Tâm Không Gắn Vào Đề Mục Sẽ Phóng Dật Suốt Đời
Kinh Nikāya Giảng Giải
TÂM KHÔNG GẮN VÀO ĐỀ MỤC
SẼ PHÓNG DẬT SUỐT ĐỜI
Thích Minh Thành
Khi thực tập tu hành thì càng ngày càng thấy tâm mình rất khó điều phục. Bất cứ lúc nào tâm không trú trong Pháp thì lúc đó là buông lung phóng dật, đó là sự phát hiện khi tu tập. Tối nay vô tình Minh Thành gặp một câu nói trùng với cách nhìn của mình, thiền sư Ajahn Maha Bua đã nói "Tâm Không Gắn Vào Đề Mục Sẽ Phóng Dật Suốt Đời". Khi phát hiện ra vấn đề này thì Minh Thành vẫn chưa đọc được câu này nhưng bây giờ đọc được thì thấy câu này giống với cách nhận định của mình.
Tâm mình nếu không thực hành pháp, không trú trong Tứ Niệm Xứ, không vận dụng Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, không thực tập Ngũ Căn, Ngũ Lực, Bảy Giác Chi hay Bát Chánh Đạo thì lúc đó tâm đang ở trong trạng thái của buông lung phóng dật, điều này được con phát hiện sau một thời gian tu tập. Tối qua con mở ra trang thực hành Vipassana Tứ Niệm Xứ thì trên trang chủ để câu nói "Tâm Không Gắn Vào Đề Mục Sẽ Phóng Dật Suốt Đời". Thật sự khi tâm không an trú trong pháp, không an trú trong đề mục, trong thực tập thì đang ở trong trạng thái buông lung, buông thả, buông trôi. Khi Minh Thành hỏi chuyện các chú thì các chú trả lời đến ba lần mới đúng thì đó là không an trú trong Pháp. Hãy nhớ “an trú niệm” tức là an trú trong Tứ Niệm Xứ, “thất niệm” là mất đi sự quán niệm về thân – thọ – tâm – pháp. Trong tâm vang lên bài kệ:
Khó nắm giữ, khinh động,
Theo các dục quay cuồng.
Lành thay, điều phục tâm;
Tâm điều, an lạc đến.
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 35)
Trong giờ ngồi thiền tiếp tục trong tâm con lại vang lên câu kệ:
Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo các dục quay cuồng.
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến.
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 36)
Chạy xa, sống một mình,
Không thân, ẩn hang sâu,
Ai điều phục được tâm,
Thoát khỏi Ma trói buộc.
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 37)
Tâm này thật khó nắm giữ, cứ dao động, quay cuồng theo các dục, người trí phải biết phòng hộ tâm, điều phục tâm. Sự phòng hộ và điều phục đó là tốt lành, an lạc, cát tường cho mình. Tiếp tục trong tâm con lại khởi lên bài kệ:
Như mái nhà vụng lợp,
Mưa liền xâm nhập vào.
Cũng vậy tâm không tu,
Tham dục liền xâm nhập.
(Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu, kệ 13)
Như ngôi nhà khéo lợp,
Mưa không xâm nhập vào.
Cũng vậy tâm khéo tu,
Tham dục không xâm nhập.
(Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu, kệ 14)
Chỉ có vài bài kệ trong kinh Pháp Cú nhưng mình thấy được những điều rất sâu sắc trong sự tu học. Thứ nhất tâm mình là một sự dao động, khó nắm giữ, tâm mình đi rất xa tuy rằng thân đang ngồi trên bồ đoàn, nếu không có sự an trú trong Pháp và gắn tâm vào đề mục thì tâm sẽ đi lang thang, đi miên man. Mình biết tâm khó thấy, tế nhị, không phải dễ để thấy được tâm, dù có thấy thì cũng chỉ thấy những cái thô thiển bên ngoài, những bề nổi của tâm, tâm đi lang thang vất vơ vất vưởng, ẩn hang sâu nghĩa là rất thâm sâu bên trong thọ; tưởng; hành cho nên người chân tu lúc nào cũng để tâm sử dụng ý căn, thường xuyên để ý cho nên tu cái này sử dụng ý căn rất nhiều. Còn không biết ý căn, không nhận diện được ý căn thì tu không có kết quả, đó làm mình thấy được tâm rất khó nắm giữ, tâm dao động, khó thấy, tế nhị.
