh. Đệ tử chúng con sống theo con đường của ngài, ngài là bậc đại đạo sư khai mở, mở đường, chỉ lối, dẫn dắt chúng con và chúng ta là những người đi theo con đường đó và sẽ thành tựu những pháp đó về sau.
Trong năm trăm vị Thánh chúng A-la-hán mà ngài Xá-lợi-phất là bậc thượng thủ trong đó mà ngài nói những lời xưng tán với Đức Phật và khiêm hạ với chính mình, chúng con là những đệ tử sống thực hành theo con đường Thế Tôn chỉ dạy và sẽ thành tựu con đường ấy về sau. Tâm thanh tịnh của ngài không khác Phật nhưng cái biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo để khai mở con đường ba mươi bảy phẩm trợ đạo, sự khai mở, khéo léo của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì các vị thanh văn không bằng Thế Tôn. Tâm thanh tịnh của ngài và tâm thanh tịnh của Phật là như một nhưng phương tiện khéo léo để diễn thuyết, trình bày, dẫn dắt, dạy dỗ chúng sanh thì các ngài chỉ là hàng đệ tử. Sau đó đến ngài Xá-lợi-phất bạch Thế Tôn có thấy ngài có những ngôn ngữ, hành vi sai không thì hãy chỉ dẫn cho ngài. Tiếp theo là những lời Đức Phật nói về ngài Xá-lợi-phất.
"-- Này Sàriputta, Ta không có gì chỉ trích Ông về thân, hay về lời nói. Này Sàriputta, Ông là bậc Ðại trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Quảng trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Tốc trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Tiệp trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Nhuệ trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Thể nhập trí. Này Sàriputta, ví như trưởng tử, con vua Chuyển luân vương, chơn chánh vận chuyển bánh xe đã được vua cha vận chuyển. Cũng vậy, này Sàriputta, Ông chơn chánh chuyển vận pháp luân vô thượng đã được Ta chuyển vận." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VII. Tự Tứ)
Đây là Đức Thế Tôn ấn chứng, xác nhận cho ngài Xá-lợi-phất. Những gì Như lai tuyên thuyết, giảng dạy thì ngài Xá-lợi-phất có đầy đủ khả năng diễn thuyết giống như Đức Phật cho nên chúng ta đang thực hành pháp tu của ngài là đang thực hành pháp tu của Phật. Đại trí, quảng trí, tốc trí, tiệp trí, nhuệ trí là những khía cạnh của Thánh trí huệ.
"-- Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn không có gì chỉ trích con về thân hay về lời nói, vậy bạch Thế Tôn, đối với khoảng năm trăm Tỳ-kheo này, Thế Tôn có gì chỉ trích hay không, về thân hay về lời nói?
-- Này Sàriputta, đối với khoảng năm trăm Tỳ-kheo này, Ta không có gì chỉ trích về thân hay về lời nói. Này Sàriputta, trong khoảng năm trăm Tỳ-kheo này, sáu mươi Tỳ-kheo là bậc Tam minh, sáu mươi Tỳ-kheo là bậc chứng được sáu Thắng trí, sáu mươi Tỳ-kheo là bậc Câu giải thoát, và các vị còn lại là bậc Tuệ giải thoát" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VII. Tự Tứ)
Trong năm trăm vị Tỳ-kheo này có sáu mươi vị chứng được tam minh, đó là túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh. Thiên nhãn minh là thấy được tất cả sự sanh tử trong vô lượng vô biên kiếp của chúng sanh, túc mạng minh là thấy được tất cả sự sanh tử trong vô lượng vô biên kiếp của chính mình, lậu tận minh là sạch hết tất cả lậu hoặc, phiền não.
"Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
Thế Tôn nói:
-- Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn nói lên những bài kệ tán thán thích ứng:
Nay ngày rằm thanh tịnh,
Năm trăm Tỳ-kheo họp,
Bậc Thánh cắt kiết phược,
Vô phiền, đoạn tái sanh.
Như vua Chuyển luân vương,
Ðại thần hầu xung quanh,
Du hành khắp bốn phương,
Ðất này đến hải biên.
Như vậy, các đệ tử,
Ðã chứng được Tam minh,
Sát hại được tử thần,
Những vị này hầu hạ,
Bậc thắng trận chiến trường,
Chủ lữ hành vô thượng.
Tất cả con Thế Tôn,
Không ai là vô dụng,
Xin chí thành đảnh lễ,
Bậc nhổ tên khát ái,
Xin tâm thành cung kính,
Bậc dòng họ mặt trời". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VII. Tự Tứ)
Đây là bài kinh Tự tứ, là buổi lễ sau ba tháng An cư, mãn hạ. Chúng ta nghe bài kinh này rồi hãy sanh khởi thêm lòng tin mạnh mẽ, cung kính đối với ngài Xá-lợi-phất, đối với giáo pháp để thực hành tâm hiền trí.
./.
Trình Pháp Tâm Hiền Trí Cao Thượng 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Phước huệ song tu PAGEREF _Toc179574030 \h 1
II. Tâm thế tục PAGEREF _Toc179574031 \h 2
III. Khiêm cung PAGEREF _Toc179574032 \h 4
I. Phước huệ song tu
Nguyện cho con được tăng trưởng tâm hiền, giải trừ nghiệp chướng.
Nguyện cho con an trú cảm thọ an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào để tu tập Thánh pháp.
Nguyện cho con tháo gỡ những oan gia trái chủ từ nhiều đời nhiều kiếp bằng tâm từ bi, tình thương.
Khi mình có những cảm thọ như vậy thì phải xem lại đó là những cảm xúc do thân khó chịu, tâm khó chịu hay ở bên ngoài tác động đến, một là từ bên trong phát ra và hai là từ oan gia trái chủ bên ngoài tác động vào. Khi đó mình phải tác ý an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, tác ý nhiều lần và tác ý tôn trọng Thánh pháp, tôn trọng trí tuệ và tác ý biết ơn tam bảo, sau đó phải lạy sám hối thật nhiều, lạy sám hối tự tâm tức là mình thấy mình bị chướng ngại cái gì, mình mong muốn cái gì thì cứ nói ra rồi lạy, kết hợp với sám hối diệt ngã và phải lạy từng câu. Thứ nhất là để cho tâm mình được dễ bảo, dễ nghe, dễ dạy, được cho cái thân mình an tịnh, lắng dịu.
Thứ hai là hóa giải những nghiệp chướng, những tập khí, những thói quen của dục, sân, của các lậu hoặc, kiết sử. Thứ ba là mỗi ngày phải đọc sám hối oan gia trái chủ và lạy xuống vì mỗi người có nghiệp riêng, có những vị nhẹ nhàng thì tu học được, những người đó phước đức rất nhiều, còn đa số bệnh về tâm hoặc bệnh về thân, bị chuyện gia đình, chuyện cơm áo gạo tiền, gặp những điều bất trắc, đột ngột xảy ra.
Đó là lý do phải có phước huệ song tu và còn phải biết sám hối nghiệp chướng. Khi nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì mình mới biết cảm thọ đó thuộc về dạng gì, là sự thúc giục bên trong hay là sự bực hội, khó chịu hay là cái dục muốn buông thả, không muốn tu. Phải nhận diện được nó rồi sau đó tác ý đúng với cái bệnh của nó, cho uống thuốc đúng bệnh và nếu mình biết đó là oan gia trái chủ thì mình phải sám hối thường xuyên, trải tâm hiền, tâm từ. Mong rằng những vị đó tha thứ cho mình, cùng tu học chánh pháp với mình cho nên sự tu học là trăm đắng ngàn cay, không phải tu rồi là khỏe, suy nghĩ như vậy là suy nghĩ vô minh, nghĩ rằng tu là khỏe, không còn lo gì nữa là không đúng. Đức Phật nói rằng người tu phải bức tóc đấm ngực, nước mắt đầy mặt, đầy sự ưu tư, bị sự bức não của phạm hạnh và là một người chiến sĩ.