Yếu tố thứ hai mình thấy được là dục, theo cái dục quay cuồng. Chỉ cần không hộ trì căn là tâm phóng theo dục trong bất cứ nơi nào, thời điểm nào, thậm chí ngay cả trên bồ đoàn, trên thiền đường hoặc đang nghe pháp cũng đi theo các dục. Tâm không khéo tu thì tham dục liền xâm nhập, chỉ cần không tu là tham dục sẽ xâm nhập ngay lập tức, không kiểm tra, quán chiếu, an trú Pháp là tham dục sẽ xâm nhập, trong người mình là dục tham ái cho nên người thật tu rất để tâm từng chút một trong sự hành trì.
Thứ ba là tâm không gắn vào đề mục thì sẽ phóng dật suốt cả cuộc đời. Ngay cả trên bồ đoàn cũng buông lung phóng dật. Ngày xưa chỉ nghĩ phóng dật là nói chuyện cười giỡn nhưng không ngờ ngồi thiền trên bồ đoàn mà tâm không gắn vào đề mục, không tập trung tâm ý vào Pháp, không để toàn tâm toàn ý, không thực tập bằng cả tấm lòng, chỉ cần buông lơi sẽ bị phóng tâm. Khi bị phóng tâm thì năm triền cái xuất hiện,
Tại sao ngồi thiền mà ngủ gục? Vì phóng dật buông lung mới ngủ gục, còn người tinh cần, tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác thì làm sao ngủ gục được, trừ trường hợp quá mệt mỏi, bệnh hoặc mất ngủ ban đêm thì cái này có thể hiểu được, nhưng nếu người nào có tinh tấn, chánh niệm mạnh mẽ vẫn nhiếp phục được cho nên ngồi thiền mà ngủ gục thì người đó buông lung phóng dật, không có nhiệt tâm, không tinh cần, không chánh niệm tỉnh giác thì năm triền cái mới áp đảo, xâm chiếm được thân tâm. Lúc các thầy, các cô tinh tấn mạnh mẽ, chánh niệm tỏa sáng thì lúc đó làm sao ngủ gục được? Làm sao tâm đi lang thang được?
Nếu tinh cần, tinh tấn mà có dục niệm, dục tưởng, dục hành sanh khởi là mình tác ý đánh đuổi liền, khi buồn giận, bực bội là mình tác ý ngay cho nên khi tinh cần, tinh tấn thì năm triền cái không xâm nhập được, nếu có xâm nhập cũng bị đối trị vì khi an trú trong Pháp thì có sự chiến đấu, có cách đối phó. Còn nếu không có sự chống trả, chống cự thì lúc đó đang buông lung phóng dật dù cho thân đang ngồi trên bồ đoàn. Tuy rằng ngồi tu nhưng tâm lại không tu vì mình cứ để tâm muốn sao thì muốn, vọng tưởng cứ để vọng tưởng, ngủ gục cứ ngủ, hôn trầm thì để cho hôn trầm, mình không có sự chống trả quyết liệt thì lâu ngày sẽ quen với tâm buông thả, buông xuôi dẫn đến buông lung nên tu suốt đời cũng phóng dật bung luông. Không tập trung tâm ý lắng nghe Pháp, không thọ nhận trọn vẹn Pháp, để ngũ cái xâm nhập thì vẫn là buông lung, tuy ngồi yên không nhúc nhích nhưng trong tâm không có sự thọ nhận trọn vẹn, sáng tỏ, nhận rõ, không nương vào Pháp để tác ý cho sanh khởi những thọ; tưởng; hành tương ưng với Pháp một cách thụ động, thậm chí có những ý hành lang thang, mông lung thì đó vẫn là buông lung phóng dật, không để tâm vào đề mục vì thế buông lung phóng dật có ý nghĩa rất sâu sắc.