II. Tâm thế tục
Thế nào là bức não trong đời sống phạm hạnh? Nói đơn giản là ở nhà mình ăn ngon ngủ kĩ còn lên núi tu học phải thức khuya dậy sớm, thế là con ma ngủ bức não mình. Ở nhà ăn phủ phê, ở đây ăn có giờ giấc, trong khi ăn phải kiểm soát sân si, cái dục bức não mình muốn đi về nhanh để ăn cho đã, không thì mình chống đối nhưng không nói ra miệng mà trong tâm chống đối, miệng đọc chánh quán thọ thực nhưng tâm nghĩ cái này không hợp nên không muốn tu. Nếu không nhận diện ngũ uẩn thì không thấy được đó là những tâm niệm của ác ma, đó là nội ma.
Không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì thấy đó là bình thường, thích thì làm, không thích thì không làm, đó là hoàn toàn trở về địa vị của vô văn phàm phu, dù được nghe chánh pháp nhưng mãi vẫn ở trong phàm phu, sống với tâm chống đối, tâm bản ngã, tâm ngu si mà không biết, cứ nghĩ đó là bình thường, tôi thích thì tôi làm, tôi không thích thì tôi không làm, tôi thích thì tôi trình pháp, tôi không thích thì tôi không trình pháp, đó là tâm ương ngạnh.
Thấy ở bên ngoài thì bình thường nhưng bên trong rất nghiêm trọng, người đó sẽ không tu được vì tâm không nghe lời, tâm không mềm mại, tâm không dễ bảo, dễ nghe, dễ nói, mình đi học với thầy mà thầy nói thì bảo không làm nhưng tâm vô minh, ngu si, bản ngã lại thấy điều đó là bình thường, nhưng đó là bất thường, dù cho không muốn nhưng cũng phải diệt tận ý nghĩ đó, bắt nó phải trình pháp cho nên chúng ta là người chiến sĩ từ có tóc cho đến không tóc, tu trong dòng pháp này phải là người chiến sĩ, dũng sĩ.
Đang lúc trình pháp thì bản ngã, vô minh, dục, sân hận trong đó mà mình không biết, trình pháp nhưng lại kheo khoang, phô trương nhưng không có chánh niệm tỉnh giác là không thấy được điều này, không thì trình pháp nói rằng "con không hiền được", "con tu không được gì cả". Đó là vô minh, tại sao tu không được gì? Ngày xưa không biết nhận diện ngũ uẩn, không biết cảm thọ là gì nhưng bây giờ biết nhận diện ngũ uẩn, biết nguồn gốc của tham, sân, si thì tại sao lại nói tu không được gì cho nên nói như vậy là trình ở trong vô minh mà đến người nghe cũng không biết người nói đang nói trong vô minh.
Người nào trình pháp nói rằng tu tâm hiền mà giờ giống như dã tràng xe cát biển đông thì đó cũng là vô minh luôn. Tại sao lại tu tâm hiền mà như dã tràng như xe cát biển đông được? Hôm nay Minh Thành nói ra những điều nhỏ nhiệm để chúng ta thấy cái tác ý đó là phi pháp, có những suy nghĩ tiêu cực như vậy thì làm sao tu được? Mình đang học Thánh pháp mà sao lại nói như vậy?
Trong kinh giáo giới La-hầu-la Đức Phật dạy rất kĩ trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói đều phải kiểm tra, rà soát vì mình nói trong vô minh nhưng lại không biết gì cả. Mình đang học chủ đề vô minh nhưng lại tạm ngưng rồi sau này mình sẽ thấy mình ăn trong vô minh, nói trong vô minh, sống trong vô minh, hành động trong vô minh, cảm thọ trong vô minh, suy nghĩ trong vô minh, nhận thức trong vô minh mà mình không biết gì cả, không biết đến ngày nào mình ra khỏi vô minh.
Mình còn chưa biết vô minh là cái gì thì làm sao phá được vô minh? Mình cứ nghĩ vô minh là cái gì trừu tượng, xa vời. Mình thấy huynh đệ có lời nói hay hành động làm mình sân si mà mình không biết người ấy đang bị bệnh, đến khi mình hiểu ra thì người này đang bệnh nên khó chịu, có khi là F0 mà cũng không biết. Đối với cái tâm cũng vậy, không có chánh niệm tỉnh giác, không có Thánh trí ngũ uẩn trong đó, không nhìn bằng tam tướng, khổ khổ, hành khổ, hoại khổ, vô thường khổ, vô ngã, vì thế cái vô minh có nhiều cái thô và tế.