Chỉ có người trí mới lo điều phục tâm, chỉ có người có được phước lành, thiện lành mới lo điều phục tâm, người cầu sự an lạc mới lo điều phục tâm, điều này rất tế nhị, khó thấy, khó nắm giữ. Chúng ta ngồi thiền ngoài trời có mây mờ sương giăng lạnh giá mà vừa xả thiền ra nói chụp hình là tâm hoạt động liền, dục quay cuồng. Việc chụp hình rất bình thường nhưng nhìn sâu vào những cử chỉ, hành động của mình đang bị quay cuồng, lúc đó dục hoạt động như lời kinh "Theo các dục quay cuồng", việc chụp hình là bình thường với sự an tịnh, chánh niệm khi chụp thì không sao, nhưng khi chụp với tâm dao động, dục đang thúc giục, buông lung sanh khởi thì điều này rất tế nhị.
Trong lúc ăn cơm, nói chuyện, suy nghĩ đều buông lung, rõ ràng nhận diện thọ; tưởng; hành biết suy nghĩ này là bất thiện nhưng vẫn bỏ qua, làm biếng không tác ý thì đó là buông lung, mình biết đó là thọ ái nhưng lại thích vị ngọt trong đó nên không tác ý để xuất ly khỏi thọ thì là buông lung, không nhiệt tâm. Người để tâm, chú ý tâm, nhận diện ngũ uẩn thâm sâu như vậy thì không có thời gian rảnh, đi khất thực về là ngồi viễn ly diệt tận để xuất ly, cho nên ai chịu tu thì Minh Thành lo hết.
Sự buông lung đầy rẫy khắp nơi. Nói riêng lúc tu, kể cả trên bồ đoàn, trên thiền đường, khi nghe pháp, ở khi đọc kinh mà không chánh niệm tỉnh giác thì vẫn buông lung. Chỉ cần phóng tâm một chut là không tập trung tâm ý để lắng tai nghe Pháp, hoặc quên lời kinh. Có nhiều trường hợp khi quên thì ngưng lại nhưng lại lấy chữ khác chèn vô, đắp vào thì lại thêm tội mới, cho nên tâm hoạt động rất nhanh và vi tế. Có khi sợ người ta nói mình không thuộc bài, có khi muốn đọc với giọng xuất sắc hơn những người khác nên đọc lớn lên, vì vậy tất cả mọi việc đều phải nhìn thấy, rất nhiều Pháp vận hành trong đó.
Ngay cả khi lạy sám hối nhưng phải xem có phải lạy vì bản ngã, lạy vì cầu danh không? Vì ngay khi lạy là phải diệt bản ngã trong đó chứ không phải lạy sám hối là xong, đó chỉ là thiện pháp. Có nhiều người lạy để hạ bản ngã, nhưng thật sự bên trong là hạ xuống với mục đích đưa bản thân lên, cho nên, phải vừa lạy bên ngoài vừa diệt bên trong. Vì thế người ta hay nói khiêm tốn giả tạo hoặc hạ thấp xuống để được lên cao, không nhận lời khen để được khen nhiều hơn nữa.
Ví dụ khi được khen ngợi, tán thán mà mình lại không quay lại để nhiếp phục cảm thọ bên trong mà mình lại nói "tôi có làm gì đâu mà khen", trong câu nói phủi đó để mình bước lên cao hơn nữa. Đó là những chỗ sâu sắc cần nhìn ra, nhìn sâu vào đó rồi diệt thì mới đi đến tâm thanh tịnh thật sự. Nói vậy không có nghĩa là không sám hối nữa, có sám hối vẫn tốt hơn không sám hối, mình phải tập niệm – định – tuệ cho sâu sắc, nhìn ra được sự dao động của tâm, nhìn ra được chiều hướng dục của tâm, nhìn ra được sự buông lung phóng dật, nhìn ra được những sự hoạt động của bản ngã. Khi đã thấy được dù chỉ một phần thì bắt đầu có tâm xuất ly và cần nuôi dưỡng tâm xuất ly này.