Nói chuyện, cự cãi, đánh nhau, gây sự đều ở trong bóng đêm, đánh trong mù lòa, đánh trong điên loạn, hơn thua, tranh luận với nhau trong si ám mà không hề biết vì thế trong khi học phải tập nhiếp phục những cái thô trước rồi từ từ mới đến những cái tế. Tâm bị vô minh, bị năm triền cái che đậy nên mắt, tai, nhận thức không chính xác, nói cái này đi hiểu cái kia, tưởng tượng ra đủ thứ chuyện nên phải chịu khó tu học thêm rất nhiều chứ không phải chỉ tu phất phơ bên ngoài là được, phải chịu khó nhìn liên tục vào trong những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành vi của mình trong từng chút một.
Nếu mình thấy mình chưa hiền thì đó là tốt, chứ ngày trước toàn là cho mình hiền lắm, bây giờ chúng ta phải lấy đề mục tâm hiền trí để chuyên tu trong ba tháng, vừa hiền và vừa có trí. Muốn trú được trong những hình ảnh con bò bị cưa sừng, như nùi giẻ dưới chân, thân lủng lỗ hôi thối, người thấp hèn hạ liệt là phải có trí tuệ sâu sắc mới chịu an trú được, còn không thì không thể được, làm sao có thể chịu làm nùi giẻ được, người ta chỉ mới nhìn thôi đã khó chịu chứ không cần nói ra.
III. Khiêm cung
"Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Pubbàràma (Đông Viên), Migara - màtu pàsàda (Lộc Mẫu giảng đường), cùng với đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều chứng quả A-la-hán.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn, nhân ngày trăng tròn Bố-tát Tự tứ, Ngài ngồi giữa trời, xung quanh chúng Tỳ-kheo đoanh vây.
Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng Tỳ-kheo im lặng, liền bảo các Tỳ-kheo:
Này các Tỳ-kheo, nay Ta mời các Ông nói lên, các Ông có điều gì chỉ trích Ta hay không, về thân hay về lời nói?
-- Này các Tỳ-kheo, nay Ta mời các Ông nói lên, các Ông có điều gì chỉ trích Ta hay không, về thân hay về lời nói?" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VII. Tự Tứ)
Đức Phật mời các thầy Tỳ-kheo đến để hỏi rằng các vị có thấy ta có lỗi trong những hành vi, lời nói, hay chỉ trích ta không thì mời các thầy nói lên. Bậc đạo đạo sư, Nhân Thiên Sư phạm, bậc tối cao của tam giới hỏi đệ tử của ngài có thấy ta có lỗi không thì chỉ lỗi cho ta. Mình nhìn lại mình xem, huynh đệ hay thầy mới chỉ lỗi là nhảy lên bảo rằng không có trong khi Thế Tôn là bậc tối thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà lại hỏi các thầy Tỳ-kheo có nhìn thấy ngài có lỗi gì không thì chỉ giùm cho ngài, chúng ta biết Thế Tôn từ ái, hiền hòa, khiêm hạ như thế nào.
Mình xem phim và nhìn vào các bức tượng thì tưởng tượng ra chắc Phật Thích-ca đi đến đâu là xẹt hào quang đến đó, ngồi trên tòa sen hay bay trên hư không, đó là Phật trong phim, ngày xưa Minh Thành chưa đi vào dòng Nikāya cũng nghĩ như vậy, Phật và các bậc Thánh khủng khiếp lắm nhưng đến khi gặp Thánh thật rồi mới hoàn toàn bất ngờ.
Thánh thật, Phật thật là một đời sống khiêm hạ, hạ thấp cho đến trở thành cái nùi giẻ để chà đạp mà vẫn ngọt ngào, bình yên. Thật là tuyệt vời! Hình ảnh các thầy, các cô và quý Phật tử quỳ lạy xin chỉ lỗi giùm cho con thật sự rất đẹp, đó là hình ảnh đẹp, phải duy trì thật kĩ lưỡng. Khi được người khác chỉ lỗi là mình quỳ lạy rồi cảm ơn, cho nên trong đạo tràng Nikāya phải quỳ lạy đại chúng thật nhiều mỗi khi có cơ hội để giảm bớt ngã mạn, bớt ta đây, mình thấy mình nhỏ bé trước đại chúng, mình thấy mình thấp kém trước các bậc hiền trí.
Mỗi lần mình lạy xuống là mỗi lần dễ thương, mỗi lần mình đánh gục cái vênh váo là mình tiến lên trong tu tập. Ngược lại tu rồi không còn biết xin lỗi, cảm ơn gì nữa, vậy là tẩu hỏa nhập ma rồi, mới vào chùa dễ thương, một chút là cảm ơn, một chút là xin lỗi, tu một thời gian không còn biết cảm ơn ai, không còn biết xin lỗi ai, chỉ lỗi cũng không thèm nhận lỗi, đó là đi đường tà rồi, bị thối đọa.
"Ðược nghe như vậy, Tôn giả Sàriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, chúng con không có chỉ trích gì Thế Tôn về thân hay về lời nói. Bạch Thế Tôn, con đường chưa sanh khởi, Thế Tôn làm cho sanh khởi; con đường chưa được rõ biết, Thế Tôn làm cho rõ biết; con đường chưa được thuyết giảng, Thế Tôn thuyết giảng. Thế Tôn biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo; và bạch Thế Tôn, các đệ tử nay là những vị sống hành đạo, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau. Và bạch Thế Tôn, con xin mời Thế Tôn nói lên, Thế Tôn có điều gì chỉ trích con hay không, về thân hay về lời nói?" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VII. Tự Tứ)
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe Đức Thế Tôn xin đại chúng chỉ lỗi thì ngài vén y, chắp tay quỳ xuống và bạch bậc tôn kính nhất trên đời, chúng con không có chỉ trích bất cứ hành vi, ngôn ngữ nào của ngài. Kính bạch Thế Tôn con đường chưa sanh khởi Thế Tôn làm cho sanh khởi, tất cả tam giới đang quờ quạng trong bóng đêm thì Thế Tôn mở ra con đường chưa từng có ai mở ra, con đường chưa được rõ biết Thế Tôn làm cho chúng sanh rõ biết, tất cả chúng sanh hữu tình vạn loại vô biên vô thỉ kiếp không biết được con đường giải thoát, con đường xuất ly, ngày nay duy nhất được Thế Tôn làm cho chúng con biết được con đường thoát ra.
Ngài Xá-lợi-phất dùng những lời nói vi diệu tối thượng xưng tán bậc đại đạo sư, Thiên Nhân Sư, chúng ta đọc mà vô cùng xuất động. Kính bạch bậc tôn quý nhất trên đời, đạo lộ Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo xưa nay chưa từng có ai thuyết giảng, tuyên thuyết, diễn thuyết, khai thị, hiển lộ đầy đủ, viên mãn nay có Thế Tôn trình bày, hiển thị con đường đó. Ngài Xá-lợi-phất xưng tán, ca tụng những diệu đức, công đức của Như Lai.
Thế Tôn là bậc biết đạo lộ, Thế Tôn là bậc thấu hiểu được đạo lộ thoát ra khỏi đống khổ uẩn này, Thế Tôn biết được phương pháp, biết được con đường, biết được cách thức và Thế Tôn thiện xảo, khéo léo về đạo lộ của bậc Thánh. Đệ tử chúng con sống theo con đường của ngài, ngài là bậc đại đạo sư khai mở, mở đường, chỉ lối, dẫn dắt chúng con và chúng ta là những người đi theo con đường đó và sẽ thành tựu những pháp đó về sau.