./.
TÂM KHÔNG GẮN VÀO ĐỀ MỤC
SẼ PHÓNG DẬT SUỐT ĐỜI
Thích Minh Thành
Khi thực tập tu hành thì càng ngày càng thấy tâm mình rất khó điều phục. Bất cứ lúc nào tâm không trú trong Pháp thì lúc đó là buông lung phóng dật, đó là sự phát hiện khi tu tập. Tối nay vô tình Minh Thành gặp một câu nói trùng với cách nhìn của mình, thiền sư Ajahn Maha Bua đã nói "Tâm Không Gắn Vào Đề Mục Sẽ Phóng Dật Suốt Đời". Khi phát hiện ra vấn đề này thì Minh Thành vẫn chưa đọc được câu này nhưng bây giờ đọc được thì thấy câu này giống với cách nhận định của mình.
Tâm mình nếu không thực hành pháp, không trú trong Tứ Niệm Xứ, không vận dụng Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, không thực tập Ngũ Căn, Ngũ Lực, Bảy Giác Chi hay Bát Chánh Đạo thì lúc đó tâm đang ở trong trạng thái của buông lung phóng dật, điều này được con phát hiện sau một thời gian tu tập. Tối qua con mở ra trang thực hành Vipassana Tứ Niệm Xứ thì trên trang chủ để câu nói "Tâm Không Gắn Vào Đề Mục Sẽ Phóng Dật Suốt Đời". Thật sự khi tâm không an trú trong pháp, không an trú trong đề mục, trong thực tập thì đang ở trong trạng thái buông lung, buông thả, buông trôi. Khi Minh Thành hỏi chuyện các chú thì các chú trả lời đến ba lần mới đúng thì đó là không an trú trong Pháp. Hãy nhớ “an trú niệm” tức là an trú trong Tứ Niệm Xứ, “thất niệm” là mất đi sự quán niệm về thân – thọ – tâm – pháp. Trong tâm vang lên bài kệ:
Khó nắm giữ, khinh động,
Theo các dục quay cuồng.
Lành thay, điều phục tâm;
Tâm điều, an lạc đến.
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 35)
Trong giờ ngồi thiền tiếp tục trong tâm con lại vang lên câu kệ:
Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo các dục quay cuồng.
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến.
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 36)
Chạy xa, sống một mình,
Không thân, ẩn hang sâu,
Ai điều phục được tâm,
Thoát khỏi Ma trói buộc.
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 37)
Tâm này thật khó nắm giữ, cứ dao động, quay cuồng theo các dục, người trí phải biết phòng hộ tâm, điều phục tâm. Sự phòng hộ và điều phục đó là tốt lành, an lạc, cát tường cho mình. Tiếp tục trong tâm con lại khởi lên bài kệ:
Như mái nhà vụng lợp,
Mưa liền xâm nhập vào.
Cũng vậy tâm không tu,
Tham dục liền xâm nhập.
(Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu, kệ 13)
Như ngôi nhà khéo lợp,
Mưa không xâm nhập vào.
Cũng vậy tâm khéo tu,
Tham dục không xâm nhập.
(Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu, kệ 14)
Chỉ có vài bài kệ trong kinh Pháp Cú nhưng mình thấy được những điều rất sâu sắc trong sự tu học. Thứ nhất tâm mình là một sự dao động, khó nắm giữ, tâm mình đi rất xa tuy rằng thân đang ngồi trên bồ đoàn, nếu không có sự an trú trong Pháp và gắn tâm vào đề mục thì tâm sẽ đi lang thang, đi miên man. Mình biết tâm khó thấy, tế nhị, không phải dễ để thấy được tâm, dù có thấy thì cũng chỉ thấy những cái thô thiển bên ngoài, những bề nổi của tâm, tâm đi lang thang vất vơ vất vưởng, ẩn hang sâu nghĩa là rất thâm sâu bên trong thọ; tưởng; hành cho nên người chân tu lúc nào cũng để tâm sử dụng ý căn, thường xuyên để ý cho nên tu cái này sử dụng ý căn rất nhiều. Còn không biết ý căn, không nhận diện được ý căn thì tu không có kết quả, đó làm mình thấy được tâm rất khó nắm giữ, tâm dao động, khó thấy, tế nhị.