Trong năm trăm vị Thánh chúng A-la-hán mà ngài Xá-lợi-phất là bậc thượng thủ trong đó mà ngài nói những lời xưng tán với Đức Phật và khiêm hạ với chính mình, chúng con là những đệ tử sống thực hành theo con đường Thế Tôn chỉ dạy và sẽ thành tựu con đường ấy về sau. Tâm thanh tịnh của ngài không khác Phật nhưng cái biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo để khai mở con đường ba mươi bảy phẩm trợ đạo, sự khai mở, khéo léo của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì các vị thanh văn không bằng Thế Tôn. Tâm thanh tịnh của ngài và tâm thanh tịnh của Phật là như một nhưng phương tiện khéo léo để diễn thuyết, trình bày, dẫn dắt, dạy dỗ chúng sanh thì các ngài chỉ là hàng đệ tử. Sau đó đến ngài Xá-lợi-phất bạch Thế Tôn có thấy ngài có những ngôn ngữ, hành vi sai không thì hãy chỉ dẫn cho ngài. Tiếp theo là những lời Đức Phật nói về ngài Xá-lợi-phất.
"-- Này Sàriputta, Ta không có gì chỉ trích Ông về thân, hay về lời nói. Này Sàriputta, Ông là bậc Ðại trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Quảng trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Tốc trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Tiệp trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Nhuệ trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Thể nhập trí. Này Sàriputta, ví như trưởng tử, con vua Chuyển luân vương, chơn chánh vận chuyển bánh xe đã được vua cha vận chuyển. Cũng vậy, này Sàriputta, Ông chơn chánh chuyển vận pháp luân vô thượng đã được Ta chuyển vận." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VII. Tự Tứ)
Đây là Đức Thế Tôn ấn chứng, xác nhận cho ngài Xá-lợi-phất. Những gì Như lai tuyên thuyết, giảng dạy thì ngài Xá-lợi-phất có đầy đủ khả năng diễn thuyết giống như Đức Phật cho nên chúng ta đang thực hành pháp tu của ngài là đang thực hành pháp tu của Phật. Đại trí, quảng trí, tốc trí, tiệp trí, nhuệ trí là những khía cạnh của Thánh trí huệ.
"-- Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn không có gì chỉ trích con về thân hay về lời nói, vậy bạch Thế Tôn, đối với khoảng năm trăm Tỳ-kheo này, Thế Tôn có gì chỉ trích hay không, về thân hay về lời nói?
-- Này Sàriputta, đối với khoảng năm trăm Tỳ-kheo này, Ta không có gì chỉ trích về thân hay về lời nói. Này Sàriputta, trong khoảng năm trăm Tỳ-kheo này, sáu mươi Tỳ-kheo là bậc Tam minh, sáu mươi Tỳ-kheo là bậc chứng được sáu Thắng trí, sáu mươi Tỳ-kheo là bậc Câu giải thoát, và các vị còn lại là bậc Tuệ giải thoát" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VII. Tự Tứ)
Trong năm trăm vị Tỳ-kheo này có sáu mươi vị chứng được tam minh, đó là túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh. Thiên nhãn minh là thấy được tất cả sự sanh tử trong vô lượng vô biên kiếp của chúng sanh, túc mạng minh là thấy được tất cả sự sanh tử trong vô lượng vô biên kiếp của chính mình, lậu tận minh là sạch hết tất cả lậu hoặc, phiền não.
"Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
Thế Tôn nói:
-- Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn nói lên những bài kệ tán thán thích ứng:
Nay ngày rằm thanh tịnh,
Năm trăm Tỳ-kheo họp,
Bậc Thánh cắt kiết phược,
Vô phiền, đoạn tái sanh.
Như vua Chuyển luân vương,
Ðại thần hầu xung quanh,
Du hành khắp bốn phương,
Ðất này đến hải biên.
Như vậy, các đệ tử,
Ðã chứng được Tam minh,
Sát hại được tử thần,
Những vị này hầu hạ,
Bậc thắng trận chiến trường,
Chủ lữ hành vô thượng.
Tất cả con Thế Tôn,
Không ai là vô dụng,
Xin chí thành đảnh lễ,
Bậc nhổ tên khát ái,
Xin tâm thành cung kính,
Bậc dòng họ mặt trời". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VII. Tự Tứ)
Đây là bài kinh Tự tứ, là buổi lễ sau ba tháng An cư, mãn hạ. Chúng ta nghe bài kinh này rồi hãy sanh khởi thêm lòng tin mạnh mẽ, cung kính đối với ngài Xá-lợi-phất, đối với giáo pháp để thực hành tâm hiền trí.
./.