Yếu tố thứ hai mình thấy được là dục, theo cái dục quay cuồng. Chỉ cần không hộ trì căn là tâm phóng theo dục trong bất cứ nơi nào, thời điểm nào, thậm chí ngay cả trên bồ đoàn, trên thiền đường hoặc đang nghe pháp cũng đi theo các dục. Tâm không khéo tu thì tham dục liền xâm nhập, chỉ cần không tu là tham dục sẽ xâm nhập ngay lập tức, không kiểm tra, quán chiếu, an trú Pháp là tham dục sẽ xâm nhập, trong người mình là dục tham ái cho nên người thật tu rất để tâm từng chút một trong sự hành trì.
Thứ ba là tâm không gắn vào đề mục thì sẽ phóng dật suốt cả cuộc đời. Ngay cả trên bồ đoàn cũng buông lung phóng dật. Ngày xưa chỉ nghĩ phóng dật là nói chuyện cười giỡn nhưng không ngờ ngồi thiền trên bồ đoàn mà tâm không gắn vào đề mục, không tập trung tâm ý vào Pháp, không để toàn tâm toàn ý, không thực tập bằng cả tấm lòng, chỉ cần buông lơi sẽ bị phóng tâm. Khi bị phóng tâm thì năm triền cái xuất hiện,
Tại sao ngồi thiền mà ngủ gục? Vì phóng dật buông lung mới ngủ gục, còn người tinh cần, tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác thì làm sao ngủ gục được, trừ trường hợp quá mệt mỏi, bệnh hoặc mất ngủ ban đêm thì cái này có thể hiểu được, nhưng nếu người nào có tinh tấn, chánh niệm mạnh mẽ vẫn nhiếp phục được cho nên ngồi thiền mà ngủ gục thì người đó buông lung phóng dật, không có nhiệt tâm, không tinh cần, không chánh niệm tỉnh giác thì năm triền cái mới áp đảo, xâm chiếm được thân tâm. Lúc các thầy, các cô tinh tấn mạnh mẽ, chánh niệm tỏa sáng thì lúc đó làm sao ngủ gục được? Làm sao tâm đi lang thang được?
Nếu tinh cần, tinh tấn mà có dục niệm, dục tưởng, dục hành sanh khởi là mình tác ý đánh đuổi liền, khi buồn giận, bực bội là mình tác ý ngay cho nên khi tinh cần, tinh tấn thì năm triền cái không xâm nhập được, nếu có xâm nhập cũng bị đối trị vì khi an trú trong Pháp thì có sự chiến đấu, có cách đối phó. Còn nếu không có sự chống trả, chống cự thì lúc đó đang buông lung phóng dật dù cho thân đang ngồi trên bồ đoàn. Tuy rằng ngồi tu nhưng tâm lại không tu vì mình cứ để tâm muốn sao thì muốn, vọng tưởng cứ để vọng tưởng, ngủ gục cứ ngủ, hôn trầm thì để cho hôn trầm, mình không có sự chống trả quyết liệt thì lâu ngày sẽ quen với tâm buông thả, buông xuôi dẫn đến buông lung nên tu suốt đời cũng phóng dật bung luông. Không tập trung tâm ý lắng nghe Pháp, không thọ nhận trọn vẹn Pháp, để ngũ cái xâm nhập thì vẫn là buông lung, tuy ngồi yên không nhúc nhích nhưng trong tâm không có sự thọ nhận trọn vẹn, sáng tỏ, nhận rõ, không nương vào Pháp để tác ý cho sanh khởi những thọ; tưởng; hành tương ưng với Pháp một cách thụ động, thậm chí có những ý hành lang thang, mông lung thì đó vẫn là buông lung phóng dật, không để tâm vào đề mục vì thế buông lung phóng dật có ý nghĩa rất sâu sắc.
Chỉ có người trí mới lo điều phục tâm, chỉ có người có được phước lành, thiện lành mới lo điều phục tâm, người cầu sự an lạc mới lo điều phục tâm, điều này rất tế nhị, khó thấy, khó nắm giữ. Chúng ta ngồi thiền ngoài trời có mây mờ sương giăng lạnh giá mà vừa xả thiền ra nói chụp hình là tâm hoạt động liền, dục quay cuồng. Việc chụp hình rất bình thường nhưng nhìn sâu vào những cử chỉ, hành động của mình đang bị quay cuồng, lúc đó dục hoạt động như lời kinh "Theo các dục quay cuồng", việc chụp hình là bình thường với sự an tịnh, chánh niệm khi chụp thì không sao, nhưng khi chụp với tâm dao động, dục đang thúc giục, buông lung sanh khởi thì điều này rất tế nhị.
Trong lúc ăn cơm, nói chuyện, suy nghĩ đều buông lung, rõ ràng nhận diện thọ; tưởng; hành biết suy nghĩ này là bất thiện nhưng vẫn bỏ qua, làm biếng không tác ý thì đó là buông lung, mình biết đó là thọ ái nhưng lại thích vị ngọt trong đó nên không tác ý để xuất ly khỏi thọ thì là buông lung, không nhiệt tâm. Người để tâm, chú ý tâm, nhận diện ngũ uẩn thâm sâu như vậy thì không có thời gian rảnh, đi khất thực về là ngồi viễn ly diệt tận để xuất ly, cho nên ai chịu tu thì Minh Thành lo hết.
Sự buông lung đầy rẫy khắp nơi. Nói riêng lúc tu, kể cả trên bồ đoàn, trên thiền đường, khi nghe pháp, ở khi đọc kinh mà không chánh niệm tỉnh giác thì vẫn buông lung. Chỉ cần phóng tâm một chut là không tập trung tâm ý để lắng tai nghe Pháp, hoặc quên lời kinh. Có nhiều trường hợp khi quên thì ngưng lại nhưng lại lấy chữ khác chèn vô, đắp vào thì lại thêm tội mới, cho nên tâm hoạt động rất nhanh và vi tế. Có khi sợ người ta nói mình không thuộc bài, có khi muốn đọc với giọng xuất sắc hơn những người khác nên đọc lớn lên, vì vậy tất cả mọi việc đều phải nhìn thấy, rất nhiều Pháp vận hành trong đó.
Ngay cả khi lạy sám hối nhưng phải xem có phải lạy vì bản ngã, lạy vì cầu danh không? Vì ngay khi lạy là phải diệt bản ngã trong đó chứ không phải lạy sám hối là xong, đó chỉ là thiện pháp. Có nhiều người lạy để hạ bản ngã, nhưng thật sự bên trong là hạ xuống với mục đích đưa bản thân lên, cho nên, phải vừa lạy bên ngoài vừa diệt bên trong. Vì thế người ta hay nói khiêm tốn giả tạo hoặc hạ thấp xuống để được lên cao, không nhận lời khen để được khen nhiều hơn nữa.
Ví dụ khi được khen ngợi, tán thán mà mình lại không quay lại để nhiếp phục cảm thọ bên trong mà mình lại nói "tôi có làm gì đâu mà khen", trong câu nói phủi đó để mình bước lên cao hơn nữa. Đó là những chỗ sâu sắc cần nhìn ra, nhìn sâu vào đó rồi diệt thì mới đi đến tâm thanh tịnh thật sự. Nói vậy không có nghĩa là không sám hối nữa, có sám hối vẫn tốt hơn không sám hối, mình phải tập niệm – định – tuệ cho sâu sắc, nhìn ra được sự dao động của tâm, nhìn ra được chiều hướng dục của tâm, nhìn ra được sự buông lung phóng dật, nhìn ra được những sự hoạt động của bản ngã. Khi đã thấy được dù chỉ một phần thì bắt đầu có tâm xuất ly và cần nuôi dưỡng tâm xuất ly này.
./.